Ông viết: “Có thể thấy những dấu ấn rõ rệt của một vốn văn hóa nhà trường và sách vở, một ảnh hưởng của cách suy tưởng trong thơ người này hay người khác” [40] và “Đoạn thơ Đất nước cũng
Trang 1NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG
phong c¸ch suy t-ëng
trong th¬ nguyÔn khoa ®iÒm
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN - 2012
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1 CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH SUY TƯỞNG TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 9
1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 9
1.1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 9
1.1.2 Cuộc sống sau chiến tranh 14
1.1.3 Công cuộc đổi mới của đất nước 17
1.2 Quê hương và gia đình 18
1.2.1 Nguyễn Khoa Điềm với trầm tích văn hóa kinh thành 18
1.2.2 Gia đình - nơi ươm mầm tài năng, tâm hồn điệu sống 20
1.3 Đời sống cá nhân 21
1.3.1 Tính cách và lối sống 21
1.3.2 Vốn sống, vốn văn hóa phong phú 25
1.3.3 Tài năng nghệ thuật 27
Chương 2 S UY TƯỞNG TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM THỜI CHỐNG MỸ 34
2.1 Cảm hứng sáng tạo 34
2.1.1 Hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc 34
2.1.2 Ngợi ca truyền thống lịch sử dân tộc 40
2.1.3 Đất nước đau thương và anh hùng trong chiến tranh 45
Trang 32.2.2 Cái tôi suy tưởng - một dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình
trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 52
2.2.3 Những suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 56
2.3 Giọng điệu suy tưởng 73
2.3.1 Giọng triết lí, chiêm nghiệm 74
2.3.2 Giọng chính luận 77
2.3.3 Giọng trữ tình 78
Chương 3 SUY TƯỞNG TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM THỜI HẬU CHIẾN 82
3.1 Cảm hứng sáng tạo 82
3.1.1 Cảm hứng thế sự 82
3.1.2 Cảm hứng đời tư 85
3.1.3 Cảm hứng thiên nhiên 90
3.2 Cái tôi suy tưởng 93
3.2.1 Tìm về cõi lặng 93
3.2.2 Lẽ được mất trong đời 100
3.3 Giọng điệu suy tưởng 104
3.3.1 Giọng hoàn niệm về quá khứ 104
3.3.2 Giọng suy tư chiêm nghiệm về cuộc đời 107
3.3.3 Giọng tâm tình, chua xót 109
3.3.4 Giọng tin tưởng, lạc quan 112
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khơi nguồn cảm hứng lớn cho thơ, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo Các thế hệ nhà thơ cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ Lớp nhà thơ trưởng thành từ trước cách mạng tháng Tám nâng cao tầm tư tưởng, phong phú kinh nghiệm, trẻ trong tâm hồn, khỏe trong cách viết, khẳng định được hướng đi và truyền lửa cho thế hệ sau Tiếp nối thế hệ đi trước là lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Họ mang đến cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, gợi cảm mà trong đó không ít tài năng thơ sớm được chú ý
và khẳng định như Nguyễn Khoa Điềm, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân… Nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm, vì vậy không chỉ để hiểu tài năng, cá tính sáng tạo một nhà thơ, mà còn gợi mở nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn sáng tạo của thế hệ tài năng trong thơ Việt Nam hiện đại
1.2 Trong đội ngũ các nhà thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là một gương mặt thơ tiêu biểu Ông viết không nhiều nhưng những tác phẩm của ông thể hiện một tâm hồn thi sĩ với những rung động tinh tế với nghệ thuật độc đáo và một chiều sâu suy tưởng Tiếp cận với những vấn đề chung của cuộc sống chiến tranh, cuộc sống sau chiến tranh Nguyễn Khoa Điềm đã tạo
được dấu ấn riêng của mình qua các tập thơ: Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (1974) Sau 1975, trở về với cuộc sống hòa bình, tiếp cận với
những vấn đề thường nhật của cuộc sống đời thường ông lại tiếp tục thành
công với Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) và Cõi lặng (2007) Thơ Nguyễn
Khoa Điềm là sản phẩm của một trí tuệ sắc sảo và một trái tim ấm áp nên có sức lay động mạnh mẽ tới người đọc Ở ông có sự kết tinh giữa trí tuệ và cảm xúc để thăng hoa thành thơ Nghiên cứu phong cách suy tưởng trong
Trang 5thơ Nguyễn Khoa Điềm qua các chặng đường thơ, vì vậy, giúp ta thấy rõ hơn tài năng, phong cách nghệ thuật và những đóng góp của ông cho nền thơ nước nhà
1.3 Nguyễn Khoa Điềm đã có những bài thơ đặc sắc nhất về đề tài đất
nước, mà tiêu biểu là trường ca Mặt đường khát vọng Cùng với nhiều tác giả
lớn trong thơ ca hiện đại, từ lâu thơ Nguyễn Khoa Điềm đã được đưa vào chương trình ngữ văn trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, có một thực tế, việc dạy, học thơ nguyễn Khoa Điềm đang gặp không ít khó khăn, mà một trong số đó là cả người dạy và người học chưa thực sự nắm bắt được đặc trưng nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm Thực tế đó cho thấy, tìm hiểu phong cách suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ có ý nghĩa luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong việc dạy và học thơ Nguyễn Khoa điềm ở nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Với tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm và ngòi bút tài năng, Nguyễn Khoa Điềm đã sớm định hình cho mình phong cách riêng Ông rất thành công khi viết về chiến tranh với những vấn đề mang tầm vóc thời đại, đặc biệt khi ông khắc tạc hình tượng đất nước Không những thế, thơ ông còn đạt tới độ chín trong cảm xúc suy tư khi viết về cuộc sống đời thường Ngay từ sự xuất hiện
của những bài thơ đầu tay như Người con gái chằm nón bài thơ, Đất ngoại ô, thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gây được sự chú ý của bạn đọc và giới phê
bình văn học Với việc xuất bản các tập thơ Đất ngoại ô Trường ca Mặt
đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và Cõi lặng thơ Nguyễn Khoa
Điềm nhận được nhiều hơn sự quan tâm của độc giả Nhiều công trình, bài viết nghiên cứu vầ thơ ông đã ra đời Nhiều ý kiến đã đánh giá về những thành công trong thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ ngôn ngữ, về tứ thơ, về cảm xúc, về chất liệu tạo hình, về lí tưởng nhìn chung các nhà phê bình,
Trang 6nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ có phong cách với
chiều sâu triết lí suy tưởng
Năm 1972, tập thơ Đất ngoại ô ra đời Ngay lập tức, tác phẩm đã nhận
được sự quan tâm nồng nhiệt của đông đảo người đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học Nhận xét về tập thơ, Hà Minh Đức viết: “sức hấp dẫn, lôi cuốn của thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là một hồn thơ trẻ trung nồng cháy lý tưởng”
và nhận ra điểm mạnh của thơ ông chính là “sự liên tưởng được triển khai khi thì bằng vốn sống thực tế, khi thì bằng vốn văn hóa, khi đi qua mạch tình cảm được dẫn dắt từ một tấm lòng” và “Nguyễn Khoa Điềm hay sử dụng cách láy lại và tăng cường để cho ý thơ phát triển Bài thơ thường được cấu tạo theo các thể thường có dạng gần gũi hay giống nhau Mặt thơ đi lui đi tới từng đợt vừa lặp lại, vừa nâng cao để đi đến kết thúc‟‟ [23, 218] Cũng thời điểm đó,
Thái Duy qua bài viết Một khúc hát ru xúc động đã đề cập đến độ nén, sức bật của ngôn từ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Thái
Duy khẳng định thơ Nguyễn Khoa Điềm là những “khúc ca giàu nhạc điệu dân tộc hình ảnh sinh động, chân thật, làm cho người đọc thấm thía Cách so
sánh hình ảnh tài tình, cách dẫn dắt ý thơ của tác giả thật khéo léo” [10]
Năm 1975 Nguyễn Văn Long có bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng trên Tạp chí văn nghệ Quân đội số 04/1975 Bài viết tập
trung phân tích những cảm xúc được được lan tỏa trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Ông viết: “Có thể thấy những dấu ấn rõ rệt của một vốn văn hóa nhà trường và sách vở, một ảnh hưởng của cách suy tưởng trong thơ người này
hay người khác” [40] và “Đoạn thơ Đất nước cũng như nhiều chỗ khác trong Mặt đường khát vọng có sức rung động, âm vang chính là bởi tác giả đã thực
sự sống với những cảm xúc của mình Dù có khi là những điều không mới lạ
và nhất là anh đã có được điều này: Ấy là từ góc độ của mình, từ những từng trải riêng trong cuộc sống chiến đấu gay go, sống chết ở một vùng chiến tranh
