1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ

77 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Khả Năng Sinh Trưởng, Phát Triển Của Một Số Giống Hoa Lily Nhập Nội Tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bắc Trung Bộ
Tác giả Phan Văn Linh
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Hữu Hiền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nông Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Kỹ Sư
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 Đặc điểm hình thái của các giống Lily nghiên cứu Bảng 3.7 Đường kính nụ qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Bảng 3.8: Chất lượng của các giống Lily trồng thử

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

(Font Times New Roman, đậm, cỡ chữ 16)

NGHIỆP BẮC TRUNG BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

VINH – 5.2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện trong vụ Đông Xuân 2011, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Hữu Hiền.Số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố và sử dụng trong một luận văn nào trong và ngoài nước

Tôi xin cam đoan rằng, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn tốt nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phan Văn Linh

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn

Hữu Hiền người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa

luận tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến Ban lãnh đạo viện KHKTNN Bắc Trung

Bộ, KS Hồ Ngọc Giáp, các chú, các cô, các anh, các chị phòng bộ môn Hoa Rau của Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, người thân và bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng song với kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót

Kính mong nhận được sự góp ý và giúp đỡ của quý thầy, cô và các bạn để khóa luận tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới

Bảng 1.2 Diện tích sản xuất hoa Lily ở Miền Bắc Việt Nam qua một số năm

Bảng 3 6 Đặc điểm hình thái của các giống Lily nghiên cứu

Bảng 3.7 Đường kính nụ qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Bảng 3.8: Chất lượng của các giống Lily trồng thử nghiệm

Bảng 3.9 Mức độ sâu hại của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển Bảng 3.10 Mức độ nhiễm bệnh hại của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển

Bảng 3.11 Chi phí sản xuất của các giống Lily trên diện tích

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các giống Lily tham gia nghiên cứu

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp của nước ta hiện nay, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất đai đang là một yêu cầu bức thiết của sản xuất

Hoa là một trong những loại cây trồng có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng trồng hoa, cây hoa đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp 5 - 20 lần so với các cây trồng khác

Hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, trong cuộc sống của con người hoa chiếm một vị trí thẩm mỹ quan trọng Nó tượng trưng cho hòa bình, tuổi trẻ, tình yêu, tình hữu nghị, niềm vui và sự tốt lành Hoa không chỉ tô điểm cho cuộc sống của con người thêm thơ mộng, đem lại sự thoải mái thư giãn mà chúng còn đem lại giá trị kinh tế

cao Trong đó, hoa Lily (họ liliaceae) là loài hoa có màu sắc phong phú, có hương thơm

quyến rũ được biệt danh là nữ hoàng của các loại hoa Hoa Lily tượng trưng cho sự đoàn kết, tốt lành, an khang thịnh vượng, đầm ấm, được nhiều người ưa chuộng có mặt hầu hết trong các dịp lễ hội Hoa Lily có giá trị hàng đầu thế giới về xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của nhiều nước

Ở Việt Nam, hoa lily được xếp vào loại hoa “cao cấp”, vào dịp vui vẻ, lễ tết nhất

là tết âm lịch nếu có được một bình hoa Lily thì hi vọng sẽ mang lại sự may mắn cho cả năm Cái vẻ rực rỡ, tràn đầy màu sắc sang trọng cùng với hương thơm dịu nhẹ của Lily làm cho cả căn phòng toát lên không khí tươi vui, đầm ấm Nhu cầu tiêu dùng loại hoa này ngày càng cao, nên đang thu hút rất nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước Trong những năm qua tốc độ phát triển của cây hoa Lily nhanh đã đóng góp một nguồn thu không nhỏ cho các hộ nông dân trồng hoa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trước đây vẫn còn khó khăn như: Tây Tựu, Phú Thượng, Vĩnh Tuy, Mê Linh…góp phần dịch chuyển

cơ cấu cây trồng, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động thủ đô Giá trị thu nhập từ hoa Lily dao động từ 80- 160 triệu đồng/ha/vụ gấp 15-20 so với trồng lúa

Trang 7

Tuy nhiên, sản xuất hoa Lily ở nước ta còn nhiều hạn chế: diện tích manh mún, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu Từ năm 2003 miền Bắc Việt Nam đã tiến hành sản xuất hoa Lily cắt cành nhưng với quy mô còn nhỏ và đang trong giai đoạn trồng thử nghiệm

và thăm dò là chính, tổng diện tích trồng hoa Lily năm 2003 chỉ đạt 2.5 ha và tập trung nhiều ở vùng núi phía bắc Mặt khác chúng ta vẫn chưa chọn lọc ra được bộ giống Lily

có chất lượng cao và ổn định để phục vụ sản xuất, các giống Lily trồng ở Việt Nam chủ yếu được nhập từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc Giá thành củ giống lily nhập nội rất cao trong khi chúng chưa được nghiên cứu, khảo nghiệm trước khi trồng, dẫn đến thực trạng là một số giống đưa vào trồng cho chất lượng hoa kém, thu nhập của người trồng hoa thấp, có khi dẫn đến sự thất bại…

Nghệ An, Lily là loại cây trồng mới việc nghiên cứu và sản xuất còn nhiều hạn chế, tuy nhiên nhu cầu về Lily vào các dịp lễ tết tại Nghệ An ngày một tăng cao Lily được bày bán ở Nghệ An chủ yếu được nhập từ các tỉnh Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh

và một số tỉnh miền Bắc khác, dẫn tới giá thành hoa cao, mẫu mã không được đẹp Lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh

trưởng và phát triển của hoa Lily ban ngày là 200C, ban đêm là 120C, với đặc điểm như vậy, hoa Lily phù hợp với điều kiện thời tiết vụ Đông Xuân ở Nghệ An

Để khắc phục những tồn tại trên, đồng thời có cơ sở khoa học chắc chắn trước khi phát triển loại hoa này ở điều kiện vùng Bắc Trung Bộ nói chung và Nghệ An nói riêng,

chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ So sánh khả năng sinh trưởng, phát triển

một số giống hoa Lily nhập nội tại Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ” với mục tiêu chọn lọc được giống Lily phục vụ sản xuất, nhằm nâng

cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả, đảm bảo tính ổn định, bền vững, đồng thời tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, đạt chất lượng cao điều kiện sinh thái của Nghệ An

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 8

Chọn ra những giống có ưu điểm: sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa cao, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận, cho thu nhập cao và thích ứng với điều kiện sinh thái tại địa phương

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm nông học của một số giống Lily trồng tại Viện Khoa học

kỷ thuật Bắc Trung Bộ

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa Lily tại Viện Khoa học kỷ thuật Bắc Trung Bộ

- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về chất lượng của một số giống hoa Lily nhập nội

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống Lily nhập nội

- Từ các giống Lily nhập nội chọn ra được những giống có ưu điểm về sinh trưởng, phát triễn, chất lượng hoa cao, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho các công trình nghiên cứu tuyển chọn các giống hoa Lily có chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu, người trồng hoa có thêm cơ sở để lựa chọn giống Lily phục vụ cho sản xuất và nghiên cứu khoa học cũng như trong lĩnh vực thương mại đối với Lily tại Viện nghiên cứu khoa học kỹ

thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ nói riêng và Nghệ An nói chung

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1.1 Nguồn gốc và phân loại hoa Lily

a Nguồn gốc

Lily là một trong những loài hoa quan trọng nhất thế giới Hiện nay trên thế giới

có khoảng 80 loài Lily khác nhau (Comber, 1949) [31], nó có nguồn gốc ở vùng Hymalaya và được mở rộng tới các vùng núi ở Bắc bán cầu (De Jong, 1974) [32], phân

bố từ 100 đến 600 vĩ Bắc Phần lớn các giống Lily thương mại, như: lai châu Á, lai phương Đông… đều có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc (Beattie and White, 1993) [25] Do có vẻ đẹp sang trọng, hương thơm quyến rũ và giá trị kinh tế cao nên Lily nhanh chóng được phát triển ở nhiều nước trên thế giới, như: Hà Lan, Italia, Canada, Pháp, Mỹ,

Úc, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Thái Lan…

b Phân loại Lily

Căn cứ vào đặc điểm hình thái, nguồn gốc, thời gian sinh trưởng, màu sắc hoa… người ta có thể phân loại hoa Lily thành các nhóm khác nhau

Dưới đây là một số cách phân loại hoa Lily

(1) Dựa vào sự ưa thích của các giống Lily

Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc “Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập

cao - câyLily” (2004) [9], hoa Lily được chia thành 4 nhóm:

+ Nhóm 1: Hoa Lily Phương Đông (Oriental Lily): Phần lớn có nguồn gốc từ

các chủng L auratum và L Spesiosum, L japonicum, L rubellum…

+ Nhóm 2: Nhóm Lily Á Châu (Asiatic Lily): Gồm các chủng có nguồn gốc từ

Châu Á như: L lancifolium, L lechtlinii, L maximwiczii, L pumilum, L bulbiferum, L

davidii…

+ Nhóm 3: Nhóm Lily thơm (Longiflorum Lily): Với các chủng hoa Longiflorum

Lily, Lyli Đài Loan (L formosanum), Lily trăng (L candium), Lily Vương (L regale) là

chính

Trang 11

+ Nhóm 4: Nhóm Lily Tinh Diệp (Martagon Lily): Gồm Lily Hán Lâm (L

hansonii), Lily Tinh Diệp (L maratagon) là chính cùng với L chalcedonicum, Lily Ốc Đan (L cernuum, L davidii, L lancifolium…) lai tạo, chon lọc ra

(2) Phân loại theo hội làm vườn Hoàng gia Anh

Hội làm vườn Hoàng gia Anh (1964) dựa vào nguyên sản bố mẹ, đặc trưng hình thái, màu sắc hoa người ta chia Lily thành 9 nhóm dưới đây [38]

