1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính kháng khuẩn của một số loại thảo dược dạng dịch ép đối với vi khuẩn pseudomonas spp gây bệnh lở loét trên cá bống bớp (bostrichthys sinensis) trong điều kiện phòng thí nghiệm

48 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN TRANG THƯƠNG NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOẠI THẢO DƯỢC DẠNG DỊCH ÉP ĐỐI VỚI VI KHUẨN Pseudomonas spp GÂY BỆNH LỞ LOÉT TR

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN TRANG THƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHUẨN

CỦA MỘT SỐ LOẠI THẢO DƯỢC DẠNG DỊCH ÉP

ĐỐI VỚI VI KHUẨN Pseudomonas spp GÂY BỆNH

LỞ LOÉT TRÊN CÁ BỐNG BỚP (Bostrichthys sinensis)

TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHUẨN

CỦA MỘT SỐ LOẠI THẢO DƯỢC DẠNG DỊCH ÉP

ĐỐI VỚI VI KHUẨN Pseudomonas spp GÂY BỆNH

LỞ LOÉT TRÊN CÁ BỐNG BỚP (Bostrichthys sinensis)

TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Người hướng dẫn: 1 :Hoàng Thị Mai

2: Th.s Nguyễn Thị Thanh

Người thực hiện: Nguyễn Trang Thương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô

Hoàng Thị Mai và ThS Nguyễn Thị Thanh - Giảng viên khoa Nông Lâm Ngư,

Trường Đại họcVinh, là những người đã định hướng và hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo cho tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Kim Chung và các

cô giáo phòng thí nghiệm khoa Nông Lâm Ngư đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện

để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa và thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư, Đại học Vinh đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi nền tảng kiến thức và giúp đỡ tôi trong nhưng năm học vừa qua

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè, tập thể lớp 49K - NTTS đã quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiên đề tài tốt nghiệp, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế, cùng điều kiện thực hiện thí nghiệm chưa đúng quy chuẩn nên không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong được sự quan tâm, góp ý của thầy cô để khoá luận hoàn thành

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn !

Nghi Lộc, tháng 7 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Trang Thương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một vài đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu 3

1.1.1 Đặc điểm sinh học cá Bống Bớp (Bostrichthys sinesis Lecepede, 1801) 3

1.1.1.1 Vị trí phân loại 3

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 3

1.1.1.3 Đặc điểm phân bố và sinh trưởng 4

1.1.2 Chủng vi khuẩn Pseudomonas spp 4

1.1.3 Một số loài cây thảo dược 4

1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Pseudomonas spp gây ra trên cá 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Tại Việt Nam 10

1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn ở động vật thủy sản 11

1.3.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trên thế giới 11

Chương 2 ĐỐI TUỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Vật liệu, dụng cụ và hóa chất nghiên cứu 16

Trang 5

2.3 Nội dung nghiên cứu 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.4.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 17

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh do vi khuẩn 18

2.4.2.1 Phương pháp thu mẫu 18

2.4.2.2 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm 18

2.4.2.3 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và định danh vi khuẩn 18

2.4.3 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn 20

2.4.4 Phương pháp thu dịch ép từ thảo dược 21

2.4.5 Phương pháp thử kháng sinh đồ 21

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 21

2.4.7 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 Kết quả phân lập và định danh vi khuẩn gây bệnh lở loét trên cá Bống bớp 22

3.2 Kết quả thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của các loài thảo dược với chủng vi khuẩn Pseudomonas spp 23

3.3 Khả năng kháng khuẩn Pseudomonas spp của dịch ép thảo dược ở các nồng độ khác nhau 24

3.3.1 Khả năng kháng khuẩn của củ tỏi đối với chủng Pseudomonas spp 24

3.3.2 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết cây cỏ mực đối với chủng Pseudomonas spp 26

3.3.3 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết củ gừng đối với chủng Pseudomonas spp 28

3.3.4 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết củ nghệ đối với chủng Pseudomonas spp 30

Trang 6

3.3.5 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết cây cỏ lào đối với

chủng Pseudomonas spp 31

3.3.6 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết hỗn hợp củ tỏi và củ

gừng ở các tỷ lệ phối trộn khác nhau đối với Pseudomonas spp 32

3.4 Kết quả so sánh khả năng kháng khuẩn của thảo dược với các

loại kháng sinh phổ biến 34

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 7

13 NCNTTS Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản

Trang 8

Bảng 3.8 Kết quả đường kính vòng vô khuẩn của thảo dược và các loại

kháng sinh đối với vi khuẩn Pseudomonas spp 34

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cá Bống Bớp (Bostrichthys sinesis) 3

Hình 1.2 Củ tỏi ta 5

Hình 1.3 Củ nghệ 5

Hình 1.4 Cây cỏ mực 6

Hình 1.5 Củ gừng 7

Hình 1.6 Cây cỏ lào 8

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 17

Hình 2.2 Đường cấy vi khuẩn trên đĩa lồng 18

Hình 2.3 Các bước pha loãng nồng độ vi khuẩn 20

Hình 3.1 Dấu hiệu cá bị bệnh 22

Hình 3.2 Khuẩn lạc mọc trên NA (cấy tăng sinh) 23

Hình 3.3 Hình thái khuẩn lạc khi nhuộm gram 23

Hình 3.4 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch ép củ tỏi ở các nồng độ khác nhau với vi khuẩn Pseudomonas spp 25

Hình 3.5 ĐK vòng vô khuẩn của dịch ép củ tỏi 26

Hình 3.6 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết cây cỏ mực đối với chủng Pseudomonas spp 27

Hình 3.7 Vòng kháng khuẩn của cỏ mực 28

Hình 3.8 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết củ gừng đối với chủng Pseudomonas spp 29

