Trong tình hình này việc lựa chọn hướng đi theo con đường sử dụng các chế phẩm sinh học được xem là những giải pháp giúp cải thiện môi trường nước, tăng sức khỏe cho tôm, mặt khác còn hạ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập ở Công ty CP Việt Nam tại Quảng Trị, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ các thầy cô giáo, các anh kỹ sư, các bác công nhân trong công ty và các bạn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đợt thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô trong ngành Nuôi trồng thủy sản, khoa Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Trương
Thị Thành Vinh đã tận tình hướng dẫn tôi cũng như tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn trong lớp 49K - Nuôi trồng thủy sản, các bạn đồng nghiệp và gia đình tôi đã bổ sung ý kiến, tiếp thêm sức mạnh để tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Nguyễn Văn Quang
Trang 2THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Tên đầy đủ
L vannamei: Litopennaeus vannamei
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (penaeus vannamei) 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sinh sống 4
1.1.3 Hình thái và cấu tạo 4
1.1.4 Chu kỳ sống 5
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 7
1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam 12
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học 16
1.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học trên thế giới 16
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học ở Việt Nam 21
1.4 Tác dụng chủ yếu của chế phẩm sinh học trong ao nuôi 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Vật liệu nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
2.4.2 Sơ đồ nghiên cứu 27
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.4.3.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 28
Trang 42.4.3.2 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của tôm thẻ
chân trắng 28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.5.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.5.2 Thời gian nghiên cứu 31
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Kết quả theo dõi diễn biến của một số yếu tố môi trường ao nuôi 32
3.1.1 Sự biến động của hàm lượng Oxy hoà tan (DO) trong ao nuôi 33
3.1.2 Sự biến động của pH trong ao nuôi 34
3.1.3 Sự biến động của độ kiềm trong ao nuôi 35
3.1.5 Sự biến động của độ mặn trong ao nuôi 36
3.1.5 Sự biến động của độ trong ở trong ao nuôi 37
3.1.4 Amoniac (NH3) 38
3.3 Tỷ lệ sống của tôm ở các ao nuôi 39
3.3 Theo dõi tốc độ tăng trưởng 41
3.3.1 Tăng trưởng của tôm về khối lượng 41
3.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng bình quân tuyệt đối (AWR) về khối lượng 43
3.2.1.3 Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) về khối lượng 44
3.3.2 Tăng trưởng của tôm về chiều dài 46
3.2.2.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (AWR) về chiều dài 47
3.2.2.3 Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) về chiều dài 48
3.2.2.3 Sự đồng đều của quần thể tôm nuôi 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
Kết luận 53
Kiến nghị 53
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng 4
Bảng 1.2 Sản lượng tôm thẻ chân trắng ở châu Mỹ La Tinh 9
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng Việt Nam 13
Bảng 1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn bổ sung ấu trùng tôm thẻ chân trắng 19 Bảng 1.5 Năng suất ao nuôi cá có xử lý chế phẩm vi sinh 19
Bảng 2.1 Đặc điểm của ao thí nghiệm 25
Bảng 2.2 Cách xác định các yếu tố môi trường 28
Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong các ao nuôi 32
Bảng 3.4 Tỷ lệ sống của các CT thí nghiệm theo ngày nuôi 40
Bảng 3.5 Tăng trưởng về khối lượng trung bình của tôm 41
Bảng 3.6 TĐTT bình quân tuyệt đối về khối lượng (g/ngày) 43
Bảng 3.7 Tốc độ tăng tương đối (SRG) về khối lượng 44
Bảng 3.8 Tăng trưởng về chiều dài trung bình của tôm 46
Bảng 3.9 TĐTT tuyệt đối về chiều dài 47
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài 48
Bảng 3.11 % CV theo khối lượng của tôm nuôi 50
Bảng 3.12 Hệ số chuyển đổi thức ăn ở các công thức thí nghiệm 51
Bảng 3.13 Hiệu quả sản xuất 51
v
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) 3
Hình 1.2 Vòng đời của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) 6
Hình 1.3 Sản lượng tôm thẻ thế giới 11
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 27
Hình 3.1 Đồ thị diễn biến hàm lượng Oxy hòa tan buổi sáng 34
Hình 3.2 Đồ thị diễn biến hàm lượng Oxy hòa tan buổi chiều 34
Hình 3.3 Diễn biến của độ kiềm theo ngày nuôi 36
Hình 3.4 Đồ thị diễn biến độ mặn theo ngày nuôi 36
Hình 3.5 Đồ thị diễn biến độ trong theo ngày nuôi 37
Hình 3.6 Diễn biến NH 3 theo ngày nuôi 38
Hình 3.7 Tỉ lệ sống của ở các ao thí nghiệm 40
Hình 3.8 Tăng trưởng về khối lượng trung bình của tôm 42
Hình 3.9 TĐTT bình quân tuyệt đối về khối lượng của tôm 44
Hình 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối ( SGR) về khối lượng 45
Hình 3.11 Tăng trưởng về chiều dài trung bình của tôm 46
Hình 3.12 TĐTT bình quân tuyệt đối (SWG) về chiều dài 48
Hình 3.13 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài 49
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn sự phân đàn của tôm 50
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thủy sản của nước ta đang
có những bước phát triển mạnh mẽ Trong các đối tượng nuôi thì tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei) là sự lựa chọn hàng đầu của người nuôi
nhằm phục vụ người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Sự lựa chọn tuyệt đối đó là do chúng có những ưu điểm hơn hẳn các loài tôm khác như: Thịt thơm ngon và chắc, giàu dinh dưỡng, phần thịt chiếm trên 60% trọng lượng thân, vỏ mỏng, mau lớn, thời gian vụ nuôi ngắn (giảm thiểu rủi ro trong quá trình nuôi), có thể nuôi 1 đến 3vụ/năm, thích nghi được với biên độ nhiệt độ,