+ Nhóm 1: Nhóm Lily lai Châu Á (Asiatic hybrids)

Gồm những giống lai có nguồn gốc ở Châu Á, Hoa nở vào đầu mùa hè, là nhóm

lai giữa các loài: L lancifolium (Syn.L tigrinum), L cernuum, L davidii, L maximwiczii,

L maculatum, L hollandium, L amabile, L pumilul, L concolor, và L bulbiferum…

+ Nhóm 2: Nhóm Lily lai Tinh Diệp: (Martagon hybrids)

Là nhóm Lily có nguồn gốc từ các loài: L.martgons, L.hansonii, L.medeoloides và Nhóm Martagons là loại Lily ưa bóng, thân cao, hoa hơi hướng xuống, nhiều màu sắc:

vàng, trắng, hồng, xanh tía, cam, màu hoa cà…Một số giống như: Black Prince, Blush, Brocade, Autumm Color, Attiwaw, Terrace City…

+ Nhóm 3: Nhóm Lily lai hoa trắng: (Candidum hybrids)

Trang 12

Bao gồm giống lai các loài L.candidum, L chalcedonicum, L.monadelphum và một số giống khác của Châu Âu, bao gồm cả L.martagon Nhưng nhóm này ít thấy ở thị

trường

Một số giống thuộc nhóm này, như: Beerensiik, Prankfonce, Whito Might, Smeterling, Baa, Lilylover-UT, Frostweed, John benoot, Mahans 30…

+ Nhóm 4: Nhóm lai Lily Châu Mỹ (American hybrids )

Là nhóm Lily bắt nguồn từ phía bắc Châu Mỹ, gồm các giống lai của các loài,

như: L.pardalinum, L.parryii, L.humboldtii và L.kelloggii…Một số giống thương mại:

parvum 30, parvum 31, parvum 32, parvum 33, Kelloggi 3301, bolanderi #4201, canadense var coccineum 24, parvum var hallidayi 33, rubescens 22, Lilium shastense

1801, superbum 19…

+ Nhóm 5: Nhóm lai Lily thơm (Longiflorum hybrids)

Nhóm này có mùi thơm, gồm các giống lai bắt nguồn từ Lily thơm L.longiflorum (Easter Lily) và Lily Đài Loan (L formosanum) lai tạo ra; Hoa có hình dáng giống loa

kèn Một số giống thuộc nhóm này, như: Gelria, Avita Come, Snow Queen, Ice Queen, Longistar, Evening Star, Yellow Tullican, Casa Rosa, Ace of hearts, Dragoon, Bermuda Lily…

+ Nhóm 6: Nhóm Lily lai hoa kèn (Trumpet hybrids)

Bắt nguồn từ loài Lily Châu Á, như: Lily Vương (L.regale), Lily Thông Giang (L.sargentiae), Lily Nghi Xương (L.luecanthum), … Hoa hình loa kèn, hướng ra ngoài

hoặc hướng xuống dưới, Có hương thơm, đặc biệt là ban đêm Một số giống thuộc nhóm này, như: Black Dragon, Copper King, Golden Sunburst, Midnight, Moonlight, A frican queen, Pink Perfection,…

+ Nhóm 7: Nhóm lai Phương Đông (Oriental hybrids)

Phần lớn các giống thuộc nhóm này do lai một số chủng L.auratum và

L.speciosum Đặc điểm là thân có chiều hướng cao, hoa khá to, hướng ra ngoài và có

hương thơm Hiện nay, có rất nhiều giống Lily lai Phương Đông được đưa vào sản xuất thương phẩm như: Casa blanca, Angelique, Dizzy, Maru, Souvenir, Rio regro, Pink

Trang 13

expressions, Stargazer, Sorbonne, Starfighter, Acapulco, Tiber, Collection, Mixed, Miss Lucky, Montezuma, Muscadet…

+ Nhóm 8: (interdividsional hybrids-Orienpets: OT hybrids, LA hybrids, AA hybrids…)

Gồm những giống lai khác, như lai giống giữa nhóm Phương Đông và nhóm Loa kèn, Nhóm thơm với nhớm Châu Á…Hiện nay nhóm này có nhiều, nhờ lai giống đã tạo

ra các giống mới có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh… và một

số giống LA (lai longiflorum và Asiatic): Aerobic, Ballroom, Best seller, Canillo, Carmine diamond; Giống AA (lai Aurelian và Asiatic): Fieri belles, Ivory belles, Silky belles; Giống OA (lai Oriental x Asiatic): Elegant crown, Fancy crown, Fuego crown; Giống OT (Lai Oriental x Trumpet): Yelloween, Altary American bandstand, American

dream, American Jouney…

+ Nhóm 9: Loài hoang dại: (The wild species)

Gồm những loài thuộc nội địa ở bắc châu Mỹ, châu Âu và châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ…) là những loài được trồng trong môi trường tự nhiên, chưa bị ảnh

hưởng bởi sự lai giống, Loài L.auratum (gold-banded Lily) Là một loài đẹp nhất trong tự nhiên, Loài L.lancifollium (Tigel Lily) nổi tiếng ở Trung Quốc và Nhật Bản Đây là nhóm

Lily quan trọng trong việc phát triển các giống lai châu Á và các nhóm khác Một số

chủng: L.cernuum có ở Hàn Quốc và Nga; L.davidii L.henryi, L.regale có ở Trung Quốc

L.leichtlinii có ở Nhật Bản; L.pardalium có ở Tây Nam nước Mỹ; L.speciosum album, L.speciosum rubrum có ở Nhật Bản và Trung Quốc…

(3) Phân loại theo thời gian sinh trưởng, ra hoa (dẫn theo Nguyễn Văn Tấp, 2008) [3]

+ Loại ra hoa sớm: Từ khi trồng đến khi ra hoa từ 60 - 80 ngày

+ Loại ra hoa trung bình: Từ khi trồng đến khi ra hoa từ 85 - 100 ngày

+ Loại ra hoa muộn: Từ khi trồng đến khi ra hoa từ 105 - 120 ngày

+ Loại ra hoa cực muộn: Từ khi trồng đến khi ra hoa từ 120 - 140 ngày

(4) Phân loại theo màu sắc hoa (dẫn theo Nguyễn Văn Tấp, 2008) [3]

Hoa đỏ, hoa trắng, hoa vàng…

Trang 14

Như vậy, Lily có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau, tùy theo mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu

1.1.1.2 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của hoa Lily

a Đặc điểm thực vật học của hoa Lily

(1) Đặc điểm thực vật học

Lily là tên gọi chung của tất cả các cây thuộc loài Lilium ssp, nghành một lá mầm( Magnoliophyta),lớp hành(Liliopsisa), bộ hành (Liliales), họ hành (Liliaceae) (Dương Đức Tiến, Võ Đức Chi, 1972)[4]

Lily là loại cây thân ngầm dưới đất, có một số đặc điểm như sau

-Thân vảy: Là phần phình to của thân Gồm các đĩa thân và các vảy, thân vảy

trần không có vỏ bao bọc; vảy có nhiều hình dạng: elip cầu dẹt, hình trứng

-Thân vảy của Lily được coi là mầm dinh dưỡng; Một thân vảy trưởng thành gồm đĩa vảy, vảy già, vảy non, trục thân sơ cấp, trục thân thứ cấp và đỉnh sinh trưởng Độ lớn của thân vảy thường được đo bằng chu vi và trọng lượng của nó

- Kích thước và trọng lượng của thân vảy khác nhau tùy thuộc vào từng giống, loại nhỏ: Có chu vi 6cm, nặng 7 - 8g; loại to chu vi từ 24 - 25cm, nặng trên 100g…

- Lá: Lá Lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn…đầu

lá hơi nhọn không có cuống hoặc cuống ngắn Hình dáng lá to hay nhỏ, gân lá nhiều hay ít tùy thuộc vào từng giống

- Rễ: Rễ gồm 2 loại là rễ gốc và rễ thân Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh trưởng từ

gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khỏe, là cơ quan chủ yếu hút nước và dinh dưỡng của cây, tuổi thọ của rễ này có thể tới 2 năm Rễ thân gọi là rễ trên mọc từ thân dưới đất, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh dưỡng, tuổi thọ rễ này là 1 năm

- Củ con và mầm hạt: Đại bộ phận Lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0.5 - 3cm, số lượng củ con tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt Hoa Lily mọc đơm lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ.Hoa Lily có thể chúc xuống (nod downward), vươn ngang (face outward) hoặc hướng lên (turn upward) [59] hoa có nhiều hình dạng khác nhau: Hình cầu, hình ốc, hình loa kèn, hình phễu…

Trang 15

- Màu sắc hoa Lily đa dạng, phong phú: Cam, vàng, trắng, hồng, đỏ cam, tía (Woodcock & Stern, 1950)[50].Thông thường hoa Lily có 6 cánh, 2 vòng nối với nhau, Mỗi vòng do 3 cánh hoa tạo nên; Cánh hoa hình elip; Nhị hoa có 6 cái, giữa có cuống, gắn với nhau có hình chữ T

- Quả: Hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có 3 ngăn Độ lớn, khối lượng, số lượng hạt tùy thuộc vào từng giống

(2) Đặc điểm sinh trưởng, phát dục

(2.1) Đặc điểm của thân vảy

Phát dục của thân vảy phụ thuộc nhiều vào môi trường và các điều kiện chăm sóc Vảy nhiều và sung mãn, thì chất lượng tốt Độ lớn của thân vảy tương quan chặt chẽ với

số nụ hoa Thân vảy có chu vi càng lớn thì số nụ trên thân cây càng nhiều Giống lai