Hình 3.9 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết củ nghệ đối với chủng Pseudomonas spp 30

Hình 3.10 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết cây cỏ lào đối với chủng Pseudomonas spp 31

Hình 3.11 Vòng kháng khuẩn của cây cỏ lào 32

Hình 3.12 Đường kính vòng vô khuẩn của hỗn hợp dịch chiết từ củ tỏi và củ gừng đối với Pseudomonas spp 33

Trang 10

MỞ ĐẦU

Theo Bộ Nông nghệp và Phát triển nông thôn, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản quý I/2012 ước đạt 1.134,4 ngàn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó sản lượng khai thác ước đạt 622 ngàn tấn, tăng 1,2%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 512 ngàn tấn, tăng 5,2% Trong đó nghề nuôi cá biển là một trong những hướng đi quan trọng với các đối tượng nuôi có giá trị như cá song, cá giò, cá tra, cá bống bớp.[37]

Cá Bống Bớp (Bostrichthys sinensis Lacépède, 1801) là loài có giá trị kinh tế

rất cao Giá cá thương phẩm hiện nay dao động từ 180.000 - 200.000 nghìn đồng/kg, là đặc sản của vùng ven biển Việt Nam rất được ưa chuộng ở thị trường trong nước và nước ngoài Đây cũng là một trong những loài cá được xuất khẩu sống của Việt Nam sang một số nước như Trung Quốc, Hồng Kông.[35]

Hiện nay, bệnh do vi khuẩn Pseudomonas spp là một trong những tác nhân

gây thiệt hại rất lớn cho nghề nuôi cá nước ngọt và nuôi cá mặn lợ Chủng

Pseudomonas spp gây bệnh chủ yếu trên cá nước ngọt tuy nhiên với đặc tính của vi

khuẩn có thể phát triển được ở nhiều môi trường và thích nghi với khoảng độ muối rộng cho nên hiện nay vi khuẩn này đã nhiễm trên một số loài cá nước mặn lợ như

cá Bống Bớp, cá song, cá giò và gây dịch bệnh trên diện rộng ở nhiều vùng nuôi

Trong nuôi trồng thủy sản, khi cá bị bệnh do vi khuẩn thì kháng sinh thường được dùng để điều trị Ngoài tác dụng tốt trong việc trị bệnh thì thuốc kháng sinh có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe vật nuôi, môi trường nuôi khi sử dụng không đúng liều lượng, thời gian Nếu lạm dụng thuốc thì sẽ dẫn tới việc tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc Ngoài ra dư lượng thuốc còn tồn tại trong cơ thể vật nuôi cũng gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Việc sử dụng thuốc từ thảo dươc là một hướng đi mới và có triển vọng trong nghề nuôi trồng thủy sản để dần thay thế cho thuốc kháng sinh nhằm tạo ra các sản phẩm thủy sản sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 11

Với lợi thế là nước cận nhiệt đới, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng đa dạng sinh học cao với nhiều loại thảo dược đã được nghiên cứu và ghi nhận là có tính kháng khuẩn cao dùng để chữa bệnh cho người và động vật Tuy vậy

việc sử dụng các loại thảo dược để phòng trị Peusomonas spp trên các loài cá mặn

lợ vẫn chưa được nghiên cứu nhiều

Trên thực tế đó và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư

và Trung tâm thực hành thí nghiệm trường Đại học Vinh tôi tiến hành thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu tính kháng khuẩn của một số loại thảo dược dạng dịch ép đối

với vi khuẩn Pseudomonas spp gây bệnh lở loét trên cá Bống Bớp (Bostrichthys

sinensis) trong điều kiện phòng thí nghiệm”

Mục tiêu nghiên cứu:

Thử nghiệm tính kháng khuẩn của dịch ép một số loại thảo dược với vi

khuẩn Pseudomonas spp gây bệnh lở loét trên cá Bống Bớp làm cơ sở cho việc đề

xuất các biện pháp phòng trị bệnh cho cá giai đoạn nuôi thương phẩm tại Nghệ An

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một vài đặc điểm sinh học của đối tượng nghiên cứu

1.1.1 Đặc điểm sinh học cá Bống Bớp (Bostrichthys sinesis Lecepede, 1801)

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo

Cá Bống bớp có thân hình trụ tròn, hai vây lưng tách biệt nhau, hai vây bụng gần nhau và dính nhau ở gốc vây Đầu ngắn, mõm tầy và mắt nhỏ, toàn thân phủ vẩy nhỏ, hàng vảy dọc giữa thân có hơn 100 cái Phần trên gốc vây đuôi có một chấm đen to hình tròn hoặc hình trứng xung quanh viền trắng Chiều dài thân gấp 5

lần chiều cao

Hình 1.1 Cá Bống Bớp (Bostrichthys sinesis)

Trang 13

1.1.1.3 Đặc điểm phân bố và sinh trưởng

Trong tự nhiên, cá Bống bớp thường sống ở đáy thành từng cặp trong hang

với tỷ lệ đực/cái là 1/1, cũng không ít những hang có đến vài cặp cùng chung sống

Cá sống chủ yếu ở các bãi triều cửa sông và đầm nước lợ, độ sâu trên dưới 1, 5 m,

nhiệt độ 17 - 35 oC, độ muối 0, 1 - 11% Cá trưởng thành luôn sống trong hang lỗ ở

các bãi triều, bờ đê ngập nước, chỉ ra ngoài khi sinh sản hoặc kiếm ăn

Cá bống bớp thuộc loài cá dữ,khi còn nhỏ chúng ăn động vật phù du, ấu trùng động

vật Cá trưởng thành ăn giáp xác và nhuyễn thể Chúng thường bắt mồi sống, cũng

có khả năng ăn con mồi chết nhưng thịt còn tươi

Pseudomonas spp là vi khuẩn gram âm, dạng hình que, không sinh bào tử,

kích thước tế bào khoảng 0,5-1,0 x 1,5-5,0 .Phần lớn 2 tế bào nối liền nhau, phía

