Trong quá trình giao tiếp ứng xử sư phạm, người giáo viên luôn gặp rất nhiều tình huống sư phạm đòi hỏi họ phải suy nghĩ tìm tòi để đưa ra những cách giải quyết hợp lý, hợp tình có tác d
Trang 1Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Giảng viên h-ớng dẫn: ThS Hồ Thị Hạnh
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Loan
Lớp: 49A - Giáo dục Mầm non
Mã số sinh viên: 0859022132
Vinh - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài nỗ lực của bản thân, Tôi còn nhận được
sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, các giáo viên ở một số trường Mầm non Đặc
biệt qua đây Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Hồ Thị Hạnh
người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn Tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo Dục - trường Đại học Vinh, tập thể trường mầm non Quang Trung I, trường Mầm non Bình Minh, trường Mầm non Hoa Hồng, trường mầm non Hưng Dũng I
đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu
Do thời gian nghiên cứu không nhiều và là sinh viên bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, chắc chắn không tránh khỏi sai sót Vì vậy Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Loan
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của luận văn 3
9 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 4
1.1.1 Ở nước ngoài 4
1.1.2 Ở trong nước 5
1.2 Các khái niệm cơ bản 6
1.2.1 Khái niệm, bản chất và phân loại ứng xử 6
1.2.2 Một số thuộc tính tâm lý cần có trong ứng xử 10
1.2.3 Ứng xử sư phạm 11
1.2.4 Tình huống sư phạm 13
1.3 Ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên Mầm non 17
1.3.1 Vai trò của ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm 17
1.3.2 Nội dung ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm 19
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên Mầm non 26
1.4 Kỹ năng ứng xử văn hoá 28
Trang 4Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG ỨNG XỬ SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TRONG CÁC TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM 32
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 32
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 32
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.3 Địa bàn nghiên cứu 33
2.1.4 Nội dung và cách thức nghiên cứu 33
2.1.5 Tiêu chuẩn và thang đánh giá 34
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 36
2.2.1 Nhận thức của giáo viên Mầm non về ứng xử sư phạm 36
2.2.2 Nhận thức của giáo viên Mầm non về ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm giả định 40
2.2.3 Thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên Mầm non trong các tình huống sư phạm 54
2.3 Đánh giá chung về thực trạng 70
2.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh 70
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về ứng xử sư phạm trong các tình huống của giáo viên mầm non tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh 71
Kết luận chương 2 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GVMN: Giáo viên mầm non SL: Số lượng
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, trong ứng xử hàng ngày con người luôn phải ứng phó với biết bao tình huống xẩy ra, có người ứng xử tốt, khéo léo nhưng cũng có những người gặp khó khăn trong việc ứng xử Đối với mỗi cá nhân tuỳ từng từng thời điểm, từng hoàn cảnh cần có những cách ứng xử phù hợp Không có cách ứng xử chung cho mọi người, ngay cả đối với bản thân ta mà tuỳ từng hoàn cảnh, từng tâm trạng, mục đích… khác nhau mà có cách ứng xử hợp lý
Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người ngày càng cao Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật, được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống, trong hoạt động nghề nghệp Ứng xử của cô giáo Mầm Non cũng vậy, việc xử
lý các tình huống xẩy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ, trong các mối quan hệ với đồng nghiệp và phụ huynh là cả một nghệ thuật Chính vì vậy, để vận dụng khả năng sư phạm của mình trong việc giải quyết tốt các tình huống xẩy ra, giáo viên ở các trường Mầm non ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh thần trách nhiệm cao… còn cần phải có sự hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực và nhất là phải có văn hoá ứng xử
Công việc giáo dục và đào tạo con người là một hoạt động rất đặc thù, vừa mang tính khoa học vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật Trong quá trình giao tiếp ứng xử sư phạm, người giáo viên luôn gặp rất nhiều tình huống
sư phạm đòi hỏi họ phải suy nghĩ tìm tòi để đưa ra những cách giải quyết hợp
lý, hợp tình có tác dụng giáo dục học sinh Người giáo viên mầm non cũng vậy, ngoài những khó khăn trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, họ còn phải giải quyết rất rất nhiều tình huống khó có thể lường trước được bởi trẻ ở lứa tuổi mầm non là độ tuổi còn non nớt về thể chất lẫn tinh thần
Như vậy có thể nói, ứng xử sư phạm là một nghệ thuật và là một vấn đề khoa học cần được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, hiện nay vấn
Trang 7đề này vẫn chưa thực sự được nghiên cứu một cách toàn diện, và các tài liệu viết về vấn đề này vẫn còn rất ít Bên cạnh đó xuất phát từ thực tiễn thì hiện nay cách ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong các tình huống sư phạm còn có nhiều bất cập Các giáo viên vẫn chưa thực sự làm chủ được trước việc giải quyết các tình huống.Trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng đã đưa tin về cách ứng xử của cô giáo mầm non như cô còn đánh đập, đối xử với trẻ chưa công bằng…
Từ những lý do trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng ứng xử
sư phạm của giáo viên Mầm Non trong các tình huống sư phạm” làm đề tài
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong các tình huống sư phạm từ đó tìm ra hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình ứng xử đó để đề xuất một số ý kiến nhằm giúp cho các giáo viên mầm non ứng xử sư phạm phù hợp trong các tình huống sư phạm
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Ứng xử sư phạm của giáo viên Mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong các tình huống
sư phạm
4 Phạm vi nghiên cứu
Cách ứng xử của 55 giáo viên Mầm non với trẻ, với phụ huynh, với đồng nghiệp trong các tình huống sư phạm ở 4 trường mầm non: trường Mầm non Quang Trung I, trường Mầm non Bình Minh, trường Mầm non Hoa Hồng, trường Mần non Hưng Dũng I trên địa bàn thành phố Vinh
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, cách ứng xử của giáo viên mầm non trong các tình huống sư phạm chưa thực sự khéo léo, một trong những nguyên nhân của thực trạng
Trang 8trên là do nhận thức về văn hoá ứng xử của giáo viên mầm non chưa phù hợp
và kỹ năng ứng xử sư phạm của họ chưa được rèn luyện đúng mức
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non trong các tình huống sư phạm
- Đề xuất ý kiến nhằm rèn luyện kỹ năng ứng xử sư phạm cho giáo viên mầm non
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích hoá, khái quát hoá cơ sở lý luận
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp điều tra
7.3 Phương pháp thống kê toán học
8 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ lý luận về ứng xử sư phạm
- Làm rõ thực trạng ứng xử sư phạm của GVMN ở một số trường mầm non
- Kiến nghị một số ý kiến nhằm giúp GVMN rèn luyện tốt hơn kỹ năng ứng xử sư phạm
9 Cấu trúc của luận văn
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng ứng xử sư phạm của viên Mầm non trong các tình huống sư phạm
Phần III: Kết luận và kiến nghị
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu
Ứng xử là đề tài muôn thủa của phép “đối nhân xử thế” của người đời Ở
mọi thời đại, mọi quốc gia, trong nền văn hoá của mình đều nói đến phép ứng
xử giữa người với người trong các lĩnh vực cuộc sống Có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu bàn đến vấn đề ứng xử với nhiều khía cạnh khác nhau
