1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện nam đàn, tỉnh nghệ an trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

54 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn Bị Thu Hồi Đất Nông Nghiệp Ở Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An Trong Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Tác giả Đặng Văn Hoàng
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Chính Trị - Luật
Thể loại luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 559,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ Làm rõ vấn đề việc làm; việc làm của người lao động nông thôn; sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

NGÀNH: CHÍNH TRỊ - LUẬT

Giáo viên hướng dẫn: TS.Đinh Trung Thành Sinh viên thực hiện : Đặng Văn Hoàng Lớp : 49B1 Chính trị-Luật

MS Sinh viên : 0755022784

NGHỆ AN-2012

Trang 2

A MỞ ĐẦU 4

Chương I: Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động nông thôn trong quá

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của NLĐ nông thôn trong quá trình

1.2.2 Cơ cấu lao động và trình độ của người lao động nông thôn 14 1.2.3 Sự gia tăng mạnh mẽ dân số ở khu vực nông thôn 16

1.3 Sự cần thiết tạo việc làm cho LĐ nông thôn trong quá trình CNH,HĐH 20

Chương 2: Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho NLĐ nông thôn khi

bị thu hồi đất ở Nam Đàn, Nghệ An trong quá trình CNH, HĐH 22 2.1 Những đặc điểm của huyện Nam Đàn ảnh hưỏng đến tạo việc làm cho

Trang 3

2.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của huyện Nam Đàn 22 2.1.2 Đặc điểm của huyện Nam Đàn ảnh hưởng tới tạo việc làm cho người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp do quá trình CNH, HĐH 26 2.1.3 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình công nghiệp

2.1.4 Đặc điểm của người lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp

2.2 Thực trạng việc làm của NLĐ thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở huyện Nam Đàn giai đoạn 2005 – 2011 37 2.2.1 Khái quát thực trạng việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm của lao

2.3.2 Thực trạng học nghề và giải quyết việc làm của lao động thuộc diện

bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn trong thời gian vừa qua 41 2.4 Những vấn đề đặt ra nhằm tạo việc làm cho lao động thuộc diện thu

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản trong việc tạo việc làm 44 3.1 Các quan điểm về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp húa, hiện đại hóa 44 3.2 Phương hướng phát triển kinh tế và dự báo dân số - lao động huyện

3.2.1 Dự báo dân số - lao động huyện đến năm 2015 của huyện Nam Đàn 46

3.3 Một số giải pháp cơ bản về tạo việc làm cho người lao động 48

3.3.2 Nhóm giải pháp về công tác quản lý và tổ chức thực hiện 51

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc làm luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội, trở thành nhu cầu bức thiết ở các vùng nông thôn hiện nay, khi mà quy mô dân số phát triển, lực lượng lao động trong độ tuổi ngày càng tăng, các làng nghề truyền thống bị mai một và thu hẹp Mặc dù quá trình phát triển kinh tế trong những năm đổi mới, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã tạo ra nhiều việc làm, thu nhập cho người lao động Song với chất lượng lao động và tay nghề còn thấp, hầu hết là chưa qua đào tạo nghề, nên việc tiếp cận với nền sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp của người lao động gặp không ít khó khăn

Thêm vào đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đô thị hóa nông thôn, nhiều khu công nghiệp, cụm doanh nghiệp được thành lập, cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ công nghiệp được xây dựng và mở rộng, thì một lượng lớn đất nông nghiệp đã bị thu hồi để chuyển đổi mục đích sử dụng Dẫn đến một bộ phận nông dân vùng nông thôn bị mất đất sản xuất, thậm chí phải di dời chỗ ở để giải phòng mặt bằng để phục vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Nhà nước và chính quyền các địa phương đã ban hành nhiều chính sách, tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất, nhưng các chính sách, biện pháp còn nhiều bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện Thời gian qua việc tìm kiếm việc làm của người lao động nông thôn tại các doanh nghiệp hay công việc dịch vụ có thu nhập ổn định đảm bảo đời sống sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp còn hạn chế

Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – là vùng bán sơn địa của của khu vực miền Trung Việt Nam, với gần 80% dân số sống ở nông thôn với nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, thì vấn đề tìm kiếm việc làm khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất, khi bị thu hồi đất là một bài toán nan giải đặt ra cho người dân cũng như các cấp chính quyền địa phương Sự dư thừa lao

Trang 5

triển kinh tế, giáo dục, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo và là mầm mống phát sinh tệ nạn xã hội tại địa phương

Những năm qua các cấp chính quyền ở Nam Đàn đã rất tích cực hưởng ứng chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhằm chuyển dịch lao động nông thôn Những chính sách và dự án tập trung vào: đào tạo nghề, khuyến khích phát triển làng nghề, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp tín dụng… Nhưng đối với người dân sống ở vùng nông thôn, tạo thêm việc làm và khả năng tự tạo việc làm, hoặc tiếp cận với các chương trình, dự án kinh tế, xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa được tổng kết và đánh giá đầy đủ để tìm ra giải pháp mang tính hiệu quả, thiết thực

Trước những tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và các địa phương, một số câu hỏi đặt ra là: Quá trình đó ảnh hưởng đến người lao động ở nông thôn như thế nào? Số lao động mất việc làm do thu hồi đất là bao nhiêu, họ có cơ hội tìm được việc làm phù hợp không? Các chính sách của nhà nước, địa phương đã hỗ trợ, giúp đỡ người lao động những gì? Làm thế nào để tạo nhiều cơ hội cho người lao động tìm kiếm việc làm tăng thu nhập, ổn định đời sống?