độ mặn rộng hơn (có thể nuôi được ở nước mặn, nước lợ, nước ngọt), có sức chịu đựng với sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ Điều quan trọng nhất là tôm thẻ chân trắng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở nước ta, mùa sinh sản dài, thành thục và đẻ trứng nhiều lần hơn trong một năm, có sức đề kháng với virut đốm trắng khỏe hơn Là đối tượng nuôi có triển vọng ở nhiều nước Chỉ khoảng 60 đến 90 ngày thì ta có thể hoàn tất một vụ nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng, tôm chân trắng được thị trường thế giới ưa chuộng Ở Trung Quốc, năm 2001, cơ cấu tôm nuôi đã được chuyển đổi theo hướng tăng nhanh sản lượng tôm chân trắng, góp phần đưa sản lượng lên 30 vạn tấn tôm nuôi, đứng đầu thế giới [7]
Năng suất cao và giá cả ổn định đã khiến người dân tập trung vào nuôi tôm thẻ chân trắng một cách ồ ạt thiếu quy hoạch và quản lý đồng bộ Chỉ sau một vài năm thắng lợi thì nay tình hình chất lượng nước giảm sút và dịch bệnh đã trở nên nghiêm trọng Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh, hoá chất để xử lý môi trường và phòng trừ bệnh dịch trong nuôi tôm thâm canh
và bán thâm canh ngày càng được mở rộng nhưng không có những quy định nghiêm ngặt về liều lượng và cách sử dụng chúng (Lin, 1989) Điều này đã
Trang 8có tác động không nhỏ đến nuôi trồng thủy sản và rủi ro liên quan đến bệnh dịch và an toàn vệ sinh thực phẩm gây bất lợi cho xuất khẩu mặt hàng này
Trong tình hình này việc lựa chọn hướng đi theo con đường sử dụng các chế phẩm sinh học được xem là những giải pháp giúp cải thiện môi trường nước, tăng sức khỏe cho tôm, mặt khác còn hạn chế được việc sử dụng các chất kháng sinh Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều loại chế phẩm sinh học được sử dụng trong ao nuôi tôm như: Super vs, Bio Plus, pH fiser, Hi_Pro, PR 300N Power back, Ecomarin, Epicin nhưng việc sử dụng chế phẩm sinh học nào để có thể cho hiệu quả kinh tế cao đồng thời nâng cao chất lượng sinh thái môi trường đó là một vấn đề cần nghiên cứu [3]
Với những yêu cầu đó và được sự chấp nhận của Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư trường Đại Học Vinh và giáo viên hướng dẫn tôi xin thực
hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hai loại chế phẩm sinh học Bio plus và Super vs trong quy trình nuôi thương phẩm tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei) của công ty CP Việt Nam tại Hải
Lăng - Quảng Trị”
Mục tiêu:
Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng Super VS, Bio plus và việc sử dụng kết hợp Super vs và Bio plus đến chất lượng nước ao nuôi, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng (penaeus vannamei)
1.1.1 Hệ thống phân loại
Ngành chân khớp: Athropoda
Lớp giáp xác : Crustacea
Bộ mười chân : Decapoda
Phân bộ chân bơi : Nantatia Liên họ tôm he: Penaeoidea
Họ tôm he : Penacidae Giống tôm he: Penaeus
Loài tôm thẻ chân trắng : Litopenaeus vannamei
Tên thường gọi : Tôm thẻ chân trắng
Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
Trang 101.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sinh sống
Tôm thẻ chân trắng (L vannamei) là loài tôm biển, có nguồn gốc từ
vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương, từ Mexico đến miền Trung Perru nhiều nhất là ở Ecuador Là loài tôm có tính thích nghi rộng, không những phát triển rộng rãi ở châu Mỹ mà còn phát triển ở Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, [1]
Ấu trùng và tôm con của loài tôm chân trắng phân bố tập trung ở cửa sông, ven bờ, nơi giàu sinh vật thức ăn, do tác động cơ học của thuỷ triều
Tôm trưởng thành phân bố ngoài khơi và có tập tính di cư sinh sản theo đàn Ban ngày tôm sống vùi trong bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn
Bảng 1.1 Điều kiện môi trường thích hợp đối với tôm chân trắng
C – 35oC) Nuôi trong phòng thí nghiệm rất ít thấy chúng ăn thịt lẫn nhau [4]
1.1.3 Hình thái và cấu tạo
Quan sát hình thái bên ngoài của tôm chân trắng gồm các phần:
Trang 11- Chủy: Là phần kéo dài tới bụng thường có 2 - 4 (đôi khi 5 – 6) răng cưa ở phía bụng
- Vỏ giáp: Có gai, gân và râu rất rõ, không có gai mắt và đuôi
- Bụng: Có 6 đốt, 3 đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không
có, gai đuôi không phân nhánh
- Râu: Không có gai phụ, chiều dài râu ngắn hơn so với vỏ giáp
- Anten: Là cơ quan khứu giác và thăng bằng của cơ thể
- 3 cặp chân hàm: Giúp tôm ăn và bơi
- 5 cặp chân ngực: Giúp tôm bò tìm và gắp thức ăn
nở thành ấu trùng Nauplius sau 14 - 15 giờ Tuy nhiên thời gian biến đổi qua các giai đoạn ấu trùng phụ thuộc vào nhiệt độ nước [12]
Vòng đời của tôm thẻ chân trắng
Tôm ấu niên và thiếu niên sinh trưởng ở vùng nước lợ cửa sông nơi có
độ mặn thấp (0 – 15 ‰) Đến giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần đầu thì chúng sống ở vùng triều ở độ
Trang 12sâu khoảng 7 – 20 m nước, nhiệt độ từ 26 – 28oC, độ mặn cao (> 35 ‰) và nền đáy phù hợp để tiến hành giao vỹ và đẻ trứng Đối với những con trưởng thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng di chuyển ra vùng biển khơi ở độ sâu khoảng 70 m nước và tham gia sinh sản tại đây Trứng và
ấu trùng M sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng nước trôi dạt vào
bờ Khi đến vùng triều thì ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn PL và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vào vùng cửa sông, phát triển thành ấu niên và tiếp tục vòng đời của chúng [1]
Hình 1.2 Vòng đời của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) 1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm chân trắng là loại tôm ăn tạp giống như các loại tôm he khác, thức
ăn của nó cũng cần các thành phần: protein, glucid, lipid, vitamin và muối khoáng… Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn bình thường, lượng thức ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn ướt) Thức ăn cho tôm chân trắng cần hàm lượng đạm 35-38% trong khi đó tôm sú cần 40% protein
Giai đoạn ấu trùng: Do tập tính sống trôi nổi bắt mồi thụ động bằng các
đôi phụ bộ nên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng Thức ăn mà ấu trùng sử
