BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ TÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HE CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei TỪ GIAI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ TÌNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HE CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei) TỪ GIAI ĐOẠN ZOEA 1
ĐẾN POSTLARVAE 1 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CHĂN NUÔI CP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN THỜI GIAN BIẾN THÁI VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HE CHÂN TRẮNG
(Penaeus vannamei) TỪ GIAI ĐOẠN ZOEA 1
ĐẾN POSTLARVAE 1 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CHĂN NUÔI CP VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Tình Lớp : 49K 1 - NTTS MSSV : 0853030899 Người hướng dẫn : ThS Phạm Mỹ Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học, đồng thời để hoàn thành được bản khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều đơn vị, cá nhân và tổ chức
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn giảng viên Ths Phạm Mỹ Dung, là người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tiếp đến tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các cán bộ khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại học Vinh đã truyền giảng cho em những kiến thức và những kinh nghiệm quý báu trong hơn 4 năm qua đã học tập trên ghế nhà trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo công ty sản xuất giống CP.Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất cũng như hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị, các bạn đã luôn cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 18 tháng 5 năm 2012 Sinh viên
Trần Thị Tình
MỞ ĐẦU
Trang 5Việt Nam với diện tích đất liền 329.297 km2, vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 và trải dài hơn 3.260 km, rất thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Ngành thủy sản nói chung, nghề nuôi tôm ở Việt Nam nói riêng những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, đã giải quyết một phần tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập cho nhiều hộ nông ngư dân ven biển, tăng nguồn ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu
Tôm He chân trắng (P.Vannamei) là đối tượng nuôi mới ở nước ta, bên
cạnh đối tượng truyền thống là tôm Sú Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm sú đang gặp nhiều khó khăn trong khi đó tôm He chân trắng (THCT) có nhiều ưu điểm hơn hẳn với tôm sú do năng suất cao, sức đề kháng tốt và thời gian quay vòng nhanh, giá tôm nguyên liệu đang có chiều hướng tăng cao Do đó diện tích nuôi đối tượng này đang ngày càng được mở rộng
Được du nhập vào Việt Nam từ năm 2001-2002 và mãi đến năm 2008 mới được nuôi phổ biến trên cả nước, nhưng sản phẩm THCT đã đóng góp ngày càng quan trọng cho XKTS Việt Nam Hai thập kỷ qua NTTS đã đưa xuất khẩu thủy sản (XKTS) Việt Nam vào tốp 10 nước có trị giá XKTS hàng đầu thế giới, và mục tiêu đến năm 2020 kim ngạch XKTS đạt 7 tỷ USD [Dự thảo của Bộ NN & PTNTT, 2009]
Để một vụ nuôi thành công điều không thể thiếu là đàn tôm giống khỏe mạnh và sạch bệnh.Trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng của quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng, thường gặp rủi ro và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
tỷ lệ sống và chất lượng ấu trùng đặc biệt ở giai đoạn Zoea đến Mysis Các nhà nghiên cứu thủy sản đã nghiên cứu rất nhiều để tìm ra loại thức ăn phù hợp nhất cho ấu trùng tôm he chân trắng Thức ăn được sử dụng để ương nuôi
ấu trùng giai đoạn Zoea lên Mysis chủ yếu là tảo tươi
Với giá trị dinh dưỡng, vai trò điều hòa, cân bằng các yếu tố môi trường
Trang 6calcitrans, Chaetoceros sp., Thalassiosira weissflogii, tảo khô Spirulina đang
là nguồn thức ăn tươi sống quan trọng không thể thiếu cho các giai đoạn ấu trùng của các loài giáp xác, động vật thân mềm, nhuyễn thể nói chung và với
loài tôm thẻ chân trắng nói riêng Trong đó, tảo Thalassiosira weissflogii và tảo Chaetoceros sp là hai loài tảo đang được sử dụng làm thức ăn phổ biến
trong sản xuất giống tôm he chân trắng
Ngoài việc sử dụng tảo làm thức ăn cho ấu trùng tôm người ta còn kết hợp với các loại thức ăn khác như: artemia, tảo khô, TĂTH Tuy vậy, có rất nhiều công thức phối hợp giữa các loại thức ăn với nhau và mỗi công thức
thức ăn cho tỷ lệ sống, thời gian biến thái khác nhau
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên chúng tôi thực hiện đề tài "
Nghiên cứu Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm He chân trắng (Penaeus Vannamei) giai đoạn Zoea 1 đến Postlarvae 1 tại công ty cổ phần CP Việt Nam”
Mục tiêu của đề tài