Với những trăn trở đó, em đã chọn: “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm khóa luận Tốt nghiệp

đại học ngành Chính trị - Luật

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho lao động nông thôn nói riêng từ trước đến nay đã được nhiều người quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta, từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay nhiều tác giả đó có những công trình bài viết xung quanh vấn đề này, tiêu biểu như:

Trang 6

- Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam, GS.TS Đỗ Thế Tùng, Tạp chí Lao động và công đoàn số 6,

- Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay, Đỗ Minh Cương, Nông thôn mới, số 91, 2003

- Làm thế nào để đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, Đặng Đình Hải - Nguyễn Ngọc Thụy, Tạp chí Lao động và xã hội, số

2008

Ngoài ra cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm ở các tỉnh như Lạng Sơn, Kiên Giang, Bắc Ninh và việc làm cho lao động nữ ở Hà Tĩnh…Song cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề việc làm cho người lao động nông thôn bị thu hồi đất ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận

đại hoá

- Nhiệm vụ

Làm rõ vấn đề việc làm; việc làm của người lao động nông thôn; sự

cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa; những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp để làm

cơ sở đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động

bị thu hồi đất nông nghiệp ở nông thôn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An từ 2005 – 2011

Nêu những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải

quyết có hiệu quả vấn đề việc làm cho người lao động do bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn

huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp ở nông thôn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ 2005 – 2011; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở nông thôn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ nay đến 2015

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương các khóa về kế hoạch phát triển kinh tế, cơ cấu, chuyển đổi nền kinh

tế, chính sách việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở Việt Nam; các nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Nam Đàn, Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An các khóa xung quanh vấn

đề này Ngoài ra, luận văn có kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và số liệu thống kê của một số công trình có liên quan của các tác giả

trong và ngoài nước

- Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu;

Đồng thời luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác như: Hồi cứu tài liệu (sưu tầm và nghiên cứu tài liệu) nhằm kế thừa có chọn lọc các công trình, sản phẩm nghiên cứu đã công bố có liên quan để tiết kiệm thời gian và công sức trong quá trình thực hiện;

Sươ dụng phương pháp tổng hợp, thống kê so sánh, phân tích, khái quát để làm sáng tỏ vấn đề nội dung cũng như số liệu có liên quan

Đồng thời sử dụng phương pháp chuyên gia: tuân thủ sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn, tham khảo ý kiến của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, cán bộ quản lý kinh tế ở địa phương và góp ý của các bạn sinh viên

Trang 9

6 Những đóng góp khoa học của khóa luận

- Tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến vấn đề việc làm nói chung

và việc làm của người lao động nông thôn nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho

người lao động bị thu hồi nông nghiệp ở nông thôn huyện Nam Đàn, tỉnh

Nghệ An từ 2005 – 2011

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho

người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở nông thôn huyện Nam Đàn,

tỉnh Nghệ An đến năm 2015

- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy môn Kinh tế chính trị

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa

luận gồm 3 chương

Chương I: Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động nông thôn trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương II: Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho người lao động nông thôn thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Sau đây là nội dung chính của khóa luận:

Trang 10

B NỘI DUNG Chương I

SỰ CẦN THIẾT TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG

QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý nền kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn: là quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền tảng cho việc phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế nông thôn

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp: là quá trình đưa máy móc, thiết bị, ứng dụng các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp vào các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quy luật kinh tế phổ biến, là một tất yếu khách quan đối với các nước kinh tế lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2 Việc làm

Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ

Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả

Trang 11

của chính sách giải quyết việc làm Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động kiếm sống của con người và xã hội loài người Các nhà kinh

tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của người lao động từ việc làm

Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp

Ngày nay các quan niệm về việc làm đó được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà không bị pháp luật cấm Điều 13, chương II Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau:

- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó

- Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật

Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao

động và các thành viên trong gia đình

Trang 12

Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị

pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm

Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm quan niệm đó đó giúp phần

mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật Lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm

1.1.3 Lao động nông thôn

Lao động nông thôn: là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nông thôn Họ không thuần túy là những người trong độ tuổi lao động mà đa dạng hơn, miễn là họ còn có sức khỏe

và có nhu cầu làm việc Tuy nhiên, hoạt động của họ chủ yếu là phục vụ chính bản thân mình và gia đình, không có chế độ hưởng lương Cũng có trường hợp thuê mướn lao động và có trả công nhưng chủ yếu là hợp đồng được thỏa thuận bằng miệng Trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và công nghiệp nhiều người lao động nông thôn cũng tham gia lao động công nghiệp theo tính chất ngắn hạn hay thời vụ, mà họ vẫn được gọi

là “công nhân nông nghiệp”

1.1.4 Việc làm cho lao động nông thôn

Việc làm cho lao động nông thôn: là việc làm phù hợp với kỹ năng

và trình độ của người lao động nông thôn Như: việc làm trong sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi); dịch vụ nông nghiệp (cung cấp phân giống, tưới tiêu, bảo vệ thực vật); việc làm thuộc các làng nghề sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống; các dịnh vụ thương mại tại chỗ phục vụ dân sinh trong vùng (buôn bán tạp hóa, quán ăn, sửa chữa xe đạp, xe máy,

cơ khí thủ công ); các việc làm có tay nghề kỹ thuật phụ vụ nhu cầu tại địa phương như thợ mộc, thợ xây dựng Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của nhân dân ngày càng cao thì tại các vùng nông thôn việc làm cũng trở nên đa dạng và phong phú Xuất hiện nhiều việc làm mới có thu nhập cao

Trang 13

như cắt tóc, gội đầu, mát xa, phục vụ nhà nghỉ, lái xe, phun sơn, điện nước,

điện lạnh

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của người lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1 Giảm diện tích đất canh tác

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình gia tăng và lớn lên của hệ thống đô thị, các nhà máy, xí nghiệp, quá trình biến từng vùng nông thôn thành đô thị là nguyên nhân cơ bản làm giảm diện tích đất canh tác trong nông nghiệp Hàng năm sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống đô thị, xây dựng các khu công nghiệp ở nước ta đã lấy đi gần 10.000 ha đất canh tác Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở nông thôn nước ta hiện nay rất thấp, chưa đến 0,2 ha/người Như vậy, hàng năm chính sự phát triển và hiên đại của công nghiệp, đô thị đã đẩy hơn 63.000 người dân ở nông thôn rơi vào cảnh không có đất để sản xuất, kinh doanh, sinh sống

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm người dân mất đất nhưng đổi lại người dân lại được đền bù một khoản tiền khá lớn, với tiền đền bù này đó giúp cho rất nhiều gia đình thực hiện việc đầu tư, đổi mới ngành nghề, tạo công ăn việc làm mới, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống Tuy nhiên, cũng không ít gia đình nông dân trước đây nghèo khó, thiếu thốn đủ thứ, nay tuy mất đất nhưng lại được một khoản tiền lớn, họ dùng tiền đền bù vào việc thoả mãn nhu cầu phục vụ sinh hoạt bản thân, gia đình: như xây nhà, mua sắm tiện nghi, thậm chí ăn tiêu lãng phí để rồi trở thành thất nghiệp sau một thời gian ngắn…

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng được phát triển, nhiều diện tích đất “bờ xôi, ruộng mật” nhường chỗ cho các công trình giao thông, văn phòng, nhà ở…Từ năm 2001 đến nay, riêng ngành giao thông vận tải đã cải tạo, nâng cấp và làm mới 4.567

km đường quốc lộ vào hơn 4.690 m cầu đường sắt Cơ sở hạ tầng ngành giáo dục trong những năm qua tăng đáng kể, năm học 2008-2009 các địa

Trang 14

phương đã đầu tư xây dựng thêm 494.766 phòng học cho các lớp mầm non

và 85.466 phòng học cho các lớp phổ thông Hệ thống các trường dạy nghề cũng được tăng lên, năm 2007-2008 có 521 trường (346 trường Đại học và cao đẳng, 275 trường trung học chuyên nghiệp); năm 2008-2009 có 562 trường (trong đó: 389 trường Đại học và cao đẳng, 273 trường trung học chuyên nghiệp Nhiều khu công nghiệp, thị trấn, thị tứ, thị xã, thành phố được xây dựng, mở rộng, cải tạo, nâng cấp, nhiều bến cảng được xây dựng

và đi vào hoạt động (cảng Cái Lân, khu kinh tế Vũng Áng…), nhiều doanh nghiệp được xây dựng: tính đến cuối năm 2008, cả nước đã có 330.872 doanh nghiệp trong các ngành kinh tế đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp, và hơn 70.000 trang trại hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo việc làm cho hàng triệu lao động Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội

Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật tay nghề của người lao động thấp, chưa đủ khả năng khai thác những thuận lợi đó để giải quyết công ăn việc làm cho mình Do vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng diễn ra nhanh chóng nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc làm cho lao động càng tăng Trong quy hoạch phát triển đô thị, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động (đặc biệt là những người mất đất canh tác)

là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách

1.2.2 Cơ cấu lao động và trình độ của người lao động nông thôn

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đặt ra những yêu cầu mới cho người lao động, đòi hỏi người lao động phải nâng cao năng lực, trình độ của mình Nếu người lao động nông nghiệp nói riêng, người lao động trong các ngành nói chung không được đào tạo và đào tạo lại đáp ứng yêu cầu mới, thì tự họ sẽ mất công ăn việc làm, cơ hội tìm kiếm việc làm sẽ rất khó khăn tình trạng thất nghiệp và thiếu

việc làm là không thể tránh khỏi

Trang 15

Ở Việt Nam, những năm qua, nhất là từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động diễn ra khá nhanh và rõ nét hơn trước Nhìn trên phạm vi cả nước, tổng lao động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm 54,7% (năm 2006), 52,8% (năm 2007) tổng lao động xã hội; hàng năm có hàng chục vạn lao động nông nghiệp chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nhìn chung diễn ra vẫn chậm chạp, chưa tương thích và đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đến năm 2007, trong GDP giá trị nông nghiệp đó giảm xuống cũn 19,6%, trong khi đó lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tới 52,8% Nghịch lý này phản ánh một thực tế: công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn chưa đủ sức tạo nhiều việc làm mới

để thu hút lực lượng lao động nông nghiệp còn rất tiềm tàng Ngoài một bộ phận không nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc đi kiếm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp lớn, phần đông lao động vẫn đang bị ùn đọng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Một bộ phận lao động tiếp tục sản xuất nông nghiệp trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, một bộ phận chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp giản đơn, theo cơ chế thoả thuận Thực trạng này chứng tỏ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa gắn kết chặt chẽ và tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động; sự phân hoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người lao động, phần lớn có nguyên nhân từ đây

Thực trạng về lao động và việc làm ở nước ta đó chứng minh: lao động

có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn giỏi đang rất thiếu, trong khi lao động thủ công và lao động có tay nghề thấp lại thừa với số lượng lớn Do vậy, muốn giải quyết được công ăn việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần thiết phải quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ người lao động nông nghiệp nói riêng, lao động xã hội nói chung theo

cơ cấu lao động hợp lý phù hợp với từng giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Trang 16

Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, tất yếu dẫn theo sự dịch chuyển dân cư theo hướng chuyển hóa cư dân nông thôn thành

cư dân đô thị Sự chuyển hoá này diễn ra lâu dài thông qua các dòng chuyển cư theo chiều hướng khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm, hoàn cảnh của mỗi quốc gia Dưới ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình đô thị hoá đó diễn ra sự chuyển dịch dân cư nông thôn - nông thôn, dân cư nông thôn - đô thị Một bộ phận dân

cư ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đó di chuyển một cách tự phát thiếu tổ chức, thiếu qui hoạch vào một số tỉnh phía Nam, tập trung nhất là ở địa bàn Tây Nguyên Ở một số vùng nông thôn, điển hình là nông thôn đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện dòng chuyển cư về thành thị, chủ yếu về các khu công nghiệp tập trung các đô thị lớn, đặc biệt là thủ

đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở các thành phố lớn làm tăng thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn quốc; làm cho các thành phố lớn phải gánh chịu áp lực quá tải, nặng nề về dân số, lao động, việc làm, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và không ít khó khăn, phức tạp trong công tác quản lý

đô thị Nếu giải quyết tốt việc làm cho lao động ở nông thôn sẽ làm giảm

áp lực các vấn đề xã hội cho các đô thị

1.2.3 Sự gia tăng mạnh mẽ dân số ở khu vực nông thôn

Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến

sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn, vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế

Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động trong tương lai,

Trang 17

Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế-xã hội và chính trị cũng nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn

đề khác là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo,trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị Do đó,

tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên

Trong kế hoạch phátt triển kinh tế - xã hội, việc khống chế mức tăng dân số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Vấn đề dân số thường được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội

Ở nước ta, nhân tố dân số đó được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phỏt triển xã hội, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển Tuy nhiên, khi nguồn lực này vừa tăng quá nhanh vừa chưa sử dụng hết lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm

Nước ta đến nay vẫn còn hơn 62 triệu người sống ở nông thôn, trong

đó số người nằm trong độ tuổi lao động là khoảng 43,26 triệu người, chiếm 75,18% lực lượng lao động, nguồn thu nhập chính là nông nghiệp Đặc điểm của lao động nông thôn là tăng nhanh, ít qua đào tạo, đa dạng về lứa tuổi, sử dụng theo thời vụ, có nhiều cơ hội tìm việc làm nhưng giá tiền công lại rẻ, di chuyển lao động và một bộ phận lao động tự do

Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp đó phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều vùng nông thôn biến thành đô thị, nhiều diện tích đất nông nghiệp biến thành các khu công nghiệp, đường giao thông, trung tâm thương mại

và đất khu dân cư

Trang 18

Tính chung, trong 05 năm 2005-2010 trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 73.300 nghìn ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp Trong khi đó lao động nông nghiệp đó dư thừa trên 23% và số lượng cứ tăng dần với tốc độ 2% mỗi năm Năm 2005, lao động nông thôn, nông nghiệp có 27 triệu người, chiếm 80% lao động nông thôn; năm 2010 tăng lên 29,85 triệu người

Như vậy, trung bình mỗi năm lao động nông nghiệp tăng thêm khoảng 45 vạn người trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống kéo theo giảm việc làm cho nông dân Ruộng đất ít, lao động thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để tạo việc làm mới cho lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội

1.2.4 Vốn đầu tư

Vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với việc làm của người lao động: Vốn dùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc, thiết bị, đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ người lao động Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, để phát triển sản xuất đòi hỏi phải đổi mới nhanh chóng máy móc, thiết bị, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ Trong năm 2010, Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm

đó bổ sung 293 tỷ đồng nâng tổng nguồn vốn lên 3.755 tỷ đồng, có vốn đầu tư lớn, đem lại lợi thế cho doanh nghiệp và đơn vị sản xuất, và người lao động Nhiều doanh nghiệp ra đời khai thác được lợi thế của đất nước, đồng thời thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam Trong những năm qua Việt Nam đó thu hút được một lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) cũng như nguồn vốn viện trợ (ODA) khá lớn, năm sau cao hơn năm trước Dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đó tạo cơ hội cho chúng ta thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh

Trang 19

giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải có sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước, các cấp, các ngành trong việc tạo nguồn vốn đầu tư, tập trung phát triển mạnh các nghề phi nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ

1.2.5 Vai trò của Nhà nước

Với xuất phát điểm thấp, bản thân những người lao động nông thôn không đủ khả năng để tự giải quyết công ăn việc làm cho chính mình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động nông thôn cần thiết phải có sự hỗ trợ của nhà nước trên nhiều mặt Vai trò của nhà nước ảnh hưởng tới việc làm của người lao động nông thôn thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển đất nước, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội trọng điểm quốc gia, quy hoạch xây dựng phát triển nông thôn mới; Qua quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch xây dựng phát triển các vùng, các ngành chiến lược, xây dựng đội ngũ người lao động cho phù hợp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn các ngành sẽ hỗ trợ nhau và

tạo điều kiện cho nhau phát triển, tạo nhiều việc làm cho người lao động

Ngoài ra, thông qua các chính sách, chương trình, dự án của nhà nước, các cấp, các ngành, đặc biệt “chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2015”, “chương trình mục tiêu Quốc gia về Giáo dục và Đào tạo đến năm 2015”, Đề án 1956 “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, “chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020” của Thủ tướng Chính phủ, trong đó phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 là 55%, tỷ lệ này vào năm 2020 là 70% đó tỏc động tới việc đào tạo nguồn nhân lực, hướng dẫn, khuyến khích người lao động phát triển ngành nghề, tạo việc làm, tạo vốn cho đầu tư phát triển ngành nghề mới tạo việc làm cho người lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 20

1.3 Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa

1.3.1 Đối với xã hội

Việc làm là yêu cầu khách quan của xã hội Lịch sử phát triển sản xuất loài người cho thấy, bất cứ một quốc gia nào, đều có nhu cầu sử dụng hợp lý nguồn lao động của mình để khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế của đất nước Người lao động là một nguồn lực quan trọng, là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển Mọi chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn trong lĩnh vực kinh tế phải tập trung phát huy cao độ khả năng của nguồn lực quan trọng đó Nếu có những sai phạm về chủ trương, chính sách và biện pháp thì nguồn lao động rất có thể trở thành gánh nặng, thậm chí gây trở ngại, tổn thất cho nền kinh tế

1.3.2 Đối với doanh nghiệp

Tạo việc làm cho người lao động là trách nhiệm của các cấp chính quyền và các tổ chức kinh tế xã – hội, vì vậy việc tạo việc làm cho người lao động và trách nhiệm vừa là nghĩa vụ của các doanh nghiệp Đây cũng là một trong các nội dung quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trong doang nghiệp thì người lao động là yếu tố không thể thiếu được, là động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển Chất lượng lao động tốt quyết định đến năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất, tiết kiệm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, hạ giá thành sản xuất

Khi các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế được thành lập tại các vùng nông thôn người sử dụng lao động luôn có phương án sử dụng lao động tại chỗ, có thể bước đầu họ phải bỏ công sức đào tạo, huấn luyện về chuyên môn kỹ thuật, song lại tận dụng được rất nhiều lợi thế Trước hết là doanh nghiệp đã thực hiện đúng cam kết của mình khi có kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp, là tạo ra một số chỗ làm việc bắt buộc cho lực lượng lao động tại địa phương (tại chỗ) Lao động tại chỗ từ nông thôn sẽ là lao động giá

rẻ, không phải tốn thêm các khoản chi phí hỗ trợ như đi lại (xăng xe), nhà

Trang 21

ở, nhiều doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình không phải bỏ thêm khoản chi phí ăn ca (ăn trưa cho người lao động) Lao động nông thôn hầu hết là lực lượng lao động trẻ khỏe, thể lực tốt, nhiệt tình hăng say trong lao động sản xuất, luôn cầu thị tiến bộ, mong muốn trưởng thành trong lĩnh vực công nghiệp