Trang 7mà suy nghĩ, khám phá, xúc cảm về quê hương đất nước Vì thế, anh có thể nói lên những điều khái quát suy tưởng mà vẫn không rơi vào chung chung, trừu tượng mờ nhạt Nói đến những điều to tát mà không sợ thành ồn ào sáo rỗng” [40] Cũng hướng nhìn đó, năm 1976, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan
khẳng định tiềm năng thơ trẻ qua bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng Bài viết có cái nhìn khái quát bao trùm cả Đất ngoại ô
và Mặt đường khát vọng để nhận ra cái riêng giữa Nguyễn Khoa Điềm với
các gương mặt nhà thơ khác Đó là những cảm nhận về Huế mà chỉ riêng nhà thơ mới có, nhà thơ nhìn Huế “qua tấm lòng vốn đã gắn bó với Huế từ buổi ấu thơ” [35] Đó là những liên tưởng độc đáo Những nét đó đã định hình phong cách nhà thơ Tôn Phương Lan khẳng định: “Một phong cách Nguyễn Khoa Điềm khá rõ Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy nghĩ và diễn đạt có âm hưởng riêng” [35] Theo Tôn Phương Lan, Nguyễn Khoa Điềm góp vào nền thơ ca một cách đầy suy tưởng, cảm xúc kết hơp hài hòa yếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống văn hóa” [36, 493]
Năm 1986, Nguyễn Khoa Điềm xuất bản tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm Đặt tập thơ vào hành trình thơ Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Tuấn Anh trong bài Nguyễn Khoa Điềm từ Mặt đường khát vọng đến ngôi nhà có ngọn lửa ấm
in trên tạp chí văn học số 3 - 3/1998 đã khẳng định sự thống nhất trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trước và sau chiến tranh Ông đã phát hiện ra sự
độc đáo của Ngôi nhà có ngọn lửa ấm là tư duy hướng nội, là giọng thơ mới
mẻ Với bút pháp lấy cái tình của nội tâm làm nền, thơ đã xâm nhập vào bề
sâu để tìm tòi cái tiềm ẩn của sự vật Ông viết: “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm ghi
nhận một hướng cảm xúc: điềm đạm, sâu lắng, tách lớp vỏ của sự vật tiềm ẩn” [3] Còn nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, trong lời giới thiệu cho tập thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất bản năm 1990 có nhận xét: “Không phải là tất cả; Nguyễn Khoa Điềm có nhiều bài lắm ý và tứ thơ nhiều trí tuệ, sâu đọng, đậm
Trang 8đà tình nghĩa, khó quên hình ảnh, sử dụng từ ngữ trong thơ khá hàm súc”
Bàn về tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Vũ Quần Phương thể hiện thái độ
trân trọng trước quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm “muốn tìm chất thơ ẩn trong cái thường ngày” và “quan tâm đến những cảm nhận của lòng mình” Theo Vũ Quần Phương, “làm được như vậy Nguyễn Khoa Điềm đã có sự nhạy cảm và bản lĩnh sâu sắc” [59]
Nguyễn Xuân Nam trong “Thơ tìm hiểu thưởng thức” lại nhận thấy thơ Nguyễn Khoa Điềm có sức liên tưởng mạnh: “Anh thường dẫn người đọc đi
từ quá khứ đến tương lai, từ sách vở đến đời sống Anh nói về đất nước với sự say mê nồng nhiệt, với những sự liên tưởng tràn trề” [49, 106] Còn Mai Quốc Liên lại nhấn mạnh trong thơ Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều cảm xúc
về quê hương, đất nước Điều đó có được từ tấm lòng nhiều xao động của nhà thơ, và chính cuộc sống ở chiến trường quê hương mà nhà thơ có vinh dự được sống đã giúp Nguyễn Khoa Điềm làm nên chất ngọc ngà trong những trang viết của ông Mai Quốc Liên không chỉ nhấn mạnh đến cảm xúc trong thơ nguyễn Khoa Điềm mà còn nói tới chất suy tưởng trong thơ ông: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tưởng mà ấm, được thế là nhờ anh xuất phát từ cuộc sống tình cảm” [61, 64]
Theo hướng nhìn ấy, Nguyễn Trọng Hoàn đi khám phá vẻ đẹp trong thơ Nguyễn Khoa Điềm từ những tác phẩm đầu tay cho đến những tác phẩm sau này Theo ông, “Thơ Nguyễn Khoa Điềm có vẻ đẹp của những giá trị bền vững: Đó là những bài thơ in đậm qúa trình tích lũy vốn sống, sự thăng hoa mãnh liệt trong cảm xúc nhân văn… Có cảm giác nhiều bài thơ của anh phát triển theo nhịp chậm, vừa viết vừa ngẫm ngợi, vừa lắng nghe từng con chữ lan tỏa ngân rung” [28, 148]
Tiếp tục mạch tư duy hướng nội trong nguồn cảm hứng trở về, sau khi
từ giã chính trường Nguyễn Khoa Điềm cho ra đời tập thơ Cõi lặng (2007)
Trang 9Ngay sau khi ra đời, Cõi lặng đã khẳng định được sức sống của mình trong đời sống văn học Năm 2011, Hoàng Thụy Anh trong bài viết Nguyễn Khoa Điềm và chuyến ngược dòng về Cõi lặng đã nhận xét: “Lời thơ chân thật, tuôn
trào tự nhiên trong từng sát na Nhưng ẩn bên trong là cái động, cái động nhân
tình, suy tư, chiêm nghiệm của một chủ thể triết luận sắc sảo…Ở Cõi lặng,
người đọc nhận ra một hình tượng nghệ thuật có dáng dấp con người thực của tác giả - cốt cách của một thi nhân Những trắc trở tự đáy lòng đều được cởi trói Người thơ ấy hòa vào mọi người, về quê hương để soi chiếu gương mặt mình, đứng trong hiện tại mà chiêm nghiệm ngẫm suy” [5] Còn Nguyễn Sĩ
Đại trong Cõi lặng của Nguyễn Khoa Điềm in trên báo Nhân Dân thì cho rằng
“Một số bài đã vươn tới độ lớn, mang tính khái quát Dù trong hoàn cảnh nào thì con người thi sĩ trong anh vẫn hài hòa nồng thắm cùng đất nước theo cách riêng của mình, tức là nơi chân tơ kẽ tóc, trong tế bào, trong mỗi hơi thở hằng ngày Tập thơ mang đậm sự chiêm nghiệm về cuộc sống và triết lí về nhân sinh thế sự”
Cùng với Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng và Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm, Cõi lặng hoàn thiện hơn chân dung người thơ Nguyễn Khoa Điềm, đưa
ông lại gần gũi hơn với chúng ta, với cuộc sống với những hỉ, nộ, ái, ố đời thường Các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm ngay sau khi ra đã có một hấp lực mạnh mẽ đối với giới nghiên cứu phê bình văn học và đông đảo người yêu thơ Ngày càng có nhiều bài viết, luận văn nghiên cứu về thơ Nguyễn Khoa Điềm Nhìn chung, các bài viết về thơ Nguyễn Khoa Điềm đều gặp nhau khi cho rằng, Nguyễn Khoa Điềm là một phong cách riêng, đầy ấn tượng, đậm đà sắc Huế, chất Huế cùng với hồn thơ sắc sảo, giàu tri thức văn hóa, vốn sống phong phú với những suy tư đầy trách nhiệm trước cuộc đời
Đó cũng là một tiếng thơ giàu chất suy tưởng và ấm áp tình cảm Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về phong cách suy tưởng
Trang 10của Nguyễn Khoa Điềm Hầu hết mới dừng lại ở những cảm nhận bước đầu
Từ góc nhìn ấy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm góp thêm một tiếng nói vào quá trình nghiên cứu, khám phá phong cách nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát, nghiên cứu phong cách suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm trước và sau 1975
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra được cơ sở cho sự xuất hiện phong cách suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Thứ hai, chỉ ra được những biểu hiện của phong cách suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm trước và sau 1975
Thứ ba,ở một chừng mực nhất định, chỉ ra được những nét tương đồng, khác biệt của phong cách suy tưởng Nguyễn Khoa Điềm so với một số nhà thơ khác
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong cách suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm trước và sau 1975
4.2 Nói tới phong cách thơ là nói tới dấu ấn, cá tính sáng tạo của nhà thơ được thể hiện qua thế giới nghệ thuật thơ Tuy nhiên ở đây, chúng tôi giới hạn đối tượng khảo sát trên một số phương diện nổi bật, như cái tôi trữ tình và giọng điệu thơ
4.3 Về tư liệu khảo sát, chúng tôi tập trung khảo sát bốn tập: Đất ngoại
ô (1972), Mặt đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Cõi
lặng (2007)
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp như: khảo sát, thống kê, phân loại; cấu trúc, hệ thống; phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở cho sự hình thành phong cách suy tưởng trong thơ
Nguyễn Khoa Điềm Chương 2 Suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thời chống Mỹ Chương 3 Suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thời hậu chiến
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH SUY TƯỞNG
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