đầu có 1-2 tiêm mao, có khả năng di động, không có nha bào, không có giác mạc

Khuẩn lạc hình tròn ,đường kính khoảng 0,5-1mm hơi lồi, ướt,mặt nhẵn bóng, ria

đều, màu trắng xám, sau 24h tạo sắc tố vàng lục Nó thường tìm thấy trong các khu

vực có khí hậu ấm, ngoài ra chúng còn được phát hiện trong muối tươi, biển và nơi

cửa sông, thậm chí cả người và động vật Chúng phân bố khắp trên môi trường đất,

nước và vi khuẩn này có khả năng gây bệnh trên cá, người và động vật Tác nhân

gây bệnh ở cá gồm một số loài: P fluorescens, P chlororaphis P anguilliseptica,

P dermoalba, P putida

1.1.3 Một số loài cây thảo dược

* Tỏi (Allium sativum L.)

Từ lâu đời, tỏi được nhân dân xem là một loại dược liệu có vị cay, hôi, tính

ấm, có tác dụng sát khuẩn, giải độc, tiêu đờm, trừ giun Củ tỏi có kích thước trung

bình từ 2 ÷6 cm, có màu trắng, mỗi củ có từ 12÷20 tép

Trang 14

Hình 1.2 Củ tỏi ta

- Thành phần hóa học

Trong củ tỏi có chứa 0,1-0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S) Thành phần kháng thuốc chủ yếu là chất alicin (C6H10OS2) có khả năng diệt khuẩn mạnh, ở động vật thủy sản nó có tác dụng rất tốt với các vi khuẩn gam (-) Trong tỏi tươi không có chất alicin nó chỉ được hình thành khi tỏi đã được phơi khô Ngoài ra củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng [1]

- Tác dụng

Thành phần kháng khuẩn chủ yếu của tỏi là chất alicin (C6H10OS2), đây là một chất sulfur có tác dụng diệt khuẩn mạnh, phổ diệt khuẩn rộng với nhiều loài vi

khuẩn như: Staphyllococus sp., thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, trực khuẩn, bạch

hầu, vi khuẩn gây thối rữa.[1]

Trang 15

+ Tinh bột, canxi oxalat, chất béo…

- Tác dụng

Tinh dầu và một số thành hóa học của nghệ có tác dụng ức chế nhiều loài vi khuẩn và nấm gây bệnh trong đó có trực khuẩn lao, các trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn coli, nấm candida albicans Cao chiết từ nghệ có tác dụng ức chế lỵ amip Dịch chiết từ lá nghệ diệt ấu trùng muỗi.[1`]

*Cây cỏ mực (Eclipta prostrata )

Cây cỏ, sống một hay nhiều năm, mọc đứng hay mọc bò, cao 30 - 40cm Thân màu lục hoặc đỏ tía, phình lên ở những mấu, có lông cứng Lá mọc đối, gần như không cuống, mép khía răng rất nhỏ; hai mặt lá có lông Hoa hình đầu, màu trắng, mọc ở kẽ lá hoặc ngọn thân Quả bế dài 3mm, có 3 cạnh, hơi dẹt [1]

Hình 1.4 Cây cỏ mực

- Thành phần hóa học: Các nghiên cứu trong y học hiện đại đã phát hiện

thấy trong có mực có saponin, tanin, chất đắng, caroten, ancaloit, tinh dầu, vitamin

E, vitamin A [1]

- Tác dụng: Chất tanin trong cỏ mực có tác dụng làm tăng tốc độ đông máu

Các nhà khoa học Trung Quốc đã làm thực nghiệm: cắt đứt động mạch đùi chó, dùng bột cỏ mực tán mịn đắp lên chỗ đứt, ấn nhẹ vào thì thấy có tác dụng cầm máu tốt Ngoài ra cỏ mực còn có tác dụng diệt khuẩn, tiêu viêm, có tác dụng diệt một số

tụ cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu (Bacillus diphtheria), trực khuẩn viêm ruột

Trang 16

(Bacillus enteritidis) và có tác dụng nhất định đối với amip Ngoài ra có tác dụng

tăng cường miễn dịch, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư: Kích hoạt hệ thống miễn dịch, đặc biệt là đối với tế bào limphô T (T-lymphocytes); có tác dụng ức chế

sự phát triển của tế bào ung thư, đặc biệt trong ung thư dạ dày [1]

* Củ Gừng ( Zingiber Officinale Rosc)

Là một loại cây nhỏ 5cm - 1m , thân rễ phình to thành củ Lá mọc so le, không cuống, có bẹ hình mác dài khoảng 15cm-20cm , rộng 2cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng Bộ phận dùng là củ Gừng có khắp nơi ở nước ta, được trồng làm gia vị nấu ăn, làm thuốc chữa bệnh hoặc xuất khẩu.[1]

- Thành phần hóa học: Trong củ gừng

có trên 400 chất khác nhau, bao gồm 2-3% tinh dầu(Zingiberen, D-camphen), 3-5% chất nhựa cay như zingeron, zingerol, shogaola(trong quá trình làm khô, chất gingerol biến thành shogaol), chất béo, các vitamin và chất khoáng như Kali, Canci, Sắt, Mangan, Kẽm.[1]

Hình 1.5 Củ gừng

- Tác dụng:

Gừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh từ cách đây hơn 5000 năm trước

vì các dược tính quý giá của nó Ở Miến Điện, gừng và nước ép cây cọ được dùng

để chống bệnh cúm Người Trung Quốc sử dụng trà gừng để phòng và chữa các chứng cảm mạo thông thường, làm kẹo gừng để chữa ho Người Cônggô nghiền gừng với nhựa cây xoài thành nước uống có thể chữa bách bệnh Tại Ấn độ, gừng được dùng để điều trị bệnh cảm cúm thông thường và dùng để chống nôn Ở Nepan, gừng được trồng rộng rãi và sử dùng phổ biến như một gia vị, hoặc dùng để tạo hương cho các loại trà Theo FDA (cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ) gừng được dùng cho phụ nữ mang thai để điều trị chứng ốm nghén rất hiệu quả

và an toàn Trà gừng được dùng để phòng chống tình trạng chuột rút do lạnh Ở Việt

Trang 17

Nam, gừng được dùng để phòng chống cảm lạnh, nôn, say tàu xe và chữa ho rất hiệu quả Gừng có tính chất chống viêm và có thể dùng để trị viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp và các rối loạn khác về cơ bắp Uống trà gừng, đắp bã, ngâm tay, chân trong nước gừng loãng mỗi tối 15-20 phút có thể chữa được các chứng viêm khớp Liệu pháp này có tác dụng giảm triệu chứng đau, sưng rất rõ rệt Các thành phẩn hoá học trong gừng giúp ức chế sự sinh tổng hợp các chất prostaglandin gây viêm Nhờ chứa chất Cineole nên gừng có thể giúp giải tỏa stress, trị bệnh nhức nửa đầu, giúp cho giấc ngủ ngon và sảng khoái Gừng còn làm dịu cơn đau răng và

sự khó chịu gây ra bởi nhiễm khuẩn phần trên của đường hô hấp, nhờ vào tính chất kháng khuẩn và chống nấm của nó.[39]

*Cỏ lào (Chromolaena odorata)

Cây thảo mọc thành bụi, có thân cao đến 2m hay hơn Cành nằm ngang, có lông mịn Lá mọc đối, hình trái xoan nhọn, mép có răng, cuống dài 1-2cm, có 3 gân chính Cụm hoa xếp thành ngù kép, mỗi cụm hoa có bao chung gồm nhiều lá bắc xếp 3-4 hàng Hoa nhiều, có màu hoa đào Quả bế hình thoi, 5 cạnh, có lông Cây ra hoa vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân

Hình 1.6 Cây cỏ lào

- Thành phần hóa học: Cỏ lào chứa 2,65% đạm; 0,5% phosphor và 2,48%

kalium Các bộ phận của cây đều chứa tinh dầu, alcaloid, tanin [40]

Trang 18

- Tác dụng:

Cỏ lào có vị hơi cay, tính ấm, có tác dụng sát trùng, cầm máu, chống viêm Nước sắc cỏ lào có tác dụng kháng khuẩn, ức chế được vi khuẩn gây mủ trên vết thương và trực trùng lỵ Shigella

Thông thường ta hay dùng lá tươi cầm máu vết thương, các vết cắn chảy máu không cầm Cũng được dùng chữa bệnh lỵ cấp tính và bệnh ỉa chảy của trẻ em; chữa viêm đại tràng đau nhức xương, viêm răng lợi, chữa ghẻ, lở, nhọt độc Ở Trung Quốc, người ta dùng lá xát hoặc lấy nước bôi vào chân phòng vết cắn, bỏ lá xuống ruộng ngâm nát 1-2 ngày để trừ ấu trùng ký sinh trùng (thể xoắn ốc có móc câu ở đầu) phòng khi xuống ruộng khỏi bị lây [40]

Năm 1976, Viện Nghiên cứu Y học quân sự công bố kết quả nghiên cứu: Tác dụng chống viêm, tác dụng kháng khuẩn, liền độc của Cỏ Lào Tác dụng chống viêm: Lá, thân, rễ Cỏ Lào đều có tác dụng, nhưng lá mạnh hơn cả Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Cỏ Lào có tác dụng ức chế vi khuẩn gây mủ trên vết thương và ức chế trực khuẩn lỵ Shigella.[40]

1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Pseudomonas spp

gây ra trên cá

1.2.1 Trên thế giới

Hiện nay các loại bệnh do vi khuẩn gây ra trên người và các loài động vật đã được nghiên cứu với đa dạng các loài vi khuẩn gây bệnh,mỗi một bệnh có thể do một hay nhiều loại vi khuẩn gây ra cũng như mỗi một loại vi khuẩn cũng có thể cho nhiều biểu hiện bệnh khác nhau trên những đối tượng khác nhau.Ở động vật thủy sản vi khuẩn là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại lớn đến sản lượng nuôi

thủy sản của mỗi quốc gia với các loài vi khuẩn chủ yếu như: Edwardsiella,

Streptococcus spp, Myxococcus piscicola, Aeromonas spp,Pseudomonas spp…

Pseudomonas spp là vi khuẩn gây bệnh xuất huyết trên cá, còn có tên gọi

khác là bệnh đốm đỏ, hoặc bệnh lở loét trên cá Dịch bệnh do vi khuẩn

Pseudomonas spp đã xuất hiện rộng rãi và khá phổ biến vào thế kỷ XIX Năm 1891,

Sanarelli đã có nghiên cứu đầu tiên về sự bùng nổ dịch bệnh này ở cá chình Ban

Trang 19

đầu, nguyên nhân gây bệnh được phỏng đoán do các vi sinh vật gây ra hoặc do vi

khuẩn Vibrio anguillarum Sau đó, Schaperclaus (1930) đã mô tả bệnh này xuất

hiện ở cá chép với dấu hiệu bệnh lý là lở loét ở bụng và ông phân lập được loài vi

khuẩn gây bệnh là Bacterium punctatum Trong khi đó, Toranzo và cộng sự (1989)

