1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ

68 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình đó, thông qua các hội thảo quốc tế, trao đổi ý kiến của nhiều chuyên gia đồng thời được sự giúp đỡ của tổ chức CSIRO Australia tư vấn về công nghệ, đề tài nghiên cứu về t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LƯƠNG THỊ MAI PHƯƠNG

KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CÁC DÒNG TÔM SÚ (Penaeus

monodon) GIA HÓA TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG

HẢI SẢN NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

VINH- 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CÁC DÒNG TÔM SÚ (Penaeus

monodon) GIA HÓA TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG

HẢI SẢN NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Người thực hiện : Lương Thị Mai Phương

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Kim Đường Th.S Trình Trung Phi

VINH- 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, qua đây cho

phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới:

Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo khoa Nông-Lâm-Ngư, trường Đại học Vinh đã tận tình dạy bảo trong những năm tôi học tại trường

Xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Kim Đường, người đã định hướng và giúp đỡ cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi chân thành cảm ơn ThS Trình Trung Phi, KS Nguyễn Thành Luân và các cán bộ công nhân viên Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Nam Bộ, 167 Thùy Vân – TP Vũng Tàu đã hướng dẫn giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực tập tại Trung tâm

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã ở bên cạnh giúp đỡ và động viên để tôi có thể hoàn thành tốt đợt thực tập

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Lương Thị Mai Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11

1.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú 11

1.1.1 Hệ thống phân loại 11

1.1.2 Đặc điểm phân bố 12

1.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo 12

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 13

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 14

1.2 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú 22

1.2.1 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú trên thế giới 22

1.2.2 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú ở Việt Nam 23

1.3 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa 24

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa trên thế giới 24

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa tại Việt Nam 27

1.4.1 Các yếu tố môi trường và mùa vụ 33

1.4.2 Giá thể 35

1.4.3 Thức ăn 35

1.4.4 Yếu tố di truyền và giới tính 35

1.4.5 Các yếu tố nội tiết (endocrinology) 37

1.5 Nguồn gốc và đặc điểm của các dòng tôm sú gia hóa tại Trung tâm 38

1.5.1 Dòng tôm sú Đà Nẵng 38

1.5.2 Dòng tôm sú Rạch Gốc 38

1.5.3 Dòng tôm sú châu Phi 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Đối tượng nghiên cứu 39

Trang 5

2.2 Nội dung nghiên cứu 39

2.3 Phương pháp nghiên cứu 39

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 39

2.3.2 Sơ đồ nghiên cứu 40

2.3.3 Phương pháp thu thập và tính toán các chỉ tiêu 40

2.4 Vật liệu và dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu 41

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 43

2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 43

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Biến động các yếu tố môi trường nước trong thí nghiệm 44

3.1.1 Nhiệt độ nước trong các bể thí nghiệm 44

3.1.2 pH nước trong các bể thí nghiệm 45

3.2 Sức sinh sản của các dòng tôm sú gia hóa 45

3.2.1 Số lượng trứng đẻ ra của tôm cái ở các dòng tôm sú gia hóa 45

3.2.2 Sức đẻ trứng tương đối của các dòng tôm sú gia hóa 50

3.2.3 Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 52

3.2.4 Tỷ lệ nở của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình dạng ngoài của tôm sú (Penaeus monodon) 11

Hình 1.2 Quá trình phát triển phôi của tôm sú 15

Hình 1 3 ấu trùng Nauplius 16

Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Zoea 17

Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Mysis 18

Hình 1.6 Hậu ấu trùng Post larvae 18

Hình 1.7 Các giai đoạn phát triển của tôm sú thể hiện qua vòng đời 19

Hình 1.8 Cơ quan sinh dục ngoài của tôm sú cái và đực 20

Hình 1.9 Hiện tượng giao vỹ ở tôm sú 21

Hình 1.10 Sơ đồ gia hóa sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh trong hệ thống tuần hoàn kín 32

Hình 3.1 Biểu đồ biến động nhiệt độ nước trong các bể làm thí nghiệm 44

Hình 3.2 Biểu đồ biến động pH nước trong các bể thí nghiệm 45

Hình 3.3 Số lượng trứng đẻ ra của tôm cái ở các dòng tôm sú gia hóa 46

Hình 3.4 Sức đẻ trứng tương đối của tôm cái ở 3 dòng tôm sú gia hóa 51

Hình 3.5 Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 53

Hình 3.6 Tỷ lệ nở của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 55

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thời gian biến thái của ấu trùng Nauplius………9

Bảng 2.1 Ký hiệu dòng tôm sú Đà Nẵng 42

Bảng 2.2 Ký hiệu của tôm sú Rạch Gốc 42

Bảng 2.3 Ký hiệu dòng tôm sú châu Phi 42

Bảng 3.1 Biến động một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm 44

Bảng 3.2 Sức đẻ trứng của các dòng tôm sú gia hóa 46

Bảng 3.3 Sức đẻ trứng tương đối của tôm cái ở các dòng tôm sú gia hóa 51

Bảng 3.4 Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 52

Bảng 3.5 Tỷ lệ nở của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

Đa dạng hóa đối tượng và hình thức nuôi là hướng đi của ngành thủy sản nước ta hiện tại và trong tương lai Điều này đã góp phần làm tăng sản lượng xuất khẩu thủy sản hàng năm, giúp tăng kim ngạch xuất khẩu Hiện nay có rất nhiều đối tượng đã trở thành thế mạnh xuất khẩu của ngành, trong đó tôm sú

(Penaeus monodon) đã trở thành mặt hàng quan trọng, xuất khẩu chủ lực, có sức

cạnh tranh cao trên thế giới của ngành thủy sản Song một vài năm gần đây do lợi nhuận hấp dẫn của nghể nuôi tôm sú đã đẩy nhiều người mạnh dạn đầu tư nuôi tôm công nghiệp trên quy mô lớn, nhưng nó mang tính tự phát, không theo một quy hoạch tổng thể nào cả, nên hiện nay nghề nuôi tôm sú đang phải đối phó với những rủi ro ngày càng cao như: Sự lan tràn dịch bệnh, chất lượng tôm giống

sa sút, thiếu hụt nguồn đàn tôm bố mẹ,… đã dẫn tới năng suất, chất lượng sản phẩm không cao

Một trong những nguyên nhân quan trọng là do tôm giống bệnh, không tốt, đàn tôm bố mẹ có chất lượng không cao, quá trình sản xuất không đảm bảo đúng

kỹ thuật,… Trong khi nhu cầu con giống phục vụ cho hoạt động nuôi trồng đang rất lớn thì việc chủ động giải quyết tạo ra một đàn tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh có vai trò hết sức quan trọng để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiệt cuộc sống, và đảm bảo cho phát triển thủy sản bền vững là rất cần thiết Một trong những biện pháp giải quyết vấn đề trên

là kiểm soát được toàn bộ vòng đời tôm sú trong điều kiện hoàn toàn nhân tạo, chủ động tạo ra tôm bố mẹ và giống sạch bệnh đồng thời từng bước nâng cao chất lượng di truyền thông qua nhiều thế hệ gia hóa

Chương trình nghiên cứu về tôm sú gia hóa đã được triển khai ở một số nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Năm 2005 Viện Nghiên cứu NTTS II bắt đầu tiến hành nghiên cứu gia hóa tôm sú tại Trung tâm Quốc gia Giống Hải

Trang 10

sản Nam Bộ Đây là vấn đề khó không những tại Việt Nam mà còn đối với các nước tiến tiến trong khu vực và trên thế giới, do các kết quả nghiên cứu còn ít và thông tin tiếp cận còn rất nhiều hạn chế nên kết quả mà chúng ta mong đợi vẫn chưa đạt được Trước tình hình đó, thông qua các hội thảo quốc tế, trao đổi ý kiến của nhiều chuyên gia đồng thời được sự giúp đỡ của tổ chức CSIRO (Australia) tư vấn về công nghệ, đề tài nghiên cứu về tôm sú gia hóa đã từng bước nghiên cứu và đạt được nhiều thành công đáng khích lệ tại Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam Bộ