1.1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ ngai vàng mục ruỗng của chế độ phong kiến hàng ngàn năm, giành chính quyền về tay nhân dân, mở ra một trang mới vẻ vang trong lịch sử dân tộc, đồng thời mở ra thời kì mới cho văn học Việt Nam Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu, cả nước lại phải bước vào một cuộc trường chinh, khốc liệt ròng rã 30 năm trời Cả dân tộc điệp trùng ra trận Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại có một cuộc hành quân quyết liệt và hào hùng đến thế Đó là thời kì “cả đất nước dàn hàng gánh đất nước trên vai” (Bằng Việt)
Ra đời trong hai cuộc chiến tranh giữ nước, văn học 1945 - 1975 có những đặc điểm riêng, mà nổi bật là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cổ vũ cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc với một niềm tin vào tương lai tất thắng đã trở thành một ý thức nghệ thuật, thể hiện trách nhiệm công dân của mỗi người nghệ sĩ Trong
sự phát triển phong phú đa dạng của văn học kháng chiến, thơ là thể loại tiên phong, có nhiều thành tựu Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại xuất hiện một đội ngũ nhà thơ đông đảo, trẻ trung, tràn đầy sức sáng tạo như trong thời kỳ chống Mỹ Bên cạnh những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp là sự xuất hiện một đội ngũ đông đảo những nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Họ bước vào cuộc chiến với một tâm thế mới, đàng hoàng, kiêu hãnh “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận/ Có Đảng ta đây,
có Bác Hồ” (Tố Hữu) Hành trang họ mang ra trận, đưa vào thơ không chỉ có
Trang 13lòng yêu nước mà còn có cả nhưng trí thức được trang bị trong nhà trường Xã hội chủ nghĩa Với họ làm thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả, thể hiện cảm xúc, tình cảm về con người, cuộc sống mà còn hướng tới, phát hiện, bộc lộ những suy nghĩ của mình về con người và cuộc sống, về dân tộc và thời đại Hiện thực chiến tranh đặt ra bao điều phải nghĩ suy, trăn trở, mà bằng hình tương nghệ thuật thơ phải góp phần lý giải Không có chỗ cho những tình cảm riêng tư, thơ phải hướng về tổ quốc, tìm trong cội nguồn sức mạnh dân tộc để giúp con người vững tin hơn vào thắng lợi ngày mai Trong tâm hồn các nhà thơ - chiến sĩ cái giá trị thiêng liêng và cuối cùng vẫn thuộc về Tổ quốc:
“Chúng tôi đi không tiếc cuộc đời mình/ Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc” (Thanh Thảo) Đó
là cơ sở cho sự ra đời cảm hứng suy tư trong thơ chống Mỹ
Thơ chống Mỹ được nuôi dưỡng và thai nghén qua từng bước đi của cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân Thơ hòa mình vào mọi mặt của cuộc sống Có thể nói trong những năm chống Mỹ không có một mảnh đất nào, một sự kiện có tầm quan trọng nào, một chiến công lớn nào, một anh hùng tiêu biểu nào lại không có mặt trong thơ Điều đó là một minh chứng thể hiện trách nhiệm công dân và cảm hứng nghệ sĩ của các nhà thơ, đồng thời cũng là niềm tự hào của họ khi được nhập cuộc với cuộc hành quân lớn của cả nước, khi được gọi tên những người bên cạnh mình là đồng đội Họ nói tới khát khao của thế hệ trẻ được cầm súng, trực tiếp chiến đấu bằng một cảm xúc chân thành, trong sáng nhất:
Ôi ta thèm được cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng
Ta say nồng mùi lá rụng bờ tre
(Gửi Bến Tre - Lê Anh Xuân)
Trang 14Có lẽ hôm nay và cả mai sau không ai phủ nhận được âm vang của nền thơ thời chống Mỹ “Vào cuối những năm 1960, thơ của Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm… và cả Trần Quang Long, Ngô Kha… với một ít của Trịnh Công Sơn từ chiến trường chống Mỹ đã đến với sinh viên, thanh niên…” [1] Khi cuộc chiến đấu chống Mỹ đang diễn ra ngày một ác liệt thì thơ đã tạo ra một hiệu ứng xã hội đặc biệt Thơ có mặt ở mọi nơi, thơ in thành sách, thơ đăng trên báo, thơ đọc trên đài phát thanh Thanh niên Việt Nam thời bấy giờ mong ước được theo gương những chàng trai, cô gái có dáng dấp anh hùng trong thơ mà sống và học tập Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại thì hình ảnh của những chiến si như anh bộ giải phóng quân hy sinh trên đường bay Tân Sơn Nhất trong thơ Lê Anh Xuân trở thành bức phù điêu của thế hệ trẻ lúc bấy giờ:
Anh tên gì hỡi anh yêu quý
án đối với đế quốc Mỹ:
Không ở đâu bằng đất nước Việt Nam này Nơi nhân loại thêm một lần nhìn thấy Những tội ác con người đi qua bỗng hồi sinh trở lại…
… Xưa quan lại đánh ta bằng đầu gậy bịt đồng Nay chúng quật ta bằng cao su, độn sắt Quật chết người mà vẫn không hề tái mặt
Vì giết người máu chẳng dính tay chân…
(Giặc Mỹ - Nguyễn Khoa Điềm)
Trang 15Lực lượng sáng tác trong thời kỳ chống Mỹ ngày càng đông đảo, trở thành cao trào thơ trẻ chống Mỹ Họ, những nhà thơ - chiến sĩ đã tự nguyện dẫn thân vào cuộc sinh tồn của dân tộc và giải phóng cho Tổ quốc như những người ở tuyến đầu, mang theo mình những trăn trở, nghĩ suy về trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc Trong chiến tranh, làm thơ và đánh giặc là hai hành động đồng thời, trùng hợp, có liên quan tương tác lẫn nhau Các nhà thơ
ý thức điều đó một cách rõ ràng vì thế mà hiện thực của cuộc chiến tranh đi vào thơ họ rất chân thực, có đau thương, có mất mát, có hy sinh và cũng lắng đọng suy tư:
Rồi hôm ấy mười căn hầm sập Người nuôi quân thành người giữ chốt Mười nắm cơm thừa
Mười khẩu súng Một mình anh…
… Nếu tất cả trở về đông đủ
Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn
(Trường ca sư đoàn - Nguyễn Đức Mậu)
Gợi lên tính chất dữ dội, ác liệt, sự gian khổ trong chiến tranh, thơ đốt cháy lên ngọn lửa căm thù quân xâm lược trong trái tim yêu nước của mỗi người dân Việt Suy cho cùng, đời sống chiến trường dù có gian khổ, tàn khốc đến mấy thì cũng chỉ là phông nền để làm nổi bật chân dung tinh thần của cả một thế hệ trẻ cầm súng Vì thế, dù có nói đến cảnh đạn bom dữ dội vẫn không gây cảm giác hãi hùng bởi ống kính của các nhà thơ cốt chỉ để ghi lại chân dung của thế hệ mình “cốt chụp lấy khuôn mặt của ta, còn cái ác liệt của giặc thì có gì phải chụp” (Phạm Tiến Duật) Vì thế mà trong thơ họ, sự yêu đời, nhạy cảm hiện lên như lẽ hiển nhiên:
Vừa tim nghỉm tiếng bom rung
Trang 16Đã nghe nhỏng nhảnh chim rừng tán nhau
(Tiếng chim sau trận B52 - Nguyễn Duy)
Trận đánh ác liệt không thể khiến cho người lính không phát hiện ra âm thanh quen thuộc của cuộc sống đời thường Tiếng “nhỏng nhảnh chim rừng tán nhau” dường như đã lẫn át tiếng bom gầm, đạn rú trước đó “Các nhà thơ trẻ đã lục hóa bước chân Trường Sơn của họ, họ có một sức xanh tâm hồn mạnh mẽ vô hạn” (Xuân Diệu) Có lẽ bởi thế mà khi nói tới sự hy sinh, thơ của họ vẫn không làm giảm ý chí, sức mạnh niềm tin của người chiến sĩ mà ngược lại chính sự hy sinh ấy đã làm nên một “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” (Lê Anh Xuân) Đó cũng chính là cách mà các nhà thơ trẻ lựa chọn để hiện thực hóa sức mạnh của thi ca, thể hiện trách nhiệm của một thế hệ mà lịch sử đã lựa chọn làm điểm tựa Được sinh ra trong lòng cách mạng, được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, với kiến thức học tập có hệ thống lại có thêm hành trang của vốn thơ ca dân tộc họ đã tự bồi dưỡng cho bản thân về tư tưởng, tài năng, vốn sống để từ đó tự tin bước vào cuộc chiến đấu với kẻ thù Hiện thực kháng chiến không chỉ mang đến cho thơ nguồn đề tài bất tận mà còn cả những cảm hứng suy tư về đất nước nhân dân Từ trong khói lửa chiến tranh ác liệt, các nhà thơ nghĩ về nguồn cội, về sức mạnh của dân tộc và cái giá phải trả của chiến tranh Tiêu biểu cho hướng tìm tòi này là thơ Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy Do thế, đọc thơ chống Mỹ ta bắt gặp không ít bài thơ mang dáng dấp suy tưởng Chính điều này đã mang đến cho thơ chống Mỹ một chiều sâu nhận thức
Trong chiến tranh các nhà thơ đã có mặt trên khắp các chiến trường Vừa cầm súng vừa cầm bút, họ đã mang đến những nét tươi mới cho thế hệ mình, làm cho thơ thêm đậm đà tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam Chiến tranh kết thúc, lịch sử dân tộc mở sang trang mới Thơ có điều kiện phát huy sức mạnh tiềm tàng của chủ nghĩa hiện thực Các nhà thơ bước ra từ
Trang 17cuộc chiến đã có độ lùi để hoàn thành tác phẩm có dung lượng lớn về chiến tranh với những xúc động chân thực trong đó có những sáng tác của của Nguyễn Khoa Điềm Bằng sự cảm nhận riêng của thế hệ mình, thơ chống Mỹ