Phương Đông, như: Sorbonne chu vi củ 114cm có 1 - 2 nụ, chu vi củ từ 14-16cm có

2-5 nụ, chu vi củ từ 16-18 có 3-6 nụ, chu vi 18-20 có 4-7 nụ Giống Yelloween (giống lai giữa nhóm Phương Đông với nhóm Loa kèn) chu vi củ 12-14cm có có 2-4 nụ, chu vi củ 14-16cm có 3-6 nụ, chu vi củ 16-18cm có 5-7 nụ, chu vi từ 18-20cm có 6-8 nụ [61] Số lượng vảy cũng tỷ lệ với số lượng lá và hoa Số vảy càng nhiều thì số lá và hoa cũng càng nhiều; nếu bóc lớp vảy ngoài thì tốc độ nảy mầm của củ nhanh hơn, nhưng tốc độ hình thành của các cơ quan sinh sản sẽ giảm, hoa ra muộn hơn (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Củ để làm giống trồng hoa thương phẩm yêu cầu phải là thân vảy đã được bồi dục, thường năm đầu chưa ra hoa, sang năm thứ 2 củ có chu vi từ 9cm trở lên mới ra hoa Thông thường các giống Lily trồng hiện nay củ giống thương phẩm có chu vi từ 16 đến trên 20cm

(2.2) Đặc điểm sinh trưởng của thân

Sinh trưởng, phát dục của Lily có thể chia ra thành các giai đoạn: Phát triển trục thân, ra nụ, nở hoa, kết hạt, chết khô Các giống khác nhau thời gian sinh trưởng khác nhau Nhóm lai châu Á từ khi trồng đến khi ra hoa khoảng 12 tuần, nhưng cũng có giống chỉ cần 10 tuần, như: Pixies Các giống Phương Đông từ khi trồng đến khi ra hoa khoảng

Trang 16

14 tuần, nhưng có giống kéo dài đến 19 tuần, như: Stargazer, có giống khoảng 13 tuần như: Mona Lisa…

Trục thân Lily do trục mầm dinh dưỡng co lại tạo thành, gồm trục thân sơ cấp và trục thân thứ cấp Đầu trục thân sơ cấp là mầm dinh dưỡng co ngắn, trục thân thứ cấp nằm giữa mầm dinh dưỡng co ngắn và vảy, có từ 1 đến 3 cái, là trung tâm phát dục ra củ con đời sau

Sau khi phá trạng thái ngủ trục sơ cấp, ở trên mầm nách trục thân là vùng vươn dài thứ nhất, mầm đỉnh co ngắn lại, vươn lên mặt đất, lá trên bắt đầu mở ra, khi cây ra nụ thì

số lá đã được cố định

Chiều cao cây quyết định bởi số lá và chiều dài đốt Số lá chịu ảnh hưởng của chất lượng củ giống, điều kiện và thời gian xử lý lạnh củ giống Thông thường, mầm được cố định trước khi trồng Chiều cao cây được quyết định bởi chiều dài đốt Trong điều kiện ánh sáng yếu, ngày dài, nhiệt độ thấp và xử lý trước khi bảo quản lạnh lâu, đều có tác dụng làm dài đốt thân Ngược lại nếu ánh sáng mạnh, ngày ngắn, nhiệt độ sẽ ức chế đốt kéo dài, trong khoảng nhiệt độ 20-300 nếu tăng thêm 20C cây có thể thấp đi 2 cm ( Đặng

Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Sự phân hóa hoa: Khi bắt đầu nảy mầm, cây bắt đầu phân hóa mầm hoa Mầm

hoa rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp, nên khi xử lý lạnh trước khi trồng, củ có thể mọc mầm và phân hóa hoa Nếu không trồng kịp thời sẽ bất lợi cho phát dục mầm hoa

Số lượng mầm hoa nguyên thủy phụ thuộc nhiều vào điều kiện sinh trưởng vụ trước, chất lượng củ giống và giống

Sự ra hoa: Sự phân hóa hoa và số lượng mầm hoa chịu ảnh hưởng lớn của điều

kiện trước khi trồng như: Chất lượng củ giống, điều kiện xử lý Tốc độ phát dục của nụ

và hoa chịu tác động lớn của điều kiện sau khi trồng là nhiệt độ , ẩm độ không khí và ẩm

độ đất Nếu nhiệt độ trên 300

C thì hoa bị mù sẽ cao Nếu nhiệt độ từ 25-300C thì sẽ làm

thui nụ, tỷ lệ ra hoa chỉ đạt 21-43% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Ánh sáng mạnh tạo ra sự bại dục của nụ và gây ra cháy lá, việc xử lý che nắng sẽ làm giảm thui nụ Ánh sáng yếu cũng làm thui nụ và ảnh hưởng đến chất lượng hoa

Trang 17

Sau khi hoa nở 2 tháng thì quả chín, hạt quả có cánh nên có thể phát tán trong tự nhiên theo gió Sau khi thu hoạch quả thân và lá khô héo, thì có thể thu hoạch củ để làm giống

(2.3) Sự ngủ nghỉ của Lily và biện pháp phá ngủ

Củ Lily sau khi thu hoạch thì ở trạng thái ngủ nghỉ, thời gian ngủ nghỉ khác nhau tùy thuộc vào từng giống Kỹ thuật quan trọng trong việc trồng Lily là phải phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của củ giống Nếu trồng củ giống chưa qua phá ngủ sẽ dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp và tỷ lệ hoa mù cao Nhìn chung các giống bảo quản lạnh 2-50C sau 6-10 tuần thì phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của củ giống (Bonner, F.J.M, 1997)[27]

b Yêu cầu điều kiện sinh thái của hoa Lily

(1) Nhiệt độ và ánh sáng

Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát dục của hoa Lily, đặc biệt là ảnh hưởng đến nảy mầm của hạt, sự phát dục của thân, sự sinh trưởng của lá, sự sinh trưởng phát triển và chất lượng củ giống (Roh.M.S, 1996)[43]

Lily là cây chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho

sự sinh trưởng và phát triển của hoa Lily ban ngày là 200C, ban đêm là 120C Nhiệt độ thấp từ 12-150C cây sinh trưởng chậm (Richard, 2006)[42], dưới 120C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian đầu nhiệt độ thấp có lợi cho ra rễ và sự phân hóa hoa Các giống khác nhau có yêu cầu nhiệt độ khác nhau: Giống lai Phương Đông thời kỳ đầu yêu cầu nhiệt độ ban ngày 200C, ban đêm 150C, nhiệt độ đất 150C; Các giống Lily thơm chịu nóng tốt hơn, nên yêu cầu nhiệt độ ban ngày là 25-280C, ban đêm 18-200C

Nhiệt độ và ánh sáng là yếu tốt quan trọng điều tiết sự ra hoa và phân hóa hoa; Chiếu sáng bổ sung ở nhiệt độ thích hợp (16-180C) có thể sẽ rút ngắn được thời gian ra hoa của tất cả các giống (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004)[9]

Cường độ chiếu sáng thích hợp cho cây Lily là 12.000-15.000 lux, nhất là ở thời

kỳ cây cao 20-30cm Mỗi một nhóm Lily yêu cầu một điều kiện ánh sáng nhất định Lily châu Á và Phương Đông sinh trưởng tốt ở điều kiện đủ sáng Nếu giảm ánh sáng cây sẽ

cao hơn, mảnh khảnh và yếu mềm Nhưng nhóm Tinh Diệp (Maratagon hybrids) nở hoa

tốt trong điều kiện che bóng [56] Ngoài ra, nếu thiếu ánh sáng, nhị sẽ sản sinh etylen,

Trang 18

dẫn đến hiện tượng rụng nụ Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của củ giống

(2) Nước

Lily là cây yêu cầu trồng ở vùng đất thoát nước, độ ẩm đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của Lily Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước giảm; Nếu nước nhiều củ dễ bị thối [57] Độ ẩm thích hợp nhất cho cây Lily sinh trưởng và phát triển là 80-85% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Đất quá chua hoặc quá kiềm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hoa Lily Nếu đất chua quá, cây hút nhiều ion sắt, nhôm, magie gây hại cho cây; đất quá kiềm, cây hút sắt, magie giảm dẫn đến thiếu các sắc tố; pH phù hợp cho trồng Lily là 5.5-

7 tùy từng giống, giống lai Phương Đông yêu cầu pH từ 6.5-6.8 [60]

(5) Dinh dưỡng

Theo Nguyễn Khắc Trung và CS (1997) [20] thì mỗi loại phân bón thích hợp với từng loại cây trồng, việc bón phân cho cây cần phải đúng chủng loại, số lượng và đúng thời kỳ Lily yêu cầu dinh dưỡng sớm, yêu cầu cao nhất trong 3 tuần đầu sau trồng Dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều tới sinh trưởng và phát triển của cây, nhất là một số nguyên tố: đạm, lân, canxi… Tuy nhiên, Lily cũng dễ bị ngộ độc muối, mẫn cảm với hợp chất chứa Clo và Flo Nếu hàm lượng Flo trong không khí cao dễ gây cháy lá; hàm lượng Clo

Trang 19

trong đất cao trên 15 mmol/lít sẽ bị ngộ độc rễ Đất thiếu canxi Lily dễ bị vàng lá, cây sinh trưởng phát triển kém

Lily là loài hoa chịu rét khá, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của hoa Lily ban ngày là 200C, ban đêm là 120C Điều kiện sinh trưởng này phù hợp với vụ đông xuân ở Nghệ An Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm chọn ra giống Lily có ưu điểm : Sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa cao, màu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu; có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, cho thu nhập cao và thích ứng với điều kiện sinh thái ở Nghệ An

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily trên thế giới

Lily là lại hoa cắt được trồng phổ biến và rổng rãi trên thế giới (Beers C.M,2005) [26] Hoa có hình dáng đẹp, màu sắc phong phú, quyến rũ, sang trọng, nhất là nhóm Lily

thơm (L.longiflorum Thumb) được coi là biểu tượng của sự thanh khiết và lộng lẫy (Lê