dụng trong thuỷ vực tự nhiên là các loài tảo khuê (Skeletonema,Cheatoceros ),
Trưởng thành
Trang 13luân trùng (Brachionus plicatilis), vật chất hữu cơ có nguồn gốc động và thực vật (Microplankton và Microdetritus) Ngoài ra trong sản xuất giống nhân tạo,
các loại thức ăn như: ấu trùng Artemia, thịt tôm, thịt cá, mực, lòng đỏ trứng gà, thức ăn công nghiệp
Giai đoạn tiền trưởng thành: Trong thuỷ vực tự nhiên tôm tiền
trưởng thành sử dụng các loại thức ăn như giáp xác nhỏ (ấu trùng Ostracoda, Copepoda, Mysidacca), các loài nhuyễn thể (mollues) và giun nhiều tơ (Polychaeta) Khi ương tôm bột lên tôm giống, thức ăn có thể phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau Nhu cầu dinh dưỡng về đạm, đường,
mỡ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm Lượng đạm thô cần cho tôm giống từ 30 - 35% và tôm thịt từ 25 - 30%
Giai đoạn tôm trưởng thành: Giai đoạn này tôm sử dụng các loại
thức ăn như giáp xác sống đáy (Benthic crustacean), hai mảnh vỏ (Bivalvia), giun nhiều tơ và các loại ấu trùng của động vật đáy [8]
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Tôm thẻ chân trắng (L vannamei) nhỏ hơn tôm sú, nhưng nó phát
triển nhanh hơn ở 60 ngày đầu, 90 - 100 ngày đạt 15 - 20 g/con trong khi đó tôm sú trong 120 ngày đạt tới 35 - 40 g/con
Khác với sinh trưởng mang tính liên tục ở cá, sinh trưởng của tôm mang tính giai đoạn, đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng Tôm muốn tăng kích thước phải tiến hành lột xác và quá trình này thường tùy thuộc vào dinh dưỡng, môi trường nước và cả giai đoạn phát triển của cá thể Tôm còn nhỏ khi thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 - 2 ngày, lớn hơn cần 6 - 7 ngày, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực Nuôi
60 ngày có thể đạt đến thương phẩm, nhưng người ta thường thu hoạch 100 -
120 ngày đạt cỡ tôm trung bình 17 – 18 g/con
Trang 14Ở rất nhiều trại nuôi, người nuôi nhận thấy tôm cái phát triển nhanh hơn tôm đực trong cùng thời gian nuôi, tỷ lệ chênh lệch này khoảng 9 : 10 hoặc 9,5 : 10 [15]
Ngoài ra, cũng giống như nhiều loài tôm he khác, vào mùa Hè thì tôm tăng trưởng nhanh hơn vào mùa Đông
Một điều quan trọng nữa cần lưu ý cho người nuôi là tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng phụ thuộc lớn vào mật độ thả giống Với các mật độ thả giống khác nhau từ 30 – 100 con/m2, người nuôi sẽ không quan sát được sự khác biệt nào về tốc độ tăng trưởng trong tháng nuôi đầu tiên, nhưng kể từ tháng thứ 2 trở đi, người ta dễ dàng nhận thấy độ lớ của đàn tôm nuôi thả ở mật độ cao khoảng 100 con/m2
chậm lớn hơn nhiều so với đàn tôm thả ở mật độ 30 – 50 con/m2
[14]
1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Lịch sử nghề nuôi tôm trên thế giới đã có từ rất lâu đời Ban đầu, tôm nuôi bằng các loài tôm sẵn có tại địa phương Đã có hơn 20 loài tôm được nuôi trên toàn thế giới ở cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt Ở châu Á, tôm
sú (Panaeus monodon) chiếm ưu thế, trong khi đó tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) Thái Bình Dương chiếm ưu thế ở phương tây Tuy
vậy, nghề nuôi tôm công nghiệp mới bắt đầu phất triển từ những năm 30 của thế kỷ XX và thực sự phát triển vào những thập niên 80 của thế kỷ XX
Vì thời điểm này nhu cầu con giống được cung cấp đầy đủ cho nuôi tôm
Xuất xứ của tôm chân trắng (TCT) là từ vùng Nam Mỹ chạy suốt từ Peru cho đến Mexico Vào những năm 1970, được đưa vào các vùng đảo ở Thái Bình Dương, tới đầu năm 1980, được nuôi ở các vùng nước Mỹ và quanh khu vực Suốt thời gian dài 20 - 25 năm, là loại tôm chủ lực nuôi trong khu vực này Việc phát triển nuôi TCT được đánh dấu bằng việc sinh sản nhân tạo thành công lần đầu tiên vào năm 1973 ở Florida Từ
Trang 15nguồn tôm bố mẹ khai thác tự nhiên ở panama đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng nghề nuôi loài này ở Trung Nam Mỹ và Hawaii từ 1976
Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng lúc đầu đứng hàng thứ hai sau tôm sú nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn(1990), 132.000 tấn(1992), 191.000 tấn(1998) và đạt gần 200.000 tấn năm 1999 Ecuador coi nuôi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991
là 103.000 tấn Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus) sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998), 130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000)
Bảng 1.2 Sản lượng tôm thẻ chân trắng ở châu Mỹ La Tinh
Quốc gia
Năm
2007 (tấn/năm)
2008 (tấn/năm)
2009 (tấn/năm)
2010 (tấn/năm)
2011 (tấn/năm) Ecuador 164000 180000 140000 145000 148000 Mexico 117000 120000 130000 91500 120000 Brazil 63000 68000 68000 72000 82000
Venezuela 18000 16000 18000 20000 15000
(Nguồn:The Global Magazined for Farmed Seafood)
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng có tình hình phát triển tương tự Ecuador Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm chân trắng được di giống sang Hawai Từ đây TCT lan sang châu Á, Đông Nam Á Nhiều nước Đông Nam Á đã nhập tôm chân trắng để nuôi như: Trung Quốc, Philippin, Inđônêsia, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú hiện nay
Trang 16Tôm chân trắng được nhập khẩu vào châu Á vì người ta nhận thấy một số loại tôm bản địa chủ yếu hiện đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăng trưởng chậm và có khả năng mang bệnh Việc khoanh vùng nuôi tôm chân trắng khép kín và sự phát triển của các dòng giống TCT chọn lọc và thuần hóa đã đưa TCT trở thành đối tượng quan tâm lớn của ngành nuôi tôm thời kỳ hiện nay Trên phạm vi toàn cầu, tôm chân trắng đang chiếm tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới
Ở châu Á, trong giai đoạn từ 2001 - 2006, tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định, thì tôm TCT vọt lên 1,5 - 1,6 triệu tấn (năm 2006) và đạt 1,8 triệu tấn (năm 2009) Đặc biệt, việc gia tăng nhanh sản lượng TCT là