Tìm ra công thức thức ăn thích hợp trong ương nuôi ấu trùng tôm he
chân trắng Penaeus Vannamei, nhằm nâng cao tỷ lệ sống, rút ngắn thời gian
biến thái đồng thời hoàn thiện quy trình sản xuất giống tôm he chân trắng
Trang 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm he chân trắng
1.1.1 Hệ thống phân loại
Tôm he chân trắng có hệ thống phân loại như sau:
Ngành chân khớp: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ bơi lội: Natantia
Họ tôm He: Penaeidae Giống: Penaeus
Loài : Penaeus vannamei (Boone, 1931)
hoặc Litopenaeus vannamei
Trang 8và giữ thăng bằng; 3 đôi hàm: đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2;
3 đôi chân hàm có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ cho hoạt động; 5 đôi chân bò hay chân ngực, giữ cho tôm bò trên mặt đáy
Phần đầu ngực được bảo vệ bởi phần giáp đầu ngực Trên giáp đầu ngực
có nhiều gai, gờ, sóng, rãnh Phía trước vỏ giáp đầu ngực là chủy đầu, (rostrum),
vũ khí tự vệ của tôm là chủy đầu hình nhọn mũi kiếm, có gai trên chủy
Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu mỗi đốt mang 1 đôi chân bơi hay còn gọi
là chân bụng Mỗi chân bụng có 1 đốt chung bên trong, đốt ngoài chia làm 2 nhánh: nhánh trong và nhánh ngoài Đốt bụng thứ 7 biến thành telson, hợp với đôi chân đuôi phân nhánh tạo thành đuôi, giúp cho tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy Ở tôm đực 2 nhánh trong của đôi chân bụng 1 biến thành petasma và 2 nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực, là các bộ phận sinh dục đực bên ngoài
1.1.3 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Hiện nay, loài tôm này được phân bố ở châu Mỹ La Tinh, Đài loan, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và một số nước khác trên thế giới
Tôm he chân trắng là một loài ngoài tự nhiên sống ở vùng biển có đáy cát, ở độ sâu từ 0,5 - 72m Giai đoạn ấu trùng tôm có thể sống ở độ mặn 25 - 35‰, nhiệt độ 27 – 310C, nhưng thích nghi tốt nhất ở độ mặn 28 - 33‰, nhiệt độ 28 – 300
C, pH 7,7 – 8,2 (Nguyễn Trọng Nho), nồng độ NH3 <
Trang 90,1mg/l (viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III), độ kiềm thích hợp cho giai đoạn này là từ 20 – 150mg/l (Nguyễn Ngọc Dự Nhãn) Tuy nhiên, sự phân bố của tôm he cũng thay đổi tùy từng giai đoạn phát triển Giai đoạn ấu trùng và Potslarvae 5 tôm sống trôi nổi ở tầng mặt và ở tầng giữa, từ cuối giai đoạn potslarvae tôm bắt đầu chuyển sang sống đá.[6]
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
* Bãi đẻ, mùa vụ sinh sản
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70m với nhiệt độ 26-28 0C, độ mặn khá cao (35‰) Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loanh quanh ở khu vực sâu này Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ.[2]
Tùy vào nhiệt độ nước mà mùa vụ sinh sản của tôm cũng thay đổi theo tùng khu vực Ở Bắc Ecuado mùa đẻ rộ vào tháng 4 - 5 Ở Peru mùa tôm đẻ chủ yếu từ tháng 12 đến tháng 4
* Sức sinh sản: số lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ, tôm mẹ
có khối lượng từ 35g, lượng trứng 100.000–250.000 hạt, trứng có đường kính 0,22 mm, sự phát triển của trứng sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ.[7]
* Hoạt động giao vĩ và đẻ trứng: Tôm he chân trắng là loài có thelycum
hở Sự giao vĩ chủ yếu xảy ra vào ban đêm Thời gian giao vĩ xảy ra tương đối nhanh khoảng 3–7 phút
Tôm cái được gắn túi tinh trước khi đẻ vài giờ hoặc trước đó vài ngày (lột xác thành thục giao vỹ đẻ) Túi tinh được dính vào thelycum của con cái, không được bảo vệ chắc chắn nên dễ bị rơi rớt và tôm có thể giao vĩ trở lại [1]
Trang 10Hình 1.2 Hoạt động giao vĩ
* Hoạt động đẻ trứng của tôm thẻ chân trắng
Tôm cái đẻ trứng chủ yếu vào thời gian 9 giờ tối đến 3 giờ sáng Thời gian bắt đầu đẻ cho tới khi kết thúc chỉ mất 1-2 phút Trứng sau khi đẻ có màu
vỏ đậu xanh Các chùm tinh của tôm đực cũng được tái sinh nhiều lần Sau khi đẻ xong trứng trải qua các giai đoạn ấu trùng, tới poslarvae bơi vào gần bờ sông, sau vài tháng tôm con trưởng thành và bơi ra biển rồi giao vĩ tiếp
Sau mỗi lần đẻ hết trứng, buồng trứng lại phát dục tiếp Con đẻ nhiều nhất 10 lần/năm, thường sau khi đẻ 3-4 ngày thì lột vỏ
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và lột xác
Trứng sau khi được thụ tinh sẽ xẩy ra quá trình phân cắt, phát triển phôi
và nở thành ấu trùng Nauplius Ấu trùng tôm he lớn lên nhờ vào quá trình lột xác và biến thái qua nhiều giai đoạn khác nhau để trở thành hậu ấu trùng postlarvae Trong vòng đời phát triển, mỗi giai đoạn chúng có những đặc điểm về hình thái, dinh dưỡng và thích nghi điều kiện môi trường khác nhau Căn cứ vào những đặc điểm đó cũng như sự thay đổi hình thái bên ngoài mà người ta phân chia sự phát triển của ấu trùng tôm he thành các giai đoạn khác