Quang Long và CS, 2006)[42] Hiện nay, Lily đang là một trong 6 loài hoa cắt phổ biến, quan trọng nhất trên thế giới (De Hertogh & Le Nard, 1993)[32] Mặc dù, Lily mới được phát triển trong mấy năm gần đây, nhưng đã có thị trường tiêu thụ rộng lớn do đa dạng về

chủng loại và số lượng các giống lai thương mại (De Hertogh, 1996)[33] Lily có thể

trồng làm hoa cắt, hoa trong chậu và hoa ngoài vườn (De Hertogh, 1996; Grassotti, 1996; Mynett, 1966 [35],[39] Tuy nhiên, hoa Lily được trồng nhiều ở một số nước, như: Hà

Trang 20

Lan, Pháp, Newzealand, Mỹ, Chi Lê, Italia, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc…

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới (ha)

(Nguồn: Trích theo Đặng Văn Đông, 2005)

Hà Lan là nước đứng đầu trong các nước trồng hoa Lily về cả củ giống và hoa Lily thương phẩm Lily là cây đứng thứ 5 trong các loại hoa cắt quan trọng ở Hà Lan Trong những năm gần đây, diện tích trồng Lily của Hà Lan tăng nhanh chóng: Từ 100ha năm

1970 lên 4800ha năm 2000 [47] Phần lớn Lily được lai giống và sản xuất ở Hà Lan (Chi.H.S, 1999)[30] Thông qua các chương trình nghiên cứu, lai tạo giống tiên tiến: nuôi cấy mô tế bào trong ống nghiệm, tạo giống đa bội thể, chuyển gen đã tạo ra nhiều giống mới có khả năng thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh tốt, hoa đẹp, năng suất cao [47] Hàng năm, Hà Lan sản xuất 11.8 tỷ cành hoa cắt, trong đó Lily chiếm 3.5% (Beer.C.M, Barba-Gonzalez.R, Van Silfhout.A.A, Ramanna.M.S, and Van Tuyl.J.M, 2005)[43] Mỗi năm, Hà Lan sản xuất 2.21 tỷ củ hoa giống, thì 2.11 tỷ củ (95,5%) được sử dụng làm hoa cắt, trong đó khoảng 0,41 tỷ củ (19,4%) được trồng ở trong nước, xuất khẩu sang các nước châu Âu 0.7 tỷ củ (Buschman, 2005)[28] Công nghệ sản xuất hoa Lily của Hà Lan tiến tiến, đầu tư cơ sở vật chất lớn, như nhà kính năm 2003 có tới 266ha (Jo Wijnands,

Trang 21

2005)[35] Do đó Hà Lan có thể sản xuất hoa Lily quanh năm, nên giá thành sản xuất thấp, hiệu quả kinh tế cao

Trung Quốc là nước trồng hoa Lily sớm nhất, những nghiên cứu thấy rằng từ đời nhà Đường người ta đã trồng Lily để lấy củ ăn như một món ăn sang trọng và có lợi cho sức khỏe [54] Hiện nay, Trung Quốc có 46 loài, 18 biến chủng Lily, chiếm khoảng 50%

số loài trên thế giới (Zhao.X, 1996) [49] Lily được phân bố ở khắp các vùng đặc biệt là ở Sichuan, Yunnan, Xizang và Gansu; Các giống trồng chính: Navona, Acapulco Elife, Lorian, Solemio, Pollyanna, Adelina, Akita, Her Grace, Jessica, Maremma, Amanda, Ankra, Apropas, Merostar, Wisdom, Snow Queen và White Satin (Yang Xiaohan, 1996) [48] Nhiều giống Lily của Trung Quốc có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi,

như: L.legale, L.formosanum, L.subphureum với điều kiện nóng, L.henryi, L.davidii,

L.sargentiae, L.leucanthum với điều kiện muối và kiềm; L.pulilum, L.concolor với hạn

hán; L.dauricum, L.distichum với điều kiện lạnh

Hiện nay, Trung Quốc tập trung nghiên cứu một số chủng L.regale,

L.subphureum, L.davidii và L.lancifolium để đưa vào trồng trọt và đang thực hiện chương

trình bảo tồn các loài Lily độc và quý hiếm Trong tương lai, nghiên cứu, bảo quản phát triển Lily bằng phương pháp mầm phôi, nguyên sinh chất sẽ được triển khai tại Trung Quốc (Zhao.X, 1996) [49]

Nhật Bản là nước có truyền thống trồng hoa cắm và cũng là một trong những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu Á, mỗi năm nhập khẩu hoa giá trị tới khoảng

500 triệu USD Hoa Lily đứng ở vị trí thứ 4 trong các loài hoa ở Nhật Hiện nay, diện tích trồng Lily của Nhật Bản khoảng 550ha (Okazaki.K, 1996) [45] Lily phân bố ở nhiều vùng, mỗi vùng có những đặc trưng riêng: vùng Kagoshima sản xuất giống

L.longiflorum, vùng Niigata và Hokkaido sản xuất giống lai châu Á, vùng Toyama sản

xuất giống Speciosum Giống Stargazer và Casa Blanca không những được ưa chuộng ở

Nhật mà còn nổi tiếng trên thế giới Sản xuất củ giống ở Nhật chủ yếu là loài

L.longiflorum với diện tích 180ha, cung cấp khoảng 20 triệu củ giống nghiên cứu về

giống lai giữa L.formosanum và L.longiflorum sau đó mở rộng nghiên cứu ra nhiều lĩnh

Trang 22

vực khác, như: giải quyết hiện tượng bất dục do lai xa khác loài, nuôi cấy mô, nuôi cấy noãn sào trong môi trường dinh dưỡng cơ bản- MS (Murashige and Skoog, 1962) [38]

Những năm gần đây, Hàn Quốc là một nước phát triển nghề trồng hoa mạnh, xuất khẩu hoa lớn nhất khu vực Bắc Đông Á, diện tích trồng hoa của Hàn Quốc vào khoảng 15.000ha, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989 Lily là cây đứng thứ

4 trong các cây hoa cắt ở Hàn Quốc (Kim.Y, 1996) [37]; Năm 2003, Hàn Quốc xuất khẩu hoa Lily sang Nhật giá trị khoảng 10 triệu USD, nhập khẩu giống từ Hà Lan trị giá khoảng 4 triệu USD (Rhee, 2005) [41] Hàn Quốc có 11 loại Lily nội địa, trong đó có 8

loài L.concolor var pulchellum, L.callosum,L.amabile, L.cernuum, L.lancifolium (L.tigrinum), L.leichtliniiuva maximowiczii, L.pumilum và L.dauricum thuộc nhóm

Sinomartagon và 3 loài L.hansonii, L.tsingtauense và L.distichum thuộc nhóm Martagon

Diện tích trồng hoa Lily tăng, năm 1985: 32ha, năm 1992 là 223ha, trong đó giống

L.longiflorum chiếm 55%, lai châu Á và lai Phương Đông chiếm 37%, các nhóm khắc

chiếm 8%

Từ đầu thập niên 1990 nghiên cứu, sản xuất giống lai khắc loài Lily đã được tiến hành ở Hàn Quốc (Rhee, 2002) [40] Hiện nay, Hàn Quốc đang nghiên cứu sản xuất giống sạch bệnh virus, nghiên cứu sản xuất kết hợp quản lý dịch hại, khắc phục bệnh sinh

lý để đưa vào trồng trọt

Ở Italia diện tích trồng hoa cắt khoảng 8.000ha, thu nhập hằng năm trên 1,1 tỷ USD Lily là một loài hoa cắt có hiệu quả kinh tế cao, hoa Lily được trồng quanh năm (mùa xuân sản xuất trong nhà kính, mùa hè sản xuất ngoài trời), ở nhiều vùng, nhưng được trồng nhiều ở phía nam Italia, diện tích trồng khoảng 280-300ha, thu nhập khoảng

71 triệu USD (Grassotti, 1996) [35].Hiện nay, Italia vẫn phải nhập giống từ Hà Lan với

giá trị khoảng 152 triệu USD mỗi năm, trong đó 70% là giống L.elegans, 20% là lai Phương Đông, 10% là giống thơm (longiflorum); do giá giống ngày càng tăng cao nên

Italia đã khuyến khích các viện nghiên cứu và công ty hoa tư nhân nghiên cứu, sản xuất

củ giống

Kenia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và cũng là nước xuất khẩu hoa tươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, Kenia có tới 3 vạn nông trường với hơn 2 triệu người

Trang 23

trồng hoa, chủ yếu là hoa Phăng, Lily và hoa Hồng Mỗi năm xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó hoa Lily chiếm 35% (dẫn theo Chu Thúy Chinh, 2009) [1]

Đài Loan là nước có công nghệ sản xuất hoa cắt cành tiên tiến, trình độ canh tác cao, diện tích trồng hoa Lily khá lớn: năm 2001 có 490ha trồng Lily, giá trị xuất khẩu hoa Lily cắt cành đạt 7.4 triệu USD (Dẫn theo Chu Thúy Chinh, 2009) [1]

Ngoài các nước kể trên còn có rất nhiều nước trên thế giới trồng hoa Lily như:

Mỹ, Đức, Pháp, Canada, Isreal, Úc, Chi Lê, Mêhicô, Côlômbia, Newzealand, Thái Lan, Singapore, Malaixia…

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam

a Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam

Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loại hoa và cây cảnh phát triển Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200ha diện tích trồng hoa cây cảnh Sản xuất hoa cho thu nhập cao, bình quân cho thu nhập từ 70-130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích trồng hoa trên những vùng đất có tiềm năng [62]