do các nước đã sản xuất được tôm bố mẹ sạch bệnh và áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng tôm Đặc biệt ở Thái Lan trong năm 2004 sản lượng tôm chân trắng đã đạt tới 300.000 tấn, chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất tôm biển với sản lượng chiếm xấp xỉ 80%
Còn tại Philippines, Bộ Nông nghiệp nước này cũng đã dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu và nuôi TCT sau những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy việc nuôi tôm chân trắng hiệu quả cao, lại không đe dọa môi trường, góp phần đa dạng sinh học
Tôm chân trắng được thế giới công nhận là một trong ba loài tôm he nuôi có nhiều ưu điểm, có thể nuôi theo nhiều hình thức như bán thâm canh, thâm canh và nuôi công nghiệp trong các ao đầm nước mặn lợ
Trang 17Hình 1.3 Sản lượng tôm thẻ thế giới
(Nguồn:The Global Magazined for Farmed Seafood)
Năm 2011 giá tôm trên thế giới có thể tăng 10% sau thảm họa sóng thần Báo Wall Street Journal (Mỹ) ngày 11 - 1 đăng bài viết nhận định rằng ngành nuôi tôm của Thái Lan và Ấn Độ, hai nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, bị ảnh hưởng nghiêm trọng của đợt sóng thần vừa qua Nhiều trại ươm giống và nuôi ấu trùng tôm ở ven biển hai nước này bị phá huỷ hoàn toàn
Theo dự đoán của ông Somsak, giá tôm xuất khẩu sẽ tăng khoảng 10%, trong khi một chuyên gia khác về tôm cũng cho rằng mức tăng này
có thể là 15%
Giá tôm tăng sẽ tác động mạnh nhất tới thị trường Mỹ, nơi trung bình mỗi người dân trong năm 2003 tiêu thụ tới 2 kg tôm và cua, trong khi ngành tôm nội địa của Mỹ đang bị suy yếu nghiêm trọng với lượng cung cấp mỗi năm vào khoảng 100.000 tấn, chỉ đáp ứng chưa đầy 15% nhu cầu của thị trường
Trang 181.2.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á
du nhâp giống tôm thẻ chân trắng, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này chậm so với nhiều nước trong khu vực Từ năm 1996 - 1997, một việt kiều Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống tôm thẻ chân trắng về nuôi tại Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001- 2002 Bộ Thủy Sản mới cho 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con giống SPF để nuôi thử nghiệm
Từ năm 2002, do bị thiệt hại trong nuôi tôm sú, nhiều địa phương
ở phía Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và thu được kết quả tốt Nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ngày 25/1/2008 đối tượng này được phép đưa vào
nuôi ở các tỉnh phía nam trong vùng quy hoạch và theo điều kiện nhất định
Theo thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, từ cuối năm
2000, tỉnh Ninh Thuận thành công với mô hình nuôi tôm trên cát Với vài ha lúc đầu, chỉ sau 2 năm, diện tích nuôi tôm tăng lên 200 ha, dẫn đầu cả nước
về diện tích nuôi Từ sự thành công của Ninh Thuận, hàng loạt các tỉnh duyên hải miền Trung đều kêu gọi được những dự án lớn đầu tư vào nuôi tôm trên cát Trong đó nổi lên là dự án đầu tư hơn 2.200 ha để nuôi tôm trên cát của công ty Việt Mỹ tại Quảng Trị và dự án 2.000 ha nuôi tôm trên cát tại Lệ Thủy (Quảng Bình)
Cũng trong thời gian đó, Bộ Thủy Sản (nay là Bộ NN&PTNT) đã khuyến cáo người dân không nên phát triển rộng diện tích tôm thẻ chân trắng vì lo sợ sự phát triển thiếu bền vững, phần khác do nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu chưa quan tâm đến mặt hàng này
Từ năm 2006, Bộ Thủy Sản (trước đây) đã cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng bổ sung tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Ninh đến Bình Thuận
Trang 19nhưng vẫn cấm nuôi đối tượng này ở các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL vì
lo không kiểm soát được dịch bệnh, để lây lan sang các đối tượng nuôi khác
Bảng 1.3 Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng Việt Nam
Diện tích(ha) 1710 4000 8000 14500 25300 Sản lượng (tấn) 10000 30000 50000 89500 135000
Nguồn: www.dostquangtri.gov.vn
Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thế giới đang có nhiều biến động,
xu thế tiêu dùng các nước chuyển sang tiêu thụ tôm thẻ chân trắng của Thái Lan, Trung Quốc, sản phẩm tôm sú nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới Ở trong nước diện tích nuôi tôm sú bị nhiễm bệnh ngày càng nhiều, hiệu quả sản xuất thấp
Do vậy, ngày 25/1/2008, Bộ NN&PTNT đã ban hành Chỉ thị số 228/CT-BNN&PTNT cho phép nuôi TTCT tại vùng ĐBSCL nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu, giảm bớt áp lực cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của các nước trong khu vực và trên thế giới Từ một số
mô hình nuôi thành công, hiện tôm thẻ chân trắng đang ngày càng được các
hộ nuôi thủy sản quan tâm và phát triển
Ở Việt Nam, tôm giống bố mẹ CPF-Turbo đã được nhập từ Charoen Pokphand Foods (CPF) để sản xuất ở các trại giống C.P ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Định, Nghệ An và Bến Tre từ tháng 8/2008 Các kết quả thu nhận được từ trại nuôi tôm thương phẩm ở Ninh Lộc (Ninh Hòa, Khánh Hòa) cho đợt thả nuôi tôm thẻ chân trắng CPF-Turbo đầu tiên tại Việt Nam trên 3 ao nuôi cho phép khẳng định được ở Việt Nam đã có thể nuôi tôm thẻ
Trang 20chân trắng đạt kích cỡ 40 con/kg trong thời gian chưa đến 4 tháng và giống tôm thẻ chân trắng CPF-Turbo rất thích nghi với điều kiện nuôi ở Việt Nam
Mặc dù mới được phép nuôi trên địa bàn cả nước 3 năm, sản phẩm tôm thẻ chân trắng đã đóng góp ngày càng quan trọng cho XK thủy sản Việt Nam Giá trị XK của riêng tôm thẻ chân trắng năm 2010 đã đạt 414,6 triệu USD, tăng gấp rưỡi so với năm 2009, bằng 20% giá trị XK tôm nói chung và bằng 8% tổng giá trị XK tất cả các sản phẩm thủy sản trong năm Thị phần của một loài như vậy là không hề nhỏ Ở đây chưa nói đến một sản lượng đáng kể tôm thẻ chân trắng tiêu thụ nội địa và XK tiểu ngạch
Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị XK chứng tỏ tôm thẻ chân trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy sản nuôi ở Việt Nam