đã tìm thấy Aromonas sobria khi dịch bệnh này bùng nổ trên cá Mòi dầu hay cá Hồi

nước ngọt Vào lúc đó, một hướng nghiên cứu khác đưa ra nguyên nhân chủ yếu

gây bệnh phù trên cá chép được xem là do virus và vi khuẩn Pseudomonas

fluorescens là tác nhân thứ cấp gây ra bệnh.[41]

1.2.2 Tại Việt Nam

Năm 1972 - 1973, bệnh lở loét được phát hiện trên cá lóc ở An Giang và Đồng Tháp Năm 1975, bệnh đốm đỏ đã thấy xuất hiện đầu tiên tại Đồng Bằng sông Cửu Long với mức độ nhẹ nhưng đến năm 1983 bệnh đã bùng nổ thành dịch bệnh

lở loét Bệnh lở loét trên cá đã lan rộng khắp các vùng sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn với tỷ lệ cá bị nhiễm bệnh từ 60% - 70%

Từ năm 1986 đến 1997, bệnh xuất huyết đã xuất hiện và bùng nổ trở thành dịch bệnh cho cá trắm cỏ nuôi lồng Trong năm 1997, có khoảng 4.000 trong số 5.000 lồng nuôi cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ gây thiệt hại khoảng 500.000 USD Những thiệt hại này không những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân

mà còn để lại những hậu quả không nhỏ về kinh tế trong khu vực.[42]

Năm 1994 đến 1998, bệnh xuất huyết đã xuất hiện ở hầu hết các ao nuôi cá trắm cỏ bố mẹ, ao nuôi thương phẩm Năm 1999 đến nay, dịch bệnh xuất huyết vẫn xảy ra hằng năm với mức độ khác nhau trên nhiều địa phương, gây thiệt hại nặng nề cho nghề nuôi cá trắm cỏ.[42]

Năm 1999 - 2001 nhóm tác giả Phan Thị Vân, Nguyễn Thị Hà, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Yên, Trần Thị Kim Chi thuộc Viện NCNTTS I đã tiến hành nghiên cứu xác định tác nhân gây bệnh đốm đỏ trên cá trắm cỏ với kết quả cho thấy

Pseudomonas fluorescens, Aromonas caviae chính là tác nhân gây bệnh.[41]

Từ năm 2003 - 2006, cũng đã có một vài nghiên cứu chứng minh sự có mặt

của vi khuẩn Pseudomonas fluorescens trên một số loài cá bị bệnh xuất huyết Trần Thị Thanh Tâm (2003) đã xác định được vi khuẩn Pseudomonas fluorescens với tần

Trang 20

suất xuất hiện là 11,22% trên cá tra bị bệnh xuất huyết Theo Lý Thị Thanh Loan

(2003) đã tìm thấy vi khuẩn Pseudomonas spp trên cá tra và cá basa nuôi tại đồng

bằng sông Cửu Long Đến năm 2006, tác giả cùng nhóm nghiên cứu cũng đã phân

lập được vi khuẩn Pseudomonas fluorescens trên cá tra bị bệnh xuất huyết với tần

suất xuất hiện là 16,13%.[41]

1.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trong phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn ở động vật thủy sản

1.3.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trên thế giới

Hiện nay, với việc phát triển nhiều đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế đã làm cho dịch bệnh bùng nổ và gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi Để xử lý vấn đề này, các loại hoá chất và kháng sinh đã được con người sử dụng để điều trị cho các động vật thuỷ sản Tuy nhiên, việc sử dụng các loại hoá chất và kháng sinh không đúng quy cách và liều lượng đang gây ảnh hưởng tới sinh thái môi trường và sinh thái nghề nuôi, bên cạnh đó việc tồn dư kháng sinh còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người Do vậy xu hướng nghiên cứu sử dụng các loại thảo dược trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn cho vật nuôi thủy sản đã và đang từng bước được các nhà khoa học quan tâm, được coi là một hướng đi cho phát triển bền vững ngành thủy sản [28,29] Tác dụng diệt khuẩn của chúng được nghiên cứu trên khá nhiều loài vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn Đối tượng nuôi mà các nghiên cứu áp dụng bao gồm cả nước mặn và nước ngọt như cá chép, cá trắm cỏ, cá rô phi, cá song ….Các nghiên cứu đã đề xuất được một số phương thức sử dụng thảo dược như sử dụng phần thô, dịch chiết, hoạt chất của thảo dược Kết quả các nghiên cứu cho thấy một số thảo dược bước đầu có tác dụng trong việc phòng trị bệnh cho vật nuôi hoặc giúp sinh ra kháng thể Bên cạnh đó, có nghiên cứu còn chứng minh được tính vô hại của thảo dược đối với môi trường Sau đây là một vài nghiên cứu điển hình:

* Ở Trung Quốc: Khuê Lập Trung (1985) trong “Kỹ thuật phòng trị bệnh

tôm, cá và nhuyễn thể” đã đưa ra 22 loại thảo dược chủ yếu phòng trị bệnh nhiễm

khuẩn, ngoại ký sinh trùng và bệnh đường ruột Các loài thảo dược có thể kể như: xuyên tâm liên, địa niên thảo, lưu xô thử…[25]

Trang 21

Người ta đã nghiên cứu hiệu quả của 2 loại thảo dược (Astragalus radix và Scutellavia radiis) lên tính miễn dịch không đặc hiệu của cá rô phi (20) Kết quả cho thấy Astragalus radix cho ăn với nồng độ 0,1 và 0,5% trong thời gian 3 tuần là nồng