Tại miền Bắc, sản xuất hoa ở địa phương: Thành phố Hà Nội, Hà Tây Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Quảng Nimh, Lào Cai, Sơn La và Hà Giang Loại hoa sản xuất nhiều nhất ở vùng này là hoa Cúc, chiếm 35%, thứ hai là hoa Hồng chiếm 32%; còn lại là các loài hoa khác như : Lay Ơn, Đồng Tiền, Cẩm Chướng, Huệ, Lan… [51] Vùng sản xuất hoa nhiều nhất như: xã Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội: 330ha; Vĩnh Phúc: 867ha; Hải Phòng 755ha; Hoành Bồ, Quảng Ninh: 10ha; Lào Cai: 95.5ha; Sơn La: 22ha;

Hà Giang: 18ha

Các tỉnh phía Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là địa phương có diện tích trồng hoa cây cảnh lớn khoảng 700ha, với 1400 hộ sản xuất trên 8 quận, huyện, các loại hoa trồng chính là: Hồng Môn, Lay Ơn, Đồng Tiền, Thiên Điểu…

Lâm Đồng được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước, với diện tích trồng hoa cây cảnh năm 2005 là 2027ha [62] Hoa được sản xuất chủ yếu ở Thành Phố Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An, sản lượng hoa đạt khoảng 640 triệu cành Nghề trồng hoa ở Đà Lạt đang có xu hướng phát triển mạnh, áp dụng công nghệ cao để sản

Trang 24

xuất, sử dụng giống mới, cải tiến quá trình canh tác, áp dụng các loại phân bón thế hệ mới với đặc tính phân giải chậm, sử dụng vật liệu hỗ trợ sản xuất…Những ứng dụng mang lại hiệu quả rõ rệt nhất là sản xuất hoa trong nhà màng, sử dụng các hệ thống tưới cải tiến và sử dụng giống thông qua kỹ thuật nhân cấy mô thực vật (Nguyễn Văn Tới, 2007)[20]

Diện tích trồng hoa, cây cảnh của nước ta tăng trưởng ổn định trong suốt 12 năm qua so với năm 1994, diện tích hoa cây cảnh năm 2006 tăng 3,8 lần (diện tích hoa cây cảnh năm 1994: 3500 ha, năm 2006: 13400ha) giá trị tăng 6 lần, đạt 1.054 tỷ đồng (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[12] Hiệu quả kinh tế từ trồng hoa gấp 10 lần so với trồng lúa và 7 lần so với trồng cây khác, nếu đầu tư 28 triệu cho 1ha thì lợi nhuận thu được 90 triệu đồng (Nguyễn Xuân Linh, 1998)[13]

Mặc dù diện tích trồng hoa cây cảnh của nước ta tăng, nhưng việc sử dụng hoa cắt

ở nước ta chưa nhiều, bình quân khoảng 1 USD/người/năm, so với các nước khác trên thế giới, như: Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan, Ytalia… (bình quân 1 người 16.6 USD/năm) thì nước

ta sử dụng hoa cắt còn rất ít Tiêu thụ hoa trong nước ta đa dạng về chủng loại, nhưng chất lượng hoa thấp, giá rẻ, hiệu quả kinh tế không cao; hoa tiêu thụ tập trung vào những ngày lễ, tết, các ngày kỷ niệm Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu được một số loài hoa cắt cành như: Hồng, Phong Lan, Cúc, Đồng Tiền, Cẩm Chướng, Lily…sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Australia, Ả Rập, nhưng số lượng chưa nhiều, bình quân khoảng 10 triệu USD/năm Sở dĩ sản phẩm hoa cây cảnh Việt Nam khó xâm nhập thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế [64]

b Tình hình sản xuất nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam

* Tình hình nghiên cứu hoa Lily ở Việt Nam

Việt Nam có 2 loại Lilium hoang dại: L.browii F.E Brown var Cochesteri Wils

mọc trên núi đá, các đồi cỏ lở Bắc Thái, Cao Lạng (Nay là tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kan,

Cao Bằng và Lạng Sơn) và loài L.poilaneigag.nep xuất hiện ở đồi cỏ Sa Pa-Hoàng Liên

Sơn (Nay là tỉnh Lào Cai) (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1978; Lê Quang Long và CS, 2006) [4],[14] Tuy nhiên, các giống Lily trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập

Trang 25

từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc, nghiên cứu về hoa Lily tập trung ở một số hướng: khảo nghiệm để lựa chọn những giống nhập nội phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, nghiên cứu sản xuất củ giống bằng kỹ thuật invitro, nuôi cấy bioreactor… bên cạnh đó, nghiên cứu kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa Lily cũng được quan tâm

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Đông từ năm 2002 đến năm 2004 đã xác định được 3 giống Lily: Tiber, Siberia và Acapulco có khả năng trồng phù hợp ở khu vực phía Bắc, kết quả khảo nghiệm tại các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên… đã khảng định được 2 giống Tiber và Sorbonne sinh trưởng, phát triển tốt tại địa phương [9]…

Nghiên cứu sản xuất giống Lily ở Việt Nam cũng đem lại một số kết quả nhất định, như: Nghiên cứu phương pháp tạo củ invitro trên một số giống hoa Lily nhập nội (Nguyễn Thái Hà và CS, 2003) [11] Nghiên cứ khả năng tạo củ của Lily bằng cách tạo

củ sơ cấp Lily trong ống nghiệm (Hà Thị Thúy và CS, 2005) [19], Nghiên cứu nhân giống củ Lily bằng kỹ thuật in vitro nuôi cấy trong môi trường cơ bản (MS) có bổ sung 12% đường sacaroza, nhiệt độ phòng 25-270C, độ ẩm 70%, cường độ chiếu sáng 3000 lux do tác giả Nguyễn Thị Lý Anh (2005) Viện sinh học nông nghiêp, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, kết quả cho thấy các cây trồng từ củ in vitro có khối lượng trên 1g/củ và được xử lý ở nhiệt độ 50C trong 3 tháng đã sinh trưởng, phát triển tốt và có chất lượng củ thu hoạch cao [3] Các nhà khoa học thuộc phân viện Công Nghệ sinh học Đà Lạt và trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) đã thành công trong việc nhân giống Lily bằng kỹ thuật nuôi cấy bioreactor, sau 1-2 tháng

có thể tạo ra 10.000 cây Lily giống từ bình nuôi cấy loại bioreactor có thể tích 20 lít, cây

có khả năng sống và sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên đến 95% [50]

Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật: Sử dụng chất kích thích sinh trưởng, bón phân qua lá, che bóng cho cây… thực hiện ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, BẮc Kan… đã xác định được một số chất kích thích sinh trưởng: GA3 có tác dụng làm tăng chất lượng hoa (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007) [16], Phân bón qua lá Antonik có tác dụng tốt đến sinh trưởng và chất lượng hoa (Phạn Thị Mai Chinh, 2007)[5]

Trang 26

Các tác giả Đặng Văn Đông, Nguyễn Văn Tỉnh, đã tiến hành nhập tập đoàn 23 giống hoa Lily ở Hà Lan vào trồng thử nghiệm ở Miền Bắc Việt Nam từ năm 2002 -

2006 Kết quả đã chọn lọc được 2 giống là giống Sorbonne và Acapulco có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, được hội đồng khoa học bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giống tạm thời tháng 5 năm 2006 và cho phép sản xuất thử ở các tỉnh Miền Bắc Việt Nam [10]

* Tình hình sản xuất hoa Lily ở Việt Nam

So sánh với chủng loại hoa khác thì sản xuất hoa Lily ở nước ta chiếm một tỷ lệ thấp về cả diện tích và số lượng

Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng hoa Lily nhiều nhất so với các địa phương khác trong cả nước, chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa Tình hình sản xuất hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, do có điều kiện ngoại cảnh phù hợp cho sự phát triển của các giống hoa Hơn nữa, Đà lạt có kỹ thuật trồng hoa Lily cao hơn những vùng khác nên hoa Lily sinh trưởng, phát triển tốt chất lượng đồng đều Tình hình phát triển hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của đa

số các loài hoa nói chung và hoa Lily nói riêng, một phần do công tác đầu tư, liên doanh liên kết với nước ngoài Tỉnh Lâm Đồng đã cho phép công ty TNHH Agrivina- Dalat Hasfarm đầu tư 100% vốn vào Thành Phố Đà Lạt từ năm 1994 để đầu tư phát triển hoa

có chất lượng cao bằng các công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp trong số 20ha trồng hoa của công ty, diện tích trồng hoa Lily khoảng 4ha, mỗi năm sản xuất 2 vụ, thu được 3 triệu bông phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu, tuy nhiên công ty Hasfarm độc quyền và không chuyển giao kỹ thuật trồng trọt về hoa Lily cho bất cứ nột cơ sở nào trong nước,

họ muốn chiếm lĩnh toàn bộ thị trường trong nước và xuất khẩu Đứng thứ 2 là công ty trách nhiệm hữu hạn Trang Trại LANGBIANG, mỗi năm công ty nhập từ 150 – 200 ngàn

củ Lily từ Hà Lan về trồng để thu hoa cắt cành

Hiện nay, một số tỉnh miền núi phía bắc, như: Lạng Sơn, Sơn La, Bắc Cạn, Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên… đã tiến hành sản xuất một

số giống Lily thương mại: Tiber, Sorbonne, Siberia, Acapulco, Stargazer, Yelloween, Starfighter… nhưng mới ở quy mô thử nghiệm nhỏ, chưa đưa ra sản xuất đại trà

Trang 27

Bảng 1.2 Diện tích sản xuất hoa Lily ở Miền Bắc Việt Nam qua một số năm

* Một số đặc điểm chung của nghề trồng Lily ở Việt Nam

Ngành sản xuất hoa nói chung và sản xuất Lily nói riêng ở nước ta còn nhiều tồn tại:

- Về quy mô: các cơ sở sản xuất hoa căt cành ở nước ta ở quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún, tản mạn; sảm xuất đơn lẻ, diện tích 1.000 – 2.000 m2/hộ [62]

- Về kỹ thuật: Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm là chính, nhân giống bằng phương pháp cổ truyền: gieo hạt, trồng bằng củ, mần nên giống dễ bị thái hóa, chất lượng hoa kém Đầu tư khao học kỹ thuật còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới; chủ yếu là sản xuất ngoài tự nhiên; tính đến năm 2005, tỷ lệ diện tích hoa cây cảnh áp dụng biện pháp tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới chỉ đạt 35%, diện tích trồng

Trang 28

hoa cây cảnh trong nhà có mái che chiếm 5% (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007) [12], trong đó tập trung chính ở Lâm Đồng với 650ha diện tích trồng hoa trong nhà màng (Nguyễn Văn Tới, 2007) [20] Chính vì vậy, mà nghề sản xuất hoa dù có thu nhập cao nhưng cũng gặp khá nhiêù rủi ro, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

- Các giống hoa chủ yếu nhập nội từ nước ngoài, bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng chủ yếu lại bằng con đường không chính thức nên rất khó khăn cho việc quản lý chất lượng giống, bị động sản xuất, giá thành sản phẩm cao

- Chưa có sự chỉ đạo thống nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ

- Diện tích ít, sản lượng thấp, chất lượng hoa chưa cao

* Triển vọng của nghề trồng Lily ở nước ta

- Hoa Lily mới phát triển mấy năm gần đây ở nước ta nhưng đã được nhiều người

ưa thích, thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng

- Hiện nay, ở Việt Nam, Lily được xếp vào loại hoa cao cấp, thường đắt hơn gấp 10-15 lần so với các loại hoa thông thường như: Cúc, Hồng, Cẩm Chướng, chỉ đặt sau Phong Lan và Địa Lan (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

-Với nhu cầu tiêu thụ hoa của thị trường như trên, Việt Nam có nhiều cơ hội để sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ hoa ở trong nước và trên thế giới

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất hoa Lily

(*) Đất trồng

Đất trồng hoa Lily phải là đất thoát nước tốt để tránh thối rễ, củ và vàng lá sau này.(Richard McAvoy, 2006) [42] Cần kiểm tra đất trước khi trồng và kiểm tra định kỳ sau vụ trồng Độ chua đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của Lily Độ chua thích hợp cho Lily sinh trưởng và phát triển là: 6,0 – 6,5, nếu pH thấp, thiếu Phốt pho, có thể bị cháy lá [53] Để cải tạo độ chua, có thể sử dụng một số biện pháp, như: Trộn bùn vào đất và bón vôi bột, lưu huỳnh hoặc sun phít sắt có thể giảm độ pH Trong quá trình bón phân, chúng ta nên sử dụng đạm Nitrat để hạn chế làm tăng độ pH trong đất (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Trang 29

(*) Thời vụ

Ở một số nước như Hà Lan, Italia… người ta có thể trồng quanh năm trong nhà kính (Grassotti, 1996) [35] Tuy nhiên ở điều kiện nước ta cần tránh trồng vào vụ hè, vì phải tiêu tốn nhiều năng lượng để hạ thấp nhiệt độ, dẫn đến giá thành sản xuất cao Nếu trồng ở điều kiện tự nhiên, nhiệt độ cao, thời gian sinh trưởng của hoa ngắn, chất lượng hoa kém dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [8]

Lily là cây có hoa nở tập trung, nên cần bố trí thời vụ trồng để hoa nở vào dịp lễ, tết, như: tết âm lịch, ngày 8/3, ngày 20/11… mới đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Muốn có hoa nở vào dịp mong muốn, cần phải bố trí thời điểm trồng hợp lý (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007) [12]

(*) Mật độ và khoảng cách trồng

Nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng người ta thấy rằng: Mật độ trồng phải căn cứ vào chủng loại giống, chu vi củ, điều kiện trồng và thời tiết của khu vực trồng (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9] Cùng chu vi củ là 10-12cm, với giống châu

Á mật độ trồng 30-45 củ/m2, nhưng với giống lai Phương Đông mật độ là 30-40 củ/m2 Cùng một giống, chu vi củ nhỏ mật độ trồng dày hơn, chu vi giống lớn mật độ trồng thưa hơn: Giống Sorbonne chu vi củ 14-16 cm, mật độ trồng 45-55 củ/m2

; chu vi củ 16-18cm, mật độ trồng 40-50 củ/m2; chu vi củ 18-20cm, trồng 35-45 củ/m2

Thông thường người ta trồng Lily ở một số khoảng cách 15cm x 15cm, hoặc 15cm

x 20cm hoặc 20cm x 20cm tùy thuộc vào điều kiện trồng trọt thực tế

(*) Cách trồng

Đề có hiệu quả nên trồng Lily trên luống rộng 1-1.5m, rạch từ 3-5 hàng, rãnh sâu 10-12 cm [55] Sau đó đặt củ vào lấp đất dày 5-8 cm rồi tưới nước, tưới đẫm trên mặt luống, đợi nước ngấm hết thì rắc mùn, rơm trên mặt luống, khi củ nảy mầm thì dỡ bỏ rơm trên mặt luống

(*) Chăm sóc sau khi trồng

- Dĩnh dưỡng và phân bón

Hai đến ba tuần đầu khi trồng Lily không cần bón phân (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9] Khi xuất hiện rễ thì bắt đầu bón phân, cứ 1 tuần bón 1 lần: trong nhà

Trang 30

kính có thể bón đạm NH4NO3 và Ca(NO3)2 với tỷ lệ 2:1, nồng độ đạm 250 đến 300ppm; trồng ngoài đồng ruộng có thể bón 450-670gram đạm/100m2 [57]

Kết quả nghiên cứu của Hà Lan cho biết tỷ lệ dinh dưỡng cần cho Lily giữa các chất N: P: K: Ca: Mg là: 10: 1.7:13.8:6.4:0.34 Người ta cho rằng trước và sau khi củ nảy mần không cần bón phân, chỉ cần bón khi cây cao 10-12cm

-Tưới nước

Độ ẩm rất quan trọng, đặc biệt trong 3 tuần đầu sau trồng [53] Lily cần đủ ẩm, nếu đất quá khô hoặc đất quá ướt đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của Lily; nếu thừa nước thân lá mềm, yếu, cây thân dài, hoa mù tăng

Nếu đất quá khô thì tưới nước duy trì độ ẩm nhưng không được tưới nước quá nhiều nước sẽ gây thối củ [59]

Thời gian tốt nhất là vào buổi sáng, có các cách tưới như: tưới tràn, tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt Trong đó, biện pháp tưới nhỏ giọt cho hiệu quả kinh tế rất cao Lượng nước tưới nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, nhiệt độ không khí, giống, tình hình sinh trưởng của cây và hàm lượng muối trong đất

- Ánh sáng

Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của Lily Thiếu ánh sáng cây sinh trưởng chậm, mềm yếu, lá vàng, hoa không bền Mầm hoa Lily phát dục vào mùa đông nên cần cung cấp đủ ánh sáng Nếu thiếu ánh sáng vào giai đoạn mầm hoa nhú

ra đến khi cắt hoa, hoa sẽ trắng, độ bền hoa cắt giảm (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

Mỗi một giống Lily yêu cầu chế độ ánh sáng khác nhau, đối với hoa cắt yêu cầu che bóng 30-40% là phù hợp [53] Về mùa đông cần chiếu sáng bổ sung, vụ hè cần che bớt ánh sáng, đối với các giống phương Đông cần che bớt 70%, giống lai châu Á che bớt 50%

Thời lượng chiếu sáng ảnh hưởng đến quá trình nở hoa của Lily Khi trồng vào vụ đông và vụ xuân, thời gian mặt trời chiếu sáng ngắn, điều chỉnh thời gian chiếu sáng có thể giúp một số giống hoa Lily nở sớm hơn

- Khắc phụ hiện tượng rụng nụ và khô mầm hoa

Trang 31

Thiếu ánh sáng dễ dẫn đến hiện tượng rụng nụ và khô hoa Khí Etylen có tác dụng làm nụ bị bại dục Sử dụng chế phẩm STS (silver thiosulfate-hỗn hợp của AgNO3 + NaSO3) phun vào lúc nụ dài 3cm với nồng độ 0.1 mmol/lít, phun kép 1-2 lần trong 1 tuần, có thể khắc phụ được hiện tượng rụng nụ và khô mầm hoa (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

(*) Nghiên cứu về sâu bệnh hại

Vấn đề lớn củ người trồng Lily là bệnh vàng lá và rụng nụ [61] Nguyên nhân gây bệnh cho Lily có nhiều, như:

Bệnh do các loài nấm gây nên: Bệnh khô lá do Botrytis elliptica; nấm Furarium gây hại lớn trên nhiều loại cây trồng (Đoàn Thị Thành, 2005) [17] trong đó có bệnh thối

Ngoài ra Lily còn bị một số bệnh do virus hoặc tuyến trùng gây nên Đối với sâu hại, hoa Lily thường bị một số sâu hại chính như: Rệp nâu đen, Rệp bông, Nhện… gây hại chủ yếu ở thân, cành lá và vảy củ làm cho cây sinh trưởng kém

Biện pháp phòng trừ: Ngoài biện pháp cơ giới, như: tiêu hủy tàn dư bệnh, làm sạch cỏ dại… thì sử dụng thuốc hóa học khi bệnh xuất hiện là cần thiết