Trên những thuận lợi đó thì hiện nay nuôi tôm thẻ chân trắng đang gặp khó khăn nữa đó là tình hình dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi Tôm nuôi ở nhiều nơi bị chết hàng loạt Tình hình dịch bệnh của tôm thẻ: một số vùng nuôi tôm thẻ chân trắng như Ninh Hòa và Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) với tổng số diện tích lên đến 170 ha Bệnh đốm trắng, đỏ thân cũng rải rác xuất hiện ở một số vùng nuôi tại các tỉnh và làm thiệt hại ở một số vùng như: Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị) 3ha; Thăng Bình 1, Duy Xuyên, Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam) 14 ha; Đức Phổ, Mộ Đức (tỉnh Quảng Ngãi) 15 ha Phù Mỹ, Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định) 7 ha; Tuy An, Đông Hòa (tỉnh Phú Yên) 336 ha; Ninh Phước, Thuận Nam (tỉnh Ninh Thuận) 29,4 ha [23]
Ngoài ra một số vùng nuôi tôm thẻ bắt đầu xuất hiện dịch bênh do môi trường, theo thống kê cho thây ở các vùng nuôi Phù Cát, Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) đã có 20 ha diện tích tôm thẻ chân trắng bị bệnh do môi trường
Tại Bến Tre, dịch bệnh đốm trắng trên tôm sú, tôm thẻ chân trắng gây thiệt hại 208 ha thâm canh và bán thâm canh; xảy ra nhiều nhất ở huyện Bình Đại: 174 ha, tôm chết tập trung từ 20 - 65 ngày tuổi Có nhiều nguyên
Trang 21nhân dẫn đến tình hình dịch bệnh như hiện nay Một nguyên nhân không thể không nhắc đến là người nuôi không chủ động được nguồn nước “chuẩn” để nuôi tôm thẻ chân trắng Khi ao nuôi bị bệnh người nuôi xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, khi cấp nước lại lấy nguồn nước nơi đã thải ra Chính điều này đã làm cho dịch bệnh lây lan ra diện rộng làm thiệt hại lớn cho người nuôi
Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Quảng Trị
Nằm trong vùng Duyên Hải Miền Trung, tỉnh Quảng Trị có bờ biển dài 75km, ven bờ là dải cát trắng mịn, phía trong là những cồn cát cao, một
số rạn đá ngầm ven bờ có tác dụng chắn sóng, vừa là nơi cư trú cho những loài hải sản với vùng đất cát khoảng 34,732 ha Đây là tiềm lực lớn tạo điều kiện cho phát triển tôm thẻ chân trắng nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng
Tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi trên vùng đất cát Quảng Trị (năm 2004 ) với dự án của công ty Việt Mỹ Từ đó diện tích và sản lượng tăng lên đáng kể Năm 2009 tổng diện tích nuôi tôm trong toàn tỉnh là khoảng 461 ha, trong đó diện tích ở vùng cát ven biển là 201 ha, còn lại là vùng ven sông Tổng sản lượng tôm đạt 3.400 tấn (giá trung bình từ 60.000 – 110.000 đồng tùy thời điểm), năng suất đạt trung bình khoảng 10 tấn/ ha/vụ, cá biệt có hộ đạt 20 tấn/ha/vụ cho lãi khoảng 1 tỷ đồng/ ha/vụ [12]
Cùng thời gian đó, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra một số dịch bệnh đối với tôm thẻ chân trắng như bệnh đốm trắng đã xuất hiện tại vùng cát ven biển xã Triệu An (Triệu Phong), Đông Lễ, Đông Giang (TP Đông Hà) với diện tích khoảng 20 ha, gây thiệt hại khá nặng Ngoài ra bệnh NHP, bệnh đỏ thân xuất hiện cũng gây thiệt hại trên khoảng diện tích 15 ha của người dân Dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, rất khó ngăn ngừa
Theo Sở NN & PTNT, trong năm 2010, diện tích nuôi tôm ven biển sẽ tiếp tục tăng mạnh do giá tôm tăng cao, chỉ tính từ đầu năm 2010 đến hiện nay người dân đã đào thêm 30 ha mặt nước nuôi tôm [9]
Trang 22Trong thời gian qua, với thành cụng bước đõ̀u trong việc nuụi tụm thẻ chõn trắng trờn đất cỏt khụng chỉ giải quyết việc làm, xúa đúi giảm nghốo cho một bộ phận dõn cư vựng bói ngang ven biển mà cũn làm giàu cho nhiều
hộ nuụi đối tượng này Tuy nhiờn, một thực tế đặt ra ở đõy là nếu chỉ thấy hiệu quả trước mắt mà khụng cú sự quản lý, định hướng phỏt triển nuụi tụm trờn cỏt ồ ạt như hiện nay thỡ tất yếu sẽ dẫn đến ảnh hưởng khụn lường như tỡnh trạng sa mạc húa do tỡnh trạng khai thỏc nguồn nước ngõ̀m quỏ mức, tỡnh trạng lõy lan dịch bệnh Bờn cạnh những khú khăn gặp phải trong quỏ trỡnh sản xuất, hiện tại người nuụi tụm đang phải đối mặt với những khú khăn trong việc tiờu thụ sản phẩm Hõ̀u hết viờc tiờu thụ sản phẩm thụng qua
tư thương nờn bị ộp giỏ Do đú, trong thời gian tới ngành thủy sản cõ̀n phối hợp với cỏc cơ quan chức năng liờn quan cú những giải phỏp hợp lý để phỏt triển nghề nuụi tụm thẻ chõn trắng bền vững, hiệu quả
1.3 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu và sử dụng chế phẩm sinh học
1.3.1 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu và sử dụng chế phẩm sinh học trờn thế giới
Việc nghiờn cứu và ứng dụng cỏc vi sinh vật cú lợi để sản xuất cỏc chế phẩm sinh học phục vụ nuụi trồng thủy sản thỡ mới chỉ được đề cập trong những năm cuối của thế kỷ XX, khi nuụi trồng thủy sản trở thành nền kinh tế mũi nhọn ở nhiều quốc gia Tuy vậy, đến nay kết quả thu được cũng hết sức khả quan, ngày càng cú nhiều ứng dụng hiệu quả và thiết thực đúng gúp vào việc tăng năng suất và chất lượng thương phẩm của thủy sản thu hoạch
Từ thập kỷ 90, ng-ời ta đã sử dụng Probiotics trong các ao nuôi thuỷ sản Probiotics đ-ợc trộn vào thức ăn cho những ao nuôi cá Hồi (Hamid và ctv, 1978); giáp xác (Austin và Allen, 1982; Sharimila và ctv, 1996); động vật hai mảnh vỏ (Sugita và ctv, 1981)
Trang 23Những năm 1980, Maeda và Nagarmi đã phân lập vi khuẩn trong các
ao nuôi tôm và thấy rằng các vi khuẩn này đã giúp cải thiện tỷ lệ sống và sự tăng tr-ởng của ấu trùng tôm nuôi trong các bể -ơng
Yasuda và Taga (1980) đó bàn luận về vai trũ của VSV làm thức ăn cũng như khả năng kiểm soỏt sinh học với bệnh cỏ và trong chế biến thuỷ sản Trong năm này lõ̀n đõ̀u tiờn đưa ra khỏi niệm kiểm soỏt sinh học trong NTTS và từ đú đó cú nhiều cú gắng tiếp tục nghiờn cứu nõng cao vấn đề này
Năm 1989, Maeda và Nagami tiến hành “Nghiờn cứu một số khớa cạnh của phương phỏp kiểm soỏt sinh học trong NTTS” Trong nghiờn cứu này, họ đó theo dừi cỏc dũng VK cú hoạt tớnh ức chế vibrio và cải thiện tốc
độ sinh trưởng của ấu trựng tụm, cỏ Kết quả cho thấy mật độ VK Vibrio, spp mà gõy ra tổn thất lớn trong sản xuất ấu trựng đó giảm đi nhiều, tỷ lệ
sống của ấu trựng giỏp xỏc cũng cao hơn so với khi khụng bổ sung cỏc dũng