đã phản ánh cuộc sống, con người và đất nước Việt Nam trong thời chống
Mỹ Đó là những cảm xúc suy nghĩ chân thành và lắng đọng suy tư da diết nhất của một lớp nhà thơ trẻ - những người lính trên tuyến đầu chống Mỹ
1.1.2 Cuộc sống sau chiến tranh
Trong chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc, sức mạnh của tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng đã được phát huy cao độ Cuộc sống cá nhân riêng tư của mỗi con người phải thu hẹp lại đến tối thiểu để nhường chỗ cho đời sống chung của tập thể, của cả dân tộc Con người được nhìn nhận đánh giá chủ yếu ở tư cách con người của dân tộc, của nhân dân, cách mạng Hòa bình lập lại, con người được trở về với đời thường cùng muôn vẻ lẫn lộn tốt xấu trắng đen, bi hài… ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con người như một cá thể, một thực thể sống đã được thức tỉnh trở lại Các giá trị về xã hội, đạo đức, nhân cách… trước đây được coi là chuẩn mực thì sau chiến tranh đã không còn thích hợp nữa Sự rạn nứt bắt đầu xuất hiện Cuộc sống sau chiến tranh cũng như một mặt trận mới, dù không có tiếng súng nhưng cũng không kém phần gay gắt, dữ dội Mỗi con người nhìn vào mình và phát hiện ở đó có bao điều khuất lấp không dễ gì hiểu hết Đó là một thử thách không hề dễ dàng đối với nhân cách và bản lĩnh mỗi người Các nhà thơ bên cạnh thể hiện niềm tự hào, niềm vui chiến thắng còn nói nhiều hơn về những gian lao, sự chịu đựng và hi sinh của nhân dân, của đồng đội để hôm nay dân tộc đến được cái đích cuối cùng của một hành trình dài dằng dặc:
Hai mươi năm chị đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc Một mình một mâm cơm
Trang 18Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền
(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)
Cái được lớn lao của cuộc chiến vừa đi qua là bảo vệ được nền độc lập
tự do của Tổ quốc Bên cạnh cái được lớn lao ấy chiến tranh đã mang đến bao tang tóc đau thương Biết bao người lính đã ngả xuống trên khắp các chiến trường, biết bao người mẹ đợi con, người vợ chờ chồng trở về sau chiến thắng nhưng tất cả đều vô vọng Đối mặt với hiện thực cuộc sống nghiệt ngã sau chiến tranh, nhà thơ không lí tưởng hóa hay lãng mạn hóa mà nhận thức về nỗi đau hiện hữu với những mất mát không gì bù đắp nỗi Cảm hứng sử thi, giọng trầm hùng trong chiến tranh được thay bằng cảm hứng thế sự Nhà thơ trở về với chính mình, đối mặt với hiện thực, chiêm nghiệm suy tư để nhận ra tất cả Chiến tranh dường như hiện ra cụ thể và khắc nghiệt hơn trong cuộc sống thời bình Những người lính ra khỏi cuộc chiến, trong tâm tư mang nhiều nỗi niềm Nguyễn Duy khi “nhìn từ xa…Tổ quốc” đau xót và thẳng thắn chỉ ra những nghịch cảnh của đất nước trong thời kì khủng hoảng trầm trọng sau chiến tranh:
Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày…
Tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp Tuổi thơ bay như lá ngã tư đường
Trang 19Sau chiến tranh phần lớn các nhà thơ đều mất đi cuộc sống bình yên, thay vào đó là những âu lo, nỗi buồn nhân thế Mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội trong một hoàn cảnh mới đã đổi khác rất nhiều
so với thời chiến tranh Khi ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ thì cũng là lúc quan hệ cộng đồng trở nên lỏng lẻo, phai nhạt Con người cảm thấy mình chơ
vơ trước sự xô bồ của cuộc đời, trước bạc bẽo nhân tình Cô đơn dường như
đã tở thành cảm giác thường trực trong thơ, ngay cả trong chủ đề tình yêu:
Em chết trong nỗi buồn Chết lặng thầm âm ỉ đớn đau Trời cho em nụ cười thật tươi
Ai cũng biết sau nụ cười nước mắt về đâu !?
(Tặng nỗi buồn riêng - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc nhưng tình yêu, hạnh phúc không tròn đầy và vĩnh viễn Vì thế mà niềm khao khát ấy trở nên da diết và thành thực hơn, xen lẫn với những âu lo, cô đơn trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc:
Em lo âu trước xa tắp đường mình Trái tim đập những điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói …
(Tự hát - Xuân Quỳnh)
Muôn mặt đời thường của cuộc sống sau chiến tranh đã trở thành nỗi
ám ảnh đối với mỗi nhà thơ Chiêm nghiệm, suy tư, lý giải đã trở thành cảm hứng rõ rệt trong thơ thời hậu chiến Nó được các nhà thơ nhận thức và thể hiện trong thơ bằng ý thức trách nhiệm và cái nhìn phản tỉnh Nhà thơ không ngần ngại, né tránh những sự thật đau lòng, những bất công trong đời sống xã hội Sự tự vấn, tự thú, thức tỉnh trở thành một xu hướng trong sáng tác của nhiều nhà thơ khi đối diện với hiện thực Thêm vào đó, không khí dân chủ,
Trang 20nhất là sau thời kỳ đổi mới (1986) đã tạo ra tiền đề cho nhà thơ đào sâu hơn vào những chiêm nghiêm suy tư về con người, cuộc sống Đó là cơ sở cho sự
ra đời của thơ suy tưởng, mà Nguyễn Khoa Điềm là một hiện tượng tiêu biểu
1.1.3 Công cuộc đổi mới của đất nước
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội Đảng lần thứ VI đã tiến hành đổi mới toàn diện, sâu rộng trên tất cả mọi lĩnh vực của đất nước, trong
đó có văn học nghệ thuật Văn nghệ được “cởi trói”, người nghệ sĩ được tựu
do sáng tạo Đó là điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, cá tính Cái tôi nghệ sỹ từ lâu bị đặt ở vị trí thứ yếu nay được giải phóng, cá tính sáng tạo trở thành giá trị thẩm mỹ nổi bật Thế giới nội cảm của nhà thơ đã trở thành đối tượng nhận thức của thơ Hiện thực xã hội không phải được nhìn nhận qua cái tôi đại diện mà được nhìn qua cái tôi cá thể Đó là cái tôi vừa trở
về với ý thức bản ngã, gắn kết với dòng đời rộng mở được đan dệt bởi muôn vàn số phận, tâm trạng và cảnh ngộ, cảm xúc mới mẻ Năm 1986 được xem như là một cái mốc của sự khởi đầu đổi mới do Đảng đề ra Đất nước bước vào thời kỳ mở cửa, mở rộng giao lưu hợp tác với nhiều nước trên thế giới
Đó là điều kiện thuận lợi để văn học hội nhập vào thế giới hiện đại Từ năm
1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, gắn bó, cập nhật hơn đối với những vấn đề của đời sống hàng ngày Văn học đổi mới vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc Phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề, phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật Văn học giai đoạn này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, tiếp cận con người và hiện thực đời sống, khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng, phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng năm 1986 đã thổi một luồng gió đầy sinh khí vào đời sống
xã hội Việt Nam, kích thích những cải cách kinh tế và khơi dậy những suy nghĩ mới, những tìm tòi, sáng tạo trong giới tri thức, văn nghệ sỹ
Trang 21Một cái nhìn phác thảo trên đây đã phần nào cho thấy, từ những năm
80, 90 của thế kỉ trước và cả đến bây giờ, xã hội và con người Việt Nam đã trải qua một cuộc trở dạ lớn lao và không ít đau thương Nhiều thang bậc giá trị đã đổi thay, nhiều vấn đề cần được nhận thức lại Chiêm nghiệm, suy tư, tự vấn đã trở thành xu thế ngày càng phổ biến trong văn học, đặc biệt là thơ Thơ
Phùng Khắc Bắc, Di cảo của Chế Lan Viên, Cõi lặng của Nguyễn Khoa
Điềm là những hiện tượng như thế
1.2 Quê hương và gia đình
1.2.1 Nguyễn Khoa Điềm với trầm tích văn hóa kinh thành
Xứ Huế là vùng miền thơ mộng đã đivào trong thơ ca, nhạc họa… một
xứ sở được mệnh danh là “bào ca đô thị”, “thanh sắc thi ca” đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới với những thành quách rêu phong, những cung điện, đền đài phủ mờ bởi bóng thời gian Tất cả đã tạo nên nét cổ kính, uy nghi của một cố đô đầy hoài niệm, gợi cảm hứng thi ca Mỗi cảnh sắc, dáng hình của Huế dường như đều lắng đọng suy tư, chất chứa nỗi niềm: “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” (Thu Bồn)
Huế không có sự tương phản, không có sự ồn ào náo nhiệt của thành phố công nghiệp, thương nghiệp lớn Huế là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên với những hứng khởi của con người trong sự tĩnh lặng siêu nhiên, đem lại sự thư thái cho tâm hồn của những ai từng đến Huế Cảnh sắc thiên nhiên