1.1.1 Ở nước ngoài
Đã có nhiều tài liệu của các tác giả khác nhau đã dịch ra tiếng Việt về
nghệ thuật chinh phục lòng người Cuốn sách “How to win friend in fluence”
(Đắc nhân tâm) của tác giả Dale - Carnegie được coi như cuốn cẩm nang cho mọi sự thành công trong giao tiếp ứng xử giữa con người với con người.Tiến
sĩ tâm lý học Gianot HG bằng 15 năm đúc kết kinh nghiệm đã cho ra mắt bạn đọc cuốn cẩm nang về cách ứng xử với những ai mong muốn con cái mình thành đạt và hạnh phúc
Nhà tâm lý học giáo dục người Nga TN Bôndaserxcaia với cuốn “Sự
khéo léo về đối xử sư phạm” được coi là tài liệu quý báu giúp cho giáo viên
có thêm kinh nghiệm trong ứng xử với học sinh Cuốn sách này được coi như
là cuốn cẩm nang cho các nhà sư phạm để đạt được mục đích giáo dục
Ngoài ra còn có một số nhà tâm lý học và giáo dục học Liên Xô cũ cũng
đã đề cập đến vấn đề ứng xử như: A.X Cruclutxki, A.V Petropxki…những tác giả này đã chủ yếu quan tâm đến vấn đề khéo léo ứng xử sư phạm nhưng nói chung vẫn còn sơ lược Tuy nhiên đây cũng là những tài liệu giúp cho cô giáo
có được sự khéo léo trong ứng xử
Bên cạnh đó còn có một số tài liệu khác liên quan đến vấn đề đối nhân
xử thế như:
Trang 10- “28 bài học xử thế” của Raymord desaint courent
- “Xử thế của ngày nay” của tác giả K.C Ingram
- “Cư xử như thế nào” của tác giả IAAxma AAxma
1.1.2 Ở trong nước
Cũng đã có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề ứng xử
PTS Ngô Công Hoàn với cuốn “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo và trẻ
em” Cuốn sách này đã đưa ra một số nguyên tắc và phương pháp trong vấn
đề giao tiếp ứng xử giữa cô giáo và trẻ Mầm Non
PTS Lê Thị Bừng với cuốn “Tâm lý học ứng xử” lần đầu tiên bàn đến
một vấn đề phức tạp trong mối quan hệ người - người Tác giả đã đề cập đến khái niệm, bản chất, phân loại ứng xử và cách lựa chọn biện pháp ứng xử phù hợp trong các tình huống khác nhau
Ba tác giả: Nguyễn Công Khanh - Nguyễn Hồng Nam- Nguyễn Hồng
Ngọc với cuốn “Nghệ thuật ứng xử và sự thành công với mọi người” đã đưa
ra những nguyên tắc và phương pháp ứng xử với mong muốn giúp mọi người
ít mắc phải những sai lầm đáng tiếc trong hành vi giao tiếp ứng xử với người khác
Bên cạnh đó còn có cuốn “Nghệ thuật xử lý các tình huống sư phạm” do
nhà xuất bản lao động - xã hội công ty văn hoá Bảo Thắng sản xuất cũng đã bàn đến một số vấn đề về ứng xử sư phạm của giáo viên Phổ Thông và các tình huống sư phạm thường xẩy ra trong trường phổ thông
Tác giả Bùi Thị Mùi với cuốn “Tình huống sư phạm trong công tác giáo
dục học sinh trung học phổ thông” cũng đã đưa ra khái quát về tình huống sư
phạm và xây dựng các tình huống sư phạm để dạy học lý luận về công tác giáo dục học sinh cho sinh viên các trường đại học sư phạm
Ngoài ra còn có một số tác giả đề cập đến các tình huống sư phạm và
kinh nghiệm giải quyết các tình huống ấy như quyển “Nghệ thuật ứng xử sư
Trang 11phạm” do các tác giả Bùi Văn Huệ, Nguyễn Trọng Hoàn, Hoàng Thị Xuân
Hoa viết Hay cuốn “Tình huống và cách xử lý tình huống trong giáo dục và
đào tạo” của Phan Thế Sủng, Lưu Xuân Mới Nhà xuất bản đại học quốc gia
Hà Nội Và trên nhiều tạp chí giáo dục cũng đã đề cập tới vấn đề ứng xử sư phạm nhưng các tình huống này, thường chỉ dừng lại ở việc ứng xử với trẻ và
đa số là ứng xử với học sinh phổ thông còn đối với trẻ ở độ tuổi mầm non và việc ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non thì hầu như có rất ít tài liệu đề cập đến
Ngày nay, xã hội ngày càng văn minh, càng phát triển thì mối quan hệ người - người càng trở nên phức tạp Do vậy đòi hỏi nghiên cứu vấn đề ứng
xử ngày càng trở nên cấp thiết trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, mà đặc biệt là lĩnh vực giáo dục
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm, bản chất và phân loại ứng xử
1.2.1.1 Khái niệm
“Ứng xử” tiếng anh là Behavios có thể dịch qua tiếng pháp với hai từ
khác nhau là: Comporterment và conduite, dịch qua tiếng việt là từ ứng xử và hành vi
Cụm từ ứng xử nếu tách riêng ta sẽ được hai từ ứng và xử:
- Ứng đối: Ứng đáp; ứng khẩu; ứng khó; ứng biến
- Đối xử: Xử sự; xử thế; xử trí…
Nghĩa rộng: Ứng xử chỉ dùng được hiểu là những phản ứng thể hiện thái
độ của chủ thể trước mọi tác động của thế giới quan
Nghĩa hẹp: Ứng xử dùng để chỉ những phản ứng thể hiện thái độ của con người trong tình huống có vấn đề nào đó diễn ra trong quá trình giao tiếp ứng xử
TS: Ngô Công Hoàn cho rằng: “ứng xử là phản ứng hành vi của con
người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm của cá nhân
Trang 12kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân trong những tình huống nhất định”
PTS Lê Thị Bừng cho rằng: “Ứng xử là sự phản ứng của con người với
sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất đinh.Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn có tính toán thể hiện qua thái độ, hành
vi, cử chỉ cách nói năng, tuỳ thuộc vào tri thức kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đat hiệu quả cao nhất”
Ứng xử được đặc trưng bởi các dấu hiệu:
- Ứng xử được thể hiện bởi các cá nhân, mỗi cá nhân đều có đặc điểm khí chất khác nhau nên mỗi cá nhân thể hiện hành vi phản ứng theo tốc độ, cường độ, nhịp điệu, thái độ và tình cảm khác nhau
- Ứng xử được quy định các chuẩn mực xã hội
- Ứng xử là sự giao thoa có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên” và “cái
xã hội” trong bản chất con người
- Trong ứng xử người ta thường chú ý đến nội dung tâm lý hơn là nội dung công việc Giao tiếp để đạt được mục đích, một nội dung công việc nào
đó nhưng ứng xử thì người ta quan tâm đến “cái ý của cá nhân” biểu hiện thế
nào qua hành vi, cử chỉ, điệu bộ, thái độ Như vậy thước đo của giao tiếp là hiệu quả của công việc còn thước đo của ứng xử là thái độ của cá nhân và
“những thuật” biểu hiện thái độ qua hành vi
Ứng xử thường mang tính chất tình huống, còn giao tiếp là một quá trình
Từ những đặc trưng trên chúng tôi đưa ra định nghĩa: “Ứng xử đó là sự phản
ứng của cá nhân trong các tình huống giao tiếp Sự phản ứng ấy được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tuỳ thuộc vào nhận thức và nhân cách của từng cá nhân”
1.2.1.2 Phân loại ứng xử
1.2.1.2.1 Căn cứ vào yêu cầu đạo đức của xã hội: phân ra làm 2 loại
- Ứng xử tốt, đúng mực: Thể hiện qua thái độ phù hợp với hành vi, phù hợp với yêu cầu xã hội
Trang 13- Ứng xử xấu: Thái độ phù hợp với hành vi nhưng không phù hợp với yêu cầu của xã hội
1.2.1.2.2 Phân loại theo giá trị của Xã hội - Nhân văn
Trong quá trình hoạt động và giao lưu, mỗi cá nhân tiếp thu, lĩnh hội truyền thống văn hoá của dân tộc, của đất nước tạo cho mình một kiểu ứng xử riêng mang dấu ấn của giá trị văn hoá đó Xếp theo giá trị nhân văn của nhân loại và dân tộc thì có các nhóm ứng xử sau:
- Giá trị ứng xử đối với bản thân và đối với người khác
- Nhóm giá trị ứng xử trong gia đình và đối với bạn bè
- Nhóm giá trị ứng xử đối với cộng đồng thế giới
- Nhóm giá trị ứng xử với tương lai và sức sống của trái đất.(nhóm giá trị này đòi hỏi con người hiểu biết đầy đủ về môi trường tự nhiên và xã hội, biết sống có trách nhiệm, sử dụng tài nguyên một cách hợp lý Biết tham gia bảo
vệ thiên nhiên môi trường một cách tích cực, tự giác Nội dung đưa ra nhằm giúp cho con người xây dựng một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn Trên cơ sở bảo tồn những giá trị nhân văn - văn hoá và phát huy một cách hợp lý những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại để bảo vệ môi trường và trái đất
1.2.1.2.3 Dựa vào phong cách ứng xử
Mỗi cá nhân có một phong cách sống và do vậy họ cũng có cung cách
ứng xử riêng Có 3 kiểu ứng xử thường gặp:
- Ứng xử độc đoán: Do tính độc đoán chiếm ưu thế nên những người này thường không quan tâm đến đặc điểm riêng của từng đối tượng giao tiếp, thiếu thiện chí, gây căng thẳng đối với họ
- Ứng xử tự do: Thể hiện tính linh hoạt trong giao tiếp, dễ thay đổi mục đích, không làm chủ được diễn biến tâm lý của mình dễ “chiều theo đối tượng giao tiếp”