nhau, cụ thể như sau:
Trang 11* Giai đoạn Nauplius (N)
Ấu trùng N có hình dạng giống quả lê, có 3 đôi phụ bộ (râu A1, hàm lớn, râu A2) và một điểm mắt Bơi lội bằng ba đôi phần phụ, vận động theo kiểu ziczăc không định hướng và không liên tục Chúng chưa ăn thức ăn bên ngoài
mà tự dưỡng bằng noãn hoàng
Ấu trùng N trải qua 6 lần lột xác để tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, các phần phụ và nội quan Mỗi lần lột xác tương ứng với một giai đoạn phụ (6 giai đoạn), sau lần lột xác cuối cùng sẽ kết thúc giai đoạn N và chuyển sang giai đoạn ấu trùng Zoea Công thức gai đuôi là đặc điểm quan trọng để phân biệt các giai đoạn phụ của ấu trùng N.[2]
* Giai đoạn Zoea (Z)
Sau khi kết thúc giai đoạn N ấu trùng chuyển sang giai đoạn Z Đặc điểm thay đổi lớn nhất ở giai đoạn này chính là việc ấu trùng bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài Giai đoạn này ấu trùng ăn mồi liên tục, ruột luôn đầy thức
ăn và thải phân liên tục tạo thành đuôi phân kéo dài ra phía sau.[4,2]
Giai đoạn ấu trùng Z được phân chia thành 3 giai đoạn phụ: Zoea1 (Z1), Zoea2 (Z2), Zoea3 (Z3) [2]
Hình 1.3 Zoea 1 Hình 1.4 Zoea 2
- Z1 thay đổi hẳn về hình thái so với Nauplius Cơ thể Z1 kéo dài chia làm
2 phần: Phần đầu có vỏ giáp đính lỏng lẻo, phần sau gồm có 5 đốt ngực và bụng chưa phân đốt có chạc đuôi Z1 chưa có chủy đầu, mắt đã có sự phân chia rõ
Trang 12- Z2 có chủy đầu, hai mắt có cuống mắt tách rời nhau, phần bụng đã chia thành 4 đốt
- Z3 đã có phần đầu và phần ngực kết hợp tạo thành phần đầu ngực và được che phủ bởi bởi giáp đầu ngực Ở mặt bụng cuối phần đầu ngực xuất hiện mầm 5 đôi chân ngực Phần bụng có 7 đốt bao gồm 6 đốt bụng và 1 chạc đuôi, đốt bụng 6 dài có mầm chân đuôi
Mỗi giai đoạn phụ của ấu trùng Zoea thường kéo dài khoảng 30–40 giờ, trung bình khoảng 36 giờ ở nhiệt độ 28–29o
C
* Giai đoạn Mysis (M)
Ấu trùng giai đoạn này thân cong gập lại do ưu tiên phát triển phần đầu ngực để hoàn thiện các giai đoạn phụ nên phần đầu ngực nặng hơn phần thân, chính vì điều đó mà ấu trùng chúc đầu xuống dưới tạo nên hiện tượng treo mình trong nước Ấu trùng M bơi lội kiểu búng ngược, vận động chủ yếu bởi
5 đôi chân bò [2]
Thức ăn ở giai đoạn này thiên về động vật phù du kích cỡ nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ trong nước và bắt mồi chủ động Tuy nhiên chúng vẫn có thể ăn tảo silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M1 và M2.[2]
Gồm 3 giai đoạn phụ Mysis 1 (M1), Mysis 2 (M2), Mysis 3 (M3), mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ, tổng tất cả là 3 ngày rồi trở thành Post–larvae Chân
Hình 1.5 Zoea 3
Trang 13đuôi của M phát triển dài bằng mấu đuôi, nhánh ngoài của ăng ten 2 bắt đầu
dẹp để hình thành vẩy râu, cơ thể cong gập, sống trôi nổi [2]
-M1: Dài 2,4–3,4mm Đầu M1 chưa co mầm chân bụng, cuối M1 mầm
chân bụng bắt đầu được hình thành
- M2: Dài 2,9–3,9mm Phần bụng bớt cong, mầm chân bụng có 1 đốt
- M3: Dài 3,7–4,5mm Mầm chân bụng có 2 đốt, chủy có răng cưa
* Giai đoạn postlarvae (PL):
Hậu ấu trùng PL của tôm đã co hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa
hoàn thiện, nhánh trong ăng ten 2 chưa kéo dài PL bơi thẳng có định hướng về
phía trước bơi lội bằng 5 đôi chân bụng Cơ quan tiêu hóa, phát triển hoàn
chỉnh thức ăn chủ yếu là ấu trùng của các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ,
Nauplius Copepoda, Nauplius Artemia, .[2]
1.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của tôm He chân trắng
1.1.6.1 Nhu cầu về Protein
Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng nên các tổ chức mô của
động vật và các chất có hoạt tính sinh học cao như là enzyme, hormon và các
sản phẩm khác, là thành phần quan trọng trong thức ăn của tôm Nó thay đổi
theo giai đoạn phát triển của tôm và thay đổi tuỳ loài Nhu cầu về Protein của
THCT thấp hơn nhiều so với các loài ăn thiên về động vật như P.japonicus,
P.monodon… Hàm lượng Protein trong thức ăn của giai đoạn ấu trùng tôm
tốt nhất ≥ 40 %
1.1.6.2 Nhu cầu Lipid
Lipid là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinh học, là nguồn
cung cấp năng lượng, cung cấp các vitamin (A, D, E, K) hòa tan trong mỡ,
các acid béo cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật
thủy sản Nhiều nghiên cứu cho thấy lipid có ảnh hưởng đến sinh trưởng của
Trang 14Thành phần lipid có trong thức ăn tôm khoảng 6 - 7,5%, không nên quá 10% Với hàm lượng lipid trong thức ăn >10% sẽ dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, tăng tỷ lệ tử vong, có thể do nguyên nhân mất thăng bằng và thiếu dinh dưỡng (Akiyama, 1992)
celluloze không ảnh hưởng tới khả năng tiêu hóa của protein của P.Vannamei nhưng ảnh hưởng tới khả năng tiêu hóa Protein của P.aztecus (theo Shiau, 1997)