Khi nền kinh tế phát triển nhanh, các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm doanh nghiệp phát triển nhiều thì nhu cầu tìm kiếm lao động của các doanh nghiệp cũng trở nên bức xúc Các doanh nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp, chính sách đãi ngộ để cạnh tranh,thu hút lao động phổ thông Tuyển dụng được lao động tại chỗ sẽ bảo đảm tính ổn định cao, không tạo

ra sự biến động di chuyển lao động vào các dịp trước và sau tết Nguyên Đán

1.3.3 Đối với người lao động

Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển,

là yếu tố khách quan của người lao động Con người muốn tồn tại và phát triển họ phải tiêu tốn một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất mở rộng Quá trình sản xuất tạo ra hàng hoỏ, dịch vụ đó là việc làm Như vậy, muốn tăng tổng sản phẩm

xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọi người có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗi người phải có việc làm đầy đủ Mặt khác, phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi người nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội văn minh hơn Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức rằng: Một trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển nguồn lực, coi đó là đỉnh cao nhất,

là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình phát triển Điều này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận thức mới về phát triển con người Con người

ở đây được xem xét trên hai khía cạnh thống nhất với nhau hay nói cách

khác nó là hai mặt của một vấn đề được thống nhất trong mỗi con người

Trang 22

- Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản

nhất, tạo ra giá trị hàng hoá và dịch vụ

- Con người cần phải sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất thông qua quá trình phân phối và tái phân phối Từ lý luận và thực tiễn cũng đó chứng minh, có 3 yếu tố cơ bản nhất để phát triển con người là đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường Trong quá trình phát triển, con người vừa là đối tượng hưởng thụ, mặt khác lại là người cung cấp đầu vào quan trọng cho quá trình biến đổi sản xuất Hoạt động lao động ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của loài người, đó là một hoạt động thuộc về bản năng sinh tồn, con người chỉ có thể tồn tại, phát triển và hoàn thiện không ngừng thông qua lao động sản xuất Do vậy, nhu cầu có việc làm là nhu cầu để con người tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan

và chính đáng của người lao động

Chương 2

THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở NAM ĐÀN, NGHỆ AN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

2.1 Những đặc điểm của huyện Nam Đàn ảnh hưỏng đến tạo việc làm cho người lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của huyện Nam Đàn

Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu sông Lam, xưa là trung tâm của bộ Việt Thường khi nước ta mang tên là Văn Lang Với nhà nước Âu Lạc, vùng đất Nam Đàn vẫn thuộc bộ Việt Thường Trước và sau thế kỷ thứ nhất, đó là đất thuộc huyện Cửu Đức Thời Tam Quốc (Nguỵ, Thục, Ngô), huyện Cửu Đức bao gồm các huyện: Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam

Trang 23

Đàn và một phần Đô Lương, Đức Thọ ngày nay Đây là một huyện lớn, đất rộng, người đông, nên khi nhà Ngô định lại duyên cách các khu vực địa lý hành chính đó tách riêng đất Nam Đàn và Đô Lương hiện tại thành huyện

Đô Giao Huyện lỵ đóng ở vùng Nam Xuân, Nam Thanh ngày nay (vì ở đó

có một cánh đồng Thành Đô với di chỉ một toà thành cổ khá lớn) Qua thế

kỷ thế VI, Cửu Đức đổi thành Đức Châu, Nam Đàn là vùng đất của huyện

Đức Châu

Nhà Đường cai trị nước ta chia Nghệ Tĩnh thành hai châu: Hoan Châu và Diễn Châu Hoan Châu có bốn huyện: Cửu Đức, Phố Dương, Việt

Thường và Hoài Hoan

Chúng ta được biết ở Sa Nam và Vân Diên hiện tại có di tích thành Vạn An, nơi Mai Thúc Loan “Hùng cứ Hoan Châu khắp một vùng” thành lập đô thành làm căn cứ khởi nghĩa chống nhà Đường đô hộ Sau khi trấn

áp cuộc khởi nghĩa của vua Mai Hắc Đế, vùng đất Nam Đàn hiện nay được tách riêng ra, nhà Đường đặt tên thành huyện Nam Đường Và Nam Đường được giữ nguyên tên gọi cho đến thế kỷ XVIII thời nhà Nguyễn Dưới triều Minh Mạng, do tên gọi Nam Đuờng trùng với tên huý của nhà vua là điều tối kỵ, nên huyện Nam Đường được đổi tên gọi thành huyện Nam Đàn Tên gọi huyện Nam Đàn được giữ nguyên từ ngày đó cho đến tận ngày nay