- Ứng xử dân chủ: Biểu hiện nổi bật của kiểu ứng xử là sự nhiệt tình, sự thiện chí cởi mở, sự tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp Những người này
Trang 14thường biết lắng nghe, biết quan tâm giúp mọi người khi cần thiết, dễ dàng thiết lập mối quan hệ với mọi người và dễ đạt hiệu quả cao trong giao tiếp
1.2.1.2.4 Dựa vào tâm thế
Chúng ta đều biết mọi sự vật trong hiện thực khách quan không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, cùng tồn tại trong một không gian, thời gian nhất định Vì vậy, khi gặp một người có cách ứng xử nào đó làm ta liên hệ đến ngay một người khác có cách ứng xử tương ứng Sự liên hệ này có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là tích cực hay cũng có thể là tiêu cực tuỳ theo tâm thế của ta Vì vậy trong trường hợp này con người cần phải kiểm tra, điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với thực tế, với từng người ta gặp
Việc hiểu rõ tính quy luật về sự thay đổi tâm thế mang tính dễ chịu và khó chịu có ý nghĩa đặc biệt đối với việc thể hiện sự hình thành cách ứng xử
1.2.1.2.5 Dựa vào kiểu thần kinh của khí chất: Phân ra 4 kiểu ứng xử
- Kiểu ứng xử mạnh mẽ: Khi có tác động bên ngoài đến họ thì họ có ngay phản ứng bằng thái độ, hành vi, cử chỉ Trong giao tiếp có ai đó xúc phạm tới họ trước một người khác, họ tỏ thái độ không bình tĩnh, phản ứng một cách gay gắt, nóng nảy, họ không bình tĩnh để suy xét xem nên hành động như thế nào Tuy nhiên trường hợp giao tiếp hoà thuận họ tỏ ra nhân hậu, vị tha
- Kiểu ứng xử linh hoạt:
Mọi tác động của khách quan đều tiếp nhận nhẹ nhàng, thoải mái
- Kiểu ứng xử bình thản:
Trong giao tiếp ứng xử họ tỏ ra bình tĩnh, chín chắn, thận trọng trước khi
họ phản ứng với tác động bên ngoài, họ đều suy nghĩ, cân nhắc, lựa chọn thái
độ, hành vi, cử chỉ Do đó thái độ của họ bao giờ cũng thận trọng, tính toán
- Kiểu ứng xử chậm: Những người này khi giao tiếp với người lạ họ tỏ ra mặc cảm, sợ sệt Vì vậy trước những tác động của hiện thực khách quan dễ làm cho họ sợ sệt, lo lắng
Trang 151.2.1.2.6 Dựa vào thái độ, điệu bộ
Thái độ của con người với những tác động của thế giới khách quan được thể hiện ra bên ngoài bằng những điệu bộ, cử chỉ Điệu bộ là những thuộc tính xác định ít có ranh giới, được tự giác miêu tả phần nào rõ rệt của hệ vận động chung trên bề mặt của cơ thể: Toàn thân, tay chân, nét mặt, giọng nói…Dựa vào tiêu chí này người ta thấy có các kiểu ứng xử sau:
- Kiểu ứng xử hiển nhiên: Thể hiện qua thái độ chấp thuận như một điều hiển nhiên
- Kiểu ứng xử bắt buộc: Thể hiện qua thái độ bắt buộc phải theo một chuẩn mực
- Kiểu ứng xử tự do
Tất cả kiểu ứng xử trên đây đều nhằm mục đích chỉ ra đơn giản những mối quan hệ người - người trong từng tình huống khác nhau, để đạt hiệu quả trong quá trình giao tiếp Trên thực tế, trong quá trình giao tiếp có nhiều tình huống xẩy ra rất phức tạp, không có trường hợp nào giống trường hợp nào Con người không thể máy móc ứng xử với bất cứ ai và với mọi tình huống là như nhau được Đôi khi nhờ có kinh nghiệm cuộc sống, trình độ hiểu biết, lòng nhân hậu và bản lĩnh cá nhân mà con người tự điều chỉnh cách ứng xử để đạt được kết quả mong muốn, gây được ấn tượng tốt đẹp với nhau trong cuộc sống, trong giao tiếp
1.2.2 Một số thuộc tính tâm lý cần có trong ứng xử
1.2.2.1 Năng lực quan sát đối tượng
Khả năng định hướng ban đầu: Khuôn mặt, dáng người, cách nói, điệu
bộ… Người xưa dạy “Trông mặt mà bắt hình dong” chính điều này giúp cho
ta biết cách ứng xử với từng người, giúp ta nắm được tỉ mỉ hành vi của đối tượng và dùng tài liệu quan sát được phục vụ cho giao tiếp ban đầu Nghĩa là
ta có những phán đoán ban đầu về chân dung của đối tượng giao tiếp
Trang 161.2.2.2 Kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp biểu hiện những ý nghĩa, tình cảm, nhận thức của mình với người khác Làm cho họ ngay từ đầu có tình cảm, đồng cảm với ta Chính điều này giúp cho con người đạt kết quả trong ứng xử
1.2.2.3 Tôn trọng nhân cách của đối tượng
Đó là sự thiện cảm khi tiếp xúc và nhìn nhận cái tốt ở đối tượng giao tiếp
là cơ bản, không định kiến, bởi lẽ trong xã hội, vị thế có thể là khác nhau nhưng nhân cách lại là rất bình đẳng
1.2.2.4 Năng lực tự chủ trong các tình huống ứng xử
Có thể nói làm chủ mình là một điều kiện quan trọng để thành công trong giao tiếp ứng xử Bởi một lẽ, trong cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn
sẻ cả Có những lúc thăng trầm, khi thành công, khi thất bại, và có khi bị xúc phạm đến thanh danh… nếu chúng ta không làm chủ được bản thân mà dẫn tới những lời nói, những hành động dại dột thì hậu quả sẽ rất khôn lường
1.2.3 Ứng xử sư phạm
1.2.3.1 Khái niệm ứng xử sư phạm
Ứng xử sư phạm là một dạng hoạt động giao tiếp giữa những người làm công tác giáo dục và được giáo dục trong nhà trường nhằm giải quyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động giáo dục và giáo dưỡng
Như vậy ứng xử sư phạm được thực hiện bởi những nhân cách(giáo viên
và học sinh) Thầy và trò là những con người cụ thể, ở những vị trí khác nhau,
có trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích xác định Đồng thời ở mỗi người trong
họ có hoàn cảnh gia đình, đời sống tâm lý và những mối quan hệ riêng biệt Tuy vậy giữa những cá nhân này đều có một điểm chung trong hoạt động là nhằm đạt tới mục đích giáo dục tổng thể trong việc hình thành nhân cách con người mới XHCN
1.2.3.2 Các nguyên tắc ứng xử sư phạm
Muốn trở thành một nhà sư phạm khéo léo, tinh tế trong ứng xử, thành công trong việc giáo dục học sinh, bạn cần phải có hiểu biết và tôn trọng các nguyên tắc ứng xử sư phạm sau:
Trang 171 Tìm để hiểu được một cách toàn diện, sâu sắc về từng trẻ Hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lý, tính cách, sở thích, thói quen… của từng
em để có biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng
2 Luôn giữ được sự bình tĩnh cần thiết trước mỗi tình huống sư phạm Bình tĩnh để tìm hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo nguyên nhân của mỗi tình
huống để có cách xử lý đúng đắn, hợp tình, hợp lý “Hiểu người để dẫn đạo
người”, đó là phương châm cao quý của lao động sư phạm
3 Luôn có ý thức tôn trọng học sinh, kể cả những khi học sinh có sai phạm, lỗi lầm với bản than nhà giáo Hãy biết tự kiềm chế để không bao giờ
có những lời nói, cử chỉ xúc phạm học trò
4 Luôn đặt mình vào địa vị của học sinh, vào hoàn cảnh của các em, cố gắng nhớ lại bản thân mình khi ở tuổi như các em để hiếu và thấu cảm Hãy rút ngắn “khoảng cách thế hệ”, gần gũi và cảm thông chân thành, bao dung và
độ lượng
5 Luôn biết khích lệ, biểu dương các em kịp thời Đối với học sinh, thầy
cô giáo nên ca ngợi những ưu điểm của họ nhiều hơn là phê bình khuyết điểm Học sinh nào cũng thích được thầy cô giáo biểu dương, vì thế chúng ta không nên tiết kiệm lời khen của mình Hãy khen ngợi những ưu điểm, sở trường của các em để các em cảm thấy giá trị của mình được nâng cao, có hứng thú học tập Nhưng cũng cần chú ý, trong khi khen cũng không quên chỉ
ra những thiếu sót của học sinh để các em khắc phục, không ngừng tiến bộ
6 Luôn thể hiện niềm tin vào sự hướng thiện của các em Ngay cả khi các em mắc sai lầm, cũng phải tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực chứ không nên phê phán nặng nề Đó chính là chỗ dựa, là nguồn khích lệ cho học sinh có động lực phát triển
7 Góp ý với học sinh về những thiếu sót cụ thể, việc làm cụ thể với một thái độ chân thành và giàu yêu thương Tuyệt đối không nêu những nhận xét
Trang 18chung chung có tính chất “chụp mũ” và xúc phạm như “sao ngu thế”, “đồ
mất dạy”…
8 Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người thầy đối với học trò Theo quy luật phản hồi tâm lý, tình cảm của thầy trước sau cũng sẽ được đáp lại bằng tình cảm của trò Dùng lòng nhân ái, đức vị tha giáo dục, cảm hoá học trò sẽ luôn đạt hiệu quả