độ và thời điểm có hiệu quả tối ưu nhất Năm 2007 cũng tại Trung Quốc thêm một nghiên cứu khác về tính miễn dịch của cá chép, người ta trộn lẫn một số loại thảo dược với nhau như Astragalus mempranaceus (phần rễ và thân),Poligonummltiflorum (phần rễ), Isatis tinctoria (phần rễ), Glycyrrhida grabra (phần thân) cho cá chép ăn 0,5% và 1% trong thời gian 30 ngày, kết quả cho thấy thảo dược giúp tính miễn dịch của cá tăng lên đáng kể [32]

* Ở Ai Cập, theo kết quả nghiên cứu của Mohan Thakare (2004): Khi ông

tiến hành nghiên cứu tính kháng khuẩn của cây nghệ (Curcuma longa ), gừng (Zingiber officinale), hạt tiêu đen (Piper nigrum), cây quế (Cinnamomum cassia), cây húng tây (Thymus vulgaris), Laurus nobilis (Bay leaf), và cây đinh hương (Syzgium aromaticum) với một số loài vi khuẩn cụ thể như E coli, S typhimurium,

E faecium, và E faecalis bằng phương pháp kháng sinh đồ Kết quả chỉ rõ dịch

tách chiết từ nghệ có tính kháng E coli, S typhimurium, và E faecalis với nồng độ

130 mg/khoanh, cũng phương pháp tương tự húng tây có tính kháng khuẩn tại nồng

độ đạt 30 mg/khoanh, nhưng cả 2 loại thảo dược này lại không có hiệu quả đối với

E faecium, các thảo dược còn lại không có hoạt tính kháng 4 loài vi khuẩn được

chọn đưa vào nghiên cứu Tuy nhiên khi tiến hành nghiên cứu các bước tiếp theo về thử tác dụng độc trên nhiều loài động vật thuỷ sản thì đinh hướng có ảnh hưởng đến

sự tăng trọng [28]

- Ở Ấn Độ, người ta đã tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm với 3

loài thảo dược: Ocimum sanctum (os), withania somniera (ws) và myristik fragrans

(mf) có ảnh hưởng kháng lại vi khuẩn Vibrio harveyi gây bệnh trên cá song [31]

Năm 2004, Hasnabana đã nghiên cứu sử dụng Azadirachta indik, Allium

sativum và Poligonum hidropiper là 3 loại thảo dược dùng để kháng khuẩn Kết quả

cho thấy chúng có tác dụng phòng bệnh nhưng không gây ô nhiễm môi trường [32]

Cũng ở Ấn Độ, người ta cũng đã tiến hành nghiên cứu trong quy mô phòng

thí nghiệm với 3 loại thảo mộc Ocimum sanctum (OS), Withania somnifera (WS) và

Trang 22

Myristica fragrans (MF) có ảnh hưởng kháng lại vi khuẩn Vibrio harveyi gây bệnh

trên cá song (Epinephelus tauvina) bước đầu đã có kết quả tốt trong việc trị bệnh do

vi khuẩn Vibrio harveyi Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ cho thấy chất chiết từ lá ổi

và quả ổi có tác dụng chống lại các loài vi khuẩn Staphylococcus, Shigella,

Salmonella, Bacillus, E coli, Clostridium và Pseudomonas [33]

Như vậy, nhìn chung trong NTTS đã có những quan tâm, chú trọng đến hiệu quả của thảo dược trong khía cạnh về tính kháng khuẩn, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở trong quy mô phòng thí nghiệm, các sản phẩm có mặt trên thị trường được ra đời từ kết quả nghiên cứu là còn hạn hữu

1.3.2 Tình hình nghiên cứu sử dùng thảo dược ở Việt Nam

Theo kinh nghiệm dân gian, có khá nhiều loại cây cỏ đã và đang được sử dụng trong nuôi trồng thuy sản như lá xoan, tỏi, cây chó đẻ răng cưa, hạt cau, hạt bí ngô… Mỗi một loại có tác dụng khác nhau trong việc phòng và trị bệnh, một số cây

có ưu thế phòng trị bệnh nhiễm khuẩn Ở mức độ sâu hơn, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu những hợp chất có trong một số loại thảo dược Theo tổng kết của Đỗ Tất Lợi (2006), hợp chất có trong thảo dược rất phong phú, chúng được chia thành các nhóm trong đó bao gồm kháng sinh thực vật (Phitocide) có tác dụng diệt khuẩn cũng như hạn chế sự sinh trưởng của các loại vi khuẩn [1]

Kế thừa những kết quả trên, người ta đã bắt đầu nghiên cứu sử dụng thảo dược để phòng trị bệnh cho động vật thuỷ sản Ban đầu là phương pháp trộn cả phần thô thảo dược vào thức ăn cho cá như phương pháp của Bùi Quang Tề (1985) hoặc của Đỗ Thị Hòa (1996) [3] Ngày nay hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng dịch chiết, có nghiên cứu còn thu được hoạt chất

Từ năm 2000, Nguyễn Ngọc Hạnh và cộng sự đã nghiên cứu thử nghiệm thành công các hợp chất chiết xuất từ thảo dược, như hepato và alixin có tác dụng

hỗ trợ tiêu hoá tốt, giúp tôm khoẻ mạnh, sinh trưởng bình thường, có khả năng chống nhiễm bệnh đặc biệt các bệnh về gan Trong đó hepato có công dụng hỗ trợ

và bảo vệ gan phòng và trị bệnh về gan như MBV và teo gan [21] Nghiên cứu khác của Phan Xuân Thanh (năm 2002) đã xác định được chất 2-hydroxy-6-