- Về vị trí địa lý, dân cư

Vị trí địa lý: Hiện nay, huyện Nam Đàn có diện tích đất tự nhiên là 293,9 km2, trong đó đất nông nghiệp là 199,2 km2 (chiếm khoảng 67.3%)

Nam giáp huyện Đức Thọ và Hương Sơn – Hà Tĩnh

Bắc giáp Nghi Lộc và Đô Lương – Nghệ An

Tây giáp Thanh Chương và Đô Lương – Nghệ An

Đông giáp Hưng Nguyên – Nghệ An

Huyện lỵ Nam Đàn đóng ở thị trấn Sa Nam (nay gọi là thị trấn Nam Đàn), cách thành phố Vinh 20 km về phía Tây.

Hệ thống giao thông: Nam Đàn có các đường giao thông lớn chạy qua như Quốc lộ 46, Quốc lộ 15A, đường du lịch ven sông Lam, tất cả đều

Trang 24

đi qua thị trấn Sa Nam Ngoài ra có sông Lam, sông Đào, cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được nhựa hoá và bê tông hoá tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh Thuận lợi cho việc lưu thông giữa huyện với thành phố Vinh (trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh Nghệ An) và các huyện trong tỉnh

- Dân số, văn hóa

Nam Đàn tính đến 01/4/2009 là 159.433 người, trong đó có 84.615 người trong độ tuổi lao động, mật độ trung bình là 542 người/km2

, chủ yếu

là dân tộc kinh, sinh sống tại 23 xã và 1 thị trấn, với 328 khối, xóm

Nam Đàn vinh dự và tự hào là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, là huyện có nhiều di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, nhiều nhà yêu nước, khoa bảng v nới nhiều danh thắng cảnh đẹp Cùng với những di sản về vùng quê, thiên nhiên và con người Nam Đàn được xác định là vùng trọng điểm phát triển du lịch, cùng với Vinh, Cửa Lò tạo thành tam giác phát triển du lịch của Nghệ An và Bắc Trung bộ

- Về quy mô và tăng trưởng kinh tế

Tổng giá trị sản xuất (giá 1994) năm 2000 đạt 403.279 triệu đồng, đến 2005 đạt 738.198 triệu đồng Năm 2006 đạt 853.036 triệu, năm 2008 đạt 1.119.354 triệu đồng, ước thực hiện 2009 đạt 1.312.575 triệu đồng và năm 2010 đạt 1.676.090 triệu đồng So với mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện khoá 24 nhiệm kỳ 2005-2010, năm 2010 đạt 85% So với mục tiêu quy hoạch KTXH 2000 – 2010, năm 2010 đạt 113 %

Giá trị sản xuất phân theo các ngành: Nông lâm, ngư nghiệp; năm

2000 đạt 301.738 triệu đồng, năm 2005 đạt 441.032 triệu đồng, năm 2006 đạt 479.278 triệu, năm 2008 đạt 564.361 triệu đồng, năm 2009 đạt 611.871

và năm 2010 đạt 660.820 triệu Với thời gian tương ứng, giá trị lĩnh vực công nghiệp, xây dựng là: 50.981 triệu; 141.804 triệu; 187.198 triệu; 279.204 triệu; 354.589 triệu và 593.708 triệu Dịch vụ, thương mại là: 50.560 triệu; 155.362 triệu; 185.560 triệu; 275.789 triệu; 346.115 triệu và 421.562 triệu

Trang 25

Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2000-2005 đạt 12,85%/ mục tiêu Đại hội 11-12 %/ mục tiêu kế hoạch 10,8 % Trong đó nông nghiệp đạt bình quân 7,89%/mục tiêu Đại hội 6-7 %/ mục tiêu kế hoạch 7,5 %; Công nghiệp, xây dựng đạt bình quân22,7%/ mục tiêu đại hội 20-22 %/ mục tiêu

kế hoạch 14,5 % Giai đoạn 2005-2010 đạt bình quân 17,82%/ mục tiêu Đại hội 16-17%/ mục tiêu kế hoạch 12,5 % Trong đó nông nghiệp đạt 8,42%/ mục tiêu Đại hội 7,8 %/ mục tiêu kế hoạch 7,1 % CNXD đạt 33,16%/ mục tiêu Đại hội 24,9%/ mục tiêu kế hoạch 12,05 % Dịch vụ đạt 22,1%/ mục tiêu Đại hội 34,4%/ mục tiêu kế hoạch 21,85 %

- Về cơ cấu kinh tế

Nông nghiệp năm 2000 chiếm 74,97%, năm 2005 chiếm 59,27%, năm 2006 chiếm 55,77%, năm 2008 chiếm 50,1%, năm 2009 chiếm 44,65% và năm 2010 chiếm 33,61%/ mục tiêu đại hội 39,54 %/ mục tiêu kế hoạch 45,12 % Tương ứng với thời gian đó, công nghiệp, xây dựng là 12,37%; 18,34%; 21,21%; 28%; 37,49% và 47,6%/ mục tiêu đại hội 27,02