ở Huế mang một sắc thái rất riêng Nó vừa huyễn hoặc tĩnh lặng lại vừa cao sang quý phái Những núi đồi thơ mộng Ngự Bình, Thiên An, Vọng Cảnh… gợi ra chiều kích hun hút của hồn thiêng sông núi đất kinh thành Sông Hương đắm mình trong vẻ đẹp nên thơ mờ ảo của sương sớm bồng bềnh, khi chìm khi khuất trong màu tím của cỏ cây đôi bờ, như mơ như thực, lặng lờ êm ả trôi như còn lưu luyến điều gì chưa muốn trôi xuôi đổ ra các đầm phá mênh
Trang 22mông, có lúc trầm mặc như đang ghi nhận từng khoảnh khắc của thời gian Giữa khung cảnh sông núi hữu tình ấy là âm vang của tiếng chuông chùa, những thanh âm trầm bổng vọng lại từ những ngôi chùa cổ kính, những điệu
hò mái nhì, mái đẩy man mác sông Hương Cảnh sắc ấy, không gian ấy dễ góp phần hình thành nên tâm hồn, điệu sống, tính cách con người Huế
Huế với sự trầm mặc uy nghi bởi sự hòa trộn giữa văn hóa cung đình và văn hóa bình dân đã mang đến cho con người Huế những tính cách riêng biệt Nói đến con người Huế là nói tới sự nhẹ nhàng, thâm trầm, kín đáo Vui mà nghiêm trang, phóng khoáng nhưng có chừng mực, hòa đồng nhưng vẫn dè dặt… đó là sự hài hòa của xứ Huế, của con người Huế Một đặc trưng nữa mà riêng Huế mới có được đó là cuộc sống của hoàng tộc trí thức, các “mệ” và quan lại - đồ nho trí thức làm nên một tính cách Huế sâu lắng, không khoa trương ồn ào, một nét chân chất, dịu dàng, tế nhị, dễ thương và đa cảm… sắc thái riêng biệt đó đã làm xiêu lòng bao người Bên cạnh đó, Huế còn là một trung tâm của Phật giáo Việt Nam Nơi đây có nhiều chùa chiền, nhiều tăng
ni Phật tử Giáo lý nhà Phật đã thấm sâu vào tư tưởng, điệu sống, tâm hồn người dân xứ Huế Bao vấn đề của kiếp nhân sinh được kết tinh trong những kinh kệ nhà chùa, thấm vào con người một cách tự nhiên, lặng lẽ mà sâu sắc
Vẻ đẹp của Huế không chỉ là vẻ đẹp của vùng trời mây, sông núi, đền chùa, miếu mạo, thành quách…mà là vẻ đẹp của nền văn hóa đang tiềm ẩn Bao tri thức thâm trầm, uyển ảo của truyền thống hàng ngàn năm còn lưu giữ trong kinh sách ở chốn kinh thành, trong những câu chuyện kể, những thành quách nguy nga Có thể nói, Huế đang mang trong mình một trầm tích văn hóa của dân tộc
Từ nửa sau thế kỷ XIX, Huế là nơi có cuộc giao lưu tiếp xúc mạnh mẽ với văn hóa phương Tây Nền văn hóa ấy đã mang đến và bổ sung cho văn hóa Huế bao điều mới mẻ, mà rõ nhất, sâu sắc nhất là thức tỉnh con người cá
Trang 23nhân, cá tính Một thế hệ trí thức mới đã ra đời ở Huế Ở họ không chỉ có cái thâm trầm, sâu sắc của văn hóa phương Đông mà còn có cả sự sối nổi, phóng khoảng, mạnh mẽ của văn hóa phương Tây Trong số đó có những người nổi tiếng như Hải Triều, Tố Hữu, và sau này là Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm
Đi qua bao thăng trầm của lịch sử với biết bao tang thương dâu bể, Huế vẫn giữa được cho mình những nét riêng, rất riêng trong văn hóa Mảnh đất
ấy đã sản sinh ra bao văn nhân, nghệ sĩ, góp phần làm nên diện mạo văn hóa Việt Nam Với Nguyễn Khoa Điềm, thiên nhiên Huế, văn hóa Huế, cuộc sống Huế đã góp phần hình thành nên tài năng, phong cách của ông
1.2.2 Gia đình - nơi ƣơm mầm tài năng, tâm hồn điệu sống
Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình trí thức cách mạng thuộc dòng dõi hoàng tộc Ông là hậu duệ đời thứ tư của dòng họ Nguyễn Khoa, một dòng họ có nguồn gốc ở Hải Dương, đến đời Nguyễn Khoa Đăng thì chuyển vào Huế Nguyễn Khoa Đăng là quan nội giám có tài yên dân, là ông tổ của dòng họ Nguyễn Khoa ở đất kinh kỳ Cụ nội của Nguyễn Khoa Điềm từng làm chức quan bố chánh, theo sau phong trào Cần Vương sau đó
từ quan về nhà Bà nội của ông là nữ sĩ Đạm Phương - bà là cháu của vua Minh Mạng, từng là nữ quan trong triều, chuyên dạy học cho các công chúa nên gọi là Cung trung nữ sử Là người phụ nữ hoàng tộc nhưng bà có tinh thần yêu nước tiến bộ, là tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo bênh vực quyền lợi của phụ nữ và trẻ em lúc bấy giờ Ông nội của Nguyễn Khoa Điềm
là một nhà nho có tinh thần yêu nước, từng được bầu vào viện dân biểu Trung
Kì do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm viện trưởng Cha ông - nhà văn Nguyễn Hải Triều (tức Nguyễn Khoa Văn) là một chiến sĩ cách mạng, nhà lí luận văn hóa Mác xít xuất sắc, có công truyền bá tư tưởng và quan điểm mác -xít trên báo
chí: “nghệ thuật vị nhân sinh”
Trang 24Sinh ra trong một gia đình văn hóa giàu lòng yêu nước, Nguyễn Khoa Điềm được thừa hưởng những phẩm chất ưu việt của dòng họ ở cả tinh thần yêu nước cách mạng và truyền thống văn hóa Đây chưa hẳn là yếu tố quyết định làm nên tài năng và thành công nhưng lại là mảnh đất ươm mầm tâm hồn điệu sống của ông, bồi đắp trong ông những tình cảm cao đẹp dành cho đất nước Từ sự thừa hưởng những phẩm chất quý giá của truyền thống gia đình với những trải nghiệm phong phú trong đời sống mà trong thơ Nguyễn Khoa Điềm yêu nước không đơn giản chỉ là nhiệt tình hăng hái chiến đấu và căm thù giặc mạnh mẽ Với Nguyễn Khoa Điềm tình yêu đất nước làm sống dậy trong trang thơ lịch sử hàng ngàn năm hào hùng của dân tộc với những chiến công dựng nước và giữ nước của cha ông Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện của những gì gần gũi nhất, thân thương nhất của mỗi người Việt trong quá khứ, hiện tại và tương lai, trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá… Bằng tình yêu, trách nhiệm sâu sắc đối với đất nước, đối với cuộc đời Nguyễn Khoa Điềm đã lưu tên tuổi của mình vào nền thơ ca dân tộc Thành công của ông, có một phần không nhỏ được bắt nguồn từ truyền thống gia đình
Trang 25phong cách thơ giàu chất suy tưởng của Nguyễn Khoa Điềm Đọc thơ ông, người đọc dễ bị cuốn hút bởi giọng thơ trầm lắng và tha thiết, bởi chiều sâu trong suy nghĩ và ý tưởng thơ, sự nhạy cảm trước cuộc đời… cho nên một phẩm chất dễ nhận thấy ở thơ Nguyễn Khoa Điềm là phẩm chất triết luận, nó khiến cho thơ ông mang màu sắc trí tuệ, một màu sắc nhận thức luận mà nhiều nhà phê bình văn học đã nói tới
Năm Nguyễn Khoa Điềm 11 tuổi, bố ông qua đời, năm 12 tuổi ông được một người bà con đưa ra Miền Bắc và bắt đầu cuộc sống xa mẹ Nỗi ám ảnh trong thời thơ ấu của Nguyễn Khoa Điềm là cuộc sống nghèo khổ nơi quê nhà, đó là cảnh những người dân nghèo “như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến…” là hình ảnh những “đôi chân đất đội áo nối vai/ le te chợ Hôm chợ Mai/ đầu tắt mặt tối”, là hình ảnh người mẹ ngồi bán hàng “nước mắt thương chồng lạnh như hạt mưa đọng qua cửa thùng gương” Ký ức tuổi thơ về quê hương nghèo khó đã ăn sâu trong tâm hồn ông, theo ông đi suốt cuộc đời với những nghĩ suy, trăn trở
Đến tuổi trưởng thành, Nguyễn Khoa Điềm vào học trường Đại học sư phạm Hà Nội I Năm 1964, sau khi tốt nghiệp đại học ông trở về Nam chiến đấu, Nguyễn Khoa Điềm làm công tác vận động thanh niên của Thành Ủy Huế, hoạt động tích cực trong phong trào học sinh, sinh viên Thời kì này ông bắt đầu làm thơ và trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm chống Mỹ cứu nước Là một người yêu nước lại có sự trải nghiện sâu sắc và vốn tri thức văn hóa phong phú, tiếng thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc, trở thành lời cổ vũ mạnh mẽ trong phong trào học sinh, sinh viên hồi ấy Nhân danh một lí tưởng cao đẹp, nhân danh tình yêu đất nước, nhà thơ cất lời kêu gọi thức tỉnh tuổi trẻ, hãy sống có lí tưởng, hãy sống vì đất nước và dân tộc:
Sao các anh không đến Hoa Lư
Trang 26Không mang theo mỗi người một cành lau
Để làm cờ và tập trận Như Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa từng nuôi chí lớn
Mà các anh mang trên người Nhiều tóc, nhiều râu và giẻ rách mà thôi
… Chỗ đứng của chúng ta không phải Hoa Lư
Mà trên đường ta tìm về dân tộc
(Mặt đường khát vọng)
Đã từng là Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ văn hóa, Ủy viên Bộ chính trị, nhưng Nguyễn Khoa Điềm lại có một lối sống khá giản dị, gần gũi với mọi người Sau khi làm tròn vai một nhà chính trị không giống như nhiều người khác, nhà thơ rời thủ đô Hà Nội để về Huế sinh sống Với một người nguyên
là Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương, chắc hẳn ông có đầy đủ tư cách và điều kiện để trở về bằng một chuyên xa hay trên khoang Víp của một chiếc máy bay hạng sang Nhưng Nguyễn Khoa Điềm không chọn cách đó để trở về với quê hương bình