Trang 23

pentandecatrienilbenzoat có nguồn gốc từ thảo dược, có tác dụng phòng trừ các bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra Nhằm mục đích sử dụng các hoạt chất sinh học thay thế các hoá chất độc hại, kháng sinh bị cấm sử dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản [32]

Ở miền Nam, các cây cỏ được dùng trong phòng trị bệnh cho vật nuôi thủy sản chủ yếu từ kinh nghiệm dân gian: Khu vực nuôi cá bè ở Tân Châu - Châu Đốc -

An Giang; Hồng Ngự - Đồng Tháp; Vĩnh Hưng, Tân Hưng - Đồng Tháp Mười -

Long An,…người dân đã biết dùng cây cỏ mực (Prostista alba), dây trầu không (Piper better L.) để phòng trị bệnh ký sinh trùng cho cá; lá ổi (Psidium guajava)

chữa bệnh nhiễm khuẩn cho cá [1]

Năm 2006, Nguyễn Anh Tuấn đã nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch

chiết tỏi và lá húng đối với vi khuẩn Areomonas gây bệnh đốm đỏ ở cá Trắm Cỏ tại

Thừa Thiên Huế [23]

Lê Văn Yến (2006) đã dùng dịch chiết củ tỏi, lá trầu không, cây chó đẻ răng cưa, lá muồng trâu để trị bệnh đốm vỏ, bệnh đen mang trên cua biển Kết quả cho thấy các dịch chiết đều có hiệu quả, đặc biệt là dịch chiết từ tỏi [3]

Nguyễn Ngọc Phước và cộng sự (2006) kết luận chiết xuất từ lá trầu có khả

năng tiêu diệt các loài nấm thuộc họ Lagenladium, chủng nấm này gây bệnh phổ

biến trên tôm nước lợ, mặn Dịch chiết lá trầu có khả năng ức chế, tiêu diệt các loại

vi khuẩn Aeromonas hydrophyla và Vibrio sp [21]

Bên cạnh các nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm thì những nghiên cứu

áp dụng trực tiếp vào thực tiễn là những nghiên cứu sản xuất các sản phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược

Thuốc KN 04 - 12 là sản phẩm phối chế của đề tài cấp nhà nước mã số KN

04 -12 năm 1990 - 1995 do Hà Ký làm chủ nhiệm Thành phần thuốc bao gồm các

cây thuốc có kháng sinh thực vật, gồm: rau nghể (Polygonum hydropiper L.); rau sam (Portulaca cleracae L.); cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta L.); cỏ sữa lá nhỏ (Euphobia thymifolis); sài đất (Wedelia calendulacae); nhọ nồi (Eclipta alba

Hassk); bồ công anh (Lactuca indica L.); cây vòi voi (Heliotrpium indicum L.); chó

Trang 24

đẻ răng cưa (Phyllantus urinaria L.) và vitamin cùng một số vi lượng khác Thuốc

có tác dụng phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn như đốm đỏ, thối mang, viêm ruột của

cá nuôi lồng hay nuôi ao [22]

Thuốc BecaNor TD1 và BecaNor TD2 là 2 sản phẩm với thành phần chính là tỏi và gừng, bước đầu đã có hiệu quả rất tốt trong việc phòng và trị bệnh đốm đỏ ở quy mô phòng thí nghiệm, sản phẩm được ra đời do sự nỗ lực trong việc phòng trị bệnh lở loét trên cá trắm cỏ của CEDMA với sự tài trợ của dự án NORAD[23] Năm 2006 đã tiến hành thử nghiệm ngoài thực địa 2 loại thảo BecaNor TD1 và BecaNor TD 2 tại 3 tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Hà Giang phòng bệnh cho cá trắm

cỏ, hàng tháng cho cá ăn dược thảo với liều lượng 7g/kg thức ăn Kết quả thu được cho thấy tại 2 tỉnh Quảng Ninh và Nam Định, cá trắm cỏ cho ăn thuốc phòng đã không nhiễm bệnh trong khi đó ở các lô đối chứng vẫn có hiện tượng cá chsste do nhễm bệnh vi khuẩn Tại tỉnh Hà Giang, tỷ lệ chết giảm từ 100% xuống còn 40% khi cho cá ăn thuốc phòng (Nguyễn Thị Hà và CTV, 2006[18] Tuy nhiên, việc thử nghiệm chưa được thực hiện trên diện rộng nên chưa khẳng định được hiệu quả của các dược thảo này đồng thời chưa được áp dụng rộng rãi [25]

Như vậy, ngoài các vấn đề đã giải quyết được thì các nghiên cứu vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: động vật thủy sản nuôi được thử nghiệm chưa nhiều, các nghiên cứu trên thực địa còn ít, sản phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược còn khiêm tốn, ít có nghiên cứu đề cập đến tác động của nhiệt độ, các chất hóa học…đến tính kháng khuẩn của dịch chiết thảo dược Mặt khác, phần lớn đang sử dụng dịch chiết dạng thô, chưa tách được kháng sinh nguyên chất có trong thảo dược nghiên cứu