VK trờn, họ tin rằng khi bổ sung cỏc dũng VK này sẽ kỡm hóm tốc độ sinh
trưởng của Vibrio, spp, nấm và cỏc loài sinh vật là tỏc nhõn gõy bệnh khỏc,
từ số liệu của họ cho thấy khả năng sử dụng VK và nguyờn sinh động vật trong việc kiểm soỏt hệ sinh thỏi ao nuụi để duy trỡ mụi trường ao nuụi trong điều kiện tốt hơn và tăng sản lượng thu hoạch
Năm 1991, Porubcan đó bỏo cỏo hai cỏch “cố gắng xử lý” vi khuẩn để
cải thiện chất lượng nước và tăng năng suất của tụm sỳ Penaeus monodon
Năm 1992, Maeda và Liao đó dựng những dũng vi khuẩn phõn lập từ bựn đỏy ao nuụi tụm để tăng cường sự lột xỏc, sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trựng tụm sỳ [12]
Năm 1995, lõ̀n đõ̀u tiờn ngời ta cũng sử dụng thành cụng Probiotics trong nuụi tụm sỳ cụng nghiệp ở Ecuador
Austin và ctv 1995 bỏo cỏo về dũng CPSH của Vibrio alginolyticus
khụng gõy ra bất kỳ tỏc động cú hại nào lờn cỏ hồi Bằng việc sử dụng phương phỏp cấy chộo, loại chế phẩm này cho thấy khả năng ức chế cỏc tỏc
Trang 24nhân gây bệnh cá, khi bổ sung VK đã được làm lạnh khô vào môi trường có
một số loài VK gây bệnh như : V ordalii, V angilarum, A samonicida và Y ruckeri, cho thấy số lượng các tế bào VK nuôi cấy luôn giảm nhanh so với đối chứng Hiện nay, việc thử nghiệm CPSH dòng vibrio đang được khuyến
khích và có tiềm năng lớn trong việc áp dụng vào NTTS như một phương pháp kiểm soát dịch bệnh [2]
Năm 1996, Sugial và Shibuga tiến hành phân lập VK từ đường ruột của 7 loài cá nước ngọt và đã khám phá ra khả năng kháng khuẩn của chúng đối với 18 loài VK thường xuyên gây bệnh cho người và cá Những nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng VK được tách từ đường ruột 7 loài cá nuôi nước ngọt trên có khả năng kháng khuẩn và sự có mặt của VK đường ruột có thể bảo vệ cá chống lại tác động của các VK gây bệnh đường ruột
Gildberg và ctv 1997 thí nghiệm ở cá hương của cá tuyết ăn thức ăn
bổ sung vi khuẩn axit lactic (Carnobacterium divergens), kết quả sau 3 tuần
nuôi vi khuẩn axit lactic trong ruột đã làm tăng sức đề kháng với chủng gây
Bên cạnh đó chế phẩm sinh học cũng được sử dụng như một thức ăn
bổ sung nhằm tăng khả năng tiêu hoá thức ăn, tăng tỷ lệ sống (Rengpipat et al., 1998; Boyd et al., 1998; Takahashi et al., 1998) và tăng tốc độ sinh trưởng (Rengpipat, 1998)
Theo nghiên cứu so sánh sử dụng thức ăn bổ sung cho tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei) ở giai đoạn Postlave là Bacillus S11 và
Artermia của Rengpipat et al.,1998 nhận thấy rằng tôm sử dụng chế phẩm Bacillus S11 có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn
Trang 25Bảng 1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn bổ sung ấu trùng tôm thẻ chân trắng
Chủng Bacillus spp cũng được nghiên cứu dùng xử lý cho ao nuôi cá thuộc cá da trơn Thí nghiệm cho thấy: Không có sự sai khác cacbon ở đáy
và NO2- giữa ao có xử lý chế phẩm vi sinh và ao không xử lý Nhưng lại có
sự sai khác nhau về năng suất nuôi (Boyd et al., 1998)
Bảng 1.5 Năng suất ao nuôi cá có xử lý chế phẩm vi sinh
Tỷ lệ thả (con/ha)
Số lượng sống sót đến thu hoạch (con/ha)
Khối lượng trung bình cá thu hoạch (g)
Năng suất (kg/ha)
15.000
8425 - 2850
400 - 41
3301 - 838 1,82 - 0,36
Nguồn: Boydetal, (1998)
Sử dụng CPSH trong ao nuôi tôm, cá thâm canh đã tạo ra những khác biệt đáng kể về chất lượng nước và khả năng kiểm soát mầm bệnh, nhất là trong ao thâm canh theo hệ kín ít thay nước Giúp phân hủy các chất hữu cơ trong nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, hấp thu các khí độc như
NH3, H2S , cải thiện chất lượng nước, kích thích các sinh vật có lợi khác trong ao phát triển như: sinh vật phù du, sinh vật tự nhiên có lợi, làm giảm
sự gia tăng lớp bùn đáy ao Ngoài ra còn nâng cao khả năng miễn dịch của tôm cá (do kích thích tôm cá sản sinh ra kháng thể) và ức chế sự hoạt động
và phát triển của vi sinh vật có hại (do các loài vi sinh vật có lợi sẽ cạnh tranh thức ăn và tranh giành vị trí bám với vi sinh vật có hại) Trong môi
Trang 26trường nước, nếu vi sinh vật có lợi phát triển nhiều sẽ kìm hãm, ức chế, lấn
át sự phát triển của vi sinh vật có hại, do đó sẽ hạn chế được mầm bệnh phát triển để gây bệnh cho tôm cá Sau 2 tuần sử dụng Bacillus S11 làm thức ăn
bổ sung cho tôm Sú thấy tỷ lệ sống đạt 89%, ao nuôi không sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ sống đạt 85% (Rengpipat, 1998) Khi tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei) bị nhiễm khuẩn Vibrio harveyi, sử dụng chế phẩm
sinh học nhận thấy tỷ lệ sống sót là 40% so với 13% không sử dụng chế phẩm sinh học
Việc nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học để phòng bệnh cho đối tượng nuôi trồng thủy sản đặc biệt là tôm biển được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu khoảng hơn 10 năm trở lại đây Các nhà nghiên cứu đã tìm
ra các dòng vi khuẩn có lợi như dòng vi khuẩn GI có khả năng sản xuất ra các chất kháng sinh hoặc chất chống vi khuẩn có hạn chế mầm bệnh (Rengpipat et al., 1998) Do khả năng sinh sản nhanh chóng của các vi khuẩn vô hại chúng sẽ cạnh tranh và làm giảm sự phát triển các loại vi khuẩn gây bệnh, tiết ra men chống độc tố bệnh [6]
Sakai (1999), Sealay và Gatlin (2001) tiến hành hoạt hoá các VSV tự nhiên và các sản phẩm của chúng như lipolysaccharis và β - glucans để kích thích các tế bào trung gian của hệ thống miễn dịch ở các loài khác nhau Khi đưa các sản phẩm vào cơ thể bằng đường miệng không làm suy thoái hệ tiêu hoá, như vậy có thể sử dụng chúng như một chất kích thích miễn dịch tiềm năng để nâng cao khả năng đề kháng của vật nuôi
Đầu năm 2000, tại Ấn Độ, chế phẩm Super PS và Super NB đang được đánh giá là hiệu quả hơn cả đối với vùng nuôi bán thâm canh và nuôi quảng canh ở đây
Từ năm 2002 trở lại đây, các CPSH mới với nhiều tác dụng khác nhau được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình nuôi trồng thủy sản
Trang 27lõ̀n lượt được ra đời nhằm tiếp cận gõ̀n hơn với cỏc mụ hỡnh nuụi trồng thủy sản theo cụng nghệ sinh học
1.3.2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học ở Việt Nam