1.1.6.4 Vitamin
Nhu cầu về vitamin thực tế cho từng loài tôm, cho từng giai đoạn vẫn chưa được biết nhiều Vì thế lượng thức ăn thường vượt quá nhu cầu thực tế của tôm nhằm bù đắp lượng mất đi do hòa tan vào nước, do phân hủy trong quá trình sản xuất thức ăn và bảo quản Hơn nữa lượng vitamin trong các thành phần nguyên liệu rất biến đổi, nếu phân tích từng thành phần hoặc từng nhóm thành phần sẽ rất tốn kém Vì vậy cách đơn giản hơn là bổ sung quá mức lượng vitamin
1.1.6.5 Chất khoáng
Chất khoáng là yếu tố tạo hình (đặc biệt là vỏ) giúp tôm tăng sức đề
kháng đối với sự biến động của môi trường và sự nhiễm trùng [13] Giống như các động vật thủy sản khác, tôm có thể hấp thu và bài tiết chất khoáng trực tiếp từ môi trường vào nước thông qua mang và bề mặt cơ thể Vì vậy
Trang 15nhu cầu khoáng ở tôm phụ thuộc nhiều vào hàm lượng chất khoáng có trong môi trường tôm đang sống [16]
1.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu sản xuất tôm he chân trắng Penaeus
vannamei trên thế giới và Việt Nam
- Trên thế giới:
Năm 1933, tại hội nghị khoa học ở Mexico về sinh học và nuôi tôm
Fujinaga đã công bố công trình nghiên cứu về sản xuất nhân tạo P Japonicus Do thiếu hiểu biết ban đầu về đặc điểm dinh dưỡng của ấu trùng
tôm nên chỉ tồn tại được ở giai đoạn Z, chỉ có khoảng 10% chuyển sang giai đoạn M
Năm 1942, ông đã khám phá ra tảo silic Skeletonema costatum,
chaetoceros làm thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai đoạn Z đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn này lên đến 30% Đến năm 1946, ông đã nghiên cứu và tìm ra ấu trùng N của Artemia làm thức ăn rất tốt cho giai đoạn
M và hoàn thiện quy trình sản xuất giống và ương nuôi ấu trùng tôm he Nhật Bản Đây là cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên cứu và ứng dụng nuôi tôm ngày nay.[22]
Năm 1963, nhà nghiên cứu Hary Cook (người Mỹ) cùng với sự cộng tác
của Fujinaga đã cho đẻ và ương nuôi thành công các đối tượng P.Setiferat và P.Ortecus đồng thời xây dựng thành công quy trình bể nhỏ ở Mỹ Kể từ đó
được cải tiến và nhân rộng ở các nước khác như Philippin, Đài Loan, Thái Lan Cũng từ đây trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều đối tượng khác nhau (gần 20 loài thuộc giống Penaeus và 7 loài thuộc giống
Metapenaeus như P.Monodon, P.Semiculcatus, P.Merguiensis, P.orientalis, M.ensis)
Những năm 1990, dịch bệnh hội chứng đốm trắng lan rộng trên toàn cầu
Trang 16Đúng lúc đó, Tổ chức Nuôi tôm biển Mỹ đã phát triển dòng tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) sạch bệnh và giới thiệu đến châu Á Tôm chân trắng sạch bệnh nuôi trong ao đã được khử trùng liên tục cho năng suất cao Nông dân nhanh chóng chuyển từ tôm sú tự nhiên mang nhiều bệnh sang nuôi tôm chân trắng sạch bệnh.[22]
Với những ưu điểm vượt trội thì sản lượng tôm he chân trắng ngày càng chiếm vị trí hàng đầu trong nuôi và xuất khẩu tôm trên thế giới THCT (P.vannamei) được nuôi nhiều nhất ở châu Mỹ La Tinh Số lượng trại sản xuất tôm giống đứng đầu trên thế giới, với hơn 3500 trại Từ những năm 70
- 80 của thế kỷ trước THCT được nuôi ở Hawaii, phía Nam Carolia Taxas và phía Nam Brazil
Trong suốt 20-25 năm qua THCT trở thành đối tượng nuôi chính ở Châu
Mỹ La Tinh, Bắc và Trung Mỹ từ Mỹ đến Brazil
Trên thế giới, sản lượng THCT đứng thứ 2 sau tôm Sú nhưng ở Châu Mỹ sản lượng THCT đứng đầu Ecuado coi THCT là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực Châu Mỹ Một số nước như: Mexico, Panama, Peru…cũng có tình hình nuôi tương tự Ecuado Sau khi nhiều nước Châu Mỹ nuôi thành công và có hiệu quả cao, THCT được di giống sang Hawaii Từ đây THCT lan sang các nước Châu Á, Đông Nam Á [18]
Nhiều nước Đông Nam Á đã nhập THCT về nuôi như Philipin, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam…với hi vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm
XK để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm Sú hiện nay Năm 1994 ở các nước ASEAN có khoảng 3.700 trại tôm giống, mỗi năm cần
có ít nhất 96.000 tôm đẻ trứng để cung cấp cho các trại giống này sản xuất ra trên 54 tỷ ấu trùng tôm cung cấp cho thị trường nuôi tôm thịt.[18]
Trang 17Năm 2003, sản lượng nuôi tôm của châu Á đạt 1,35 triệu tấn, tăng 11%
so với sản lượng năm 2002 và tăng 15% so với sản lượng năm 2001 Riêng Trung Quốc đạt 390.000 tấn, tăng 15% sản lượng năm 2000 Tiếp đến là Thái Lan đạt 280.000 tấn, giảm 9% sản lượng năm 2000 Sản lượng tôm của Indonesia tăng và đạt 160.000 tấn Sản lượng tôm của Ấn Độ năm 2003 có thể đạt 150.000 tấn Thực tế, năm 2003 các nước châu Á dẫn đầu về sản lượng nuôi tôm trên thế giới, chiếm khoảng 86% sản lượng tôm trên thế giới Riêng tôm he chân trắng chiếm 42% sản lượng tương đương với tôm Sú.[18]