9 Trong mỗi tình huống sư phạm, người thầy cần phải bình tĩnh xem lại
bản thân mình bởi “nhân vô thập toàn” nên hãy “tiên trách kỷ, hậu trách
nhân” Nếu nhận ra sự thiếu sót, sai lầm của mình hãy dũng cảm thừa nhận
Chắc chắn làm như thế, học sinh không những trách thầy mà còn rất cảm phục thầy
Từ những quy tắc trên mà đối với mỗi người có những cách vận dụng riêng tuỳ thuộc vào nghệ thuật của mỗi nhà giáo
1.2.4 Tình huống sư phạm
1.2.4.1 Khái niệm tình huống sư phạm
Tình huống sư phạm là tình huống có vấn đề diễn ra đối với nhà giáo dục trong công tác giáo dục học sinh, trong tình huống đó, nhà giáo dục bị đặt vào trạng thái lúng túng trước vấn đề giáo dục cấp thiết mà họ cần phải giải quyết bằng tri thức, kinh nghiệm và năng lực sư phạm vốn có, họ chưa thể giải quyết được vấn đề đó khiến họ phải tích cực xem xét, tìm tòi để có thể tìm ra các biện pháp giáo dục tối ưu, qua đó năng lực và phẩm chất sư phạm của họ cũng được củng cố và phát triển
1.2.4.2 Các yếu tố trong tình huống sư phạm
1.2.4.2.1 Cái đã biết trong tình huống sư phạm
Cái đã biết trong tình huống sư phạm chính là những tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng vốn có của nhà giáo dục có liên quan đến vấn đề cần giải quyết trong tình huống Cái đã biết đó khiến họ thấy vấn đề trong tình huống dường như quen quen, dường như đã gặp đâu đó trong các hoạt động dạy học
Trang 19và giáo dục của họ rồi, cho nên chính cái đã biết trong tình huống đó tựa như
là cơ sở ban đầu định hướng nhà giáo dục quan tâm đến tình huống hay phát hiện ra tình huống trong sự muôn hình, muôn vẻ của thực tiễn giáo dục Nếu một tình huống trong thực tiễn giáo dục học sinh hoàn toàn xa lạ, hay nói cách khác, nếu chủ thể giải quyết tình huống chưa hề có một kinh nghiệm sư phạm nào có liên quan đến vấn đề trong tình huống, thì tình huống đó sẽ không được chủ thể giải quyết tình huống quan tâm, phát hiện và như vậy thì tình huống
đó không được coi là tình huống sư phạm đối với chủ thể giải quyết
1.2.4.2.2 Cái chưa biết cần tìm trong tình huống sư phạm
Cái chưa biết trong tình huống sư phạm là những tri thức, kỹ năng…về giáo dục học sinh nói chung của nhà giáo dục có liên quan đến vấn đề cần giải quyết trong tình huống sư phạm mà họ chưa biết Cái chưa biết đó khiến họ cảm thấy vấn đề cần giải quyết trong tình huống dường như xa lạ, khiến họ lúng túng chưa biết cách giải quyết vấn đề đó ra làm sao, khiến họ muốn biết, muốn khám phá ra nó để giải quyết vấn đề Chính vì lẽ đó cái chưa biết cần tìm kiếm trở thành yếu tố kích thích hoạt động tìm tòi sáng tạo Đối với người giáo viên, điều chưa biết này là ẩn số có tính khái quát Đó có thể là một lý luận (một nguyên tắc, một nội dung, một phương pháp…) hay một kỹ năng sư phạm nào đó mà nhà giáo dục cần phải biết Để từ việc khám phá ra ẩn số chung đó, nhà giáo dục có thể liên hệ, vận dụng nó nhằm giải quyết các tình huống cụ thể có vấn đề cùng loại trong công tác của mình
1.2.4.2.3 Trạng thái tâm lý trong tình huống sư phạm
Trạng thái tâm lý trong tình huống sư phạm là những lúng túng về lý thuyết và thực hành xuất hiện ở nhà giáo dục khi họ cần giải quyết vấn đề trong tình huống Những lúng túng đó kích thích lòng mong muốn và tính tích cực hoạt động tìm tòi, phát hiện mang tính hưng phấn ở nhà giáo dục và khi hoạt động đạt được hiệu quả, trong họ xuất hiện niềm hạnh phúc của sự tìm tòi phát hiện Đây là đặc trưng cơ bản của tình huống sư phạm
Trang 201.2.4.3 Sự phân loại tình huống sư phạm
1.2.4.3.1 Tình huống sư phạm được xây dựng dựa trên mục đích dạy học
Quá trình dạy học được xem như một hệ thống gồm nhiều thành tố vận động, phát triển trong mối quan hệ biện chứng Ngoài hai thành tố trung tâm phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học là giáo viên và học sinh thì mối quan hệ bộ ba: mục đích, nội dung và phương pháp dạy học tạo nên một tam giác sư phạm có tầm quan trọng đặc biệt Trong mối quan hệ này, mục đích dạy học là thành tố định hướng, là thành tố quy định nội dung và phương pháp dạy học khác nhau Tình huống sư phạm được xây dựng và sử dụng trong quá trình dạy học với tư cách là phương tiện, biện pháp tác động đến học sinh, cho nên tình huống sư phạm chịu sự quy định trực tiếp của mục đích dạy học, và mục đích dạy học là cơ sở hàng đầu của sự phân loại tình huống
sư phạm
1.2.4.3.2 Tình huống sư phạm được xây dựng dựa trên nội dung dạy học
Trong cấu trúc của quá trình dạy học, nội dung dạy học là thành tố quy định trực tiếp phương pháp dạy học, cũng quy định trực tiếp việc xây dựng và
sử dụng hệ thống tình huống sư phạm Do đó nội dung dạy học được coi là cơ
sở cho sự phân loại tình hống sư phạm
1.2.4.3.3 Tình huống sư phạm được xây dựng dựa trên những cơ sở khác
Dựa vào chức năng của giáo viên khi tham gia các hoạt động giáo dục học sinh Người giáo viên tham gia vào hoạt động giáo dục phẩm chất nhân cách học sinh với nhiều chức năng khác nhau, những chức năng đó là: chức năng quản lý toàn diện học sinh, chức năng thiết kế phương hướng, kế hoạch giáo dục học sinh, chức năng tổ chức xây dựng tập thể học sinh tự quản, chức năng phối hợp với các lực lưỡng giáo dục và chức năng kiểm tra đánh giá để điều khiển điều chỉnh hoạt động giáo dục học sinh Những chức năng này quy định nội dung công việc cụ thể tương ứng mà giáo viên cần thực hiện Dựa vào chức năng trong công tác giáo dục học sinh của người giáo viên, tình
Trang 21huống sư phạm được xây dựng bao gồm: Những tình huống sư phạm có liên quan đến chức năng quản lý toàn diện học sinh; Những tình huông sư phạm
có liên quan đến chức năng thiết kế phương hướng, kế hoạch giáo dục học sinh; Những tình huống sư phạm có liên quan đến chức năng tổ chức xây dựng tập thể học sinh tự quản; Những tình huống sư phạm có liên quan đến chức năng kiểm tra đánh giá, để điều khiển, điều chỉnh hoạt động giáo dục học sinh và những tình huống sư phạm có liên quan đến chức năng phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh
- Dựa vào tính chất và biểu hiện của tình huống mà một số tác giả đã từng đề cập đến,tình huống sư phạm có thể bao gồm những tình huống sư phạm có tính bất ngờ; Những tình huống sư phạm có tính không phù hợp; Những tình huống sư phạm có tính xung đột; Những tình huống sư phạm có tính lựa chọn; Những tình huống sư phạm có tính bác bỏ; Những tình huống
sư phạm có tính giả định; Những tình huống sư phạm đơn giản; Những tình huống sư phạm phức tạp; Những tình huống sư phạm không nguy hiểm; Những tình huống sư phạm nguy hiểm; Những tình huống sư phạm mà vấn đề trong tình huống đã được giải quyết rồi và những tình huống sư phạm mà vấn
đề trong tình huống chưa được giải quyết; Những tình huống sư phạm tích cực và những tình huống sư phạm tiêu cực…
- Dựa vào đối tượng tạo ra tình huống có những tình huống sư phạm đơn phương, những tình huống sư phạm song phương và những tình huống sư phạm đa phương
- Dựa vào các mối quan hệ của giáo viên trong quá trình thực hiện công tác giáo dục học sinh có thể phân tình huống sư phạm thành các loại: Những tình huống sư phạm diễn ra giữa giáo viên với cá nhân hay tập thể học sinh; Những tình huống sư phạm diễn ra giữa giáo viên với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường (ban giám hiệu, giáo viên khác, phụ huynh học sinh…)
Trang 22- Dựa vào nguyên nhân gây nên tình huống có thể phân tình huống sư phạm trong công tác giáo dục học sinh thành các loại như: Những tình huống
sư phạm xuất hiện do những nguyên nhân nảy sinh từ quá trình thực hiện các công việc trong công tác giáo dục học sinh và những tình huống sư phạm xuất hiện do những nguyên nhân nảy sinh từ ảnh hưởng nhân cách của giáo viên tới quá trình thực hiện công việc hay tới đối tượng tác động
1.3 Ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên Mầm non
1.3.1 Vai trò của ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm
Ứng xử sư phạm có một vai trò rất đối với hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên mầm non và cũng xuất phát từ mục đích của việc ứng xử sư phạm là nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ do vậy có thể phân chia vai trò của ứng xử sư phạm như sau:
1.3.1.1 Vai trò định hướng hoạt động
Đây là chức năng bao quát nhất, bất kỳ một sự tiếp xúc nào giữa con người với con người đều cần phải biết đến mục đích giao tiếp để làm gì Như vậy phải chú ý đến những thay đổi nhỏ, những biểu hiện về hành vi, cử chỉ, thái độ… của chủ thể và đối tượng giao tiếp, để có những phản ứng hành vi đáp lại phù hợp Nhờ những biểu hiện này mà con người nhận thức được nhu cầu, động cơ, những đặc điểm tâm lý cá nhân của đối tượng tiếp xúc để có cách ứng xử phù hợp với mong muốn nguyện vọng của đối tượng giao tiếp Nhờ có chức năng định hướng hoạt động mà cô giáo phân loại được các cháu
về mọi nội dung bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ Phân loại các cháu về sức khoẻ, trình độ nhận thức, khả năng vui chơi, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình về khả năng diễn đạt ngôi ngữ nói Và cũng từ sự định hướng này mà giáo viên mầm non có thể nhận biết được đặc điểm tâm lý cũng như tính cách của phụ huynh, của đồng nghiệp để có thể ứng xử phù hợp với nguyện vọng của họ
Trang 231.3.1.2 Vai trò điều khiển điều chỉnh hành vi hoạt động
Trong thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ, chúng ta gặp không ít trường hợp có cách nhìn “khuôn mẫu”, “cứng nhắc” với một vài trẻ trong lớp Ví dụ:
ở nhà cô giáo là mẹ hiền có thể rất nghiêm khắc với con Song đến lớp với tư cách là cô giáo, cô tự điều chỉnh hành vi của mình theo phương pháp giáo dục tình cảm “9 khen, 1 chê”, động viên khuyến khích các cháu nhiều hơn, hạn chế đến mức tối đa trách phạt các cháu Ở nhà ít nói nhưng đến lớp mặt cô giáo rạng rỡ hẳn lên, hồn nhiên và hoà vào các cháu để tạo không khí tâm lý
an toàn, tin tưởng cho các cháu, nhờ đó mà các cháu quấn quýt bên cô, và uy tín cùng năng lực của cô được phát triển Hoặc khi ứng xử với phụ huynh, với đồng nghiệp, khi nhận thấy phản ứng của họ đối với cách ứng xử của mình thì giáo viên có thể điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với từng tình huống, từng hoàn cảnh và với từng đối tượng
1.3.1.3 Vai trò thông tin
Hoạt động ứng xử sư phạm về bản chất là một hoạt động giao tiếp xã hội thông qua các phương tiện giao tiếp vật chất và phi vật chất và nhờ có những phương tiện này(ngôn ngữ, vật thể, nhân cách của các cá nhân tham gia giao tiếp) mà con người có được những mối quan hệ xã hội Sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cá nhân được thực hiện nhờ các thông tin chứa đựng trong các phương tiện giao tiếp Từ sự tiếp nhận thông tin ấy mà người giáo viên có được cái nhìn cụ thể hơn về đối tượng giao tiếp ứng xử và từ đó có những biện pháp ứng xử phù hợp
Bên cạnh đó thông qua việc ứng xử mà giáo viên có thể thực hiện chức năng tổ chức, hướng dẫn hoạt động vui chơi, thông báo, giáo dục thông qua tập thể lớp
Cô giáo phân công vai chơi, tổ chức các nhóm vui chơi sao cho phát huy hết được tiềm năng vốn có của các cháu, khơi dậy sự hứng thú khi vào cuộc chơi.Xây dựng nếp sống cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày
Trang 24Và đối với cá nhân trẻ: Ứng xử thoả mãn một nhu cầu nào đó của trẻ như
âu yếm (ôm hôn, vuốt ve, bế ẵm…)
Thực hiện chức năng chăm sóc dinh dưỡng vệ sinh cho trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an toàn về đời sống.Thực hiện chức năng giáo dục bằng tình cảm, xây dựng thói quen bằng hành vi ứng xử cho trẻ.Chức năng xây dựng những đặc trưng người và nhân cách
Ngoài ra ứng xử sư phạm có một vai trò cũng không kém phầm quan trọng đó chính là việc thiết lập mối quan hệ với phụ huynh với đồng nghiệp, thông qua việc ứng xử sư phạm thì giáo viên có thể thiết lập mối quan hệ với phụ huynh, với đồng nghiệp, giúp rút ngắn khoảng cách, tạo ra sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên với phụ huynh và đồng nghiệp, cũng từ đó giáo viên
có thể dễ dàng nhận được sự cảm thông chia sẻ của mọi người về công việc cũng như cuộc sống và dễ dàng trao đổi với phụ huynh về những vấn đề liên quan đến trẻ từ đó tạo nên được hiệu ứng tốt đẹp trong các mối quan hệ, phục
vụ đắc lực cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ
1.3.2 Nội dung ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm
1.3.2.1 Ứng xử giữa cô giáo với trẻ em
a Khái niệm
Ứng xử giữa cô giáo với trẻ em đó là toàn bộ nhận thức, tình cảm thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, cách phản ứng của cô giáo đối với trẻ trong tình huống giao tiếp nhất định Đồng thời trẻ em sẽ phỏng theo hành vi, cách ứng xử của cô giáo và đáp ứng lại
b Nét đặc trưng trong ứng xử giữa cô giáo với trẻ em
- Tình cảm của cô giáo đối với trẻ em
Cô giáo mầm non tuy không phải là người mẹ sinh ra trẻ theo nghĩa sinh học, nhưng cô hoàn toàn có thể dành tình thương, tình cảm cho trẻ như người
mẹ của trẻ trong hành vi ứng xử với trẻ theo tính chất tình cảm mẹ - con
Trang 25Những đặc trưng ứng xử quan hệ “mẹ - con” của cô giáo Mầm non thể hiện ở chỗ: Cô thường xuyên tiếp xúc với trẻ qua xúc giác như: ôm ấp, vuốt
ve, âu yếm… truyền cho trẻ những xúc cảm, tình cảm yêu thương của người
mẹ Trong sinh hoạt hàng ngày và cả trong các tiết học cô thường dạy bảo trẻ, uốn nắn những hành vi sai lệch của trẻ bằng lời nói nhẹ nhàng, ánh mắt gần gũi… Cô không “ra lệnh” cho trẻ một cách cứng nhắc và xa lạ Mọi mệnh lệnh đối với trẻ đều cần phải gắn với việc tạo ra cảm giác nhẹ nhàng mới đạt hiệu quả Những mệnh lệnh khắc nghiệt, khô khan chỉ làm cho trẻ sợ mà phải thực hiện theo yêu cầu một cách gò bó kém hứng thú, sẽ làm tổn hại đến sự phát triển tính tự giác, tích cực của trẻ
Cô giáo là người luôn hiểu và làm thoả mãn kịp thời những nhu cầu cơ bản cần thiết của trẻ Có lẽ trong các mối quan hệ chỉ có người mẹ mới thoả mãn tối đa các nhu cầu của trẻ (cả nhu cầu về về chất lẫn tinh thần) chỉ có người mẹ mới thấu hiểu lòng con và đáp ứng đầy đủ theo khả năng và sự cố gắng của mình Cô giáo Mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ cho nên cũng
có thể là người đáp ứng một cách kịp thời các nhu cầu cần thiết của trẻ trên cơ
sở đó thấu hiểu những mong muốn của các cháu, từ đó tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt cả về mặt thể chất lẫn tinh thần Cô luôn biết động viên khích lệ, đánh giá kịp thời thành tích nhỏ của trẻ bằng sự quan tâm của người mẹ giúp cho trẻ tự tin vào chính bản thân mình và biết chủ động mạnh dạn trong các hoạt động Cô giáo luôn tận tụy, hết mình vì trẻ, thậm chí nhiều khi phải hy sinh lợi ích riêng tư của mình để chăm lo cho các cháu, dành nhiều thời gian quan tâm giúp đỡ cho những trẻ cá biệt Mà trong đời sống tình cảm cảm con người thì tình cảm mẹ con là thứ tình cảm đặc biệt, mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả cho con, vì con Và cô giáo Mầm non cũng có thể dành tình thương cho trẻ giống như người mẹ để chăm sóc và giáo dục tốt hơn
- Nhận thức và uy quyền của cô giáo được thể hiện qua cách ứng xử trong quá trình giáo dục trẻ
Trang 26Cô giáo mầm non bắt đầu từ khi bước vào ngành học Mầm non đã được trao nhiêm vụ: Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Để hoàn thành nhiệm vụ này thì người giáo viên Mầm non không chỉ sử dụng phương thức ứng xử mẹ - con mà còn phải thực hiện chức năng xã hội của mình là một nhà giáo dục Quan hệ giữa cô và trẻ trong lớp học là quan hệ giữa cô giáo và học sinh Vì vậy cô giáo mầm non phải chịu trách nhiệm chăm sóc, vun trồng cho những mầm non tương lai của đất nước Các cháu có trở thành người có sức khoẻ cường tráng, có tâm hồn trong sáng,
có trí tuệ thông minh hay không? phụ thuộc rất nhiều vào sự tạo dựng ở giai đoạn lứa tuổi Mầm non Trình độ của các giáo viên để gánh vác nhiệm vụ này đòi hỏi phải được đào tạo qua kỹ năng và nghiệp vụ sư phạm, tri rhức về chuyên ngành Nhằm trang bị cho giáo viên Mầm non vốn tri thức khoa học