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Tất Lợi, 2006. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Y học - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Nhà XB: NXB Y học - 2006
2. Bùi Đức Chính, 2009. Nghiên cứu tính kháng khuẩn của lá hẹ (Allium tuberosum) trong việc phòng trị bệnh vi khuẩn trên cá rô phi (Oreochromis niloticus. Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Vinh - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính kháng khuẩn của lá hẹ (Allium tuberosum) trong việc phòng trị bệnh vi khuẩn trên cá rô phi (Oreochromis niloticus
3. Lê Văn Yến (2006), Một số kết quả nghiên cứu ban đầu về việc sủ dụng dịch chiết từ các cây có hoạt chất thảo dược trong phòng trị bệnh, trị bệnh trên cua Scylla spp nuôi thương phẩm, tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu ban đầu về việc sủ dụng dịch chiết từ các cây có hoạt chất thảo dược trong phòng trị bệnh, trị bệnh trên cua Scylla spp nuôi thương phẩm
Tác giả: Lê Văn Yến
Năm: 2006
4. Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (2006). Báo cáo tóm tắt Hội thảo về “Quản lý sức khoẻ ĐVTS nước ngọt”, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt Hội thảo về "“Quản lý sức khoẻ ĐVTS nước ngọt
Tác giả: Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
5. Nguyễn Thị Vân Thái, Nguyễn Minh Phúc, Ngô Thị Kim, Nguyễn Kim Độ và Lưu Thị Dung, 2003. Bàn về tiềm năng phòng và chữa trị bệnh nhiễm khuẩn bằng kháng sinh thảo mộc trong nuôi trồng thuỷ sản. Báo cáo các công trình khoa học, nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiềm năng phòng và chữa trị bệnh nhiễm khuẩn bằng kháng sinh thảo mộc trong nuôi trồng thuỷ sản
Nhà XB: nhà xuất bản nông nghiệp
6. Nguyễn Thị Vân Thái, Nguyễn Minh Phúc, Ngô Thị Kim, Nguyễn Kim Độ và Lưu Thị Dung (2003), Bàn về tiềm năng phòng và chữa trị bệnh nhiễm khuẩn bằng kháng sinh thảo dược trong NTTS, Báo cáo các công trình khoa học, NXB Nông nghiệp, Hà N3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiềm năng phòng và chữa trị bệnh nhiễm khuẩn bằng kháng sinh thảo dược trong NTTS
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Thái, Nguyễn Minh Phúc, Ngô Thị Kim, Nguyễn Kim Độ và Lưu Thị Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
7. Trương Thị Mỹ Hạnh, 2008. Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc. Báo cáo đề tài khoa học - Viện NCNTTS I, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc
8. Trương Thị Mỹ Hạnh, 2006. Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số loài vi khuẩn thu được trên cá song và cá giò bị bệnh tại khu vực Quảng Ninh và Hải Phòng. Luận văn thạc sỹ nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính kháng thuốc của một số loài vi khuẩn thu được trên cá song và cá giò bị bệnh tại khu vực Quảng Ninh và Hải Phòng
9. Trương Thị Mỹ Hạnh, 2008. Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc. Báo cáo đề tài khoa học - Viện NCNTTS I, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc
10. Nguyễn Thế Vương, 2009. Xác định tác nhân gây bệnh và nghiên cứu thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh vi khuẩn trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei). Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tác nhân gây bệnh và nghiên cứu thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh vi khuẩn trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
11. Nguyễn Thị Ni, Nghiên cứu tính mẫn cảm của vi khuẩn Vibrio sp. phân lập từ tôm sú (Penaeus monodon) bị bệnh phân trắng với dịch chiết lá trầu không và củ tỏi trong phòng thí nghiệm. Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Vinh, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính mẫn cảm của vi khuẩn Vibrio sp. phân lập từ tôm sú (Penaeus monodon) bị bệnh phân trắng với dịch chiết lá trầu không và củ tỏi trong phòng thí nghiệm
12. Nguyễn Thị Hà, Phan Thị Vân, Nguyễn Viết Khuê, Võ Anh Tú, Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thanh Thủy , 2006. Kết quả ứng dụng quy trình phòng trị bệnh cho cá nước ngọt - dự án NORAD. Báo cáo hội thảo khoa học về Bệnh động vật thuỷ sản, Lạng Sơn 12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng quy trình phòng trị bệnh cho cá nước ngọt - dự án NORAD
13. Đoàn Chí Thanh, Xác định tác nhân gây bệnh và nghiên cứu thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh đốm đỏ trên cá trắm cỏ giống (Ctenopharyngodon idellus). Báo cáo đề tài khoa học - Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tác nhân gây bệnh và nghiên cứu thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh đốm đỏ trên cá trắm cỏ giống (Ctenopharyngodon idellus
15. Nguyễn Thị Thanh, 2008. Giáo trình bệnh học thủy sản. Trường Đại học Vinh khoa Nông Lâm Ngư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh học thủy sản
16. Lý Thị Thanh Loan, 2006. Thử nghiệm sử dụng một số cây thuốc và các hợp chất chiết xuất từ thảo mộc trong phòng và trị các bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng ở tôm, cá. Báo cáo đề tài cấp Bộ - Viện NCNTTS II, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm sử dụng một số cây thuốc và các hợp chất chiết xuất từ thảo mộc trong phòng và trị các bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng ở tôm, cá
17. Bùi Thị Hồng, 2011. Nghiên cứu tính kháng khuẩn của dịch ép một số thảo dược với vi khuẩn Streptococcus spp gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi vằn (oreochromis niloticus) trong điều kiện thực nghiệm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Streptococcus" spp gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi vằn ("oreochromis niloticus
21. Nguyễn Ngọc Phước, Phạm Thị Phương Lan, Nguyễn Quang Linh, Kishio Hatai, 2007. Nghiên cứu khả năng kháng nấm của dịch chiết lá trầu (Piper betle L). Tạp chí Thủy sản, tháng 5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng kháng nấm của dịch chiết lá trầu (Piper betle L)
22. Hà Ký và ctv (1995), Phòng và trị bệnh cho tôm cá, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước, mã số KN-04-12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh cho tôm cá
Tác giả: Hà Ký và ctv
Năm: 1995
23. Nguyễn Anh Tuấn, 2006. Thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus), Báo cáo khoa học - Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm một số loại thảo dược trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus
24. Bùi Kim Tùng, 2007. Thuốc kháng sinh. Sở Khoa học công nghệ và Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc kháng sinh

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w