Theo FAO năm 2006, tổng sản lượng tôm he chân trắng năm 2006 đạt 2,13 triệu tấn tăng 15 lần so với năm 2000 Tôm he chân trắng chiếm 31% tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng trên thế giới
Hiện nay, loài tôm này đã được du nhập qua nhiều quốc gia trên thế giới
và đã tiến hành sản xuất giống, nuôi thương phẩm, kết quả thu được rất khả quan
- Tại Việt Nam:
Trước sự phát triển mạnh mẽ của THCT ở các nước khác trên thế giới thì ở Việt Nam những năm gần đây, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng cũng phát triển khá mạnh, đặc biệt ở miền Trung Tuy nhiên, nguồn tôm bố mẹ sử dụng cho sản xuất giống THCT ở VN chủ yếu nhập từ Thái Lan, Trung Quốc
và Malaysia (khoảng 80%), còn lượng tôm giống nhập từ Hawaii (Mỹ) chỉ chiếm khoảng 20% Do không chủ động nguồn giống, không kiểm soát được đầu vào nên chất lượng con giống đang là thách thức chính cho công nghệ
nuôi THCT ở VN
Từ năm 1996 - 1997 đã có dự án xin nhập giống THCT về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001 - 2002 Bộ Thủy sản (cũ) mới cho 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt
Trang 18Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống để nuôi thử.[15]
THCT được di nhập vào VN năm 2001 từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau như: Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan Từ đó đến nay, nghề nuôi THCT tại VN phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh một phần không nhỏ thị trường xuất khẩu Theo Vụ Nuôi trồng thủy sản, trước năm 2005, diện tích nuôi THCT của VN không đáng kể; đến năm 2010, diện tích nuôi THCT
đã lên đến 21.000 ha, tăng 30% so với năm trước THCT đã trở thành đối
tượng nuôi phổ biến tại các tỉnh miền Trung, trong đó có Khánh Hòa.[15]
Quy trình nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo, nghiên cứu sản xuất THCT bố mẹ chất lượng và sạch bệnh có nguồn gốc từ Hawaii phục vụ sản xuất giống nhân tạo, ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất giống THCT sạch bệnh Tuy nhiên, trong lĩnh vực di truyền chọn tạo đàn THCT bố mẹ chất lượng cao, khả năng kháng bệnh tốt trong điều kiện nuôi ở VN thì chưa có
một công trình nghiên cứu nào thực hiện thành công.[15]
Năm 2008, Tập đoàn chăn nuôi C.P Thái Lan – CPF - đã cho ra thế hệ tôm chân trắng CPF - Turbo CPF - Turbo là dòng bố mẹ mới, có sức đề kháng tốt với virus Taura, đặc biệt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn giống tôm thẻ chân trắng thời kỳ trước đến 45%, tỷ lệ sống trong trại giống cũng lớn hơn 60% và khi thả xuống ao đất tỷ lệ sống đạt hơn 80% Giống tôm này được nuôi thương phẩm ở Khánh Hòa năm 2008, năng suất trên 19 tấn/ha.[14]
Đến 12/2011, cả nước có 1.848 trại sản xuất giống tôm sú và 2.566 trại sản xuất giống THCT So với năm 2010, số cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ giảm đáng kể (bằng 76%), nhưng sản lượng đạt hơn 50,5 tỷ con (bằng 113%
năm 2010 và vượt 5% kế hoạch năm).[19]
Với diện tích nuôi thả như hiện nay, mỗi năm VN cần khoảng 20 - 25 tỷ con giống, năm 2012 nhu cầu con giống lên tới khoảng 50 tỷ con Như vậy,
Trang 19nguồn tôm giống sản xuất tại VN mới chỉ đáp ứng được rất ít so với nhu cầu thực tế Mặt khác, hiện nay, tôm giống chất lượng cao, sạch bệnh được sản xuất theo đúng quy trình và quy định còn quá ít, chỉ chiếm khoảng 10 - 15%
so với lượng tôm giống sản xuất trên thị trường.[15]
Diện tích thả THCT tăng nhanh dẫn đến giá giống THCT cũng leo thang theo, thậm chí cao hơn giá giống tôm sú Năm 2011, giống THCT chỉ
có giá 40-45đồng/con trong khi giống tôm sú có giá 60-65đồng/con Bước vào vụ tôm chính vụ năm 2012 này, giá giống THCT tăng vọt lên gấp 2-3 lần
và hiện đang ở mức 75-90đồng/con( riêng giống THCT của công ty CP có giá 120đồng/con) cao hơn so với giá tôm sú giống [20]
Ở Việt Nam hiện nay, các cở sở sản xuất tôm giống trải dài từ Bắc vào Nam nhưng trong đó có một số tỉnh thành đóng góp phần lớn lượng tôm giống cho cả nước như: Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Cà Mau, Bạc Liêu Tuy nhiên, hiện còn khá nhiều bất cập trong việc sản xuất tôm giống chất lượng cao và sạch bệnh
Hiện nay, Người nuôi tôm đang phải đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, nguồn giống hạn chế và chi phí tăng Vấn đề nổi bật đólà dịch bệnh đang bùng phát đã gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi Ngoài yếu tố khách quan như: khí hậu, thời tiết môi trường không thuận lợi thì việc thả nuôi sớm không đúng thời vụ, mật độ thả dày, chất lượng tôm giống không
đảm bảo…làm cho tình hình dịch bệnh khó kiểm soát hơn