cơ bản về công tác chăm sóc và giáo dục trẻ để từ đó giáo viên Mầm non có thể thực hiện nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng trẻ Mầm non một cách khoa học nhằm giúp trẻ phát triển hài hoà, toàn diện
Để giúp trẻ phát triển toàn diện cả về mặt thể chất lẫn tinh thần thì cô giáo cần phải thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ theo đúng khoa học:
Về chế độ dinh dưỡng, về chế độ tập luyện nghỉ ngơi…trên nền tảng đó làm thoả mãn hợp lý những nhu cầu của trẻ Cô giáo bằng thành tựu khoa học đương thời còn có nhiệm vụ truyền thụ những tri thức tiền khoa học thông qua hình thức “tiết học” Đưa trẻ thích nghi dần với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, mà sau này chính trẻ là chủ thể của thế giới đó, góp phần sáng tạo, làm giàu thế giới mà đứa trẻ sinh ra và lớn lên
Cô giáo Mầm non còn là người che chở, bảo vệ, nuôi dưỡng dạy dỗ trẻ trở thành một nhân cách tốt cho xã hội Chính vì thế trong ý thức, hành vi ứng
xử của cô giáo luôn thường trực việc dạy trẻ những hành vi ứng xử đúng đắn, phù hợp sao cho trẻ có được mối quan hệ tốt đẹp với tự nhiên, xã hội, với con người và với chính đứa trẻ Trong lớp học thì cô giáo là người có uy quyền
Trang 27nhất, mọi lời nói, hành động của cô đều có hiệu lực, có tác động lớn đến trẻ Trẻ vâng lời cô giáo như vâng lời bố mẹ, bởi bên cạnh tình thương yêu mà cô giáo dành cho trẻ thì cô giáo còn có nhiệm vụ truyền thụ cho trẻ những tri thức tiền khoa học bằng các phương pháp giáo dục.Bên cạnh những tình cảm yêu thương mà cô giáo dành cho trẻ thì cô giáo còn có những quy định, những nguyên tắc bắt buộc trẻ phải tuân theo Cô giáo còn được sử dụng các phương pháp thưởng phạt để có thể uốn nắn trẻ kịp thời Qua hành vi ứng xử của cô giáo đối với trẻ, cô giáo đã giúp trẻ lĩnh hội được các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, rèn luyện hành vi ứng xử thông qua các hoạt động có mục đích Đây chính là các hành vi ứng xử trong các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ hàng ngày ở trường Mầm non Bằng kiến thức sư phạm và năng lực tổ chức các hoạt động thông qua lời nói, cách hướng dẫn được cô giáo chọn lựa những hành vi mẫu mực để ứng dụng được thể hiện qua các tình huống Từ đó định hướng đến sự phát triển và lựa chọn cho trẻ có được những hành vi ứng xử lành mạnh và phù hợp Bên cạnh tác động có mục đích, trong ứng xử giữa cô giáo và trẻ còn chịu sự tác động tự phát ngẫu nhiên Tuy không được ý thức nhưng những tác động này cũng có sức mạnh không kém
gì các tác động có mục đích Sự tập nhiễm ảnh hưởng tự nhiên thấm dần vào tâm hồn trẻ thường xuyên và tạo ra bộ mặt nhân cách trẻ Do đó cô giáo phải
là tấm gương mẫu mực trong mọi hành vi ứng xử của mình Trẻ sẽ vâng lời
cô giáo một cách tự nguyện khi cô giáo gần gũi, nhẹ nhàng, khéo léo ứng xử với trẻ
Muốn cho quá trình giao tiếp, ứng xử đạt hiệu quả cao thì cô giáo phải thể hiện được vai trò của mình, thể hiện được uy quyền trong các hoạt động
Và cô giáo phải là người hiểu biết được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng
độ tuổi nhất định Trẻ Mẫu giáo ưa nói ngọt ngào, thích được khen, vì vậy trong quá trình tổ chức hoạt động khi trẻ thực hiện nhiệm vụ cô cần sử dụng biện pháp “khen nhiều chê ít” tuy nhiên phải khen đúng lúc, đúng người,
Trang 28không nên khen tràn lan, chung chung Sự giao tiếp ứng xử của cô trẻ sẽ nhìn nhận thông qua những cử động, nét mặt, lời nói… của cô để biết được hành vi
đó của trẻ được cô nhìn nhận như thế nào Có thể khi cô giáo sắng giọng nhưng lại có ý thương cảm, hoặc có thể cô nói nhẹ nhàng nhưng làm cho trẻ nhận ra được việc mình làm là sai bởi trong lời nói nhẹ nhàng ấy có ẩn ý răn
đe của cô giáo
- Nhân cách đạo đức của cô giáo ảnh hưởng tới hành vi ứng xử, tình cảm của trẻ
Cô giáo mầm non là tấm gương mẫu mực cho trẻ nhập tâm, bắt chước và học tập Cô giáo dạy trẻ bằng tình thương lòng nhân ái, để thông qua đó truyền thụ cho trẻ những tri thức khoa học sơ khai phù hợp với năng lực tiếp thu và lĩnh hội của trẻ Bản thân cô giáo là một tấm gương sống động và tốt đẹp trong mắt trẻ Cô luôn chú ý lấy các tấm gương sáng về những điều hay lẽ phải của trẻ để tuyên dương, động viên khích lệ trẻ kịp thời cho các trẻ khác học tập noi theo
Mục tiêu của giáo dục Mầm non là thực hiện các nhiệm vụ: Giáo dục Đức - trí - thể - mỹ cho trẻ để từ đó hình thành những đặc trưng nhân cách cho trẻ Chính vì vậy đòi hỏi giáo viên Mầm non phải có tri thức về nghệ thuật ứng xử để từ đó tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các cô giáo và trẻ Tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi để trẻ có thể tiếp nhận các tri thức một cách tích cực, tự giác Cô giáo Mầm non có hành vi ứng xử nhẹ nhàng, phù hợp, khéo léo thì sẽ rất thuận lợi trong công tác của mình Đặc điểm tâm lý bao trùm của trẻ ở thời kỳ này là xúc cảm phát triển mạnh, trẻ dễ có những ấn tượng với những hành vi của cô giáo Những cử chỉ nhẹ nhàng, dịu hiền của
cô giáo sẽ tạo ra cho trẻ những cảm giác an toàn để trẻ có thể bộc lộ tính hồn nhiên, ngây thơ trong trắng của mình
Cô giáo Mầm non với tư cách là nhà sư phạm - người thầy đầu tiên trong cuộc đời trẻ bởi vậy, trong ứng xử cô giáo phải thể hiện đúng phong cách sư
Trang 29phạm Mọi lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, nét mặt, đi đứng …của cô cần phải thực
sự chú ý, phải luôn văn minh, thanh lịch thực sự là nhà mô phạm, nắm vững tri thức khoa học tâm lý và giáo dục Không phải ngẫu nhiên mà người ta khẳng định “cô nào- trẻ nấy” điều đó muốn nói lên rằng trong quá trình tiếp xúc giữa trẻ với cô giáo tạo nên sự “lây lan” nhân cách từ cô sang trẻ Vì vậy chức năng giáo dục qua ứng xử giữa cô và trẻ được diễn ra bằng hai con đường: Con đường có mục đích và con đường tập nhiễm tự nhiên Cô giáo Mầm non cần nhận thức rõ tính chất ảnh hưởng của mình đối với hành vi ứng
xã hội thì văn hoá ứng xử sư phạm giữa các giáo viên mầm non với nhau cũng
là một bộ phận cấu thành nên văn hoá Đối với mỗi người giáo viên Mầm non, thời gian trong một ngày, ngoại trừ lúc về nhà, còn khoảng thời gian còn lại là làm việc, tiếp xúc, trao đổi, trò chuyện với đồng nghiệp, với những người xung quanh.Vậy tại sao chúng ta không ứng xử khéo léo hơn đối với mọi người
Hải Thượng lãn ông Lê Hữu Trác, danh y từ thế kỷ XVIII, trong y huấn cách ngôn ông đã viết: “khi gặp những người cùng ngành nghề, nên khiêm tốn hoà nhã, cẩn thận chớ nên coi rẻ xem hơn.Đối với người cao tuổi thì nên cung kính lễ phép.Đối với người giỏi hơn mình thì phải tôn thờ như bậc thầy.Đối với kẻ kiêu ngạo thì nhún nhường”
Ứng xử sư phạm vừa là một nhu cầu vừa là một nghệ thuật.Vậy làm thế nào để mỗi giáo viên có phong cách ứng xử thật văn hoá với đồng nghiệp của mình? Có rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề ứng xử với đồng nghiệp, có người cho rằng để ứng xử tốt với đồng nghiệp thì trước tiên hãy tiếp cận đồng
Trang 30nghiệp của mình ở góc độ không tốt không xấu, bởi không có ai là người hoàn toàn xấu cả Khi đánh giá con người cụ thể chúng ta thường bị những cách nhìn tĩnh lại, xơ cứng, bị định kiến che khuất ít khi tách ra được dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng không xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm đó Con người cũng dễ bị chi phối bởi quy luật cảm xúc “yêu nên tốt, ghét nên xấu” kết quả là dễ mắc sai lầm trong giao tiếp ứng xử Đối với việc ứng xử với đồng nghiệp cũng giống như các nguyên tắc ứng xử khác, hãy biết thừa nhận và biết lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp, biết tạo ra sự đồng cảm, niềm tin lẫn nhau Trong khi giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp hãy
là người luôn biết quan tâm và chia sẻ, hãy sống chân tình và chúng ta sẽ nhận lại những tình cảm ấy nơi đồng nghiệp của mình Và trong khi giao tiếp với đồng nghiệp mình hay bất cứ đối tượng nào khác nên tránh những điều sau:
- Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó
- Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột
- Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co, dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi
- Thì thầm với một vài người trong đám đông
- Nói với giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác
1.3.2.3 Ứng xử giữa giáo viên và phụ huynh
Ứng xử giữa giáo viên và phụ huynh là một trong những nội dung rất quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường cũng được thực hiện tốt thông qua ứng xử giữa giáo viên và phụ huynh Để có thể tạo được sự tin tưởng của phụ huynh và thu hút phụ huynh tham gia vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ thì việc đầu tiên mà người giáo viên mầm non cần phải làm đó chính là tạo được tình cảm
Trang 31và niềm tin nơi phụ huynh thông qua hoạt động giao tiếp ứng xử hàng ngày Bên cạnh đó các giáo viên cần lắng nghe ý kiến của cha mẹ trẻ, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với phụ huynh, sẵn sàng tư vấn giúp đỡ các kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau, tạo mối quan hệ tốt đẹp với phụ huynh, từ đó sự gắn kết giữa phụ huynh và nhà trường sẽ trở nên tốt đẹp và việc ứng xử giữa giáo viên và phụ huynh sẽ thân thiện, đồng cảm hơn Giảm đi sự căng thẳng trong ứng xử với phụ huynh trong các tình huống sư phạm phức tạp
Kỹ năng ứng xử với phụ huynh bằng lời nói rất quan trọng khi thiết lập mối quan hệ cộng tác với phụ huynh Mối quan hệ cộng tác này rất cần thiết cho quá trình giáo dục trẻ Để có thể phát triển tốt kỹ năng giao tiếp ứng xử với phụ huynh thì người giáo viên mầm non cần chú ý những vấn đề sau:
- Ấn tượng đầu tiên rất quan trọng Khi gặp phụ huynh lần đầu tiên, hãy chắc chắn rằng bạn thật sự trang trọng và chú ý quan tâm đến trẻ
- Thời gian lần đầu bỏ ra để thiết lập mối quan hệ với phụ huynh là bước đầu tiên trong quá trình kết hợp với nhau để giải quyết vấn đề liên quan đến trẻ
- Khi nói đến vấn đề của trẻ hãy chú ý đến những ý kiến và sự thấu hiểu của phụ huynh về trẻ
- Hãy dừng lại và cho phụ huynh thời gian để nói
- Lắng nghe cũng quan trọng như nói
- Đừng tranh cãi nếu phụ huynh tỏ vẻ khắt khe hay đang kết tội bạn Hãy lắng nghe trước sau đó trả lời
- Tránh những câu nói có ý buộc tội hay trách móc phụ huynh
- Hãy biết rằng bạn không phải lúc nào cũng đúng và việc có lỗi và xin lỗi cũng là chuyện bình thường
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm của giáo viên Mầm non
a Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân
Vốn sống, vốn kinh nghiệm của bản thân là những kiến thức có trong bản thân của mỗi cá nhân, được tích luỹ trong suốt quá trình sống, công tác thông
Trang 32qua việc tự trau dồi kiến thức của bản thân cũng như quá trình tiếp xúc với mọi người xung quanh
Ở đây chúng tôi đề cập đến vốn sống, vốn kinh nghiệm của giáo viên về các mặt: Kiến thức, kỹ năng ứng xử, khả năng hiểu biết về cách giải quyết các tình huống sư phạm
Những kinh nghiệm này được giáo viên Mầm non tích luỹ trong suốt quá trình sống và làm việc Nếu vốn sống, vốn kinh nghiệm tốt thì giáo viêm mầm non sẽ giải quyết các tình huống sư phạm nhanh hơn, đúng hơn và khoa học hơn
b Nhận thức của giáo viên Mầm non về ứng xử sư phạm
Nhận thức của giáo viên mầm non về ứng xử sư phạm đó chính là việc giáo viên hiểu biết như thế nào về ứng xử sư phạm, về các kỹ năng ứng xử Nếu giáo viên nắm bắt được như thể nào là ứng xử sư phạm, và ứng xử thế nào là phù hợp, là khéo léo cùng với nhận thức về tầm quan trọng của ứng
xử sư phạm thì giáo viên mầm non có thể hiểu và ứng xử phù hợp hơn trong các tình huống sư phạm Còn nếu nhận thức về ứng xử sư phạm bị sai lệch thì dẫn tới việc ứng xử sư phạm không hiệu quả
c Phẩm chất nhân cách của người giáo viên Mầm non
Để có thể ứng xử sư phạm phù hợp thì yếu tố phẩm chất nhân cách của người giáo viên Mầm non là rất quan trọng Một người giáo viên có nhân cách tốt thì trong mọi suy nghĩ và hành động của họ sẽ hướng tới sự trong sáng, hướng tới cái thiện Bởi vậy quá trình ứng xử sư phạm của họ cũng sẽ
có được sự nhẹ nhàng, gần gũi và có được văn hoá ứng xử, từ đó thì hiệu quả của việc ứng xử sẽ được nâng lên, và mọi đối tượng ứng xử sẽ có được cái nhìn kính trọng hơn đối với những giáo viên ấy
d Tính tích cực ứng xử của giáo viên Mầm non
Tính tích cực ứng xử được thể hiện ở việc giáo viên tích cực giải quyết triệt để các tình huống sư phạm Giáo viên càng tích cực giải quyết các tình
Trang 33huống sư phạm thì càng tích luỹ được nhiều kinh nghiệm ứng xử, từ đó có thể vận dụng các kinh nghiệm ấy vào việc giải quyết tốt các tình huống khó, phức tạp Ngược lại giáo viên Mầm non không chịu khó giải quyết triệt để các tình huống sư phạm thì việc lúng túng, khó xử trong nhiều tình huống sư phạm là điều tất yếu
1.4 Kỹ năng ứng xử văn hoá
Văn hoá ứng xử là một nghệ thuật nhưng nó không phải đến mức nghệ thuật hoá Nghệ thuật ứng xử bao giờ cũng xuất phát từ cuộc sống chân thực, lối sống thật thà, thái độ nhân sinh quan và tâm lý sâu sắc, không rắp tâm làm những điều mà mình và người khác không mong muốn Nếu một con người có trái tim nhân hậu của người mẹ hiền, có bộ não uyên bác của nhà khoa học, có tâm hồn lãng mạng của một nghệ sĩ, có bàn tay khéo léo của một nghệ nhân thì nghệ thuật ứng xử sẽ tự nhiên thấm ngầm vào cuộc sống hàng ngày của họ Nghệ thuật ứng xử không tự nhiên mà có, nó càng không thể xây dựng trên một nền tảng tâm hồn và trí tuệ nghèo nàn, nó là kết quả của cả một quá trình nhận thức và rèn luyện của bản thân Chỉ để hoàn thành công việc
và nhiệm vụ chuyên môn thì dễ còn xử thế với mọi người xung quanh mới là chuyện khó
Trong cuộc sống hàng ngày, để hiểu nhau, trao đổi tin tức, phổ biến kiến thức cho nhau, con người cần phải sử dụng ngôn ngữ, nét mặt, thái độ, dáng điệu, cử chỉ… hay còn gọi là phong cách ứng xử phi ngôn ngữ và ứng xử bằng ngôn ngữ Đối với phong cách ứng xử phi ngôn ngữ: Tình cảm sâu kín của con người có thể được biểu lộ qua nét mặt, nụ cười, thái độ, cử chỉ, động tác hình thể Từ nét mặt mỗi người, hoặc kiêu hãnh tự hào, hoặc trầm tư, đăm chiêu, hoặc nghiêm nghị, hoặc mỉm cười, hoặc cười nhạt, cười không thành tiếng, dáng đi từ tốn, thái độ lịch sự… chỉ cần để ý quan sát là có thể phần nào hiểu được tính cách của người đó Những người tầm thường hay có những hành động manh mún, khuất tất, cử chỉ dung tục, ánh mắt soi mói, gây khó
Trang 34chịu cho người xung quanh Những người lịch sự thường có những hành động đàng hoàng, cử chỉ thanh cao, rất dễ được lòng người khác
Đối với ứng xử bằng ngôn ngữ lời nói: Nhân gian ta có câu “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Bản tính con người là luôn muốn được chia sẻ Tri thức niềm vui kể cho một người nghe sẽ được nhân lên thành hai Nỗi buồn kể cho một người nghe sẽ giảm đi một nửa Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất của giao tiếp Mọi khổ đau bất hạnh trên đời này đều từ lời nói má ra Lời nói khởi đầu cho tất cả mọi việc Lời nói xấu thường mang tai hoạ cho bản thân và cho người khác, và ngược lại lời nói đẹp mang đến cho cuộc sống sự yên bình hạnh phúc Người xưa có câu bệnh tong nhập khẩu, hoạ tòng xuất khẩu” Nghĩa là bệnh từ miệng mà vào, hoạ từ miệng mà ra Tai hoạ do trời gây ra có thể tránh, còn tai hoạ do lời nói của mình gây ra thì khó tránh khỏi Bỏi vậy con người mới phải học cách nói năng giao tiếp Sửa được ngôn ngữ giao tiếp nghĩa là đã sửa được tâm tính, giảm bớt được khẩu nghiệp Không thể cầu mong nghe được lời nói nhẹ nhàng nếu chính bản thân mình chưa làm được như vậy Trong giao tiếp, ngôn ngữ nói phải hấp dẫn, lôi cuốn, mạch lạc, câu nói có đầy đủ chủ vị, đơn giản nhưng hàm ý sâu xa Người nói phải có sự chuẩn bị trước, không nói bừa, nói ẩu không suy nghĩ Phải hiểu và nắm bắt được tâm lý của người nghe, đặt mình vào vị trí của người nghe Phải luôn tôn trọng người nghe, xưng hô đúng mực, tuyệt đối không dùng từ miệt thị như: mày, tao, nó, con… một số danh từ chỉ trình độ chuyên môn có tính chất tôn trọng, tôn vinh một