Hiện nay, Trung tâm đã thành công trong việc tạo ra dòng tôm sú gia hóa, góp phần chủ động tạo ra nguồn con giống đảm bảo số lượng và chất lượng đáp ứng cho thị trường Tại đây đã chọn lọc 3 dòng tôm sú có nguồn gốc từ miền Trung, miền Nam, và châu Phi để đem vào quy trình nuôi gia hóa Đây là các dòng tôm có nguồn gốc từ các vùng địa lý khác nhau nên chúng sẽ có sự khác biệt nhau về hình dạng, kích thước, khả năng sinh sản,…Nhưng khi đưa vào nuôi gia hóa, được nuôi trong một môi trường giống nhau với chế độ chăm sóc quản

lý như nhau thì chúng còn có sự khác biệt nhau hay không? Để trả lời được một

phần những thắc mắc trên đây tôi đã thực hiện đề tài “Khả năng sinh sản của

các dòng tôm sú (Penaeus Monodon) gia hóa tại Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam Bộ”

Mục tiêu của đề tài:

Đánh giá, so sánh sức sinh sản của các dòng tôm sú gia hóa, để góp phần nuôi dưỡng, chăm sóc và chọn lọc các dòng tôm sú gia hóa tốt, đáp ứng nhu cầu

sản xuất tôm sú giống

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú

1.1.1 Hệ thống phân loại

Tôm sú có tên thường gọi là tôm giang, tôm sú, tôm lương Năm 1798

Fabricius là người đầu tiên mô tả loài tôm này và đặt tên là Penaeus Monodon

Hệ thống phân loại như sau:

Loài: Penaeus Monodon Fabricius, 1798

Hình 1.1 Hình dạng ngoài của tôm sú (Penaeus monodon)

Trang 12

+ Hàm lượng Oxy hòa tan (DO): 3÷15 mg O2/l, tốt nhất 5÷10 mg O2/l

Trên thế giới tôm sú sống ở Ấn Độ, Tây Thái Bình Dương, Đông và Nam Châu Phi, từ Pakistan đến Nhật Bản, từ quần đảo Malaysia đến Bắc Australia Đặc biệt tập trung ở vùng Đông Nam Á như Việt Nam, Indonexia, Malaysia, (Trần Minh Anh, 1989)

Ở Việt Nam tôm sú (Penaeus monodon) phân bố ở miền Trung từ Quảng

Bình đến Vũng Tàu, Kiên Giang

Sự phân bố của tôm sú tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển Giai đoạn

ấu trùng và giai đoạn đầu của Post larvae tôm sống trôi nổi ở tầng mặt và tầng giữa, cuối giai đoạn PL tôm chuyển sang sống đáy

Ở tôm sú (Penaeus Monodon) giai đoạn ấu niên và thiếu niên tôm sống ở

độ sâu không quá 6m đến giai đoạn trưởng thành tôm có xu hướng chuyển ra sống

xa bờ, sống ở vùng triều ngoài khơi Độ sâu tối đa bắt gặp tôm he phân bố ở độ sâu 180m, ngoài độ sâu này thì không có tôm sinh sống ( Lục Minh Diệp, 2003)

1.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo

Cấu tạo ngoài của tôm chúng ta chia làm 2 phần:

- Phần đầu ngực: Có các đôi phần phụ

+ Hai đôi mắt kép có 2 cuống mắt

+ Hai đôi râu: Anten 1 (A1) và anten 2 (A2) A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, có 2 nhánh ngắn A2 nhánh ngoài biến thành vảy râu, nhánh trong kéo dài Hai đôi râu có nhiệm vụ khứu giác và giữ thăng bằng

+ Ba đôi hàm: 1 đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và 2

Trang 13

+ Ba đôi chân hàm: Giúp cho việc giữ và ăn mồi, ngoài ra còn giúp cho

hoạt động bơi lội của tôm

+ Năm đôi chân bò hay chân ngực giúp cho tôm bò trên mặt đáy Nhiều loài ba đôi chân bò 1, 2, 3 có đốt bàn và đốt ngón cấu tạo dạng kìm để bắt và giữ mồi, còn 2 đôi 4 và 5 không có cấu tạo dạng kìm

- Phần đầu ngực được bao phủ và bảo vệ bởi vỏ giáp đầu ngực rất cứng

- Ở tôm cái, giữa góc chân ngực 4 và 5 có thelycum (bộ phận nhận và giữ túi tinh)

- Phần bụng: Chia làm 7 đốt:

+ 5 đốt đầu mỗi đốt mang 1 đôi chân bụng

+ Đốt 7 biến thành telson hợp với đốt chân đôi tạo thành đuôi giúp cho tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy

- Ở tôm đực 2 nhánh của đôi chân bụng biến thành petasma và 2 nhánh trong của đôi chân bụng biến thành phụ bộ đực, là cơ quan sinh dục đực bên ngoài của tôm he

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm sú là loại ăn tạp, thích ăn các động vật sống và di chuyển chậm hơn

là xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng Tôm sống ngoài tự nhiên ăn 85% là giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, còn lại 15% là cá, giun nhiều tơ, thuỷ sinh vật, mảnh vụn hữu cơ, cát bùn

Trong tự nhiên, tôm sú bắt mồi nhiều hơn khi thủy triều lên Nuôi tôm sú trong ao, hoạt động bắt mồi nhiều vào sáng sớm và chiều tối Tôm bắt mồi bằng càng, sau đó đẩy thức ăn vào miệng để gặm, thời gian tiêu hoá 4h÷5h trong dạ dày

Tập tính ăn của tôm sú thay đổi theo giai đoạn phát triển

Trang 14

* Giai đoạn Nauplius: Tôm dinh dưỡng bằng lượng noãn hoàn dự trữ Chưa ăn thức ăn ngoài

* Giai đoạn Zoea: Ấu trùng thiên về ăn lọc, ăn mồi liên tục, thức ăn chủ yếu là thực vật nổi

* Giai đoạn Mysis: Bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi Tuy nhiên thực tế cho thấy mysis vẫn có khả năng ăn được tảo Silic

* Giai đoạn Post larvae: PL bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi

* Thời kỳ ấu niên đến trưởng thành: Từ thời kỳ ấu niên, tôm thể hiện tính

ăn của loài là ăn tạp thiên về thức ăn động vật

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển

Vòng đời của tôm sú chia làm 6 thời kỳ:

- Phát triển phôi: Trứng tôm sú hình cầu, màu vàng xanh, đường kính trung

bình 0,3mm Thời gian để phôi phát triển qua 2 giai đoạn tế bào, giai đoạn phôi nang và thời điểm xuất hiện Nau trong trứng là 0,5: 1,5: 8 giờ sau khi đẻ xong

Trang 15

Hình 1.2 Quá trình phát triển phôi của tôm sú

- Ấu trùng: ấu trùng tôm lột xác nhiều lần, phát triển qua các giai đoạn

Nauplius, Zoea, Mysis

+ Giai đoạn Nau ấu trùng biến thái qua 6 giai đoạn phụ Nau mới nở hình

quả lê, qua 5 lần lột xác biến đổi dần và trở nên dài ra Nau sống phù du trôi nổi

ở tầng trên, dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, vận động theo kiểu zích zắc,

không định hướng, không liên tục, hướng quang mạnh Cuối N6 hệ tiêu hóa bắt

đầu hình thành và hoạt động

Trang 16

Hình 1 3 ấu trùng Nauplius

Nauplius 1 (N1): Ấu trùng có hình quả lê, có chiều dài thân trung bình 0,33

mm Công thức gai đuôi 1+1

Nauplius 2 (N2): Ấú trùng có chiều dài thân trung bình 0,34mm Công thức gai đuôi vẫn là 1 + 1 Trên các gai phần phụ có chứa các lông tơ

Nauplius 3 (N3): Nau có chiều dài thân trung bình là 0,38mm Công thức gai đuôi là 2 + 3 ; 3 + 3

Nauplius 4 (N4): Ấu trùng có chiều dài trung bình 0,42mm Ở giai đoạn này cơ thể dài hơn, đặc biệt ở phần đuôi Công thức gai đuôi ở giai đoạn này là 3 + 4 ; 4 + 4