Với tốc độ phát triển hiện nay, nếu các hạn chế được quan tâm khắc phục nhanh, đặc biệt là vấn đề tạo nguồn giống THCT tại chỗ, thích hợp với điều kiện môi trường, sinh thái của Việt Nam, THCT hoàn toàn có cơ hội đuổi kịp và sánh vai cùng tôm sú, tạo nên cỗ xe “song tôm” làm đầu tàu cho XK thủy sản của Việt Nam trong 3-4 năm tới
Trang 201.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm he chân trắng
Nuôi vi tảo làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản đã được phát triển từ
lâu đời Người đầu tiên tiến hành nuôi tảo là phamintsin 1871.Ông đã tiến hành nuôi tảo lục protococales Năm 1942, tiến sỹ Fujinaga người Nhật Bản với việc khám phá ra tảo silic Skeletonema costatum, Chaetoceros sp làm
thức ăn rất tốt cho ấu trùng ở giai đoạn Z đã nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng
ở giai đoạn này lên đến 30% Từ đó nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên
các đối tượng khác nhau: Penaeus monodon, Penaeus merguiensis, Penaeus indicus, Penaeus vannamei, các quy trình nước xanh lớn, quy trình
Gevaston dần được hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu nuôi vi tảo biển làm thức ăn cho các động vật thủy sản mới chỉ được tiến hành gần đây cùng với sự phát triển của nghề nuôi biển, mục đích cung cấp nguồn thức ăn cho nhu cầu sản xuất con giống của một số đối tượng như: Tôm Sú, Tôm Bạc, Điệp Quạt, Bào Ngư, Trai Ngọc, Cá Ngựa, Ốc Hương…
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm giai đoạn Zoea lên mysis, đặc biệt là ở giai đoạn Zoea Vì ở giai đoạn này ấu trùng mới tập làm quen với thức ăn bên ngoài nên chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường Hiện nay, các loài tảo sử dụng chủ
yếu để nuôi ấu trùng là Skeletonema costatum, Chaetoceros sp., Thalassiosira sp hoặc các loài tảo lục
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong vi tảo rất cao
Trang 21Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của tảo [23]
của trứng gà (albumin) Hydratecacbon 10 ÷ 30% Chủ yếu là các polysaccharide,
phospholipid: 10% lipid tổng số
Từ năm 2001 đến nay, Các công ty sản xuất tôm giống ở Việt Nam sử
dụng chủ yếu hai loại tảo làm thức ăn ương nuôi ấu trùng đó là Thalassiosira
sp và chaetoceros sp cho tỷ lệ sống cao
Tảo Thalassiosira weissflogii là một loài vi tảo thuộc tảo Nâu, tảo có
Tảo Chaetoceros sp là một loài vi tảo thuộc tảo Silic được nhập từ Úc,
đang được sử dụng cho nhiều đối tượng thủy sản nuôi nước mặn như tôm, cua, động vật thân mềm
Đây là loài tảo làm thức ăn tiên quyết cho ấu trùng tôm giai đoạn Zoea đến giai đoạn Postlarvae ( Fujinaga) Kích thước tảo từ 3 - 15μm phù hợp với kích cỡ miệng của ấu trùng tôm Thành phần của vi tảo bao gồm: Protein, carbonhydrate, lipid và các chất khoáng Những thành phần này tạo nên 90 - 95% trọng lượng khô của vi tảo Phần còn lại là các acid nucleic chiếm 5 -
Trang 221989) quyết định giá trị dinh dưỡng của vi tảo, hàm lượng acid béo không no
mạch đơn chiếm 2 - 40% và acid béo không no mạch dài (PUFA) chiếm 20 -
59% (L.V.Thịnh, 1999) Acid béo có vai trò rất quan trọng đối với ấu trùng giáp xác, động vật thân mềm, cá biển,… Ngoài ra, tảo Chaetoceros sp còn
chứa thành phần Omega 3 (EPA và DHA) không thể thiếu cho ấu trùng
Nauplius
Do đó tùy đối tượng nuôi và giai đoạn nuôi cụ thể để lựa chọn loài tảo nuôi phù hợp Tốc độ tăng trưởng của các động vật cho ăn bằng hỗn hợp các loài tảo khác nhau thường cao hơn các động vật chỉ cho ăn một loài tảo Một loài tảo cá biệt có thể thiếu một chất dinh dưỡng, trong khi loài tảo khác có thể chứa chất dinh dưỡng đó và thiếu chất dinh dưỡng khác
Trong quá trình phát triển của lĩnh vực sản xuất tôm giống người ta đã chế biến ra nhiều loại thức ăn nhân tạo để thay thế một phần tảo Ngoài các loài tảo trong sản xuất tôm giống còn sử dụng Artemia như là một nguồn thức
ăn tự nhiên đặc biệt quan trọng Vì Artemia là loài có kích thước phù hợp, hàm lượng HUFA cao rất quan trọng trong việc phát triển ban đầu hệ thần kinh của tôm, nó là tiền thân của nhiều hợp chất sinh học, hàm lượng acid béo mạch cao nối đôi có trong Artemia sinh khối đóng vai trò quan trọng trong quá trình ương nuôi ấu trùng tôm[8]
Theo Nguyễn Hải Âu (2004), cho thấy ở giai đoạn Zoea dùng thức ăn là tảo tươi, tảo khô kết hợp với thức ăn tổng hợp cho tỷ lệ sống cao 80 - 93 % Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Hữu Danh (2006), khi ương ấu trùng Zoea
với sự kết hợp các loại thức ăn như trên cho tỷ lệ sống đạt từ 65 -90 %
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Ấu trùng tôm He chân trắng (Penaeus
vannamei, Boone 1931) giai đoạn Zoea, Mysis
* Vật liệu nghiên cứu
- Các trang thiết bị, dụng cụ xác định các yếu tố môi trường như: khúc
xạ kế, test đo môi trường: độ kiềm, pH, máy đo độ mặn, nhiệt kế đo nhiệt độ…