(*) Thu hoạch và bảo quản Lily

- Thu hoạch: Thời gian thu hoạch tốt nhất với Lily là lúc nụ thứ nhất phình to và chuyển màu [57] Thu hoa muộn khi đã nở vận chuyển khó khăn, phấn hoa rơi làm bẩn hoa, làm giảm giá trị thẩm mỹ của hoa Cắt Lily vào buổi sáng, cách mặt đất 10-15cm, để 5-6 lá gốc Sauk hi căt hoa, nhúng 1/3 cuống hoa vào nước sạch, nhanh chóng đưa vào chỗ mát để bảo quản, hoặc cắm vào bình Nếu để vận chuyển, cần bó thành từng bó 5 bông/bó, cắt bỏ lá gốc và tiếp tục nhúng gốc hoa vào trong nước Tuổi thọ của hoa Lily

có thể kéo dài từ 9-14 ngày hoặc dài hơn tùy theo giống [57]

Trang 32

- Bảo quản hoa: Sau khi cắt khỏi cây mẹ, cành hoa bị mất đi nguồn cung cấp nước

và dinh dưỡng Cành hoa vẫn phải tiếp tục hô hấp và thoát hơi nước, protein và tinh bột vẫn bị phân giải Vì vậy, nếu không được bổ sung nước và chất dinh dưỡng hoa sẽ chóng tàn Do đó hoa cắt cần được bảo quản tốt, có một số phương pháp bảo quản như sau:

- Bảo quản lạnh: Dùng nước lạnh, kho lạnh để giảm quá trình hô hấp của hoa, có thể bảo quản 3-5 ngày ở nhiệt độ 3-50C; xử lý hóa chất bằng Thi-o sun phát bạc (STS) 24 giời ở nhiệt độ 200C trước khi vận chuyển [53]

- Kích thích hoa nở: Sau khi xử lý lạnh một thời gian dài làm hoa khó nở, cần phải xử lý kích thích hoa nở bằng cách nhúng hoa vòa dung dịch diệt khuẩn 8-

hydroxylpuril 200mg/lít + đường Saccaroza 3% (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [9]

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An

(* ) Điều kiện tự nhiên

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có tọa độ địa lý từ 18033' -19025' vĩ

độ Bắc và 102053' - 105046' kinh độ Đông, với tổng diện tích tự nhiên là 16487 km2 Địa hình Nghệ An có thể chia thành 3 vùng cảnh quan, vùng núi cao chiếm 77% diện tích, vùng đồi gò chiếm 13%, đồng bằng 10%, bị đồi núi chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa

và dải cát ven biển

Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng

ẩm và mưa nhiều theo mùa Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình 120 – 140 kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23- 240C tổng nhiệt trên 90000C, mỗi năm

có trên 30 ngày nhiệt độ dưới 100C và 20 – 25 ngày nhiệt độ trên 300C Độ ẩm không khí

là 85%, lượng mưa trung bình cả năm 1600 – 2000 mm Khí hậu Nghệ An có hai mùa: mùa mưa, nóng từ tháng 4 – 10 và mùa khô, lạnh từ tháng 11 – 4 (năm sau)

Trang 33

(*) Đặc điểm kinh tế - xã hội

Nghệ An là một tỉnh đông dân, với dân số 3.103.400 người, mật độ trung bình toàn tỉnh 118 người/km2 (internet) Dân cư phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhưng tập trung đến 80% dân số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số [65]

Trang 34

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

- Các giống hoa hoa Lily nhập nội từ Hà Lan: Sorbonne (thuộc nhóm lai phương Đông), Belladonna, Bernini, Cherbourg, Yelloween (thuộc nhóm tạp giao OT)

Tâp đoàn các giống hoa lily đưa vào khảo nghiệm

mầm (cm)

Thời Gian Sinh trưởng

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Viện khoa học kỷ thuật Bắc Trung Bộ

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Vụ Đông Xuân 2011- 2012, bắt đầu từ tháng 31/10/2011 đến tháng 1/2012

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu các đặc điểm hình thái của các giống Lily nhập nội

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống hoa Lily

Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống Lily nhập

Nghiên cứu các chỉ tiêu về chất lượng của các giống hoa Lily

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống hoa Lily

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại

+ Công thức 1: Giống Sorbonne

Trang 35

+ Công thức 2: Giống Belladonna

+ Công thức 3: Giống Bernini

+ Công thức 4: Giống Cherbourg

+ Công thức 5: Giống Yelloween

+ Sơ đồ thí nghiệm: Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), 5 công thức, 3 lần nhắc lại lại (Đỗ Thị Nhọc Oanh và Cs, 2004) [15]

+ Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10 m2

+ Tổng diện tích ô thí nghiệm: 200 m2 (kể cả giải bảo vệ)

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

- Các vật tư như: Phân bón (đạm, lân, kali), thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ như thước kẹp panme, thước mét, sổ sách ghi chép

+Mật độ và khoảng cách trồng

+ Mật độ: 25 củ/1m2

+ Khoảng cách: 20cm x 20cm

(Số lượng củ giống 225 củ/1 công thức Tổng số củ thí nghiệm 3375 củ)

+ Diện tích thí nghiệm 200m2, mỗi ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm 10 m2

-Thời vụ: Vụ Đông Xuân năm 2011- 2012, trồng ngày 31/10/2011

- Quy trình bón phân và kỹ thuật chăm sóc: Được bổ sung từ kết quả nghiên cứu trên cơ

sở kỹ thuật trồng hoa Lily của tác giả Đăng Văn Đông, Đinh Thế Lộc 2004 [9]

2.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống hoa Lily

- Theo dõi tỷ lệ mọc mầm của các giống (%)

+ Theo dõi số củ mọc mầm

Trang 36

Số củ nảy mầm

Số củ trồng + Theo dõi sức mọc mầm của các giống: Sau trồng 4 ngày, 6 ngày, 8 ngày, 10 ngày

-Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống Lily

+ Theo dõi chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển: : Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất (cm)

+ Theo dõi sự ra lá qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển: Đếm số lá ra trên một thân của cây (Lá/ thân)

+ Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây cuối cùng: Chiều cao thân chính (cm), đo từ khi cây mọc 20 ngày, định kỳ 10 ngày đo một lần số cây lấy mẫu 10 cây/ô thí nghiệm

Đo thời điểm hoa chuẩn bị thu hoạch (cm)

+ Theo dõi đường kính thân cuối cùng (đô cách gốc 10cm) (cm)

2.3.3 Đánh giá đặc điểm hính thái và chất lượng các giống Lily

- Đặc điểm hình thái của các giống Lily: Quan sát , mô tả một số đặc điểm nông họccủa các giống Lily thí nghiệm

+ Thân: màu sắc, đường kính, chiều dài thân

+ Lá: Màu sắc, hính dáng, chiều dài, chiều rộng: Đo 30 lá tính trung bình

+ Hoa: Màu sắc, mép hoa, cánh hoa, đường kính hoa, hương thơm

- Chất lượng các giống hoa

+ Số hoa trên cây, đường kính nụ hoa ở thời điểm hoa chuẩn bị nở (cm): Mỗi công thức đếm 30 cây (hoa/cây)

+ Ngày ra nụ: Theo dõi từ ngày trồng đến 10%, 50%, 80% số cây ra nụ của từng giống

+ Theo dõi thời gian nụ chuyển màu từ trồng đến 10%, 50%, 80% số nụ đã chuyển màu

-Điều tra sâu bệnh hại

Trang 37

- Phương pháp theo dõi

+ Định kỳ theo dõi 10 cây/ 1 ô thí nghiệm, định kỳ theo dõi 10 ngày/lần

+ Phương pháp theo dõi: sử dụng phương pháp thống kê, như: đo, đếm, ghi

Trang 38

8 Như điểm 7 nhưng mức độ khô héo

- Tổng hợp chi phí cho diện tích thí nghiệm 200 (m2)

- Hiệu quả kinh tế của mô hình

ngoài

Cần chọn đất thông thoáng, tơi xốp và dễ thoát nước, có thể tăng độ xốp cho đất bằng cách trộn thêm than bùn 5kg/m2, xỉ than 10kg/m2 Lượng phân bón lón là 10kg