Nauplus 5 (N5): Ấu trùng có chiều dài thân trung bình 0,47mm Có công thức gai đuôi là 4 + 5 ; 5 + 5

Nauplius 6 (N6): Ấu trùng có chiều dài thân trung bình là 0,54mm Ở giai đoạn này hệ tiêu hóa bắt đầu hoạt động Công thức gai đuôi là 7 + 7

Trang 17

Bảng 1.1 Thời gian biến thái của ấu trùng Nauplius Loài Nhiệt độ nước( o

C) Thời gian(giờ)

Tôm sú

(P monodon)

28-29 27-28

<27

40-42 48-52 48-60

+ Giai đoạn Zoea: Trải qua 3 giai đoạn biến thái phụ: Z1, Z2, Z3 cơ thể bao gồm 3 phần rõ rệt ( đầu- ngực- bụng) Zoea bơi nhờ 2 đôi râu (đôi 1 phân đốt, đôi 2 phân nhánh) bơi lội có định hướng về phía trước Ấu trùng Zoea bắt đầu ăn thức ăn ngoài bằng hình thức ăn lọc Do chúng bắt mồi liên tục nên chúng có đuôi phân dài [5]

Ba giai đoạn phụ của ấu trùng Zoea phân biệt nhờ sự xuất hiện của chùy trán, cuống mắt kép, sự phân đốt của phần bụng và sự phát triển của gai cứng, gai bên các đốt bụng

Thời gian phát triển các giai đoạn phụ là từ 30- 48h tùy theo nhiệt độ

Zoea 1 Zoea 2 Zoea 3

Hình 1.4 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Zoea

+ Giai đoạn Mysis: Trải qua 3 giai đoạn biến thái phụ: Cơ thể ấu trùng đã giống dạng tôm trưởng thành hơn so với Zoea Mysis sống ở tầng trên Đặc trưng của Mysis là bơi ngược về sau, đầu chúc xuống dưới Phân biệt các giai đoạn phụ của Mysis dựa vào sự xuất hiện và phân đốt của chân bơi

Trang 18

Mysis 1: Chưa có mầm chân bụng

Mysis 2: Mầm chân bụng có 1 đốt

Mysis 3: Mầm chân bụng có 2 đốt

Mysis 1 Mysis 2 Mysis 3

Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Mysis

- Giai đoạn hậu ấu trùng Post larvae: Hình dạng giống tôm trưởng thành nhưng chưa hoàn thiện về màu sắc PL bơi thẳng, có định hướng về phía trước, hoạt động bơi lội chủ yếu nhờ vào chân bụng Cơ thể có 1 đường sắc tố kéo dài ở mặt bụng từ đầu râu đến cuối telson Lúc đầu đường sắc tố có màu đỏ sau chuyển sang màu đen Tuổi của PL được tính theo ngày kể từ biến thành PL đầu tiên

Hình 1.6 Hậu ấu trùng Post larvae

Từ PL1÷PL5 chúng sống trôi nổi, từ PL5 trở đi chúng chuyển sang sống đáy

- Giai đoạn ấu niên: Từ PL5÷PL20 tôm chuyển sang sống đáy, giai đoạn

này tôm bắt đầu bò bằng chân bò và bơi bằng chân bơi, thường thì trong bể ương tôm hay bám vào thành

Trang 19

- Giai đoạn thiếu niên: Tôm bắt đầu ổn định về tỷ lệ và bây giờ đã phân

biệt được tôm đực và tôm cái dựa và petasma của con đực và thelycum của con cái

- Giai đoạn sắp trưởng thành: Giai đoạn này đặc trưng bởi sự phát triển

của tuyến sinh dục, con đực đã bắt đầu có tinh trùng nằm trong túi tinh và con cái buồng trứng phát triển, khi con cái giao vĩ thì nó có túi tinh

bờ tới vùng biển sâu để sinh sản

Hình 1.7 Các giai đoạn phát triển của tôm sú thể hiện qua vòng đời

1.1.6 Đặc điểm sinh sản

- Tuổi thành thục của tôm đực và tôm cái khoảng 1 tuổi

* Phân biệt tôm đực và tôm cái:

Trang 20

+ Cơ quan sinh dục của tôm cái là một đôi buồng trứng phân thùy và ống dẫn trứng Ống dẫn trứng mở ra ở gốc chân bò thứ 3

+ Cơ quan sinh dục phụ của tôm cái là thelycum Thelycum nằm ở gốc chân bò thứ 5 Thelycum là nơi nhận và giữ các bó tinh trùng

Hình 1.8 Cơ quan sinh dục ngoài của tôm sú cái và đực

* Các giai đoạn phát triển của buồng trứng

- Giai đoạn I: Giai đoạn chưa phát triển

Buồng trứng nhỏ, mảnh, trong suốt, không nhìn thấy qua lớp vỏ Giai đoạn này chưa thấy ở tôm con

- Giai đoạn II: Giai đoạn phát triển

Buồng trứng lớn hơn kích thước ruột, có màu trắng đục, hơi vàng, rải rác

có các sắc tố đen (tế bào melanin) khắp bề mặt

- Giai đoạn III: Giai đoạn gần chín

Kích thước buồng trứng tăng nhanh, màu vàng xanh đến màu xanh nhạt,

có thể nhìn rõ qua lớp vỏ kitin

- Giai đoạn IV: Giai đoạn chín

Trang 21

Kích thước buồng trứng đạt cực đại, căng tròn, màu xanh xám đậm, sắc nét Ở đốt bụng thứ nhất, buồng trứng phát triển lớn, chảy xệ ra 2 bên tạo thành cánh tam giác

- Giai đoạn V: Giai đoạn đẻ rồi

Kích thước buồng trứng vẫn lớn, nhưng buồng trứng mềm và nhăn nheo, các thùy không căng như giai đoạn IV Buồng trứng có màu xám nhạt Trong buồng trứng vẫn còn trứng chưa đẻ

* Một số tập tính sinh sản của tôm sú:

- Hiện tượng giao vĩ: Khi tôm cái vừa lột xác, tôm đực thường giao vĩ để đưa tinh cho tôm cái: Các bó tinh với sự giúp đỡ của Petasma được đưa vào thelycum Hiện tượng giao vĩ là cần thiết cho quá trình sinh sản, nếu tôm cái có buồng trứng phát triển tốt mà không qua giao vĩ thì khi đẻ không nở ra được ấu trùng Trong sinh sản tôm sú nhân tạo, nếu tôm cái không giao vĩ được thì phải tiến hành cấy tinh

Hình 1.9 Hiện tượng giao vỹ ở tôm sú

Trang 22

1.2 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú

1.2.1 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú trên thế giới

- Nghề nuôi tôm trên thế giới đã xuất hiện cách đây nhiều thế kỷ, nhưng mãi đến năm 1930 nghề nuôi tôm hiện đại mới ra đời Khi các nhà khoa học Nhật Bản sản xuất được giống tôm nhân tạo thành công

- Năm 1933 tiến sĩ Motasakiu Fujinaga nghiên cứu công trình này, đến

6/1934 cho tôm he Nhật Bản Penaeus japonicus cho đẻ, ương nuôi thành công

ấu trùng Zoea đến giai đoạn Mysis Trong thí nghiệm ban đầu do thiếu hiểu biết

về dinh dưỡng nên phần lớn ấu trùng chỉ ở giai đoạn Zoea và dưới 10% chuyển sang Mysis

- Năm 1942 Fujimaga với sự kiên trì và đúc kết qua nhiều lần thất bại ông đã

khám phá ra loại tảo khuê Skeletonema costatum và chactoceros làm thức ăn cho ấu

trùng Zoea nên tỷ lệ sống đạt trên 30% chuyển sang giai đoạn Mysis

- Năm 1946 Fujimaga đã nghiên cứu tìm ra ấu trùng Nauplius của Artemia làm thức ăn tốt cho giai đoạn Mysis Nhưng đến năm 1956 ông mới bắt đầu thí nghiệm và thu được kết quả cao Từ đó đến mãi năm 1964 quy trình sản xuất giống

và ương ấu trùng tôm Penaeus japonicus mới được hoàn thành Đến năm 1967

được công bố tại hội sinh học thế giới tổ chức tại Mehico

- Cũng trong thời gian này năm 1963 Hearry–Cook (người Mỹ) cùng với

sự cộng tác của Fujimaga đã cho đẻ và ương thành công trên đối tượng Penaeus setifeua và Penaeus ortecus Trên cơ sở này quy trình bể nhỏ được hình thành ở