dị của mình Khi về hẳn với Huế ông vẫn thường ăn cơm nhờ hàng xóm nấu, đạp xe đi thăm bạn bè, rong ruổi khắp quê hương để tìm đến với những gì gần gũi nhất, những thứ mà một người đầy trải nghiệm như ông có thể đã biết song có lúc, nhiều lúc hoàn cảnh đã không cho phép ông nhớ và nghĩ tới nó Bạn thơ yêu quý gọi ông là “người làm dân không phải tập”, họ tìm thấy ở ông sự sâu sắc, thông cảm và đầy sẻ chia, một trái tim đa cảm và nhiều trăn trở Ta bắt gặp phẩm chất này trong rất nhiều tác phẩm của ông Năm 1997, khi đành phải lỡ hẹn về quê ăn tết với người thân, ông đã tạ lỗi với quê hương, với gia đình:
Đã lâu anh chưa về Huế Hẹn vào thu rồi lỡ cả cả mùa đông
Trang 27Anh mải miết trên đường hoạn lộ Ngoảnh lại hư ảo một vầng trăng …
Khi nghe tin Phùng Quán mất, ông day dứt:
Cuộc viễn du buồn đến vậy Người hùng thời niên thiếu của tôi ơi
(Người nằm bên Hồ Tây - Cõi lặng)
Nếu không có một tình bạn chân thành, không băn khoăn trăn trở thì không thể viết được những câu thơ cảm động và bình dị đến thế Nguyễn Khoa Điềm là một người thơ đích thực, một nhà thơ luôn khát khao tìm kiếm
để sáng tạo và cống hiến cho đời, cho thơ Có lẽ bởi thế mà thơ ông thể hiện một khả năng liên tưởng đa dạng và linh hoạt Ông có thể kết nối những sự vật và hiện tượng xa cách nhau để tạo nên những ý tưởng mới lạ và độc đáo:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)
Lũ chúng con từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống
(Mẹ và quả - Đất ngoại ô)
Cũng như nhiều nhà thơ khác, Nguyễn Khoa Điềm đã gắn thơ mình với
sự nghiệp chung của đất nước và nhân dân Mạch thơ của ông ngay từ những bài đầu tiên tới sau này đều nhằm mục đích khám phá thực tại, khám phá bản thân Bởi thế thơ Nguyễn Khoa Điềm đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ, phải động não mới có khả năng nắm bắt được những tư tưởng sâu xa bên trong Nguyễn Khoa Điềm là thế, một người mà đằng sau dáng vẻ trầm tư lặng lẽ, những hào nhoáng của chốn quan trường một thuở là một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm với đời, với người và cũng rất cần ở cuộc đời một sự cảm thông, thương mến
Trang 281.3.2 Vốn sống, vốn văn hóa phong phú
Đối với mỗi nhà thơ, sự trải nghiệm trong cuộc sống, vốn văn hóa phong phú có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhờ nó tác phẩm của họ đến gần hơn với độc giả, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức và khám phá của người đọc Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ có vốn sống phong phú, nhiều trải nghiệm, bởi thế mà thơ ông sâu sắc và đầy chiêm nghiệm chăng ?
Sau hơn một trăm năm là kinh đô, Huế hút vào mình không ít tinh hoa văn minh của nhân loại Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều nghệ sĩ thành danh đều sinh trưởng ở Miền Trung với Huế là tâm điểm Nhưng có lẽ những năm ăn học ở Miền Bắc, đặc biệt là những năm là sinh viên khoa Văn của trường Đại học sư phạm Hà Nội Nơi đây từng được ví như “bảo tàng sống của văn hóa dân gian Đại Việt” Sau mỗi chuyến điền dã của sinh viên, thư viện nhà trường lại đây thêm, phong phú thêm kho tàng tục ngữ, thành ngữ,
ca dao dân ca Nhờ đó, sinh viên nhà trường qua nhiều thế hệ đã được làm giàu thêm vốn kiến thức về văn hóa dân gian của dân tộc Và cũng nơi đây có những người thầy giáo tài năng, tâm huyết Họ đã truyền cho các thế hệ sinh viên không chỉ vốn tri thức phong phú, sâu sắc Đông - Tây, kim cổ mà còn thổi vào tâm hồn họ tình yêu văn chương, niềm tự hào về quê hương đất nước May mắn là một sinh viên được trưởng thành trong môi trường giáo dục ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã tích lũy cho mình một hành trang tri thức, hình thành cho mình một nhân cách sống, một tài năng, cá tính Chất triết luận, suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được bắt nguồn từ vốn tri thức uyên bác và bề sâu văn hóa trong mối liên tưởng vừa sắc sảo vừa huyền ảo, thấp thoáng bóng dáng văn hóa cổ xưa của hồn dân tộc Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất liệu văn học và văn hóa dân gian, câu thơ dù ở thể truyền thống hay hay tự do bao giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao tục ngữ Chất hiền minh của trí tuệ nhân dân thấm đẫm trong từng từ, từng
ngữ, mà tiêu biểu là trường ca Mặt đường khát vọng
Trang 29Năm 1964 cùng với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội và ông được trở về quê hương hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên - Huế Hòa mình vào cuộc chiến tranh dữ dội, được tận mắt chứng kiến tội ác của kẻ thù và tinh thần bất khuất của đồng chí đồng bào ở quê hương Điều đó đã khơi nguồn cảm hứng mãnh liệt cho hoạt động sáng tác của nhà thơ Trở về quê hương sau nhiều tháng bị địch bắt trong một trận càn, nhà thơ gắn bó với phong trào học sinh, sinh viên thành phố Huế Dù chỉ trong khoảng thời gian hai năm nhưng nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm Qua những
“đêm không ngủ”, những “ngày xuống đường”, Nguyễn Khoa Điềm đã tích lũy cho mình vốn sống và sự trải nghiệm để sau này cảm hứng thi ca trào lên thành một bản anh hùng ca của tuổi trẻ Miền Nam đấu tranh qua hai tập thơ
đã trở thành nhà thơ từ đó Sau năm 1975, đất nước thống nhất, bước vào thời
kỳ mới Dân tộc thống nhất, Bắc - Nam thu về một mối, một cuộc sống mới, một thời đại mới với không ít thách thức đang chờ đón cả dân tộc Khi tiếng súng ngừng lại, giờ đây mỗi người lại trở về với những lo toan bộn bề của cuộc sống đời thường Cuộc sống lúc này hiện lên phong phú hơn, màu sắc hơn và cũng phức tạp hơn nhiều Cũng như nhiều nghệ sĩ khác, Nguyễn Khoa Điềm chân thành và bình thản đón nhận nó như khi nhân danh một thế hệ tuyên thệ cùng dân tộc Năm 2006, Nguyễn Khoa Điềm từ giã chính trường,
“từ giã cà vạt, giày đen, lời trịnh trọng” để làm một người trong mọi người, để
Trang 30được “tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường/ một mình một ba
lô và xe đạp” Chính vì thế mà Nguyễn Khoa Điềm đã có điều kiện để nhận ra
rõ hơn những khúc cua ngặt trên đường đời, thu vào mắt những điều hiển hiện vẫn thường xảy ra hằng ngày mà có lúc ông chưa thấy được Cuộc sống ở rất gần, thật giản đơn thật ấm áp và cũng thật cay đắng Bởi thế mà trong tâm trạng của người đàn ông dường như đã nếm trải mọi gừng cay muối mặn trên cõi thế đã có quá nhiều xáo động Phải chăng vì thế mà ta bắt gặp được quá nhiều những trăn trở, khắc khoải thậm chí là suy tư, đau đớn của ông về lẽ đời
trong Cõi lặng:
Vì sao không thể yêu mến hơn
Vì sao không thể tươi xanh hơn
Vì sao không thể trong sạch hơn
(Trong những buổi chiều - Cõi lặng)
Nếu những tháng năm trên giảng đường đại học cho ông kiến thức, mở rộng tầm nhìn văn hóa, thì những tháng năm đấu tranh chống Mỹ ở chiến trường và cả những tháng năm thăng trầm của thời hậu chiến đã giúp Nguyễn Khoa Điềm trang bị cho mình một vốn sống, sự trải nghiệm sâu sắc để hiểu đời hơn Những day dứt về lẽ đời cho thấy trái tim thơ, trái tim yêu của ông đang đập ngược chiều tuổi tác để trong trẻo với mùa xuân và cuộc đời Dường như nhà thơ đang thêm một lần nữa vin vào những tín điều thời trai trẻ để cố gắng nhìn nhận những tín hiệu mới của thời đại mới một cách đúng đắn hơn, điềm đạm hơn
1.3.3 Tài năng nghệ thuật
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ thành danh ở cả lĩnh vực chính trị
và thơ ca Trong chiến tranh ông đã nhiệt tình cống hiến tuổi xuân cho cách mạng Hòa bình lập lại ông đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng của Đảng
và nhà nước và ở cương vị nào ông cũng thành công Sinh ra và lớn lên ở
Trang 31Huế, được đào tạo có bài bản ở Miền Bắc lại sớm tiếp xúc một cách có chọn lọc văn học đô thị ở miền Nam thông qua các bạn văn: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao… điều đó góp phần hình thành phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trong những sáng tác đầu tay Nguyễn Khoa Điềm được mọi người yêu thích và nể phục bởi lòng say mê,
kiên trì và nhẫn nại trong công việc sáng tác Năm 1972 tập thơ Đất ngoại
ô ra đời với giọng thơ khá mới mẻ Trong Đất ngoại ô, có những câu thơ,