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Đoàn Thị Thành ( 2005). Những thành tựu nghiên cứu bệnh hại thực vật Việt Nam (Nghiên cứu đa dạng sinh học của các Isolates nấm Fusarium spp ở Việt Nam và một số nước khác). Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr: 129-134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu nghiên cứu bệnh hại thực vật Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thị Thành
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
18. Hoàng Phú Thịnh ( 2007). Báo Cáo kết quả dự án “Trồng thử nghiệm một số cây trồng giá trị kinh tế cao phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh Bắc Kạn. tr:50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo kết quả dự án “Trồng thử nghiệm một số cây trồng giá trị kinh tế cao phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Hoàng Phú Thịnh
Năm: 2007
19. Hà Thị Thúy, Đỗ Năng Vịnh, Dương Thị Nga, Trần Duy Quý,( 2005): “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân nhanh In vitro các giống hoa lilium spp. Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn”. Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân nhanh In vitro các giống hoa lilium spp. Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Hà Thị Thúy, Đỗ Năng Vịnh, Dương Thị Nga, Trần Duy Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Nguyễn Văn Tới, 2007). Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất hoa tại Đà Lạt. Thông tin khoa học công nghệ số 3/2007. Sở khoa học công nghệ Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất hoa tại Đà Lạt
Tác giả: Nguyễn Văn Tới
Nhà XB: Thông tin khoa học công nghệ
Năm: 2007
21. Nguyễn KHắc Trung, Phạm Minh Thu, 1997. Kỹ thuật về hoa cây cảnh. Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr: 21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật về hoa cây cảnh
Tác giả: Nguyễn KHắc Trung, Phạm Minh Thu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
22. Viện bảo vệ thực vật,( 2000). Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật. Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr; 46-57II. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật
Tác giả: Viện bảo vệ thực vật
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
23. AIPH, 2004. Internation statistic flower and plants Institus fur Gartenbauokonomie der Universitat Hannover. Volume 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internation statistic flower and plants
Tác giả: AIPH
Nhà XB: Institus fur Gartenbauokonomie der Universitat Hannover
Năm: 2004
24. Barba-Gonzalez.R, Lim.K-B, Ramanna. M.S and Van Tuyl.J.M.2005. Use of 2n games for inducing intergenomic recombination in lily hybrids. Acta Hort. 673. p.161-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of 2n games for inducing intergenomic recombination in lily hybrids
Tác giả: Barba-Gonzalez, R, Lim, K-B, Ramanna, M.S, Van Tuyl, J.M
Nhà XB: Acta Hort.
Năm: 2005
25. Beattie. D. R, White, RW 1993. Lilium Hybrid and species, in: Thephysiologi ò flower bulds (De Hertogh. A, Le Nard. M, eds) Elsevier Amsterdam, p. 423-342 26. Beer. C.M., Barba-Gonzalez.R., Van Shilfhout. A.A., Ramana.M.S. and VanTuyl.J.M.,2005. Acta Hortic.673, p. 449-452 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The physiologi ò flower bulbs
Tác giả: Beattie. D. R, White, RW
Nhà XB: Elsevier
Năm: 1993
27. Bonner. F.J.M., (1997). Long term storage of clonal material of Lily (lilium L.). PhD-thesi, Wageningen University, p, 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long term storage of clonal material of Lily (lilium L.)
Tác giả: Bonner. F.J.M
Nhà XB: Wageningen University
Năm: 1997
28. Buschman. J.C.M..Okubo.H., Miller.W.B., Chastagner.G.a., (2005). Globalisation- flower-flower bulds-buld flowers. Acta Horticulture. 673. P27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Globalisation- flower-flower bulds-buld flowers
Tác giả: Buschman J.C.M., Okubo H., Miller W.B., Chastagner G.a
Nhà XB: Acta Horticulture
Năm: 2005
32. De Hertogh.A.A, Le Nard.M., (1993). World production and horticultural unilization of flower buids. In: De Hertogh.A.A, Le Nard.M., the Physiology of flower bulds. Asmterdam.Elsevier Science Publishers.cap.2.p.21-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: the Physiology of flower bulds
Tác giả: De Hertogh.A.A, Le Nard.M
Nhà XB: Elsevier Science Publishers
Năm: 1993
33. De Hertogh.A.A., (1996). Maketting and research requirements for lilium in North America. Acta Hortculture.414.p.17-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maketting and research requirements for lilium in North America
Tác giả: De Hertogh, A.A
Nhà XB: Acta Hortculture
Năm: 1996
35. Grassotti.A, 1996. Economics and culture techniques of lilium production in Italy. Act Horticulture.414.p.25-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics and culture techniques of lilium production in Italy
Tác giả: Grassotti, A
Nhà XB: Act Horticulture
Năm: 1996
36. Jo Wijnanads., (2005). Sustainable Interntional Networks in the flower Industry Bridging Empirical Findings and Theoretical Approaches. ISHS.p.26-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Interntional Networks in the flower Industry Bridging Empirical Findings and Theoretical Approaches
Tác giả: Jo Wijnanads
Nhà XB: ISHS
Năm: 2005
37. Kim. Y., 1996. Lily industry and research and native lilium specius in the Korea. Acta Horitculture. 414.p69-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lily industry and research and native lilium specius in the Korea
Tác giả: Kim. Y
Nhà XB: Acta Horitculture
Năm: 1996
38. Murashige.T. and Skoog., (1962). A revised medium for rapid growth and bioassay with tobacco tissue culture. Physiol. Plant.15.p.473-497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A revised medium for rapid growth and bioassay with tobacco tissue culture
Tác giả: Murashige, T., Skoog
Nhà XB: Physiol. Plant.
Năm: 1962
39. Mynett.K., 1996. Research, production and breeding of lilies in eastern European countries. Act Horitculture. 414.p.47-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research, production and breeding of lilies in eastern European countries
Tác giả: Mynett, K
Nhà XB: Act Horitculture
Năm: 1996
40. Rhee.H.K.,2002. Improvement of breeding efficiency in interspecific hybridization of lilium.Ph.D thesis, Seoul NationalUniversity.p.118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improvement of breeding efficiency in interspecific hybridization of lilium
Tác giả: Rhee, H.K
Nhà XB: Seoul National University
Năm: 2002
41. Rhee.H.K, Lim.J.H, Kim.Y.J, Van Tuyl.J.M.,(2005). Improvement of preeding efficiency for interspecific hybridization to lilies in Korea. Acta Hortic.673.p.107- 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improvement of preeding efficiency for interspecific hybridization to lilies in Korea
Tác giả: Rhee.H.K, Lim.J.H, Kim.Y.J, Van Tuyl.J.M
Nhà XB: Acta Hortic.
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới (ha) - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới (ha) (Trang 20)
Bảng 1.2 Diện tích sản xuất hoa Lily ở Miền Bắc Việt Nam qua một số năm Đơn vị: m 2 - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 1.2 Diện tích sản xuất hoa Lily ở Miền Bắc Việt Nam qua một số năm Đơn vị: m 2 (Trang 27)
Nghiên cứu các đặc điểm hình thái của các giống Lily nhập nội - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
ghi ên cứu các đặc điểm hình thái của các giống Lily nhập nội (Trang 34)
6 Như điểm 5 nhưng hình thành bào tử - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
6 Như điểm 5 nhưng hình thành bào tử (Trang 37)
Kết quả mọc mầm của các giống được trình bày ở bảng 3.1 Bảng 3.1.Tỉ lệ mọc mầm các giống Lily   - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
t quả mọc mầm của các giống được trình bày ở bảng 3.1 Bảng 3.1.Tỉ lệ mọc mầm các giống Lily (Trang 42)
Từ hình thành nụ đến nụ chuyển  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
h ình thành nụ đến nụ chuyển (Trang 43)
Bảng 3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng,phát triển  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng,phát triển (Trang 43)
Bảng 3.3. Chiều caocây qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển                                                                                                               Đơn vị: cm  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.3. Chiều caocây qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Đơn vị: cm (Trang 45)
Hình 3.1. Chiều caocây qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống Lily  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Hình 3.1. Chiều caocây qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống Lily (Trang 46)
Bảng 3.4 Số lá của các giống hoa Lily qua các giai đoạn sinh trưởng,phát triển - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.4 Số lá của các giống hoa Lily qua các giai đoạn sinh trưởng,phát triển (Trang 47)
Lily là loài hoa cắt, số lá nhiều hay ít trên một thân ảnh hưởng đến hình thức thẩm mỹ, do đó một phần ảnh hưởng đến giá trị của sản phẩm.Lá quá thưa như giống Bernni  hoặc quá dày như giông Yelloween làm cho cành hoa không cân đối, hình thức xấu - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
ily là loài hoa cắt, số lá nhiều hay ít trên một thân ảnh hưởng đến hình thức thẩm mỹ, do đó một phần ảnh hưởng đến giá trị của sản phẩm.Lá quá thưa như giống Bernni hoặc quá dày như giông Yelloween làm cho cành hoa không cân đối, hình thức xấu (Trang 48)
Số liệu trong bảng 3.5 cho thấy - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
li ệu trong bảng 3.5 cho thấy (Trang 49)
Hình 3.3. Đường kính thân của các giống hoa Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Hình 3.3. Đường kính thân của các giống hoa Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (Trang 50)
Bảng 3.6 Đặc điểm hình thái của các giống Lily nghiên cứu - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.6 Đặc điểm hình thái của các giống Lily nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 3.7. Đường kính nụ qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.7. Đường kính nụ qua các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (Trang 52)
Hình 3.4. Đường kính nụ của các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Hình 3.4. Đường kính nụ của các giống Lily qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (Trang 53)
Qua bảng 3.8 ta thấy: Số nụ trên cây của các giống biến động từ 2, 8- 5,1 nụ/cây. Trong đó giống Sorbonne có số nụ/cây đạt cao nhất (5,1nu/cây) giống Yelloween có số  nụ/cây  đạt(  4,4  nu/cây)...đối  chiếu  khả  năng  sinh  trưởng,  phát  triển  ở  trên  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
ua bảng 3.8 ta thấy: Số nụ trên cây của các giống biến động từ 2, 8- 5,1 nụ/cây. Trong đó giống Sorbonne có số nụ/cây đạt cao nhất (5,1nu/cây) giống Yelloween có số nụ/cây đạt( 4,4 nu/cây)...đối chiếu khả năng sinh trưởng, phát triển ở trên (Trang 54)
Theo dõi khả năng chống chịu sâu hại ở các giống hoa Lily thu được kết quả ở bảng 3. Bảng 3.9  Mức độ sâu hại  của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển                                                                                       - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
heo dõi khả năng chống chịu sâu hại ở các giống hoa Lily thu được kết quả ở bảng 3. Bảng 3.9 Mức độ sâu hại của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển (Trang 56)
Bảng 3.10 Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển  - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.10 Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của các giống Lily qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển (Trang 57)
Bảng 3.11 Chi phí sản xuất của các giống Lily trên diện tích - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.11 Chi phí sản xuất của các giống Lily trên diện tích (Trang 58)
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các giống Lily tham gia nghiên cứu - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các giống Lily tham gia nghiên cứu (Trang 60)
PHỤ LỤC 2. Bảng số liệu khí tượng tháng 11 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012 - So sánh khả năng sinh trưởng , phát triển một số giống hoa lily nhập nội tại viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp bắc trung bộ
2. Bảng số liệu khí tượng tháng 11 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012 (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w