* Thời gian nghiên cứu: 02/2012 – 04/2012
* Địa điểm nghiên cứu: công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam - xã
An Hải- Ninh Phước- Ninh Thuận
2.2 Nội dung của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tảo Thalassiosira welssflogii lên
thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tảo Chaetoceros sp lên thời gian
Trang 24- Nghiên cứu ảnh hưởng của sự kết hợp 2 loài tảo lên thời gian biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm
2.3 Phương pháp nghiên cứu
(cho ăn tảo Chaetoceros sp từ giai đoạn Zoea 1 đến Zoea 3, sau đó cho
ăn tảo Thalassiosira weifloggii)
- Điều kiện phi thí nghiệm: Nhiệt độ: 28 - 32oC, độ mặn: 29 - 31‰, pH: 7,5 - 8,5 đồng nhất giữa các lô thí nghiệm
Trang 25 Sơ đồ khối nghiên cứu
Mục tiêu của
đề tài
So sánh ảnh hưởng của các công thức thức
ăn đến thời gian biến thái và tỷ lệ sống của
ấu trùng tôm he chân trắng (Penaeus
vannamei) từ Zoea 1 đến Postlsrvae 1
Kết quả nghiên cứu
Kết luận
và kiến nghị Tên đề tài
Trang 262.3.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu nghiên cứu
* Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
*Phương pháp xác định thời gian biến thái
Theo dõi và xác định thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước đến thời điểm xuất hiện ấu trùng ở giai đoạn sau, từ đó tính được tổng thời gian chuyển giai đoạn
- Công thức tính: Tbt = T2 –T1
Trong đó: Tbt: Thời gian biến thái (giờ )
T1: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước ( giờ )
T2: Thời gian xuất hiện ấu trùng giai đoạn sau ( giờ )
Trong đó: T 1: số ấu trùng ban đầu thí nghiệm (con)
T 2: số ấu trùng sống ở giai đoạn sau (con)
Ts: Tỷ lệ sống tích lũy
Phương pháp xác định tỷ lệ sống theo giai đoạn
Công thức tính :
Trang 27N 1: số ấu trùng giai đoạn trước (con)
N 2: số ấu trùng sống ở giai đoạn sau (con)
Ns: Tỷ lệ sống theo giai đoạn
2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Số liệu được thu thập trực tiếp qua quá trình bố trí thí nghiệm
- Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Exxell 2007 và xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 16.0
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, độ mặn, NH3 có tác động trực tiếp đến đời sống, sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm Nhưng trong quá trình thí nghiệm những yếu tố này được kiểm soát, điều chỉnh trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của ấu trùng tôm Cụ thể, diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm được thể hiên ở bảng
NH3(mg/l)
Max Min Sáng
SD TB
Max Min
Chiều
SD TB Max Min
Sáng
DĐ Max
Chiều
DĐ Max
1
63 , 0 048
,
29
30 28
56 , 0 405 , 30
31 5 , 29
3 , 0 0 8 7 , 7
1 , 0 0
3 , 8 2 , 8
31 , 1 29 , 28
30 25
013 , 0 065 , 0
08 , 0 04 , 0
2
43 , 0 83
,
28
5 , 29
28
56 , 0 21 , 30
31 5 , 29
2 , 0 0
9 , 7 7 , 7
2 , 0 0
3 , 8 8
27 , 1 4 , 28
30 26
015 , 0 07 , 0
09 , 0 04 , 0
3
4 , 0 63
,
28
29 28
53 , 0 43 , 30 31 5 , 29
2 , 0 0 8 7 , 7
2 , 0 0 3 , 8 8
29 , 1 36 , 28 30 5 , 26
013 , 0 059 , 0
08 , 0 03 , 0
Trang 29gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của ấu trùng tôm giữa các công thức Giữa các bể ương nuôi nhiệt độ cũng dao động từ 0 - 0,50C Nhiệt độ trung bình ngày thấp nhất là 28,630C, nhiệt độ trung bình ngày cao nhất là 30,400
C, nhiệt độ buổi sáng thấp nhất là 280C, nhiệt độ buổi chiều cao nhất là 310
C Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nho (2002) ngưỡng nhiệt độ thích hợp cho ấu trùng tôm phát triển là từ 28 - 320
C Tương tự, ở khoảng từ 26 - 300C ấu trùng tôm thì khoảng nhiệt độ trong thời gian này là phù hợp cho ấu trùng tôm thẻ lột xác và sinh trưởng (Nguyễn Thành Vũ, Đào Văn Trí (2001))
* Độ mặn:
Nguồn nước cấp lấy từ biển vào được đưa qua hệ thống xử lý và điều chỉnh độ mặn thích hợp trước khi bơm vào các trại Do đó trong quá trình thực hiện đề tài độ mặn giữa các lần lặp chênh lệch không đáng kể Độ mặn trong các bể ương nuôi biến động từ 30‰ giảm xuống 25‰, là do trong quá trình ương nuôi những ngày về sau chúng tôi tiến hành thay nước hạ độ mặn xuống dần dần để ấu trùng phát triển nhanh hơn và đúng theo yêu cầu của khách hàng sau này
Theo viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, độ mặn thích hợp cho ấu trùng tôm sinh trưởng là từ 28 – 32‰, theo Nguyễn Hải Âu (2004) và Nguyễn Trọng Nho (2002) độ mặn thích hợp cho ấu trùng Zoea và Mysis từ
28 - 32‰
* pH:
Qua thời gian nghiên cứu và theo dõi chúng tôi nhận thấy: độ pH ở các
công thức có sự khác nhau, sự chênh lệch không nhiều và thường dao động trong khoảng từ 7,7-8,3 Theo nghiên cứu của các tác giả như Hoàng Thị Bích Đào (1995), Nguyễn Trọng Nho (2002), Nguyễn Hải Âu (2004) thì độ
Trang 30Như vậy, khoảng pH trong bể thí nghiêm như trên là thích hợp cho ấu trùng tôm he chân trắng lột xác và sinh trưởng