Mỹ sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia cải tiến như Philippin, Đài Loan, Thái Lan,…

- Khoảng 50 quốc gia trên thế giới có khả năng sản xuất tôm giống

- Tại các quốc gia Đông Bán Cầu nhất là tại các nước Châu Á có tổng sản lượng nuôi tôm chiếm tới 80% toàn thế giới: Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan,

Ấn Độ, Philippin, Đài Loan,Việt Nam, Nhật Bản

Trang 23

- Tại các quốc gia Tây Bán Cầu sản xuất chiếm 20% sản lượng nuôi tôm còn lại 99% sản lượng này xuất phát từ Châu Mỹ La Tinh đứng đầu là Ecuado chiếm 71% sau đó Colombia, Meehico, Peru, Brazil, Honduras, Guatemala (Nguồn: Thông tin của Bộ Thủy sản, số 4 năm 2003)

1.2.2 Sơ lược về lịch sử sản xuất giống tôm sú ở Việt Nam

Từ năm 1971 trạm nghiên cứu NTTS nước lợ (sau này là Viện Nghiên cứu Hải Sản) và Trường Đại học Thủy sản nghiên cứu tôm he sinh sản nhân tạo với

đối tượng tôm Penaeus merguiensis và Metapenaeus ensis tại Quý Kim-Bãi

Cháy nhưng ấu trùng chỉ phát triển đến giai đoạn Zoea, chuyển sang giai đoạn Mysis thì kết thúc

Đến năm 1974, với sự giúp đỡ của chuyên gia Nhật Macno Kasumi đã

sản xuất được 65.000 PL (Penaeus orientalis) Ở các bể 10m3, 1,5 triệu PL

Penaeus mergiuensis ở bể 200m3 theo kiểu Nhật Bản cùng với việc cho tôm đẻ trạm đã thành công trong nghiên cứu nuôi luân trùng Branchionus làm thức ăn cho ấu trùng tôm Sự thành công của nghiên cứu, gây nuôi thức ăn cho ấu trùng

là một trong những nguyên nhân trực tiếp đến kết quả cho đẻ thành công trong các năm 1974÷1977

Năm 1981÷1982 được sự giúp đỡ của chuyên gia FAO và Viện Nghiên cứu NTTS nước lợ Hải Phòng, trại tôm giống Quy Nhơn bắt đầu cho đẻ và thành

công đối tượng Penaeus monodon

Năm 1983 trại thực nghiệm cửa Bé, Nha Trang của Trường ĐHTS đã cho

đẻ thành công đối tượng Penaeus monodon

Riêng các tỉnh miền Trung có điều kiện thuận lợi để sản xuất tôm sú Khánh Hòa được coi là trung tâm sản xuất tôm sú của cả nước với 1.019 trại, sản xuất 3,2 tỷ tôm giống PL15

Trang 24

Tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu 210 trại sản xuất 1,5 tỷ con tôm sú, tôm thẻ Ninh Thuận có 250 trại giống sản xuất 1,3 tỷ con giống PL15 Bình Thuận có 125 trại sản xuất 0,8 tỷ tôm giống PL15 Đà Nẵng 200 trại sản xuất 0,7 tỷ tôm giống PL15

Các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long trước kia nhập giống ở Miền Trung đến nay Cà Mau có 354 trại sản xuất 1 tỷ giống PL15 Bạc Liêu, Bến Tre sản xuất trên 150 triệu PL15 Trà Vinh, Kiên Giang cũng bước đầu sản xuất tôm sú

Riêng các tỉnh phía Bắc sản xuất giống tôm sú chưa được ổn định sản lượng các loại tôm sú giống còn thấp Hải Phòng sản xuất được 37 triệu PL15/ năm Ngoài ra cũng thành công trong công nghệ sản xuất giống tôm he, tôm rảo, tôm càng xanh, nhưng chưa đáp ứng đủ

Sản xuất giống tôm sú trong những năm qua được xem như là có nhiều bước đột phá nhất cả về mặt công nghệ và sản xuất giống hàng năm từ chỗ giống tôm sú hoàn toàn phụ thục vào tự nhiên thì đến năm 2000 sản lượng tôm sú giống của cả nước đạt trên 10 tỷ PL15 Nhưng đến năm 2003 cả nước đã có hơn 5.000 trại giống Nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở Miền Trung và Miền Nam với sản lượng đạt 25 tỷ tôm PL15

1.3 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa trên thế giới

Gia hóa tôm sú ở Thái Lan bắt đầu bằng dự án 6 năm từ năm 1992 đến năm 1998 đã tạo ra được đàn tôm giống thế hệ F2 Quy trình gia hóa bắt đầu bằng việc tuyển chọn những con tôm đạt trọng lượng bình quân từ 50÷70g, ở các

ao nuôi thịt thương mại lập thành đàn gia hóa đầu tiên (gọi là F0) những con tôm này được sang lọc sạch bệnh rồi thả nuôi trong ao đất 1.600m2

ở mật độ 4-8 con/m2 với tỷ lệ đực : cái là 1 : 3 Sau 8 tháng, khi tôm cái đạt trọng lượng 150÷180g và tôm đực đạt 80÷10g (tỷ lệ sống khoảng 30%) thì tôm được tuyển chọn và nuôi thành thục cắt mắt trong trại giống Tôm giống F1 sản xuất được lại được lặp lại quy trình để sản xuất tôm giống F2 Kết quả cho thấy sức sinh sản

Trang 25

đạt 300.000 trứng, trung bình cho 30.000 tôm giống cho mỗi tôm mẹ, tỷ lệ đẻ đạt 50%, tỷ lệ nở đạt 30% [26] Hiện giờ, nghiên cứu tôm sú bố mẹ sạch bệnh tại Thái Lan tập trung chủ yếu ở Trường Đại học Mahidol và Trung tâm Công nghệ Sinh học Quốc gia về Sinh sản và Cải thiện tôm do nhóm giáo sư chuyên ngành

về nghiên cứu tôm và công nghệ sinh học như Prof Dr Vichai Boonsaeng, Prof

Dr Timothy, W Flegei, và Prof Dr Boonsim Withyachumnarnkul chủ trì với 2 chương trình lớn cho nghiên cứu tôm là Dự án về nghiên cứu dinh dưỡng cải thiện sinh sản tôm và dự án về phát triển và hoàn thiện tôm sú gia hóa và sạch bệnh, cũng nằm trong chương trình hợp tác với CSIRO tại Úc Các nghiên cứu ở Thái Lan cũng ít được xuất bản chi tiết Chủ yếu là các bài báo đi riêng từng khía cạnh hoặc tóm tắt các hội thảo chuyên đề

Chương trình nghiên cứu về tôm sú bố mẹ sạch bệnh tại Malaysia thuộc Cục Thủy sản Malaysia bắt đầu từ năm 2001 với tham vọng nhằm sản xuất 10 tỷ tôm sú sạch bệnh cho sản lượng nuôi đạt 180.000 tấn vào năm 2010 Quy trình gia hóa bắt đầu từ việc tuyển chọn tôm bố mẹ tự nhiên đưa về khu cách ly nhằm tuyển chọn tôm bố mẹ sạch các bệnh nguy hiểm như virus đốm trắng WSSV, virus đầu vàng YHV, virus gây còi MBV, virus gan tụy HPV Sau khi nuôi ở khu vực sang lọc cách ly 1, tôm được sang lọc các bệnh này và đưa vào khu vực nuôi cách ly 2 gồm các thiết bị nuôi thành thục cho đẻ và ương nuôi ấu trùng nhằm sản xuất đàn tôm giống sạch bệnh thế hệ F1 dùng cho gia hóa khép kín vòng đời Quy trình gia hóa lúc này bắt đầu bằng nguồn tôm giống PL15 sạch bệnh thả trong ao ngoài trời lót bạt với các điều kiện kiểm soát an toàn sinh học và chỉ những ấu trùng và tôm giống khỏe cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao được chọn lại cho chương trình nghiên cứu này Tôm được nuôi trong lồng bè đến 2g thì được đánh dấu và thả nuôi trong ao đến khi đạt kích cỡ thành thục Trong toàn

bộ chu trình nuôi tôm được lấy mẫu sang lọc bệnh 2 tháng/lần Tôm đực và tôm cái sau đó được tuyển chọn cho hoạt động sản xuất Sinh sản bằng cách tự giao