“Chế phẩm sinh học” có thể được định nghĩa như là sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, kể cả vi sinh vật, các thực liệu lấy từ nấm, vi trùng, virus
và các nguyên sinh; độc tố, nọc độc, từ nguồn động vật hoặc thực vật gây hại cho động vật để chuẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh cho thuỷ sản nuôi trồng
và xử lý môi tr-ờng n-ớc trong NTTS (Bộ thuỷ sản, 2002)
Việc sử dụng CPSH ở Việt Nam thực tế đ-ợc biết đến lần đầu tiên vào năm 1995 nh-ng việc sử dụng CPSH lúc đó còn rất hạn chế Tr-ớc khi sử dụng CPSH trong nuôi trồng thuỷ sản, CPSH đã đ-ợc biết đến trong sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và trong nuôi động vật trên cạn
để hạn chế tồn d- của hoá chất trong đất sản xuất nông nghiệp, ng-ời dân đã biết đến việc sử dụng các loại phân bón vi sinh và thuốc trừ sâu vi sinh Theo thời gian, hiệu quả của các sản phẩm vi sinh đã phát huy mạnh và ng-ời sử dụng đã nhận thấy những -u điểm v-ợt trội của nó, các sản phẩm vi sinh đang dần thay thế các sản phẩm hoá chất trong sản xuất nông nghiệp
Năm 2000, khái niệm “Probiotics” thực sự được biết đến trong NTTS Việc sử dụng các CPSH trong nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh đang ngày càng phát triển mạnh vơí mục đích tạo môi tr-ờng tốt cho tôm sinh tr-ởng và phát triển, làm giảm các độc tố trong ao xuống mức thấp nhất (chủ yếu là H2S, NH3)
Ngoài ra, các CPSH cũng đ-ợc sử dụng trong các ao nuôi cá, nh-ng do giá trị của cá không cao nên việc sử dụng chúng trong ao nuôi là hạn chế CPSH còn đ-ợc sử dụng rất nhiều trong các trại giống Trong các trại giống, CPSH đ-ợc sử dụng với mục đích làm tăng tỷ lệ sống, giúp tôm cá giống sinh tr-ởng nhanh, và đặc biệt để tạo cho chúng có cơ thể khoẻ mạnh, tăng sức đề kháng với những mầm phát sinh bệnh
Trang 28Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh về nuôi trồng thủy sản và cũng đang trong quá trình hội nhập với thế giới Ngoài việc nâng cao về sản lượng thủy sản thì cũng cần tạo ra những sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước Bên cạnh đó phải đảm bảo hạn chế tối thiểu những tác động lên môi trường sinh thái để hướng tới phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bền vững Để có được điều đó thì việc nghiên cứu
sử dụng các loại chế phẩm sinh học có lợi trong môi trường ao nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao là điều hết sức cần thiết
Hiện nay, có rất nhiều chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản đang được bán trên thị trường nước ta Theo Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản hiện có 152 loại thuốc thú y thuỷ sản có thành phần là chế phẩm sinh học của 66 Công ty sản xuất thuốc thú y thuỷ sản, có hơn 150 loại chế phẩm sinh học làm sạch môi trường và là thức ăn bổ sung với khoảng 40 Công ty kinh doanh mặt hàng này
Một số chế sinh học đang phổ biến trên thị trường Việt Nam:
- Super vs; Ph fixer; CP Bioplus; Hi_Pro; PR 300N; BIO 1; BIO 2; Aquabac; Aroenzym; Envi-bacillus; Sanabee plus; Pro oneaquasafe-50 (Thái Lan)
- Power back; Ecomarin; Epicin; BRF2; Ecotreat; Biobac M; Bioking
BM (Mỹ)
- Protexin; Bio-great; Envi-Restorer SAQ (Anh)
Tuy nhiên việc nghiên cứu sản xuất cũng như sử dụng có hiệu quả các chế chẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam còn rất ít, chỉ trong vài năm gần đây mới có một số đề tài liên quan đến việc nghiên cứu và sử
dụng CPSH như: Đề tài “Nghiên cứu lựa chọn bước đầu các chất thay thế một số hoá chất, kháng sinh và chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản” do Bùi Quang Tề thực hiện năm 2002 Năm 2003, Mai Văn Tài thực
Trang 29hiện đề tài “Điều tra đánh giá các loại thuốc, hoá chất và chế chẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thuỷ sản nhằm đề xuất giải pháp quản lý” Năm 2003,
Đặng Đình Kim và Vũ Văn Dũng thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ
xử lý bùn ao nuôi tôm góp phần làm sạch môi trường thuỷ sản và sản xuất phân bón hữu cơ - vi sinh
1.4 Tác dụng chủ yếu của chế phẩm sinh học trong ao nuôi
Theo Phạm Văn Tình (2002), khi sử dụng CPSH trong ao nuôi thuỷ sản, những tác dụng chủ yếu được đề cập là:
trong ao nuôi Làm giảm lượng Ammonium trong ao nuôi trực tiếp và chủ yếu do 2 loài vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter theo chu trình:
NH4 +
Giảm các mầm bệnh:
Các vi khuẩn trong CPSH chủ yếu là Bacillus spp, khi xuống ao chúng
phát triển số lượng lớn, cạnh tranh sử dụng hết thức ăn của nguyên sinh
động vật, các vi khuẩn Vibrio sp có hại, ngăn cản sự phát triển của chúng, từ
đó làm giảm nguyên nhân gây bệnh cho tôm, giảm các loại vi sinh vật như
Trang 30Vibrio spp, Aeromonas spp và các loại vi rus khác như: vius gây bệnh đốm
trắng, virus gây bệnh đầu vàng
Trong ao nhiều mùn bã sẽ sinh ra nhiều Nitrogen, từ đó làm nảy sinh
ra nhiều vi khuẩn Gram âm Các vi khuẩn Gram âm sẽ tiết lớp nhầy để lấy thức ăn, lớp nhầy này tồn tại dưới đáy ao sẽ ngăn cản sự khuyếch tán Oxy vào lớp bùn đáy, vì vậy, các chất thải ở dưới đáy ao không bị phân huỷ CPSH sẽ giúp làm sạch chất thải ở đáy ao, làm mất nơi sinh sống của các vi khuẩn gây bệnh Các loại CPSH còn có khả năng giải phóng enzyme trong nước, phá huỷ vách tế bào của Vi khuẩn Gram âm và virus
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tôm thẻ chân trắng: Litopenaeus vannamei (Boone,1931) giai đoạn
Trong thời gian nuôi: Tháng 1 - 2: 4 lít/ 1000m3/ tuần, 1 tuần/ lần
Trang 32Tháng 3 - 4: 4 lít/ 1000 m3/ tuần, 1 tuần 2 lần
- C.P Bio plus:
Thành phần: Bacillus subtilis ≥ 10 9
cfu/ml Bacillus licheniformis ≥ 10 9
cfu/ml Bacillus megaterium ≥ 10 9
+ Mật độ thả ban đầu: 120 con/m2
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng Super vs, Bio plus và sử dụng kết hợp Super vs và Bio plus trong quy trình nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng thông qua một số nội dung:
- Biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi
- Xác định tỷ lệ sống
- Xác định tốc độ tăng trưởng
- Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 33+ Công thức 1: Sử dụng kết hợp Super vs và Bio plus với tỷ lệ 1: 2
+ Công thức 2: Sử dụng chế phẩm sinh hoc Super vs
+ Công thức 3: Sử dụng chế phẩm sinh hoc Bio plus
2.4.2 Sơ đồ nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hai loại chế phẩm
sinh học Bio plus và Super vs trong quy trình nuôi
thương phẩm tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
của công ty CP Việt Nam tại Hải Lăng - Quảng Trị
Ao J4
Ao J3
Ao I5
Ao I4
1 Theo dõi các yếu tố môi trường ao nuôi thí nghiệm
2 Theo dõi tỷ lệ sống
3 Theo dõi tốc độ tăng trưởng của tôm
4 Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR
5 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Kết luận
CT2
Ao I1
Ao I2
Ao I3
Ao
J2
Ao I6
Trang 342.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 2.2 Cách xác định các yếu tố môi trường
pH Dùng máy đo pH 7 h và 14 h Ngày 2 lần Oxy hòa tan
(mg/l) Dùng máy đo Oxy 7 h và 14 h Ngày 2 lần
S m
Trong đó:
m: số tôm thu được bằng chài (con) S: diện tích mặt nước ao nuôi (m2
)
Trang 35s: diện tích chài (m2
) M: số tôm thả ban đầu (con)
* Phương pháp xác định sự tăng trưởng của tôm
Bắt đầu từ ngày nuôi thứ 30 thì bắt đầu định kỳ kiểm tra tôm 7 ngày kiểm tra một lần và kiểm tra 30 mẫu
- Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng:
+ Chiều dài toàn thân: là chiêu dài từ chủy đầu đến hết Telson
+ Khối lượng: xác định khối lượng trung bình một con/1 lần cân bằng cân điện tử độ chính xác 0,01g
SGR
Trong đó: W S: Là khối lượng ở thời điểm sau (g)
Wt: Là khối lượng ở thời điểm trước (g)
Lt: Là kích thước ở thời điểm trước (cm)
S
L : Là kích thước ở thời điểm sau (cm)
Trang 36 : Là khoảng cách giữa hai lần đo
* Đánh giá sự đồng đều của tôm:
tb W
SD
%
Trong đó: SD: Độ lệch tiêu chuẩn
Wtb: Khối lượng trung bình
* Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn
Tổng khối lượng thức ăn sử dụng trong vụ (kg) FCR =
Tổng khối lượng tôm thu hoạch (kg)
* Hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi Tổng thu = Tổng khối lượng tôm x đơn giá tại thời điểm thu hoạch
Tổng chi = Tiền con giống + thức ăn + thuốc, hóa chất + nhân công + khấu hao tài sản + chi phí khác
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học và được sử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2003 và SPSS Vesion 16.0
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.5.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 37Nghiên cứu được tiến hành tại Công ty CP Việt Nam tại Hải Lăng -
Quảng Trị
2.5.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 01/02/2012 đến ngày 27/04/2012
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả theo dõi diễn biến của một số yếu tố môi trường ao nuôi
Giá trị các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi đươc thể hiện qua bảng:
Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong các ao nuôi
Công thức
Chỉ tiêu
Theo dõi
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
Min- Max
X± δ
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
Min- Max X± δ
pH
7,2 - 8,1 7,4 - 8,8 7,1 - 8,2 7,3 - 8,5 7,4 - 8,9 7,5 - 8,0
DO
4,2 – 7,0 5.96±0,64
4,8 - 8,3 6,13±0,73
4 - 7,9 6.04±0,64
5,4 - 8,6 6,38±0.38
4,5 - 7,5 6,26±0,56
4,5 - 7,9 6,59±0,64
Độ kiềm
90 - 200 166,67±15,81
90 - 190 161,23±25,22
110 - 200 165,44±12,46
Độ mặn 25,43±5,26 22 - 34
23 - 34 26,34±3,44
25 - 37 30,63±5,48
Độ trong
25 - 60 42,38±9,58
24 - 57 38,83±9,35
22 - 57 35,37±6,83
Trang 39gắng điều chỉnh môi trường ao nuôi ở mức phù hợp nhất Các ao trong các nghiệm thức được chuẩn bị giống nhau về mọi khía cạnh như diện tích, độ sâu, chất đất, nguồn nước…cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chế độ chăm sóc quản lý như nhau đối với tất cả các ao nuôi Điều này rất quan trọng và cần thiết để điều chỉnh môi trường ao nuôi ở các nghiệm thức đến mức đồng đều nhất có thể nhằm đảm bảo mức độ chính xác của các công thức thí nghiệm
3.1.1 Sự biến động của hàm lượng Oxy hoà tan (DO) trong ao nuôi
Oxy là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của tôm cũng như các sinh vật khác Trong một hệ thống tôm nuôi năng suất cao thì việc duy trì hàm lượng oxy thích hợp là rất cần thiết và quan trọng để đảm bảo tốt cho sự phát triển của tôm Kiểm tra hàm lượng oxy trong ao nuôi nhằm theo dõi, đánh giá khả năng hô hấp, tình trạng sức khỏe và sử dụng thức ăn của tôm
Qua quá trình theo dõi ta thấy hàm lượng oxy hoà tan ở các công thức biến động không lớn và luôn giữ ở mức ổn định Hàm lượng oxy buổi sáng
và buổi chiều dao động không lớn lắm Ở CT1 hàm lượng oxy thấp nhất là 5.64 mg/l, CT2 là 5.62 mg/l còn ở CT3 là 4.43 mg/l Hàm lượng oxy cao nhất vào buổi chiều ở CT1 là 7.05 mg/l, CT2 là 6.53 mg/l còn ở CT3 là 6.34
ml/l
Ở giai đoạn đầu hàm lượng oxy là cao hơn vì ở thời điểm này vật chất tiêu hao oxy trong nước vẫn còn ít, ao nghèo dinh dưỡng Do các ao nuôi với mật độ tương đối cao (120con/m2) nên hàm lượng oxy ở giai đoạn cuối vụ nuôi là tương đối thấp, buổi sáng thấp nhất là 3,5mg/l và cao nhất vào buổi chiều cũng chỉ đạt ở mức 6 mg/l Hàm lượng oxy vào buổi sáng trung bình
cả vụ nuôi vào buổi sáng(>4mg/lit), vào buổi chiều(>6mg/lit) Nhưng công
ty cho chạy nhiều quạt, đồng thời thay nước để giảm mật độ tảo nên hàm lượng oxy cũng khá ổn định, hạn chế tối thiểu việc gây sốc tôm và vẫn đảm
Trang 40bảo cho sự phát triển bình thường của tôm Hàm lượng oxy ở các nghiệm thức thí nghiệm vẫn được điều chỉnh đồng đều từ đầu đến cuối vụ nuôi, mức
độ dao động oxy trong ngày cũng không đáng kể
Hình 3.1 Đồ thị diễn biến hàm lượng Oxy hòa tan buổi sáng
Hình 3.2 Đồ thị diễn biến hàm lượng Oxy hòa tan buổi chiều
Qua bảng ta dễ dàng nhận thấy hàm lượng oxy dao động khá ổn định
và giảm dần qua thời gian nuôi Hàm lượng oxy đều nằm trong ngưỡng thích hợp cho tôm phát triển
Khi so sánh kết quả này cao hơn nhiều so với kết quả của Lê Như Mạnh(2008) nghiên cứu tại Bình Thuận trên tôm sú là 4 – 6,5 ppm
3.1.2 Sự biến động của pH trong ao nuôi