%/ mục tiêu kế hoạch 16,72 % Dịch vụ tương ứng thời gian là: 12,66%; 22,39%; 23,02%; 21,9%; 17,87% và 18,79%/ mục tiêu Đại hội 33,44 %/ mục tiêu kế hoạch 38,16 %

+ Quy mô kinh tế của huyện còn nhỏ bé Năm 2008 mới chỉ chiếm 8,1% của tỉnh Trong đó công nghiệp đạt 5,75% và dịch vụ đạt 5,6% so với toàn tỉnh Trong khi đó dân số chiếm 5,3% toàn tỉnh.Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 12,85%/năm, trong đó ngành Nông - lâm - thủy sản đạt mức tăng trưởng bình quân 7,89%/năm, công nghiệp - xây dựng đạt 22,7%/năm và ngành dịch vụ đạt 25,17%/năm

Kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, đến năm 2008 là 2,77 lần so với

năm 2000 (tính theo giá so sánh) Trong đó tốc độ tăng trưởng của các ngành như: Nông - Lâm - Thủy sản tăng 2,17 lần, Công nghiệp - xây dựng tăng 90,1 lần; Các ngành dịch vụ năm 2008 tăng 54,5 lần so với năm 2000

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn vừa qua phát triển đúng hướng, dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp ngày

Trang 26

càng giảm từ 74,97%, năm 2000 xuống còn 50,1%, năm 2008; Nghành Công nghiệp - xây dựng ngày càng tăng từ 12,37%, năm 2000 lên 28% năm 2008; Các ngành dịch vụ từ 12,66%, năm 2000 lên 21,9% năm 2008

2.1.2 Đặc điểm của huyện Nam Đàn ảnh hưởng tới tạo việc làm cho người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa

- Đất đai: Theo kết quả kiểm kê diện tích đất theo đơn vị hành chính

tại thời điểm 01/01/2008, tổng diện tích đất tự nhiên và cơ cấu sử dụng là:

Bảng 1: Tổng diện tích đất tự nhiên và cơ cấu sử dụng ở huyện Nam Đàn

TT Mục đích sử dụng đất Cơ cấu diện tích đất

các loại (ha) Tỷ lệ (%) Ghi chú

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 20,64 0,07

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 314,75 1,07

Trang 27

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nam Đàn cung cấp)

- Về thổ nhưỡng:

Nam Đàn có 13 loại đất được chia thành 5 nhóm như sau:

+ Nhóm cát thô ven sông: có diện tích 384 ha, chiếm 1,3% tổng diện tích toàn huyện, phân bố rải rác ở các xã ven sông Lam Bãi cát thô chỉ phù hợp cho khai thác làm vật liệu xây dựng Một số ít diện tích cát mịn có thể trồng các loại dưa hấu, bí đỏ

+ Nhóm đất phù sa: có diện tích 10.282 ha, chiếm 34,84% diện tích toàn huyện Nhóm này có 5 loại đất chính là: Đất phù sa được bồi đắp hàng năm 1.795 ha; đất phù sa không được bồi 1.562 ha; đất phù sa Glây 5.241 ha; đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng 1.647 ha; đất phù sa úng nước 37 ha Các loại đất này có nguồn gốc phù sa, thành phần cơ giới cát pha hoặc thịt nhẹ, ít chua hoặc chua vừa (pH 4.5-5,5), nghèo mùn, đạm, lân, kaly Phần lớn diện tích này được sử dụng cấy lúa nước 2

vụ, trồng ngô và nuôi cá

+ Nhóm đất xám bạc màu: có diện tích 2.485ha, chiếm 8,41% diện tích toàn huyện Nhóm này có 3 loại đất chính là: đất xám trên phù sa cổ 18 ha; đất xám bạc màu trên phù sa cổ 1.858 ha; đất xám bạc màu 609 ha Nhóm đất này có thành phần cơ giới cát pha, cấu tượng rời rạc, do bị rửa trôi nên bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng Phần lớn được cấy 2 vụ lúa và trồng các loại cây ngắn ngày

+ Nhóm đất đỏ vàng: có diện tích 11.302 ha, chiếm 38,28% diện tích toàn huyện Nhóm này có 3 loại chính:

- Đất đỏ vàng trên đá sét 7.101 ha, phần lớn diện tích có độ dốc cao, tầng đất mỏng, chỉ thích hợp cho trồng rừng Chỉ có khoảng 1.000 ha có độ dốc < 18 độ có thể sử dụng trồng cây ăn quả

- Đất đỏ vàng trên đá Macma axit 3.596 ha, phần lớn có độ dốc >18

độ, tầng mỏng, chỉ phù hợp trồng rừng

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w