đoạn thơ đầy ấn tượng:
Lớp học nào Người đã đến ngồi đây Những mùa thu âm thầm lá đổ Như vùi sâu cả bầu trời xứ sở Xuống dòng sông nức nở khúc Nam ai
(Nơi Bác từng qua) Đất nước Tình yêu Mơ ước Mai sau Tên mấy đứa đêm nay không sưởi lửa Tên dãy phố ta mơ về gõ cửa
Sâu chập chùng giữa than củi lung linh
(Bếp lửa rừng) Đất ngoại ô thể hiện những suy tư của tác giả về cuộc sống lam lũ của
người dân lao động, về tình cảnh đau thương của đất nước, về tình bạn bè,
đồng đội, về tình yêu Thành công nhất trong Đất ngoại ô có lẽ là Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Hình ảnh “lưng núi thì to mà lưng mẹ thì nhỏ”
và “mặt trời của bắp thì nằm trên đồi/ Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” là những hình ảnh bình dị mà vô cùng sâu sắc Nhà thơ chia sẻ nỗi vất vả của người mẹ miền núi A Lưới và cảm phục tình yêu mà mẹ dành cho em Cu Tai, cho bộ đội Cả bài thơ toát lên tinh thần yêu nước của những người dân lao động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Trang 32Chỉ với 31 bài thơ nhưng Đất ngoại ô đã tái hiện sinh động hiện thực
đời sống chiến trường và thế giới nội tâm tinh tế, giàu xúc cảm của nhà thơ -
chiến sĩ Đất ngoại ô chiếm một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thi ca của
Nguyễn Khoa Điềm, nó mở ra cho ông một hướng đi riêng, một cách nói, một giọng điệu riêng trong nền thơ chống Mỹ
Trường ca Mặt đường khát vọng được viết tại khu sáng tác Trị Thiên - Huế trong hoàn cảnh khốc liệt nhất của chiến tranh Mặt đường khát vọng tiếp
tục mạch suy tư về nhân dân đất nước bằng lối thể hiện tự nhiên, bình dị, phóng khoáng, hiện đại vốn có của nhà thơ Trong thời kì chống Mỹ, đất nước, nhân dân và cách mạng là nguồn cảm hứng lớn của thi ca, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm ta thấy ông chú trong khai thác chủ đề này ở bề sâu của bản chất, ông tìm cái nhân trong quả, tìm cội rễ của cây, tìm những mạch nguồn rỉ rách từ sông suối Gần một thế kỉ trôi qua nhưng những tứ thơ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm vẫn còn nguyên cảm xúc:
Ta đi gữa năm tháng không ngờ
Vô tư quá để bây giờ xao xuyến Bèo lục bình mênh mang màu mực tím Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông
(Lời chào - Mặt đường khát vọng)
Xuất phát từ mong muốn “phải làm cái gì đó để động viên thế hệ trẻ và động viên chính mình” Nguyễn Khoa Điềm lựa chọn hình thức trường ca để thể hiện tư tưởng của mình Với đặc trưng của thể loại trường ca có khả năng thể hiện hiện thực một cách rộng lớn, có nhiều mặt, nhiều tầng lớp khác nhau, Nguyễn Khoa Điềm đã tái hiện cuộc sống của dân ta và tố cáo tội ác đế quốc
Mỹ Ra đời trong những năm phong trào học sinh, sinh viên Huế phát triển,
trường ca Mặt đường khát vọng đạt được thành công không nhỏ Tác phẩm ấy
là kết quả của vốn tri thức văn hóa phong phú kết hợp với những trải nghiệm
Trang 33của người trí thức trưởng thành trong chiến tranh Đặc biệt thành công trong
bản trường ca này là chương Đất nước Nhà thơ đã đào sâu suy nghĩ để nâng
cảm xúc của mình lên ngang tầm thời đại Sự phong phú của tình cảm được ông xếp lại thành thơ, vì thế cách định nghĩa về đất nước của ông thật ấn tượng giữa rất nhiều các định nghĩa đã có về đất nước:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong những “cái ngày xửa ngày xưa”…
mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
(Đất nước - Mặt đường khát vọng)
Đất nước, nhân dân gắn bó máu thịt với những trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm, sự gắn bó ấy phát động cảm hứng của ông đến tột đỉnh Trong Mặt
đường khát vọng chương Đất nước không chỉ là một thành công điển hình của
nhà thơ mà là một trong những bài thơ viết hay nhất về đất nước của thơ ca Việt từ xưa đến nay với mạch cảm xúc dâng trào, sự liên tưởng trùng điệp, sức tưởng tượng phong phú dựng lên những hình tượng mang tính khái quát cao
Bước sang thời hòa bình, mặc dù phải bận rộn với nhiều cương vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước, song Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục sáng tác,
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm ra đời năm 1986 và Cõi lặng ra đời năm 2007 là
minh chứng cho tài năng và đam mê của ông với thi ca Giai đoạn này, những cảm xúc dạt dào của tuổi trẻ được thay thế bằng những suy nghĩ, chiêm nghiệm
về cuộc đời, những tâm tình riêng Từ hướng ngoại thơ ông trở về hướng nội, thơ ông nói tới mọi khía cạnh buồn vui của cuộc sống qua tâm trạng Mảng thơ sau chiến tranh đã trình diện khá đầy đủ phong cách thơ, con người thơ của Nguyễn Khoa Điềm trước đông đảo quần chúng yêu thơ Thơ ông trước hết là tiếng nói của cái tôi nội cảm Ông tập trung khai phá và đào sâu vào bản thể,
Trang 34vào sự cô đơn và ý thức cá nhân giữa đám đông Nếu trong phần thơ viết về chiến tranh do nhiều lí do cái tôi các nhân bị nhòe đi nhường chỗ cho cái ta tập
thể thì phần thơ sau này, đặc biệt trong Cõi lặng cái tôi được định hình một
cách rõ nét và đầy cá tính Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm người đọc nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa cái ta và cái tôi, đó là một biểu hiện của một bản lĩnh thơ đầy tự chủ, nói cách khác đó là kết quả của một quá trình vật vã kiếm tìm đời sống xã hội đầy biến động trong chính bản thân mình Cảm xúc trong mảng thơ sau chiến tranh của Nguyễn Khoa Điềm càng ngày càng dồn nén, đặc biệt khi ông viết về những ám ảnh, những mảnh vỡ của cuộc sống sau chiến tranh, sự
thay đổi trong thời kinh tế thị trường… Tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm được
tặng giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam là một sự ghi nhận cho tài năng, tâm huyết của Nguyễn Khoa Điềm “Tập thơ này của anh quá ít những đền đài trang nghiêm óng ả nhưng ấm áp nặng chắc, gợi nhiều nghĩ ngợi về cái lẽ sống,
lẽ chết của chúng ta, cái hạnh phúc đích thực của cuộc sống” [61, 56] Đọc
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm người đọc đôi khi phải ngỡ ngàng trước những suy
nghĩ, tưởng tượng kì lạ và lối tư duy mới mẻ của ông:
Trên khối đá của từ ngữ Anh đục đẽo khuôn mặt của đời anh dầu dãi Mọc lên sau cánh rừng ngun ngút ngữ ngôn Cái phút khối điêu khắc định hình
Là cái phút tung bay từng mảnh vụn Mỗi chữ chìm sâu một cuộc đời thường (Tặng một người sáng tạo - Ngôi nhà có ngọn lửa ấm)
Nghệ thuật đôi khi phải gánh chịu hậu quả của cái nhìn nóng vội và phiến diện Thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng không nằm ngoài vòng xoay ấy Song nghệ thuật chân chính luôn khẳng định được giá trị của chính bản thân
nó Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục thành công bởi những rễ cây tâm hồn luôn
Trang 35khao khát vươn tới những vườn đất sống Với Ngôi nhà có ngọn lửa ấm,
Nguyễn Khoa Điềm đã tạo ra bản hợp xướng của các giọng thơ, sự kết hợp hài hòa giữa các thể loại thơ tự do, lục bát,… chất cổ điển và hiện đại kết hợp với nhau hài hòa “Câu thơ trí tuệ, cô đúc ý tứ, tước đi câu chữ bắc cầu Thơ anh mở ra những chiều sâu mới Ta có cảm nghĩ câu thơ anh có khi như ngón tay khẽ đặt lên phím đàn để lan truyền ấn tượng về âm thanh hơn là chính âm thanh” [3]
Cõi lặng được ra đời ngay sau khi nhà thơ từ giã chính trường Bằng
giọng thơ thủ thỉ, ngôn ngữ thơ tự nhiên tập thơ thể hiện những trải nghiệm, những suy tư dằn vặt của một người dường như đã trải qua mọi gừng cay
muối mặn của cuộc đời Sau Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng tiếp tục là
thành công của Nguyễn Khoa Điềm về cảm hứng trong cuộc sống đời thường Tập thơ này thể hiện hướng cảm xúc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng như
con người ông: điềm đạm và lắng sâu Mặc dù trong Cõi lặng, ta nhiều lần bắt
gặp nhiều cung bậc tâm trạng xót xa day dứt của nhà thơ trước nhân tình thế thái nhưng Nguyễn Khoa Điềm không rơi vào cảm hứng bi kịch Qua những sáng tác của mình ông luôn bộc lộ bản lĩnh của một nhà thơ luôn chung thủy với lý tưởng đã chọn và luôn biết đối diện với chính mình trên cơ sở ý thức
công dân sâu sắc Cõi lặng đã mang lại nhiều cảm xúc cho người đọc, thông qua Cõi lặng nhà thơ gửi gắm nhiều thông điệp cho cuộc đời, cho mỗi người