cá nhân thì nên dùng phổ biến để trở thành thói quen
Không nên chửi mắng, nói lời nói khiêu khích hay cay nghiệt, lời nói không tử tế, lời nói tự cao tự đại, lời nói dối, nói sau lưng, xúi dục gây mất đoàn kết
Để có được văn hoá ứng xử tốt ngoài những người có khả năng thiên bẩm, số còn lại đòi hỏi phải không ngừng rèn luyện nâng cao kỹ năng giao
Trang 35tiếp cũng như nỗ lực trau dồi kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống Tri thức nhân loại cùng với những trải nghiệm trong cuộc sống là cơ sở vững chắc nhất để từ đó con người đạt tới nghệ thuật trong văn hoá ứng xử
Để có thể ứng xử tốt mỗi người cần chú ý tới những kỹ năng ứng xử sau:
- Kỹ năng nghe: Nghe là một trong những kỹ năng cực kỳ quan trọng trong giao tiếp ứng xử, để có thể đạt hiệu quả cao trong ứng xử thì mỗi cá nhân phải biết cách lắng nghe và thể hiện sự thông hiểu lời nói của đối tượng giao tiếp Lắng nghe là hùng biện nhất nhưng lại ít người biết được điều đó Để có thể lắng nghe tốt bạn cần tuân thủ các bước sau đây của chu trình lắng nghe + Tập trung: Yếu tố đầu tiên để lắng nghe hiệu quả đối tượng ứng xử là tập trung Tập trung có nghĩa là trong một thời điểm chỉ àm một việc Tập trung lắng nghe cũng là việc tôn trọng người nói, giúp người nói cởi mở hơn + Tham dự: Người nói phải có người nghe Tham dự trong lắng nghe được biểu hiện bằng sự chú ý của đôi mắt, cái gật đầu của người nghe
+ Hiểu: Nhiều cuộc ứng xử diễn ra trong bối cảnh “ông nói gà, bà nói vịt”
vì không hiểu được thông điệp của đối tượng ứng xử Bởi vậy việc hiểu và đáp lại cách hiểu của mình về nội dung mà người khác nói là điều quan trọng
+ Ghi nhớ: Ghi nhớ những thông điệp mà đối tượng ứng xử muốn truyền cho mình
+ Hồi đáp: ứng xử là một quá trình tương tác hai chiều, bởi vậy có đi thì phải có lại, người nhận thông điệp từ đối tượng ứng xử thì cũng cần phải đáp lại đối tượng đó bằng những suy nghĩ, đánh giá của mình
- Kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc với đối tượng: Đây được xem như một thói quen bất kỳ khi tiếp xúc một đối tượng nào, nhằm mục đích xác định thông tin về đối tượng đó trước khi bước vào giao tiếp ứng xử
Cổ nhân thường nói: “Biết mình biết người trăm trận trăm thắng”
Nhà giáo dục Nga K Đ.Usinxki cũng từng nói: “Muốn giáo dục con người đầy đủ phải hiểu rõ đầy đủ về con người” Bởi vậy để có thể ứng xử tốt
Trang 36với một ai đó thì trước hết mỗi chủ thể cần phải có sự xác định về đối tượng
đó là người như thế nào
- Kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân
- Kỹ năng sử dụng phương tiện trong ứng xử
Kết luận chương 1
Trong chương này, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về ứng xử, ứng xử sư phạm, tình huống sư phạm và vai trò của ứng xử sư phạm đối với hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên mầm non chúng tôi đưa ra kết luận như sau:
Ứng xử sư phạm có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của người giáo viên mầm non Thông qua ứng xử sư phạm và đặc biệt
là các tình huống sư phạm mà người giáo viên mầm non có thể thiết lập được mối liên hệ giữa cô với trẻ với phụ huynh và với đồng nghiệp, từ đó tạo ra được chất lượng giáo dục
Người giáo viên mầm non cần có văn hoá ứng xử và hiểu được việc ứng
xử thế nào là có văn hoá để có thể ứng xử một cách phù hợp với các đối tượng ứng xử Và đặc biệt cần hiểu được đặc điểm tâm lý của đối tượng ứng xử tránh ứng xử một cách nông cạn không tạo đựơc hiệu quả của ứng xử
Có rất nhiều tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, có thể tình huống xấy ra với trẻ, với phụ huynh, với đồng nghiệp
và đối với mỗi đối tượng ứng xử lại có vô vàn tình huống xẩy ra Bởi vậy để ứng xử một cách phù hợp thì đòi hỏi người giáo viên mầm non phải là người linh hoạt, mềm dẻo và có được văn hoá ứng xử
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG XỬ SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON TRONG CÁC TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về mặt nhận thức của cô giáo về ứng xử sư phạm thông qua việc lựa chọn cách ứng xử Qua đó bộc lộ được nhân cách của người giáo viên Tìm hiểu thực trạng ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm: ứng
xử với trẻ, ứng xử với đồng nghiệp, ứng xử với phụ huynh học sinh trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ
Từ đó đề xuất ý kiến nhằm giúp cho các giáo viên mầm non ứng xử phù hợp hơn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 55 giáo viên Mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, trong đó:
- 15 Giáo viên trường Mầm non Quang Trung I
- 14 Giáo viên trường Mầm non Bình Minh
- 13 Giáo viên trường Mầm non Hoa Hồng
- 13 Giáo viên trường Mầm non Hưng Dũng I
* Trình độ giáo viên mầm non:
- Giáo viên trình độ đại học: 30 giáo viên
- Giáo viên trình độ cao đẳng: 15 giáo viên
- Giáo viên trình độ trung cấp: 10 giáo viên
* Thâm niên công tác
- 5 giáo viên thâm niên dưới 5 năm
- 19 giáo viên thâm niên từ 5 đến 10 năm
- 20 giáo viên thâm niên từ 10 đến 20 năm
Trang 38- 10 giáo viên thâm niên từ 20 đến 30 năm
- 1 giáo viên thâm niên 30 năm
2.1.3 Địa bàn nghiên cứu
Thành phố Vinh - Nghệ an
2.1.4 Nội dung và cách thức nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu chúng tôi chia làm nhiều đợt Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và phát phiếu điều tra cho 55 GVMN ở 4 trường Mầm Non tại thành phố Vinh
Đợt 1: Tiến hành nghiên cứu thực trạng nhận thức của cô giáo Chúng tôi phát ra 55 phiếu điếu tra, mỗi phiếu có 3 câu hỏi, mỗi câu hỏi chúng tôi đưa ra các mức độ, các dấu hiệu để cô giáo Mầm Non đánh vào đáp án mà họ cho là đúng Sau khi thu về chúng tôi xử lý kết quả và thông qua đó chúng tôi đánh giá mức độ nhận thức của cô giáo về ứng xử sư phạm
Đợt 2: Thực nghiệm trong các tình huống giả định: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhận thức và sự hiểu biết của cô giáo khi lựa chọn cách ứng xử thông qua các tình huống giả định Trong mỗi tình huống chúng tôi đưa ra các cách giải quyết khác nhau và giáo viên sẽ đánh dấu vào cách giải quyết mà họ cho là phù hợp Sau đó chúng tôi xử lý kết quả, tính phần trăm các mức độ giải quyết để đưa ra kết quả rồi phân tích đánh giá sự hiểu biết của giáo viên
về ứng xử sư phạm thông qua việc xử lý các tình huống
Đợt 3: Tìm hiểu thực trạng ứng xử sư phạm trong các tình huống sư phạm: ứng xử với trẻ, ứng xử với đồng nghiệp, ứng xử với phụ huynh ở một
số trường Mầm Non trên địa bàn thành phố Vinh
Chúng tôi sử dụng các phương pháp quan sát, trò chuyện để tìm hiểu thực trạng cách ứng xử của cô giáo trong các tình huống sư phạm: ứng xử với trẻ, ứng xử với đồng nghiệp, ứng xử với phụ huynh thông qua các hoạt động Chúng tôi có đưa ra một số câu hỏi để hỏi trẻ và phụ huynh và các giáo viên
Trang 39về cách ứng xử của cô giáo trong các hoạt động (hoạt động học, đón trả trẻ…, mối quan hệ với phụ huynh, với đồng nghiệp) Ngoài ra chúng tôi còn trực tiếp vào dự giờ một số lớp để quan sát cách ứng xử của cô đối với trẻ, với phụ huynh và các giáo viên khác như thế nào Qua đó chúng tôi đưa ra nhận xét và kết luận về thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1.5 Tiêu chuẩn và thang đánh giá
Thang điểm đánh giá
- Thái độ, hành vi, cử chỉ nhẹ nhàng, gần gũi
- Biết kiềm chế xúc cảm của bản thân
- Luôn là tấm gương sáng, mẫu mực cho trẻ noi theo
- Biết lắng nghe và cùng chia sẻ với trẻ những băn khoăn thắc mắc
- Ngôn ngữ giao tiếp ứng xử có văn hoá
- Sống hoà đồng, thân thiện và vui vẻ
- Lắng nghe sự góp ý của đồng nghiệp
- Hy sinh quyền lợi cá nhân, đặt cái “ta”
- 0,4 điểm
- 0,5 điểm
- 0,4 điểm
Trang 40trước cái “tôi”
- Nhìn nhận đánh giá vấn đề một cách khách quan và trung thực
- Góp ý chân thành và khéo léo khi đồng nghiệp làm việc sai
- Sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp khi gặp hoạn nạn
- Thường xuyên chủ động trao đổi những vấn đề vướng mắc của con em, cùng nhẹ nhàng tháo gỡ