* NH 3 :
Hàm lượng NH3 trong các bể thí nghiệm có xu hướng tăng lên nhưng không đáng kể, tăng từ 0,03 - 0,09 mg/l (bảng 3.1) Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nho (1994) khoảng NH3 tối ưu cho tôm He ≤ 0,01 mg/l, khoảng tốt < 0,1 mg/l, khoảng chịu đựng ≤ 0,25 mg/l Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thì hàm lượng NH3 thích hợp cho ấu trùng tôm phát triển < 0,1 mg/l Như vậy, so với kết quả nghiên cứu của các tác giả thì hàm lượng NH3 trong các công thức thí nghiệm dao động trong khoảng tương đối phù hợp cho ấu trùng tôm phát triển
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng Mysis tôm he chân trắng
Tỷ lệ sống là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả sản xuất và việc xác định tỷ lệ sống cùng với tăng trưởng của ấu trùng là căn cứ để đảm bảo chế độ cho ăn
Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của ấu trùng Giai đoạn Zoea - Mysis được coi là giai đoạn khó khăn nhất trong quy trình sản xuất giống tôm He chân trắng, tỷ lệ chết thường cao do đó lựa chọn được loại thức ăn phù hợp để nâng cao hiệu quả trong sản xuất giống
Trang 31Bảng 3.2 Tỷ lệ sống từng giai đoạn ấu trùng tôm giai đoạn Zoea, Mysis
Z3-M1
76,79±1,13a 68,10±2,99b 84,55±1,08c M1-M2
74,07±1,75a 64,41±1,11b 82,58±1,37c M2-M3
Ở giai đoạn này, CT1 cho ăn tảo Thalassiosira weissflogii Lúc này tôm
còn bé, kích thước miệng tôm còn nhỏ so với kích thước tế bào tảo nên những con yếu có thể sẽ không bắt được mồi bị chết đi hoặc bị những con khỏe hơn
ăn thịt nên số lượng tôm bị hao đi, tỷ lệ sống thấp hơn so với CT3 và CT2 Bước sang giai đoạn từ Z2 – Z3 tỷ lệ sống tương đối cao nhưng so với đầu Z1 thì có xu hướng giảm mạnhvà có sự phân biệt rõ hơn so với giai đoạn trước đó Phân tích ANOVA và kiểm định LSD cho thấy sự sai khác có ý
Trang 32nghĩa thống kê giữa các công thức (P<0,05) Tỷ lệ sống cao nhất là ở CT3 (89%), kế đến là CT1 (84,79%) và CT2 cho tỷ lệ sống thấp nhất (76,96%) Đến giai đoạn Z3 - M1 , tỷ lệ sống tiếp tục giảm tương đối nhiều nhưng ít hơn so với giai đoạn Z1-Z2 Công thức 3 giảm ít nhất còn (89%), kế đến là công thức 1 (84,79%) và công thức 2 giảm nhiều nhất (76,96%), giữa các công thức thức ăn có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Tỷ lệ sống giữa các giai đoạn Zoea được thể hiện rõ qua biểu đồ sau:
Hình 3.1 Tỷ lệ sống giai đoạn Zoea của ấu trùng tôm
Giai đoạn Zoea là giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình ương nuôi,
nó đòi hỏi sự quan tâm chăm sóc tỷ mỷ của người nuôi về việc kiểm soát các yếu tố môi trường, dịch bệnh đến thức ăn cho ấu trùng …Yếu tố quyết định cho sự thành công đó là thức ăn
Nghiên cứu trước đây vào năm 1943 của tiến sỹ Fujinaga khi khám
phá ra tảo silic skeletonema costatum và chaetoceros sp cũng chỉ nâng được
tỷ lệ sống của tôm sú lên được 30% ở giai đoạn Zoea Như vậy, để tìm ra được loại thức ăn phù hợp cho ấu trùng tôm giai đoạn này là rất quan trọng,
nó quyết định thành bại của một vụ ương nuôi
Trang 33Hình 3.2 Tỷ lệ sống giai đoạn Mysis của ấu trùng tôm Giai đoạn Mysis tỷ lệ sống tuy có giảm dần giữa các công thức nhưng giảm ít hơn so với giai đoạn Zoea Khi phân tích phương sai và kiểm định LSD0,05 giữa các công thức đều có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Giai đoạn M1- M2: Công thức 2 sử dụng tảo chaetoceros sp làm thức
ăn dần dần không phù hợp cho sự phát triển của tôm do đó cho tỷ lệ sống thấp nhất (64,41%), công thức 3 sử dụng kết hợp hai loài tảo nên tỷ lệ sống
vẫn cao (82,58%) sau đó là công thức 2 sử dụng tảo Thalassiosira weissflogii
cho tỷ lệ sống (74,07%)
Bắt đầu từ giai đoạn này trở đi tôm ăn nhiều hơn so với giai đoạn Zoea nhưng chủ yếu thức ăn là artemia và thức ăn tổng hợp Do đó, lượng tảo cấp vào giảm dần để tránh trường hợp tảo tàn do tôm không ăn hết
Giai đoạn M2- M3: Tỷ lệ sống có giảm nhưng ít hơn, cao nhất vẫn là
CT3(80,71%), sau đó là CT2(72,51%) và cuối cùng là CT2(62,37%)
Trang 34Từ giai đoạn M3-PL1 tương tự giai đoạn M2-M3 thì tỷ lệ sống cũng
giảm dần nhưng ít: CT3 cao nhất(78,39%) đến CT1 (68,82%) và thấp nhất
có thể ăn thịt lẫn nhau
Theo Nguyễn Thanh Mai, Trịnh Hoàng Khải của Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh (2009) và Đào Văn Trí, Nguyễn Văn Hùng của Viện nghiên cứu NTTS III, Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Trung, Phòng Công nghệ sinh học(2009), nghiên cứu sử dụng tảo tươi làm thức ăn cho ấu trùng ở giai đoạn Zoea và Mysis cho tỷ lệ sống cao từ 42- 76% Như vậy, kết quả thu được hoàn toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu trên, chứng tỏ thức
ăn có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống của ấu trùng tôm