Trang 26

phối giữa các gia đình trong quần đàn được thiết lập cũng như cho lai chéo giữa

2 quần đàn nhằm giảm thiểu cận huyết và gia tăng nguồn biến dị gen Quy trình được lặp đi lặp lại từ năm 2003 đến năm 2006 đã sản xuất được tôm sạch bệnh thế hệ F3 Chất lượng tôm sú bố mẹ gia hóa F1, F2 cho thấy mỗi tôm mẹ trọng lượng 80-100g sản xuất bình quân 200.000 Nau cho mỗi lần đẻ và theo tác giả điều này tương đương với tôm bố mẹ tự nhiên nếu so sánh sản lượng ấu trùng trên trọng lượng tôm mẹ Đặc biệt, tỷ lệ sống của ấu trùng khá cao ở tôm sú gia hóa F2, F3 đạt 57% từ Nau đến PL15 trong khi tôm tự nhiên chỉ đạt 27,8% [25]

Như vậy, hầu hết các chương trình nghiên cứu sản xuất tôm sú bố mẹ được triển khai trong ao đất giai đoạn đầu, sau đó nuôi thành thục trong bể nuôi trong nhà

Gia hóa khép kín vòng đời từ trứng đến bố mẹ để sản xuất tôm sú bố mẹ trong điều kiện bể nuôi an toàn sinh học trong nhà để sản xuất tôm sạch bệnh mới được bắt đầu từ những năm giữa thập niên 1990 tại Hawaii ở Mỹ và CSIRO

ở Úc Kết quả nghiên cứu ở Mỹ hầu như không được công bố trên các tạp chí do

bí mật công nghệ của công ty nhằm kinh doanh thương mại tôm sú sạch bệnh Kết quả nghiên cứu tại Úc từ những năm 1997 cũng có quy trình tương tự là chọn lọc tôm bố mẹ tự nhiên sạch bệnh, cũng qua quá trình chọn lọc sơ cấp và thứ cấp để sản xuất tôm 1g sạch bệnh Quy trình gia hóa sau đó được thực hiện trong hệ thống tuần hoàn kín giá thể cát an toàn sinh học, sử dụng nguồn tôm sạch bệnh 1g nuôi đến 100g cho cắt mắt sinh sản với thời gian gia hóa kéo dài 10÷12 tháng nuôi Bể nuôi tuần hoàn kín giá thể cát 10m2, đường kính 3,6m, độ sâu nước 0,9m Nước tuần hoàn bằng cơ chế đảo khí và nước chảy tràn 3 lít/phút (50%/ngày), hoặc bể nuôi tuần hoàn giá thể cát thay nước ít (5%/ngày) Độ kiềm 80÷145mg/l thông qua bổ sung định kỳ NaHCO3, nhiệt độ trong bể nuôi khoảng

280C (1997), 290C (2003), độ mặn khoảng 35‰, mật độ thả tôm 1g là 10 con/m2

và giảm dần từ tháng thứ 8 xuống còn 3 con/m2, với tỷ lệ đực : cái là 1 : 1 Thức

Trang 27

ăn bao gồm mực 30%, nhuyễn thể 20%, trùn biển 5% và thức ăn viên 45% Với

hệ thống và kỹ thuật nuôi này hầu hết tôm thành thục sinh sản ở tháng tuổi 11 và cho sức sinh sản biến động từ 0÷450.000 trứng, tỷ lệ đẻ nở đạt 77,1%, tỷ lệ nở của trứng đạt 31,6% [15]

Nhìn chung, các chương trình nghiên cứu trong thập niên 70 và 80 thế kỷ

XX (Aquacop, Seafdec) do thiếu kiểm soát dịch bệnh đầu vào và triển khai trong

ao đất nên các vấn đề an toàn sinh học không được kiểm soát nên cuối cùng bỏ

dở và không thương mại hóa được Các chương trình nghiên cứu kể từ những năm cuối thập niên 90 (CSIRO, Malaysia, Viện NTTS II) do kiểm soát được vấn

đề dịch bệnh nên chương trình tồn tại được nhiều năm và đạt được nhiều tiến bộ Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy tôm tự nhiên có hiệu quả sinh sản cao hơn tôm nuôi ao và tôm gia hóa về phương diện thành thục, bắt cặp và sinh sản, chất lượng sinh sản (Moor và ctv, 1974),[12],[13] Giải thích về sự kém chất lượng của tôm nuôi trong ao đất với tôm tự nhiên chủ yếu tập trung vào các lý do như chất lượng dinh dưỡng kém, cận huyết, chất lượng tôm đực và tôm cái kém Chúng ta có thể thấy các khó khăn về chất lượng tôm sú gia hóa là sức sinh sản chưa cao, tỷ lệ giao vỹ thấp, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nở thấp

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về tôm sú gia hóa tại Việt Nam

Tại Việt Nam, đã có nhiều chương trình nghiên cứu trong nước về tôm sú

bố mẹ được báo cáo Từ những năm 1984 tại Việt Nam đã có nhiều chương trình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo tôm sú của Viện Nghiên cứu Hải sản, Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, II, III, Viện Nghiên cứu Biển,…

Năm 1984÷1990, Viện Nghiên cứu Hải sản đã nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống tôm biển trên một số loài có giá trị kinh tế trong đó có tôm sú (Đoàn Văn Đẩu, 1990)

Năm 1986÷1994 Viện Nghiên cứu Biển đã thành công trong việc nghiên cứu sự thành thục sinh dục của tôm sú trưởng thành và sự sinh sản của tôm sú

Trang 28

mới trưởng thành trong điều kiện nuôi nhốt trong bể xi măng và lồng nuôi ven biển Kết quả tôm lột xác, giao vỹ, thành thục và đẻ sau 28 ngày cắt mắt, tỷ lệ sống của ấu trùng đến PL15 có thể lớn hơn 50% [1],[2]

Năm 1987÷1998, Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất tôm Vũng Tàu – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II nghiên cứu thành công việc nuôi vỗ tôm sú

bố mẹ trong bể xi măng có nhiều nguồn gốc khác nhau từ biển, đầm nuôi quảng canh Kết quả sau 21÷45 ngày nuôi tỷ lệ thành thục lớn hơn 30%, thu được ấu trùng từ 200.000÷300.000/ cá thể, đồng thời xây dựng quy trình sản xuất giống tôm sú chất lượng cao [7]

Năm 1988÷1996, Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Hải sản - Trường Đại học Thủy sản thử nghiệm sản xuất giống tôm sú từ nguồn tôm bố mẹ giao vỹ tự nhiên và cấy ghép tinh nhân tạo bằng phương pháp cắt mắt trong bể xi măng, kết quả thu được là tỷ lệ thành thục 88,8%, sức sinh sản thực tế 475.000 ấu trùng/tôm mẹ, tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoea lớn hơn 80% Đối với tôm mẹ cấy tinh nhân tạo có tỷ lệ thành thục 83,3%, sức sinh sản thực tế 465.000 ấu trùng/ tôm mẹ, tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoea lớn hơn 75% [8]

Năm 1993÷1996, Viện Nghiên cứu NTTS III đã nghiên cứu tạo ra nguồn tôm sú bố mẹ thành thục bằng phương pháp nuôi lồng trên biển tại Khánh Hòa và đối chứng trên bể xi măng với nguồn tôm thí nghiệm có nguồn gốc từ ao, đầm nuôi Kết quả cho thấy hình thức nuôi lồng có tỷ lệ thành thục lần lượt là 44%, 68%, sức sinh sản thực tế 283.000÷458.000 ấu trùng/tôm mẹ, tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoea 82%÷87,5% và hình thức nuôi trên bể xi măng với tỷ lệ thành thục là 86,6% [6]

Năm 1995÷2000, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Giống Hải sản Miền Bắc (Cát Bà)-Viện Nghiên cứu Hải sản (nay thuộc Viện Nghiên cứu NTTS I) đã nghiên cứu thử nghiệm nuôi vỗ tôm sú bố mẹ tại vịnh Hạ Long và Cát Bà đồng thời sau đó áp dụng và từng bước hoàn thiện công nghệ nuôi vỗ tôm sú bố mẹ

Trang 29

Kết quả cho thấy tỷ lệ thành thục từ 77,7%÷100%, sức sinh sản thực tế 358.000

ấu trùng/ tôm mẹ

Năm 2000÷2001 Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất tôm Vũng Tàu (nay là Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam Bộ)- Viện nghiên cứu NTTS II đã tiến hành đề cấp Bộ về nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và kỹ thuật làm cơ sở khoa học cho chương trình cải thiện chất lượng di truyền tôm sú tại Việt Nam Trong đó với nội dung xây dựng đàn tôm sú bố mẹ nhân tạo làm vật liệu phục vụ nghiên cứu đã bước đầu nuôi vỗ được đàn tôm sú trong điều kiện nhân tạo từ các nguồn gốc khác nhau Kết quả tỷ lệ thành thục lớn hơn 30%, sức sinh sản thực tế 200.000 ấu trùng/ tôm mẹ, thu được 127.000 PL15 đạt tiêu chuẩn chất lượng [6] Mặc dù, nhiều chương trình nghiên cứu trong nước về tôm sú bố mẹ được báo cáo nhưng việc khép kín vòng đời tôm sú từ trứng đến tôm mẹ và tạo ra các thế hệ gia hoá trong điều kiện nuôi bể trong nhà ở Việt Nam lần đầu tiên đã thành công và bước đầu thương mại hóa quy mô nhỏ đó là chương trình gia hoá khép kín vòng đời và sản xuất tôm sú bố mẹ và tôm sú giống sạch bệnh được triển khai tại Viện Nghiên cứu NTTS II từ tháng 06/2004 đến tháng 12/2008 trên

cơ sở 2 đề tài nghiên cứu (đề tài nhánh cấp Bộ và đề tài cơ sở cấp Viện) phối hợp với nguồn kinh phí và chương trình Nghiên cứu sinh của ThS Nguyễn Duy Hòa tại Đại học Ghent, Bỉ (tài trợ bởi Tổ chức Hợp tác Phát triển các Trường Đại học Flemish – VLIR, Bỉ) Chương trình hầu như thất bại trong 2 năm đầu tổ chức và triển khai nghiên cứu do những hạn chế trong quản lý nghiên cứu và cách tiếp cận về hệ thống nuôi và dinh dưỡng trong quá trình khép kín vòng đời tôm sú và sản xuất tôm sú bố mẹ sạch bệnh Đến giữa năm 2006, thông qua các quan hệ hợp tác với tổ chức CSIRO (Úc), Viện Hải dương Hawaii (Ocean Institute of Hawaii) và thông qua chương trình Nghiên cứu sinh của cán bộ Viện nghiên cứu NTTS II tại đại học Ghent, Bỉ, chương trình nghiên cứu tại Viện nghiên cứu NTTS II đã tiếp cận được những tiến bộ về công nghệ tuần hoàn và các biện

Trang 30

pháp an toàn sinh học trong phát triển hệ thống nuôi tôm mẹ, nghiên cứu thức ăn cho các giai đoạn nuôi tăng trưởng và thành thục, ứng dụng công nghệ sinh học trong sàng lọc bệnh các bệnh virus (WSSV, YHV, MBV, HPV) 2 giai đoạn (nuôi sàng lọc cách ly sơ cấp và thứ cấp) Nhờ đó năm 2007 chương trình đã thành công trong việc khép kín vòng đời tôm sú bố mẹ trong bể nuôi tuần hoàn kín giá thể cát (dưới đáy hệ thống có lớp san hô và một lớp ống gồm 2 loại, một loại có lỗ và một loại không có lỗ đan xen nhau, phía trên gần mặt nước có vòi đẩy nước xuống và một vòi hút nước ra Nhờ đó luôn có một dòng nước mới vừa chảy vòng quanh bể và vừa đảo đều từ trên xuống dưới Hệ thống này gọi là hệ thống tuần hoàn kín đáy cát để tạo ra hệ sinh thái gần như môi trường tự nhiên)

và đã sản xuất được sản lượng lớn tôm bố mẹ sạch bệnh và tôm sú giống gia hoá (hơn 300 cặp tôm bố mẹ sạch bệnh và 7 triệu tôm sú giống gia hoá PL15 được sản xuất trong năm 2008) Kết quả nuôi tăng trưởng, thành thục và sinh sản cho thấy pha nuôi tăng trưởng từ 1g đến 40g cho tỷ lệ sống khá cao, từ 81,56÷84,33% với thời gian nuôi 4 tháng, pha nuôi tăng trưởng tôm cái từ 40g đến 80g, tôm đực từ 40g đến trên 60g đạt tỷ lệ sống 62,29÷67,93% tương ứng thời gian nuôi 95 ngày Nuôi thành thục tôm cái từ 80g đến trên 100g và tôm đực từ 60g đến trên 70g khoảng 2÷3 tháng có thể tiến hành cắt mắt sinh sản Kết quả cắt mắt sinh sản 45 tôm cái bước đầu cho thấy: tỷ lệ sống tôm mẹ sau cắt mắt đạt 95,55%, tỷ lệ tôm thành thục buồng trứng giai đoạn IV đạt 97,67%, tỷ lệ tôm sinh sản đạt 88,09%,

tỷ lệ đẻ bình quân/tôm mẹ đạt 3,56 lần, tỷ lệ nở của các lần đẻ đạt 95,54% Tính trên 132 lần đẻ (126 lần đẻ nở được) của bình quân số tôm đẻ từ 12 bể nuôi tôm

mẹ cho thấy: Sức sinh sản bình quân đạt 291.875±43.958 trứng/lần đẻ, sản lượng

ấu trùng đạt 205.609±32.251 ấu trùng Nau/lần đẻ, tỷ lệ nở bình quân của trứng tính cả những lần đẻ không nở đạt 64,54±9,38%, tỷ lệ nở bình quân của trứng chỉ tính những lần đẻ nở đạt 68,08±7,01% và tỷ lệ biến thái ấu trùng đạt 94,46±2,16% Tôm nuôi thành thục được bổ sung 60% thức ăn viên bán ẩm cải

Trang 31

thiện được tỷ lệ nở và tỷ lệ biến thái ấu trùng (P<0,05) Kết quả này cho thấy triển vọng rất lớn trong việc sản xuất đồng loạt tôm bố mẹ nhân tạo sạch bệnh phục vụ cho ngành công nghiệp nuôi tôm sú của nước ta Tuy nhiên, hiện tượng bắt cặp tự nhiên thấp, tỷ lệ nở thấp, đặc biệt rất nhiều lần đẻ trứng không nở mặc

dù vẫn có túi tinh trong thelycum của tôm cái là những khó khăn nổi bật về chất lượng sinh sản tôm gia hoá và cần được nghiên cứu để hoàn thiện hơn quy trình sản xuất tôm sú bố mẹ trước khi có thể thương mại hóa đại trà

Trang 32

Lựa chọn tôm bố mẹ tham gia sinh sản

Hình 1.10 Sơ đồ gia hóa sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh trong

hệ thống tuần hoàn kín

Tôm bố mẹ tự nhiên sàng lọc sạch bệnh qua 2 bước cách

ly sơ cấp và thứ cấp

Sản xuất tôm giống PL15

trong điều kiện an toàn sinh học, sang lọc tôm sạch bệnh

Ương tôm PL15 đến tôm 1g, sàng lọc dịch bệnh

Tuần hoàn nước cao

Che tối hoàn toàn

Thức ăn viên, thức ăn tươi sống

Pha 1: nuôi tôm 1g đến 40- 50g trong bể nuôi tuần hoàn giá thể cát, sàng lọc bệnh cuối giai đoạn

Pha 3: nuôi tôm 80g đến 120g trong bể nuôi tuần hoàn kín giá thể cát, sàng lọc bệnh cuối giai đoạn

Pha 2: nuôi tôm 40g đến 80g trong bể nuôi tuần hoàn kín giá thể cát, sàng lọc bệnh cuối giai đoạn

Trang 33

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh sản của tôm sú gia hóa

1.4.1 Các yếu tố môi trường và mùa vụ

Trong môi trường biển, nhóm tôm Penaeid thường di cư theo các tầng nước đặc trưng riêng của mỗi loài (Perez-Farfante, 1969) Vì thế, các yếu tố liên quan

độ sâu có thể ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của tôm he chẳng hạn như áp suất thủy tĩnh, cường độ hoặc phổ ánh sáng Áp suất thủy tĩnh được biết có tác động đến tập tính của các ấu trùng giáp xác phù du nhưng thường rất hiếm khi ảnh hưởng đến các loài động vật đáy (Hardy và Bainbridge, 1951; Knight-Jones

và Morgan, 1966) Lại càng không thể có ảnh hưởng của áp suất thủy tĩnh đối với những cá thể đã thành thục vì thực tế một số loài tôm he cũng có thể đẻ tự nhiên không cần cắt mắt trong các ao nước cạn hoặc hệ thống nước chảy

raceway Cường độ sáng và phổ ánh sáng được xét đoán là yếu tố của ‘độ sâu’

ảnh hưởng đến sinh lý sinh sản của tôm he bởi vì về thực tế 2 yếu tố này chịu ảnh hưởng bởi các biến động ngày đêm, mùa vụ và mây cũng như các chất hòa tan và lơ lửng trong nước là những biến động ít nhiều được biết ảnh hưởng đến sinh lý sinh sản của tôm tự nhiên [14] Nhiều bằng chứng thuyết phục về độ nhạy cảm của các các loài giáp xác trưởng thành (adult decapods) đối với cường độ sáng và phổ ánh sáng đã được một số tác giả báo cáo (Herman,1962; Segal 1970; Goldsmith, 1972) Kết quả nghiên cứu của Chamberlain và Lawrence (1981), của Wurts và Stickney (1984) trên các loài tôm Penaeid, cụ thể cho tôm thẻ chân trắng và tôm thẻ thân xanh cho thấy ánh sáng xanh da trời hoặc xanh lá cây (blue

or green) với cường độ không quá 12 µWcm-2

có tác dụng tốt hơn các ánh sáng khác trong kích thích thành thục và đẻ trứng các loài tôm này Theo Primavera (1985), giảm cường độ sáng đưa đến thành thục nhanh hơn ở tôm sú đồng thời việc che bể cũng giảm stress cho tôm sú bố mẹ Emmerson (1980) cho biết bể nuôi có màu tối (black background) cho số lần đẻ của tôm cao gấp 2 lần so với

bể màu sáng Yếu tố mùa vụ tập trung trong sinh sản cũng là một trong những

Trang 34

đặc điểm sinh học sinh sản của tôm he, kể cả một số loài xứ nhiệt đới có thể đẻ quanh năm cũng có mùa sinh sản tập trung (Lindner và Anderson, 1956; Subrahmanyam, 1965; Rao, 1968; Pillay và Nair, 1971, Badawi, 1975) Đặc điểm mùa sinh sản tập trung thường đồng nhịp trong cùng loài và khác nhau giữa các loài có thể do ảnh hưởng chu kỳ quang và nhiệt độ của mỗi loài là khác nhau (Giese, 1959) Quá trình di cư với sự biến động lớn về nhiệt độ và độ mặn ở vùng nước ven bờ đến nơi biển khơi có nhiệt độ và độ mặn hầu như là một hằng

số cũng có thể đã kích thích quá trình thành thục trong khi di cư [14] Lindner và

Anderson (1956) cho rằng thành thục sinh sản có thể được thúc đẩy tốt hơn trong điều kiện thay đổi nhiệt độ nhanh thay vì giữ nguyên nhiệt độ tối ưu Tuy nhiên, đối với xứ nhiệt đới là những nơi ít chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và chu kỳ quang

thì yếu tố độ mặn có lẽ đóng vai trò quan trọng trong “tín hiệu” mùa vụ sinh sản,

đặc biệt những vùng có 2 mùa mưa nắng rõ rệt (Pillay and Nair, 1971) Alberto Aragon-Noriega (2007) nghiên cứu mối quan hệ của nhiệt độ nước đến mùa sinh sản của tôm thẻ thân xanh tại vùng vịnh thuộc California cho thấy tôm thẻ thân xanh đẻ tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm là thời điểm nhiệt độ mặt nước biển ấm lên và ít có sự biến động mùa vụ nhất trong năm Ruangpanit và ctv (1984) cho biết sinh sản của tôm sú bố mẹ đánh bắt từ bãi đẻ (Indian Ocean)

có độ mặn 33‰ cho tỷ lệ thành thục và số tôm cái đẻ trứng thụ tinh cao hơn nguồn tôm đánh bắt từ vùng hồ Songkhla có độ mặn 22-28‰ Yếu tố pH được duy trì ổn định 8,2 bằng cách bổ sung hàng ngày sodium carbonate cũng được Primavera (1985) cho là tốt cho các khía cạnh thành thục, đẻ trứng và tỷ lệ nở

Vì thế, độ mặn cao và nhiệt độ, pH ổn định cao và các yếu tố môi trường khác

đặc biệt ammonia, nitrite… trong môi trường đại dương hầu như rất thấp và ít biến động trong quá trình thành thục sinh sản tôm sú ở độ sâu 160m (Motoh, 1984) là vấn đề cần lưu ý

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Chung, 1991. Nghiên cứu sự thành thục một số loài tôm biển trong điều kiện nuôi nhốt. Tuyển tập báo cáo khoa học về biển lần thứ III.Trang 40 - 50. Đề tài cấp Ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự thành thục một số loài tôm biển trong điều kiện nuôi nhốt
2. Nguyễn Văn Chung, 1994. Nghiên cứu khả năng sinh sản của tôm sú (Penaeus monodon) mới trưởng thành trong điều kiện nuôi nhốt. Tuyển tập Nghiên cứu biển. Tập V. Trang 97 - 102. Đề tài cấp Ngành, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh sản của tôm sú (Penaeus monodon) mới trưởng thành trong điều kiện nuôi nhốt
3. Đoàn Văn Đẩu, 1991. Nghiên cứu ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm biển trong điều kiện Việt Nam. Đề tài cấp Ngành, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng quy trình sản xuất giống tôm biển trong điều kiện Việt Nam
5. Vũ Trọng Nho, Tạ Khắc Tường, Lục Minh Diệp, 2006. Kỹ thuật nuôi giáp xác. NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi giáp xác
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
6. Nguyễn Cơ Thạch, 1996. Nghiên cứu tạo nguồn tôm sú (Penaeus monodon Fabricius) bố mẹ thành thục bằng phương pháp nuôi lồng ở biển. Đề tài cấp Ngành, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tạo nguồn tôm sú (Penaeus monodon Fabricius) bố mẹ thành thục bằng phương pháp nuôi lồng ở biển
7. Phạm Văn Tình, 1998. Nghiên cứu quy trình sản xuất giống tôm sú (Penaeus monodon) chất lượng cao. Đề tài cấp Ngành, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy trình sản xuất giống tôm sú (Penaeus monodon) chất lượng cao
8. Ngô Anh Tuấn, 1996. Thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo tôm sú (Penaeus monodon, Fabricius) từ nguồn tôm mẹ giao vỹ và cấy ghép tinh nhân tạo. Đề tài cấp Ngành, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo tôm sú (Penaeus monodon, "Fabricius") từ nguồn tôm mẹ giao vỹ và cấy ghép tinh nhân tạo
10. Lê Xân, 1998. Thử nghiệm nuôi vỗ tôm sú bố mẹ tại vịnh Hạ Long - Cát Bà. Đề tài cấp Ngành (1995 - 1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm nuôi vỗ tôm sú bố mẹ tại vịnh Hạ Long - Cát Bà
11. Benzie, J.A.H., 1997. A review of the effects of genetics and environment on the maturation and larval quality of the giant tiger prawn Penaeusmonodon. Aquaculture 155: 69-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of the effects of genetics and environment on the maturation and larval quality of the giant tiger prawn Penaeus "monodon
12. Chamberlain, G. W., Lawrence, A., 1981. Maturation, reproduction and growth of Penaeus vannamei and P. stylirostris fed natural diets. J. World Aquaculture. Soc. 12, 209-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maturation, reproduction and growth of Penaeus vannamei and P. stylirostris fed natural diets. J. World Aquaculture
13. Chamberlain, G.W., Gervais, N.F., 1984. Comparison of unilateral eyestalk ablation with environmental control for ovarian maturation of Penaeus stylirostris. Jour. World Maricul. Soc. 15:29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of unilateral eyestalk ablation with environmental control for ovarian maturation of Penaeus stylirostris. Jour. World Maricul
14. Chamberlain, G.W., 1985. Biology and control of shrimp reproduction. Texas Shrimp Farming Manual. Texas Agriculture Extension Service Publication of Invited Papers Presented at the Texas Shrimp Farming Workshop on 19-20, November, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology and control of shrimp reproduction. "Texas Shrimp Farming Manual. Texas Agriculture Extension Service Publication of Invited Papers Presented at the Texas Shrimp Farming Workshop
15. Coman G.J., Crocos P.J., Arnold S.J., Key S.J. and N.P. Preston, 2005. Growth, survival and reproductive performance of domesticated Australian stock of the giant tiger prawn, Penaeus monodon, reared in tanks and raceways. Journal of World Aquaculture Society 36 (4): pp. 464-479 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth, survival and reproductive performance of domesticated Australian stock of the giant tiger prawn, Penaeus monodon, reared in tanks and raceways
16. Coman, G.J., Arnold, S.J., Callaghal, T.R., Preston, N.P., 2007. Effect of two maturation diet combination on reproductive performance of domesticated Penaeus monodon. Aquaculture 263, 75-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of two maturation diet combination on reproductive performance of domesticated Penaeus monodon
17. Desai, U.M., Achuthankutty, C.A., 1997. Complete regeneration of ablated eyestalk in penaeid prawn, Penaeus monodon. Current Science 79 (11):1602-1603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Complete regeneration of ablated eyestalk in penaeid prawn, Penaeus monodon
18. Emerson, W.E., 1980. Induced maturation of prawn Penaeus indicus. Mar.Ecol. (Prog.Ser.) 2(2):121-131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Induced maturation of prawn Penaeus indicus
19. Harrison, K.E., 1990. The role of nutrition in maturation, reproduction and embryonic development of decapod crustacean, a review. J. Shellf. Res., 9:1-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of nutrition in maturation, reproduction and embryonic development of decapod crustacean, a review. J. Shellf. Res
20. Hun, K.S, Cheng, K.M., Ritland, C., Ritland, K., Silversides, F.G., 2007. Inbreeding in Japanese Quail Estimated Pedigree and Microsatellite Analyses. Journal of Heredity 98(4):378–381 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inbreeding in Japanese Quail Estimated Pedigree and Microsatellite Analyses
21. ỉystein, S., Hứyheim, B., Glover, K., Dahle, G., 2004. Microsatellite analysis in domesticated and wild Atlantic salmon (Salmo salar L.): allelic diversity and identification of individuals. Aquaculture 240 (1-4) 27, 131- 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microsatellite analysis in domesticated and wild Atlantic salmon (Salmo salar L.): allelic diversity and identification of individuals
22. Norris, A.T., Daniel, Bradley, D.G., Cunningham, E.P., 1999. Parentage and relatedness determination in farmed Atlantic salmon (Salmo salar) using microsatellite markers. Aquaculture 182 (1-2) 1, 73-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parentage and relatedness determination in farmed Atlantic salmon (Salmo salar) using microsatellite markers

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hình dạng ngoài của tôm sú (Penaeus monodon) - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.1. Hình dạng ngoài của tôm sú (Penaeus monodon) (Trang 11)
Hình 1.2. Quá trình phát triển phôi của tôm sú - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.2. Quá trình phát triển phôi của tôm sú (Trang 15)
Hình 1.3. ấu trùng Nauplius - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.3. ấu trùng Nauplius (Trang 16)
Bảng 1.1. Thời gian biến thái của ấu trùng Nauplius - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 1.1. Thời gian biến thái của ấu trùng Nauplius (Trang 17)
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Zoea - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Zoea (Trang 17)
- Giai đoạn hậu ấu trùng Post larvae: Hình dạng giống tôm trưởng thành nhưng chưa hoàn thiện về màu sắc - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
iai đoạn hậu ấu trùng Post larvae: Hình dạng giống tôm trưởng thành nhưng chưa hoàn thiện về màu sắc (Trang 18)
Hình 1.5. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Mysis - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.5. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng Mysis (Trang 18)
Hình 1.7. Các giai đoạn phát triển của tôm sú thể hiện qua vòng đời - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.7. Các giai đoạn phát triển của tôm sú thể hiện qua vòng đời (Trang 19)
Hình 1.8. Cơ quan sinh dục ngoài của tôm sú cái và đực - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.8. Cơ quan sinh dục ngoài của tôm sú cái và đực (Trang 20)
Hình 1.9. Hiện tượng giao vỹ ở tôm sú - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.9. Hiện tượng giao vỹ ở tôm sú (Trang 21)
Hình 1.10. Sơ đồ gia hóa sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh trong hệ thống tuần hoàn kín  - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 1.10. Sơ đồ gia hóa sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh trong hệ thống tuần hoàn kín (Trang 32)
Bảng 2.2. Ký hiệu của tôm sú Rạch Gốc - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 2.2. Ký hiệu của tôm sú Rạch Gốc (Trang 42)
Bảng 2.1 Ký hiệu dòng tôm sú Đà Nẵng - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 2.1 Ký hiệu dòng tôm sú Đà Nẵng (Trang 42)
Bảng 3.1. Biến động một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm Chỉ số  - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 3.1. Biến động một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm Chỉ số (Trang 44)
Hình 3.2. Biểu đồ biến động pH nước trong các bể thí nghiệm - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 3.2. Biểu đồ biến động pH nước trong các bể thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 3.2. Sức đẻ trứng của các dòng tôm sú gia hóa - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 3.2. Sức đẻ trứng của các dòng tôm sú gia hóa (Trang 46)
Bảng 3.3. Sức đẻ trứng tương đối của tôm cái ở các dòng tôm sú gia hóa - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 3.3. Sức đẻ trứng tương đối của tôm cái ở các dòng tôm sú gia hóa (Trang 51)
Bảng 3.4. Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Bảng 3.4. Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa (Trang 52)
Hình 3.5. Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 3.5. Tỷ lệ thụ tinh của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa (Trang 53)
Hình 3.6. Tỷ lệ nở của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 3.6. Tỷ lệ nở của trứng ở các dòng tôm sú gia hóa (Trang 55)
Hình 2: Kiểm tra trứng Hình 3: Bể cho đẻ - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 2 Kiểm tra trứng Hình 3: Bể cho đẻ (Trang 61)
Phụ lục 1: Các hình ảnh trong quá trình làm thí nghiệm - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
h ụ lục 1: Các hình ảnh trong quá trình làm thí nghiệm (Trang 61)
Hình 5: Dụng cụ thu mẫu Hình 6: Bể ấp trứng - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 5 Dụng cụ thu mẫu Hình 6: Bể ấp trứng (Trang 62)
Hình 4: Vợt thu trứng - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 4 Vợt thu trứng (Trang 62)
Hình 7: Tôm mẹ được đánh dấu đuôi Hình 8: Dụng cụ đánh dấu mắt - Khả năng sing sản của các dòng tôm sú gia hóa tại trung tâm quốc gia giống hải sản nam bộ
Hình 7 Tôm mẹ được đánh dấu đuôi Hình 8: Dụng cụ đánh dấu mắt (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w