trong hành trình cuộc sống của họ:
Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng
Sự tàn nhẫn giúp ta điều lành
Nỗi buồn đánh thức hi vọng
(Hi vọng 2 - Cõi lặng) Một điều rất dễ nhận ra ở Cõi lặng đó là niềm tin, hy vọng vào cuộc
đời, vào lòng tốt ở con người của nhà thơ, đó là cách nhà thơ thổi vào ta ngọn lửa lạc quan về cuộc sống:
Trang 36Cuộc đời độ lượng
Có chỗ cho mọi vóc hình sự sống
Để sự sống phải mở đường đi Qua bóng tối cái chết…
(Hy vọng 2 - Cõi lặng) Cõi lặng hoàn thiện hơn chân dung người thơ Nguyễn Khoa Điềm,
người đọc nhận thấy thơ ông ngày càng đào sâu vào tiềm thức, vào những giá trị nhân bản mà không phải ai là nhà thơ cũng làm được điều đó
Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là một gương mặt tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ mà còn là một tác giả lớn của văn học Việt Nam hiện đại Sau hơn
40 năm cầm bút, với cái tâm và tầm của nghệ sĩ lớn ông đã góp cho nền thơ nước nhà những sản phẩm nghệ thuật đặc sắc góp phần làm phong phú thêm
cho gương mặt văn học của đất nước Những tác phẩm: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của ông được nhận Giải thưởng nhà nước về Văn học - Nghệ thuật Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ và chương Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng được
tuyển chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn giảng dạy trong nhà trường Bấy nhiêu đó đã chứng minh được tài năng và trí tuệ của Nguyễn Khoa Điềm, đó còn là tấm lòng của ông đối với Đất Nước, với cuộc đời, bởi “nếu thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì không thể có thơ hay được Sự sống chín đầy trong tâm hồn người làm thơ là cơ sở của sự thăng hoa sáng tạo Thơ phải góp phần làm đẹp tâm hồn” (Nguyễn Khoa Điềm)
Với những suy nghĩ mới mẻ, những tìm kiếm khác lạ để thể hiện thế giới tâm hồn mình, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên một dấu ấn riêng trong giọng thơ, chất thơ Điều đó lí giải cho một phong cách thơ giàu chất suy tưởng, giàu cảm xúc có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống văn hóa Đó là điều không phải cây bút nào cũng có được
Trang 37Chương 2 SUY TƯỞNG TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
THỜI CHỐNG MỸ
Trưởng thành từ phong trào thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm đã hăng hái, nhiệt tình tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng Tổ quốc Những bài thơ của ông trong giai đoạn này mang ý nghĩa cổ vũ lớn lao góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong giai đoạn này tập trung vào các vấn đề dân tộc và thời đại Những suy nghĩ trực tiếp của ông về đất nước, nhân dân, giặc Mỹ
được thể hiện khá thành công trong hai tập thơ Đất ngoại ô và trường ca Mặt đường khát vọng Điều khác biệt giữa làm nên phong cách thơ Nguyễn Khoa
Điềm là ông nói những những điều lớn lao một cách nhỏ nhẹ, nói về đất nước một cách dịu dàng, ngay cả những cuộc hẹn hò lứa đôi trong thơ ông những ngày chiến tranh cũng mang tầm vóc của một dân tộc Có lẽ bởi thế mà thơ ông có sức lan tỏa mạnh mẽ
2.1 Cảm hứng sáng tạo
2.1.1 Hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc
Quá khứ hóa thân trong hiện tại, đó là quy luật của tạo hóa đồng thời cũng là quy luật của văn chương Đã có không ít bài học cho việc chối bỏ truyền thống “Cội nguồn của sự khủng hoảng toàn diện của chúng ta là ở thái
độ với quá khứ, bởi lẽ qua khứ là nền móng của bất cứ xã hội nào, bất cứ nền văn hóa nào” (X Bôn -đa -súc, nhà đạo diễn điện ảnh Xô viết) Trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc giúp chúng ta thấy được nền tảng của tinh thần dân tộc Bởi thế, dễ hiểu vì sao trong thơ ca nói chung và trong những sáng tác của nhiều nghệ sĩ lớn, trở về cội nguồn dân tộc đã trở thành một cảm hứng
Trang 38sáng tạo mãnh liệt Nguyễn Khoa Điềm là một trong số đó Với ông, cuộc sống hôm nay là sự đồng vọng của khứ và tương lại
Quá khứ được nhìn bằng đôi mắt hôm nay
Và hôm nay từ đôi mắt ngày mai Chúng tôi sống bằng tương lai một nửa
(Mặt đường khát vọng)
Nguyễn Khoa Điềm có một vốn tích lũy phong phú về văn hóa của dân tộc Sự tàn khốc của chiến tranh chống Mỹ càng thôi thúc nhà thơ suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn về đất nước mình để có được những phát hiện tinh tế
có khả năng làm sống dậy truyền thống văn hóa dân tộc, từ đó khơi gợi lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam Khi được hỏi về những sáng tác trong chiến tranh, Nguyễn Khoa Điềm tâm sự: “Chúng tôi là những tri thức trưởng thành qua chiến tranh, chúng tôi phải huy động hết những phần văn hóa của mình để chứng minh mình là người có văn hóa Chính bởi thế mà trong không khí sặc mùi thuốc súng ấy, giữa cái giáp ranh cuả sự sống và cái chết, tôi muốn đưa vào thơ những hình ảnh văn hóa đậm nét văn hóa nhất của quê hương đất nước mình” [18, 124] Điều này góp phần lý giải sự xuất hiện dòng mạch suy tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Bản chất của văn hóa Việt Nam có chung nguồn gốc với vũ trụ quan truyền thống Á Đông Một trong những đặc điểm của văn hóa phương Đông
là sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng, vật biểu của phương Đông là Rồng, trong triết lí Âm - Dương, vật biểu của phương Nam là chim Trong nhiều sáng tác của mình, khi nói về Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng hai biểu tượng Chim - Rồng để đưa ra khái niệm về đất nước:
Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở
Trang 39Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
(Đất nước - Mặt đường khát vọng)
Khác với các dân tộc khác, vật biểu của dân tộc Việt Nam mang tính cặp đôi, vì vậy biểu tượng nòi giống của dân tộc Việt Nam không phải là một con vật duy nhất mà là cặp đôi âm trước dương sau, gắn liền với huyền thoại những đàn chim Lạc bay về phương Nam để mở mang bờ cõi:
Một đất nước
Từ buổi đầu tiên Mang dấu hiệu cặp cánh tự do của bầy chim Lạc Qua suốt bốn nghìn năm
(Nghĩ về một nhãn hiệu - Đất ngoại ô)
Bằng những liên tưởng độc đáo và cụ thể, Nguyễn Khoa Điềm nói về cội nguồn đất nước theo chiều dài lịch sử đằng đẵng và không gian địa lý mênh mông để gợi lên trong mỗi người ý niệm thiêng liêng về Đất Nước - đó
là sự hóa thân của lịch sử, của máu xương bao thế hệ cha anh đã cố công gìn giữ Để tái hiện quá trình bắt đầu và lớn lên của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm
đã làm sống dậy cả một không gian văn hóa cổ xưa trong bề dày lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Bề dày lịch sử ấy chứa đựng chiều sâu của một nền văn hóa phong phú, lâu đời đầy nhân hậu với truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam: cần cù, chịu khó trong học tập, làm ăn, dũng cảm trong chiến đấu, chung thủy trong tình yêu Những vẻ đẹp của đất nước được khơi lên từ mạch tâm tình, thấm đẫm hơi thở của ca dao dân ca, huyền tích sử thi của dân tộc Giọng thơ chân thành tha thiết chuyển tải những suy ngẫm về dân tộc:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa
mẹ thường hay kể
Trang 40Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng Đất nước có từ ngày đó
(Đất nước - Mặt đường khát vọng)
Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được hình thành từ
sự hội tụ của hai yếu tố đất và nước Hai yếu tố này kết hợp với nhau để rồi từ
đó sinh thành nên cơ thể đất đai, núi non, xứ sở… những năm chiến tranh, đến với ngọn nguồn văn hóa Hương Giang, Nguyễn Khoa Điềm đã suy ngẫm
về cội nguồn Đất Nước Rất nhiều lần trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt
trong chương Đất Nước ta bắt gặp những suy ngẫm của nhà thơ về lãnh thổ
gắn liền với hai yếu tố gần gũi mà thiêng liêng này:
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
(Đất nước - Mặt đường khát vọng)
Theo Chu Văn Sơn đó là một loạt “những định nghĩa bằng thơ, chúng
là sản phẩm của một tư duy vừa giàu chất trữ tình thi ca vừa mang tính huyền thoại vừa thấm đượm phong vị triết học” [62] Từ những liên tưởng về cội nguồn đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa quá khứ về với hiện tại của thời mình đang sống và chiến đấu: