1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh các trường trung học cơ sở ở quận 8, thành phố hồ chí minh

106 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tập Môn Ngữ Văn Của Học Sinh Các Trường Trung Học Cơ Sở Ở Quận 8, Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Giáo Dục
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 836,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài 1 1 Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào

Trang 1

VÕ KIM HOA

HO¹T §éNG KIÓM TRA §¸NH GI¸

KÕT QU¶ HäC TËP M¤N NG÷ V¡N CñA HäC SINH C¸C TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së ë QUËN 8,

THµNH PHè Hå CHÝ MINH

Chuyên ngành: LL & PPDH Bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN- 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 7

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 7

1.1.2 Đổi mới KTĐG kết quả học tập của học sinh - một biểu hiện cụ thể của đổi mới phương pháp dạy học 17

1.1.3 Nội dung KTĐG kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS 19

1.1.4 Các nguyên tắc, phương pháp, hình thức kiểm tra, công cụ và phương tiện kiểm tra kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS 21

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30

1.2.1 Khái quát về đặc điểm Quận 8, TPHCM 30

1.2.2 Tình hình giáo dục Quận 8 31

1.2.3 Thực trạng việc KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh ở các trường THCS Quận 8 TPHCM 35

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH 41

2.1 Nội dung kết quả đánh giá 41

Trang 3

2.2 Phương pháp kiểm tra đánh giá 58

2.2.2 Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá 59

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 79

3.1 Nội dung thực nghiệm chính 79

3.1.1 Phạm vi thực nghiệm 79

3.1.2 Cách thức tiến hành 79

3.2 Kết quả thực nghiệm (qua so sánh) 86

3.2.1 Những điều do kiểu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũ đưa lại 86

3.2.2 Tính ưu trội của kiểu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập do tác giả luận văn đề xuất 87

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 1 Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, trong đó giáo dục đã có một cuộc cải cách thực sự về nội dung, phương pháp dạy học Ngành giáo dục đã xác định: Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình, từ quan niệm cho đến quy trình kỹ thuật và đổi mới hoạt động quản lý

cả quá trình này Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy

và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Tuy nhiên, trong nhiều năm thực hiện đổi mới giáo dục, ngoài những kết quả đạt được về quy mô, về đa dạng hoá các loại hình đào tạo, về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học… thì chất lượng giáo dục vẫn là một vấn

đề làm cho chúng ta vẫn phải băn khoăn Hiệu quả của đổi mới phương pháp giáo dục ở nhiều nơi còn quá chênh lệch và không cao mà nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá còn nhiều bất cập với việc đổi mới phương pháp giảng dạy

1 2 Hiện nay, do nhiều lí do, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường phổ thông chưa thực sự đổi mới Đa số giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học mà chưa chú ý đến yêu cầu thực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau này để xem người học hình thành

kỹ năng đến mức nào Kiểm tra đánh giá của giáo viên chưa bảo đảm nguyên

Trang 5

tắc “kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được

chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học” Từ khi có chủ trương yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của ngành

giáo dục, nhiều cơ sở giáo dục đã khẩn trương quán triệt tinh thần này đến toàn thể giáo viên Đã có không ít những chuyên đề, hội thảo, tiết dạy tập trung thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục với nhiều nội dung Tuy nhiên

có thể thấy, có nhiều nội dung đổi mới phương pháp dạy học đã được quan tâm mổ xẻ nhưng vấn đề kiểm tra, đánh giá chưa được chú trọng, bàn bạc, nghiên cứu sâu để góp phần tìm một hướng đi thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục

1.3 Việc dạy học Ngữ văn cấp trung học cơ sở ở Quận 8, thành phố Hồ

Chí Minh không đứng ngoài thực trạng đó Là người phụ trách chuyên môn bậc trung học cơ sở tại của quận, tôi không khỏi băn khoăn làm thế nào để qua việc kiểm tra đánh giá có thể đánh giá toàn diện, khách quan, chính xác mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng của học sinh so với yêu cầu môn học, làm sáng r mức độ đạt và chưa đạt được về mục tiêu đào tạo để từ đó có biện pháp chỉ đạo thiết thực, ph hợp làm cơ sở để xây dựng chiến lược giáo dục

về mục tiêu, đội ngũ giáo viên, đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy… đáp ứng yêu cầu của thực tế và hướng quy hoạch giáo dục trong tương lai nh m nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục của quận nhà Vì vậy, việc

chọn đề tài Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn các

trường trung học cơ sở ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ các lí

do nêu trên

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2 1 Từ những năm đầu của thập niên 90, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu và những bài báo cáo của các giáo sư, tiến sĩ, những chuyên gia đầu ngành về đánh giá đề cập vấn đề đổi mới và hòan thiện cách kiểm tra đánh giá

Trang 6

kết quả học tập của học sinh và sinh viên ở tất cả các bậc học từ phổ thông đến đại học và thậm chí là sau đại học Đó là GS TS Dương Thiệu Tống,

GS TSKH Lâm Quang Thiệp, TS Nguyễn Phụng Hòang… Theo GS TS Lê

Đức Ngọc thì kiểm tra đánh giá là công đoạn quyết định chất lượng của quá

trình giảng dạy và học tập Đối với giáo viên, kiểm tra đánh giá giúp giáo viên biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy Đối với người học, kiểm tra đánh giá giúp cho học viên biết được chất lượng học tập Đối với nhà quản lý, kiểm tra đánh giá giúp cho họ điều chỉnh chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy

và học tập cũng như ra những quyết định về đánh giá kết quả học tập của

người học được chính xác và đáng tin cậy

2 2 Các giáo trình lí luận dạy học, hội thảo, kỷ yếu, sổ tay của các trường Đại học sư phạm, Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Giáo dục… cũng đã chỉ r tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giới thiệu sơ lược về các hình thức kiểm tra đánh giá ở các nước tiên tiến, trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập và hạn chế trong việc kiểm tra đánh giá trong hệ thống giáo dục Việt Nam đồng thời cũng đề xuất những giải pháp có tính chiến lược, mang tầm vĩ mô nh m cải thiện việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập hiện nay

2 3 Công tác kiểm tra đánh giá trường học, đặc biệt là kiểm tra hoạt động dạy học bộ môn ngữ văn ở trường trung học cơ sở luôn được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm và tìm hướng đi cho ph hợp Các tài liệu về đổi mới giáo dục cũng đã khẳng định: “đánh giá giáo dục trong những năm qua

đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng chắc chắn còn phải tiếp tục rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho ph hợp và cho thực sự đổi mới” (Bộ Giáo dục,

2007, Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học cơ sở môn Ngữ văn,

Nxb Giáo dục)

2 4 Công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh phổ thông ở Việt Nam thực sự vẫn

Trang 7

chưa xuất hiện Chúng ta có văn bản hướng dẫn kiểm tra đánh giá nhưng chưa chuẩn và thực tế qui định đó còn mang tính áp đặt và không ph hợp với yêu cầu “đổi mới” giáo dục mà trong nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

đã khẳng định: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học

Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên” (Nghị

quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X)

2 5 Đối với ngành giáo dục Quận 8, một trong những quận đang từng bước rút ngắn khoảng cách với các quận nội thành khác về chất lượng giáo dục, đang tập trung thực hiện đề án nâng cao chất lượng giáo dục, yếu tố nâng cao chất lượng dạy học được các nhà quản lý giáo dục quan tâm hàng đầu chính là công tác kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học trong nhà trường Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Đây cũng chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Như tê đền tài đã xác định r , đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong

luận văn này là hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của

học sinh các trường trung học cơ sở Quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số giải pháp đổi mới nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn ngữ văn của học sinh trung học cơ sở ph hợp với điều kiện thực tế

4 3 Tiến hành kiểm nghiệm thực tế các giải pháp đã nêu ra

5 Phương pháp nghiên cứu

5 1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Xây dựng cơ sở lý luận

của vấn đề nghiên cứu, bao gồm các phương pháp: phân tích, tổng hợp, nghiên cứu các văn bản pháp qui, các tài liệu khoa học và khái quát hóa hệ thống lý luận có liên quan đến đề tài

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nh m xây dựng cơ sở

thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, bao gồm các phương pháp như điều tra b ng phiếu tìm hiểu, quan sát, phỏng vấn…

5 5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của đối tượng

Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của chủ thể và khách thể kiểm tra đánh giá nh m tìm hiểu kỹ năng kiểm tra theo mục tiêu, việc đánh kết quả học tập bộ môn

5 6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia giáo dục

Tham khảo ý kiến của các chuyên viên Sở Giáo dục & Đào tạo TPHCM, chuyên viên Phòng Giáo dục & Đào tạo Quận 8 cũng như các đồng

Trang 9

nghiệp là Ban giám hiệu các trường về kiểm tra đánh giá để có thêm thông tin

và góp ý

5.7 Phương pháp toán thống kê

Nh m xử lý số liệu thu được, nghiên cứu để làm các cứ liệu, các chỉ số đánh giá

6 Đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa những lý luận về đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của Hiệu trưởng các trường THCS Quận 8

Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá bộ môn ngữ văn ở các trường THCS, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Hiệu trưởng, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Đề xuất các giải pháp cho cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường tham khảo thêm việc đổi mới công tác kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học

tập môn Ngữ văn của học sinh các trường trung học cơ sở

ở Quân 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Thực nghiệm và kết quả

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Kiểm tra, đánh giá

"Đánh giá" là thuật ngữ có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi và có rất

nhiều định nghĩa khác nhau Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “đánh giá là nhận

định giá trị” [48, tr.278] Theo quan điểm triết học, đánh giá là một thái độ đối với hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người, xác định những giá trị của chúng tương xứng với những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nhất định (khen ngợi, lên án, đồng tình hay phê phán…) được xác định b ng vị trí

xã hội, thế giới quan, trình độ văn hóa… Như vậy, đánh giá được chấp nhận

là “việc có giá trị với ý nghĩa cuối c ng dẫn đến sự cải tiến hoạt động của cá nhân và tập thể” [18, tr.163]

Theo GS TS Nguyễn Bá Kim, "Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nh m đề xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc" [37, tr.321]

Vậy, chúng ta có thể hiểu đánh giá là quá trình hình thành những phán đoán, nhận định về kết quả công việc trên cơ sở các thông tin thu dược và so sánh, đối chiếu với các mục tiêu đưa ra từ trước Từ đó, đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Đánh giá không đơn thuần chỉ là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá đi liền với kiểm tra được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với khâu lập

kế hoạch và khâu triển khai công việc Đánh giá là một quá trình, là yêu cầu

Trang 11

tất yếu, cần thiết đối với hoạt động con người, là đòn bẩy cho sự phát triển

Có thể áp dụng định nghĩa tổng quát này vào giáo dục, với nhiều cấp độ khác nhau như đánh giá hệ thống giáo dục của một quốc gia, đánh giá một đơn vị giáo dục, đánh giá giáo viên và đánh giá học sinh…

Căn cứ vào những nét đặc th của giáo dục (xét từ bình diện chức năng

và mục đích, đối tượng), thì: “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và

xử lí kịp thời, có hệ thống những thông tin về thực trạng, nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ trên mục tiêu giáo dục, nh m làm cơ

sở cho những chủ trương, biện pháp, hành động (quyết định) giáo dục tiếp theo” [3, tr.163]

Lê Đức Ngọc thì cho r ng đánh giá trong giáo dục là “căn cứ vào những thông tin định tính và định lượng (số đo) để đánh giá năng lực hoặc phẩm chất của sản phẩm đào tạo trong quá trình giáo dục” hay đánh giá là

“căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định, việc đánh giá năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo là để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nh m nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo” [46, tr.5]

Như vậy, d được diễn đạt b ng những cách khác nhau, nhưng chung quy, cốt l i của việc đánh giá trong giáo dục là một quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu của đào tạo

Nó có thể bao gồm những sự mô tả về mặt định tính hay định lượng những hành vi của người học c ng với những nhận xét đánh giá những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được về hành vi đó Đánh giá trong giáo dục

là xét đến các mặt: bản chất và ý nghĩa, mục đích, đối tượng, nội dung, cách thức, xử lí và phát huy tác dụng của kết quả thu thập qua đánh giá Trong giáo dục, việc đánh giá gồm nhiều loại khác nhau, được phân biệt theo mục đích với quy mô, cấp độ khác nhau như: đánh giá hệ thống giáo dục, đánh giá định

kỳ nhà trường theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, đánh giá chương trình sách giáo khoa, đánh giá

Trang 12

giờ dạy của giáo viên, đánh giá kết quả học tập của học sinh sau một giai đọan, đánh giá sự tiến bộ của học sinh sau quá trình học tập…

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến góc độ đánh giá kết quả học tập của học sinh Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh bao giờ cũng gắn liền với khái niệm kiểm tra Kiểm tra là công cụ của đánh giá, đồng thời kiểm tra đánh giá (KTĐG) là hai khâu trong một quy trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu Trong nhiều trường hợp, khi nói đánh giá, nghĩa là đã bao gồm cả kiểm tra

Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, kiểm tra là “xem xét tình hình

thực tế để đánh giá, nhận xét” [49, tr.504]

GS Nguyễn Bá Kim cho r ng, kiểm tra là: "Nh m cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả dạy học, trước hết là về tri thức và kỹ năng của từng học sinh nhưng cũng lưu ý cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của

họ c ng với sự diễn biến của quá trình dạy học’ [37, tr.321]

TS Mai Thị Kiều Phượng quan niệm: “kiểm tra được xem là phương tiện hình thức của việc đánh giá Thông qua việc sử dụng bộ công cụ đo lường được xây dựng dựa vào những mục tiêu và tiêu chí đã được xác định, kiểm tra sẽ trở thành phương tiện chuẩn để cung cấp những dữ kiện, những thông tin chính xác làm cơ sở cho công việc đánh giá [51, tr.313]

Theo tài liệu tập huấn cho giáo viên về dạy học, KTĐG theo chuẩn kiến thức và kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì kiểm tra là “thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu Kiểm tra là công cụ của đánh giá, đồng thời KTĐG là hai khâu trong một quy trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu” [20, tr.16]

Như vậy các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho r ng, kiểm tra với nghĩa khái quát là nh m thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét Còn trong dạy học, kiểm tra là

Trang 13

thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập của học sinh trong học tập nh m cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá Kiểm tra với tư cách

là phương tiện và hình thức của đánh giá, giúp thầy và trò điều chỉnh hoạt động dạy và học Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm

cơ sở cho việc đánh giá

Quá trình đánh giá bao gồm 4 bộ phận cấu thành trong một dây chuyền:

- Lượng hoá: "Lượng hoá một đặc điểm chung của những đối tượng mà ta muốn so sánh là biểu thị mức độ của đặc điểm này ở mỗi đối tượng đó" [37, 326]

Ta có thể hiểu “lượng hóa” (đo) là quá trình xác định các số đo cho các

cá nhân theo những nguyên tắc đã định r Đo yêu cầu sử dụng các số chứ không yêu cầu đưa ra những ý kiến đánh giá về con số có được từ cả quá trình

đó Như vậy, kết quả bài kiểm tra của học sinh được thể hiện b ng một số đo dựa theo những nguyên tắc nhất định Đó có thể là một điểm số, một thứ bậc, một loại hạng

- Lượng giá: "Lượng giá được hiểu là sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh" [37, tr.326]

Lượng giá là việc dựa vào các số đo, người ta đưa ra những thông tin ước lượng trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của một học sinh Lương giá là một bước trung gian giữa đo và đánh giá Nó cho biết trình độ tương đối của một học sinh trong lớp so với tiêu chuẩn ban đầu đề ra nhưng nó chưa trực tiếp nói lên thực chất trình độ của học sinh đó Tuỳ thuộc vào căn cứ d ng để giải thích, người ta phân biệt 2 cách lượng giá:

Lượng giá theo tiêu chuẩn: là sự giải thích về trình độ, kiến thức, kĩ năng hoặc thái độ của học sinh được so sánh tương đối trong một tập thể, một tập hợp nào đó

Lƣợng hoá Lƣợng giá Đánh giá Ra quyết định

Trang 14

Lượng giá theo tiêu chí: Là sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh đối chiếu với một tiêu chí nhất định nào đó đã đề ra ban đầu

- Đánh giá: Là một mắt xích trọng yếu, là bước quyết định trong quá trình kiểm tra Nó không dừng lại ở sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh mà còn gợi ra những hướng "bổ khuyết sai sót hoặc phát huy kết quả" Có hai loại đánh giá: đánh giá từng phần và đánh giá tổng kết

- Ra quyết định: Là khâu cuối c ng của quá trình đánh giá Những thông tin thu thập từ việc đánh giá sẽ làm căn cứ cho việc ra quyết định Thông thường, những quyết định này cho ta biết thầy giáo định làm gì, quyết định đó là hệ quả của việc lượng hoá, lượng giá và đánh giá việc học tập của học sinh

Như vậy kiểm tra và đánh giá là hai công việc có mối quan hệ biện chứng Kiểm tra là một thành phần của quá trình đánh giá; là phương tiện, hình thức để đánh giá; ngược lại muốn đánh giá thì phải tiến hành kiểm tra Điểm số của các bài kiểm tra là những dữ liệu thống kê quan trọng để xác định chất lượng dạy học của một chương trình đào tạo, song nó không phải là lời giải cuối c ng, càng không phải là mục tiêu của việc đánh giá chất lượng dạy học

Có thể cụ thể hóa mối liên hệ kiểm tra và đánh giá qua sơ đồ sau:

Kế hoạch Đánh

giá

Kiểm

tra

Trang 15

KTĐG kết quả học tập có một tầm quan trọng đặc biệt nó là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Đây là khởi đầu cho một chu trình giáo dục đồng thời cũng là kết thúc của chu trình giáo dục này để mở ra một chu trình giáo dục khác cao hơn KTĐG “không thể được xem như là việc báo cáo có tính chất hình thức về tình hình học tập, mà nó là một khâu quan trọng của quá trình trọn vẹn nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo” [38, tr.232]

Làm tốt khâu KTĐG sẽ là một biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nó “có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển sự học tập của học sinh, đẩy mạnh sự phát triển và công tác giáo dục các em” [38, tr.232 -233] KTĐG không chỉ là công việc của giáo viên

mà còn là công việc của học sinh Giáo viên KTĐG học sinh, còn học sinh tự KTĐG mình và KTĐG lẫn nhau

1.1.1.2 Kết quả học tập

Liên quan đến kết quả học tập có nhiều khái niệm khác nhau: Kết quả học tập, thành tích học tập, chất lượng học tập, hiệu quả học tập Với những cách gọi này, kết quả học tập được xem xét trên những phương diện khác nhau:

Nói đến “kết quả học tập” là nói đến thành tích học tập của học sinh nhưng ở hiện trạng những gì đạt được trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định (hay nói cách khác đó là sự đạt được những yêu cầu cụ thể về kiến thức,

kỹ năng theo mục đích đánh giá đã xác định) Ví dụ điểm số một bài kiểm tra, kết quả xếp loại từng môn học

Khi nói đến “thành tích học tập” là thiên về mức độ đạt được những mục tiêu (đã cụ thể thành các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ) của học sinh này với học sinh khác sau một quá trình tham gia học tập so với những yêu cầu của môn học

Khái niệm “chất lượng học tập” thiên về đánh giá cả định tính và định lượng những gì đạt được của học sinh trong quá trình hoàn thiện và phát triển

về trí tuệ, nhân cách, thể chất so với những mục tiêu môn học đã đề ra

Trang 16

Nói đến “hiệu quả học tập” là thiên về đánh giá kết quả đạt được những mục tiêu môn học trên cơ sở những đầu tư về nhân lực, vật lực, thời gian và công sức bỏ ra sau một giai đoạn học tập [26, tr.14]

Đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một môn học trước hết phải căn cứ vào mục tiêu của môn học đó Mục tiêu môn học chính là những yêu cầu cần đạt, được xác định trước khi học tập môn học Đánh giá kết quả học tập từng môn học của học sinh cũng có nghĩa là xác định mức độ đạt được các mục tiêu môn học đã đặt ra trên các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ, hay nói cách khác là các yêu cầu về đức, trí, thể, mĩ…) Các mục tiêu này có thể cụ thể hóa thành các tiêu chí đánh lượng hóa được

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là “căn cứ vào mục tiêu đào tạo

để thực hiện hai chức năng: chức năng thông tin phản hồi về quá trình dạy và học: người dạy tiến hành quá trình thu thập, nhận xét, xử lý kịp thời những thông tin thuộc về trình độ, khả năng thành thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về hiện trạng, thực trạng, tác động nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục của tình hình đó; và chức năng điều chỉnh của quá trình dạy học: người dạy cũng có thể dựa vào những cơ sở trên đây để tạo nên những quyết định sư phạm tiếp theo nh m mục đích giúp cho học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn [51, tr.312]

Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối

c ng mà còn chú ý cả quá trình học tập, tạo điều kiện cho học sinh c ng tham gia xác định các tiêu chí đánh giá kết quả học tập Chú trọng vào KTĐG hành động, thái độ của học sinh qua việc nghĩ và làm, năng lực vận dụng vào thực tiễn của học sinh thể hiện qua ứng xử giao tiếp

Như vậy, đánh giá kết quả học tập là quá trình đo lường mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học, là mô

tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các

Trang 17

khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt b ng lời nói, b ng văn bản viết, b ng chính ngôn ngữ chuyên môn của học sinh… và cả thái độ của học sinh trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi

từ việc quan sát, KTĐG mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học

Quy trình đánh giá gồm những công đoạn sau:

1) Phân tích mục tiêu học tập qua các kiến thức, kỹ năng trang bị cho người học

2) Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kỹ năng dựa trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được

3) Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra, biểu thị b ng điểm số

4) Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đặt ra sau

đó đánh giá, xem xét kết quả học tập của học sinh, xem xét mức độ thành công của phương pháp giảng dạy của giáo viên để từ đó cải tiến, khắc phục những nhược điểm

Điều quan trọng trong đánh giá là quán triệt nguyên tắc vừa sức, bám sát yêu cầu của chương trình Đánh giá kết quả học tập dựa trên mức thực hiện các tiêu chí và các chuẩn mực theo mục tiêu học tập đã được xác định trong chương trình giáo dục sẽ nhận những thông tin phản hồi chính xác nh m

bổ sung, hoàn thiện quá trình dạy học Nếu việc đánh giá kết quả học tập của học sinh được tổ chức thường xuyên, đúng thời điểm, nhất quán và chính xác

sẽ là chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục Bởi đánh giá kết quả học tập

của học sinh là nh m các mục đích:

- Đối với học sinh: “Kết quả đánh giá sẽ được sử dụng làm thước đo cho sự tiến bộ trong học tập, giúp các em tự nhìn nhận lại quá trình học tập đã qua của mình để phát hiện những ưu khuyết điểm và nguyên nhân của nó để

tự điều chỉnh quá trình học tập tiếp theo” [26, tr.9]

Trang 18

Nếu việc đánh giá được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của bản thân, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực cần thiết đối với quá trình học tập của học sinh không chỉ là khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời của một con người

- Đối với giáo viên: việc đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho giáo viên những thông tin cần thiết về:

1) Trình độ và kết quả học tập của lớp cũng như của từng học sinh đối với những mục đích học tập về các phương diện: nhận thức, kỹ năng và thái độ

2) Phát hiện kịp thời những sai lầm điển hình của học sinh và nguyên nhân của những sai lầm, để từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động học của học sinh

3) Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

- Đối với cán bộ quản lý: việc đánh giá học sinh sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy - học trong cơ sở đào tạo, trường học giúp các nhà quản l‎ý nắm bắt được những sai lệch, để từ đó kịp thời có những điều chỉnh ph hợp nh m thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.1.1.3 Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn

Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng

nh m tạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào, phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Việc đánh giá cho phép chúng ta xác định mục tiêu giáo dục được đặt ra có ph hợp hay không và có đạt được hay không, việc giảng dạy có thành công hay không và học sinh có tiến bộ hay không Đánh giá kiểm tra trong dạy học Ngữ văn và các bộ môn nói chung có tầm quan

Trang 19

trọng đặc biệt Đó là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Nếu việc KTĐG được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Tuy nhiên, việc đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn,

nó mang tính tổng hợp nhiều yếu tố, vì vậy, việc đánh giá phải đo lường chính xác khách quan các năng lực của người học, bao gồm không chỉ năng lực nắm vững các nội dung học tập, mà còn là những năng lực khác như: năng lực tự học, năng lực vận dụng giải quyết các tình huống mới, năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực sáng tạo…

Bên cạnh những khó khăn chung đó, việc đánh giá môn Ngữ văn cũng không dễ thực hiện bởi tính chất đặc th của bộ môn Bộ môn Ngữ văn là tổng hợp kiến thức của phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Trong

đó, các văn bản văn học chính là ngữ liệu để hình thành cho các em vốn kiến thức và kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ để vận dụng vào trong giao tiếp, vào

việc tạo lập các văn bản nói và viết (Tiếng Việt); những kiến thức chung về văn bản và tạo lập văn bản (Tập làm văn) và góp phần bồi dưỡng thái độ, tình

cảm, hình thành nhân cách ở học sinh qua các tác phẩm văn học Điều đặc biệt là các văn bản nghệ thuật này (tác phẩm văn học) được cấu tạo bởi nhiều lớp: ngữ âm (bao gồm độ luyến láy của âm, thanh, vần, nhịp), ngữ nghĩa (bao gồm từ, ngữ, câu đoạn), các đối tượng được thể hiện và các khía cạnh được sơ

đồ hoá, từ nhân vật đến khung cảnh, sự kiện, các mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật với nhau để tạo thành nội dung tác phẩm… Cả ba lớp này đều tồn tại vô số “những điểm bất định” hay “khoảng trắng” đòi hỏi người học phải lấp đầy b ng chính năng lực sáng tạo của mình Và như thế, mỗi học sinh, b ng chính vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống và sự sáng tạo của mình sẽ hình thành những tri thức, những nhận định, kỹ năng để lấp đầy khoảng trắng

ấy Chúng ta biết r ng, quá trình biến tác phẩm của nhà văn thành “tác phẩm” của học sinh chỉ có thể thực hiện khi trong bản thân của học sinh diễn ra hoạt động tiếp nhận đích thực, b ng chính năng lực cảm thụ của các em Quá trình

Trang 20

thâm nhập một tác phẩm văn học là một quá trình phức tạp, trải qua các giai đoạn khác nhau, trong đó đan xen, kết nối nhiều năng lực, trạng thái tâm lí, tình cảm, trí tuệ của người học Vì thế, d nỗ lực đến đâu, giáo viên vẫn không thỏa mãn với việc truyền thụ tri thức và hình thành năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Nắm vững tri thức khoa học, thực sự phát triển năng lực người, năng lực văn qua những tri thức đó sẽ t y thuộc vào sự tích cực và sáng tạo của các em Và vì thế, việc KTĐG các tri thức, năng lực đó ở học sinh là một vấn đề không dễ Với đề tài này, chúng tôi mong muốn làm thế nào để có thể đo lường, đánh giá không chỉ về kiến thức môn học mà còn còn đánh giá mức độ thành thục các kỹ năng và nhất là khả năng chuyển hóa những gì đã học thành các năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc

sống một cách khoa học, chính xác và khách quan hơn

1.1.2 Đổi mới KTĐG kết quả học tập của học sinh - một biểu hiện cụ thể của đổi mới phương pháp dạy học

Đánh giá kết quả học tập c ng với mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học là những thành tố khác nhau của quá trình dạy học Cách sử dụng phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học góp phần hỗ trợ quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung dạy học

và nâng cao chất lượng giáo dục Chính vì thế, phương pháp dạy học, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học buộc chúng ta phải thay đổi cách đánh giá hướng đến đánh giá toàn diện các năng lực, phẩm chất của người học, đặc biệt

là năng lực vận dụng những điều đã học vào giải quyết những tình huống mới Trong nhiều năm qua, việc đổi mới phương pháp dạy học luôn được chú trọng

và xem như một khâu đột phá quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục Bởi lẽ, đổi mới phương pháp dạy học là một khâu cơ bản để có thể đạt đến mục tiêu giáo dục Trong thời đại ngày nay, khi hội nhập đang trở thành xu thế toàn cầu và thế giới trở thành “thế giới phẳng”, thì việc đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo là điều kiện tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi dân

Trang 21

tộc Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học là tư tưởng chiến lược Việc đổi mới phương pháp dạy học để thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều, giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập cũng như trong thực tiễn là một vấn đề cần thiết Bởi đổi mới phương pháp dạy học góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; đổi mới phương pháp dạy học góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta mới tham gia được vào “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo đại Để đạt mục tiêu đó, việc đổi mới phải đồng bộ ở tất cả các khâu, trong đó có đổi mới phương pháp KTĐG và cách ra đề kiểm tra Một trong những động lực để đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách KTĐG Hay nói cách khác, đổi mới phương pháp dạy học là đều kiện quan trọng nhất để đổi mới KTĐG KTĐG là một khâu, là công cụ chủ yếu điều chỉnh quá trình dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Muốn đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc KTĐG cũng phải đổi mới, chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích các em vận dụng linh hoạt các kiến thức kỹ năng đã được học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của các em trước các vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng

Đổi mới phương pháp dạy học nhất thiết cần hình thức kiểm tra tương ứng với nó để tạo ra động lực đổi mới phương pháp Đổi mới phương pháp dạy học tạo điều kiện tăng cường KTĐG b ng nhiều hình thức khác nhau, với

độ phân hoá cao và có thể coi KTĐG như một biện pháp kích thích hứng thú học tập cho tất cả các đối tượng học sinh, giúp cá nhân học sinh có thể tìm ra

Trang 22

nguyên nhân và cách khắc phục những sai sót, hạn chế (nếu có) trong quá trình tìm hiểu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kỹ năng bộ môn

Trong mối quan hệ qua lại, khi đổi mới phương pháp dạy học sẽ đặt ra yêu cầu khách quan phải đổi mới KTĐG, bảo đảm đồng bộ cho quá trình nâng cao chất lượng dạy học KTĐG bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác, công b ng sẽ tạo tiền đề xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lí Từ đó sẽ giúp giáo viên và các cấp quản lí xác định đúng đắn hiệu quả giảng dạy, tạo cơ sở

để giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và giúp các cấp quản lí đề ra giải pháp quản lí ph hợp

Quá trình dạy học được tạo bởi nhiều bước, mỗi bước thực hiện những mục đích lí luận dạy học xác định, trong đó KTĐG thực hiện mục đích riêng của mình để c ng với những mục đích bộ phận khác đạt tới mục đích chung của quá trình dạy học Nhờ kiểm tra và đánh giá, những kết quả định tính và định lượng về trình độ nhận thức của học sinh được phản hồi trở lại người giáo viên, giúp cho họ thấy được những gì cần bổ sung, điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức… cho phù hợp với đối tượng giảng dạy và tình hình thực tiễn diễn ra quá trình dạy học

1.1.3 Nội dung KTĐG kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS

Công văn số 64/BGDĐT-GDTrH ngày ngày 06 tháng 01năm 2010 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo về Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông đã nêu: “Việc dạy học, KTĐG bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, ph hợp với năng lực nhận thức của học sinh; không làm quá tải nội dung dạy học”

Tại Điều 28 về “đánh giá kết quả học tập của học sinh” theo Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng đã quy định r :

Trang 23

1 Học sinh được KTĐG kết quả học tập, rèn luyện theo Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 Việc ra đề kiểm tra phải theo quy trình biên soạn đề và căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định

3 Việc đánh giá học sinh phải bảo đảm yêu cầu chính xác, toàn diện, công b ng, khách quan, công khai và phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh; sử dụng KTĐG để điều chỉnh hoạt động dạy và học Kết quả đánh giá và xếp loại học sinh phải được thông báo cho gia đình ít nhất là vào cuối học kỳ

và cuối năm học

Như vậy, nội dung KTĐG kết quả học tập của học sinh phải đánh giá được mục tiêu dạy học ở cả ba phương diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ theo đúng chuẩn kiến thức - kỹ năng của từng môn học, sau mỗi giai đoạn, mỗi khối lớp, mỗi cấp học

Nội dung học tập cần KTĐG là kết quả nắm các tri thức, kỹ năng, các biểu hiện của thái độ học sinh đã có được qua quá trình học tập mà học sinh trình bày, bộc lộ trong sản phẩm trí tuệ nào đó theo mục đích của KTĐG Các khía cạnh của nội dung KTĐG chi phối đến hiệu quả của kiểm tra như: phạm

vi tri thức, kỹ năng, thái độ, khối lượng, chất lượng tri thức Các vấn đề này

có liên quan với nhau và đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với học sinh trong quá trình học tập

Nội dung và hình thức đánh giá phải tuân thủ với mục đích chương trình và phương pháp giáo dục phổ thông được quy định ở Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [79] Nội dung đánh giá kiểm tra cần đạt yêu cầu cơ bản, hiện đại, cập nhật, tăng khả năng thực hành, ứng

Trang 24

dụng Nội dung đánh giá cần phong phú, linh họat dựa trên chương trình tự chọn, chương trình địa phương của từng môn học của từng bậc học

1.1.4 Các nguyên tắc, phương pháp, hình thức kiểm tra, công cụ và phương tiện kiểm tra kết quả học tập của học sinh ở các trường THCS

1.1.4.1 Nguyên tắc

Như ta đã biết, KTĐG là công đoạn quyết định chất lượng cho quá trình giảng dạy và học tập KTĐG giúp giáo viên biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy, giúp học sinh biết được chất lượng học tập, giúp nhà quản lý điều chỉnh chương trình đào tạo và tổ chức giảng dạy, học tập cũng như ra những quyết định về kết quả học tập của người học, vì thế khi tiến hành KTĐG, phải tuân thủ những nguyên tắc chung sau:

- Về nội dung KTĐG: Đánh giá phải được tiến hành một cách có hệ thống

để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đào tạo ở từng môn học, đồng thời phải KTĐG theo các bậc nhận thức, các bậc kỹ năng và các bậc của năng lực tư duy mà môn học dự kiến người học phải đạt được sau khi học xong

- Về phương pháp KTĐG: Cần phải thực hiện thường xuyên và áp dụng nhiều phương pháp, công cụ KTĐG khác nhau: viết, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, bài tập lớn, tiểu luận, tổng quan… Nắm vững hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng một cách chủ động

- Thang điểm đánh giá quả học tập là đánh giá tiếp thu môn học, khác với đánh giá tuyển dụng vì vậy cần ít bậc

- Kết quả KTĐG phải được sử dụng để đánh giá chất lượng giảng dạy, chất lượng học tập và chất lượng đào tạo

1.1.4.2 Phương pháp KTĐG

Như đã nói ở trên, KTĐG là hai công việc có mối liên hệ biện chứng,

đó là bộ phận hợp thành và là khâu cuối c ng của quá trình dạy học KTĐG là hai công việc được tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau

nh m kháo sát, xem xét cả về định lượng và định tính kết quả học tập

Trang 25

Về phương pháp đánh giá, có nhiều cách phân loại khác nhau, t y theo cách xem xét và mục tiêu phân loại Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường phân loại các phương pháp đánh giá căn cứ trên những cách thu thập thông tin qua nhìn, nghe, đọc Với cách phân loại này, có các phương pháp KTĐG tương ứng như sau: quan sát, phỏng vấn và viết [26, tr.48] C ng với cách phân chia trên, GS Lâm Quang Thiệp phân loại theo cách thực hiện, theo mục tiêu và theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá Theo cách thực hiện việc đánh giá, có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết Theo mục tiêu của việc đánh giá, có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm hai nhóm: đánh giá trong tiến trình (formative) và đánh giá tổng kết (summative) Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá, có thể phân chia ra đánh giá theo chuẩn (norm-referrenced) và đánh giá theo tiêu chí (criterion-referrenced) [59, tr.16]

1.1.4.2.1 Theo cách thực hiện việc đánh giá

- Loại quan sát: Phương pháp này được sử dụng phổ biến vì nó ph hợp với mọi lứa tuổi và đối tượng; có thể thực hiện theo thời điểm nhất định hoặc thường xuyên trong suốt quá trình dạy Phương pháp này giúp giáo viên thu thập thông tin b ng cách quan sát để góp phần đánh giá các thao tác, các hành

vi, các phản ứng vô thức, các kỹ năng và năng lực học tập của học sinh

Lợi thế của phương pháp này là giúp thu thập được thông tin không chỉ

về độ nắm kiến thức mà còn bao gồm cả những thông tin về kỹ năng, năng lực, sự nỗ lực trong học tập… thể hiện qua các hành vi và thái độ của người học trong một khoảng thời gian và cho thấy sự biến đổi các hành vi và thái độ

đó một cách tự nhiên, từ đó, giúp giáo viên có thông tin để tác động tới học sinh, thúc đẩy sự tiến bộ ở các em

Hạn chế của phương pháp này là mất nhiều thời gian, đòi hỏi giáo viên phải tổng hợp được những thông tin vừa có tính phổ quát (đánh giá toàn diện, đưa ra nhận định chung cho tất cả các đối tượng được quan sát) vừa lại

Trang 26

có tính cụ thể (đánh giá cá biệt nh m đo sự tiến bộ riêng của từng đối tượng) Những kết luận về đối tượng quan sát đôi khi chưa đảm bảo tính khách quan, bởi thói quen thường hay chú trọng đến những biểu hiện tiêu cực hơn tích cực, chê trách hơn là khen ngợi và những nhận định chủ quan của giáo viên

Với phương pháp đánh giá qua quan sát ta thường áp dụng phương pháp kiểm tra tương ứng là kiểm tra thực hành Đó là phương pháp giáo viên

tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động thực tiễn, qua đó, thu được những thông tin về kỹ năng thực hành của học sinh Nhiều yếu tố của bài kiểm tra thực hành không thể kiểm tra trên giấy bút được, nhưng có thể đo lường b ng công cụ và kỹ thuật quan sát Quan sát trực tiếp, có hệ thống là kỹ thuật quan trọng để thu thập số liệu đánh giá học sinh về kỹ năng, thái độ Đánh giá kỹ năng bao gồm đánh giá cách thức tiến hành và đánh giá sản phẩm Ưu điểm của phương pháp này là kiểm tra được kỹ năng thực hành của học sinh, giúp cho việc rèn luyện kỹ năng, khắc phục tình trạng học tập lí thuyết xa rời thực tiễn Hạn chế của nó là mất nhiều thời gian, đòi hỏi công tác tổ chức chuẩn bị công phu hơn các phương pháp khác

- Loại phỏng vấn: Là phương pháp thu thập thông tin và đưa ra nhận xét đánh giá qua việc trao đổi trực tiếp (vấn đáp) hoặc qua trả lời một phiếu phỏng vấn sâu (bảng câu hỏi) Phương pháp này ph hợp vơi mọi lứa tuổi và đối tượng; có thể thực hiện theo thời điểm nhất định hoặc thường xuyên trong suốt quá trình dạy Qua kết quả phỏng vấn, giáo viên có thể đánh giá được thực trạng học tập và thái độ học tập môn học của học sinh (nhưng lượng thông tin thu được không phong phú b ng phương pháp quan sát) Có hai dạng phỏng vấn là vấn đáp (phỏng vấn cá nhân) và phỏng vấn sâu (phỏng vấn theo nhóm)

Lợi thế của phỏng vấn sâu là giáo viên có thể phỏng vấn được nhiều đối tượng học sinh Qua phiếu thông tin có thể đánh giá thực trạng và thái độ

Trang 27

học tập của từng học sinh hay của tất cả các đối tượng c ng một thời điểm Tuy nhiên, phương pháp này là đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị công phu trong việc thiết kế bộ câu hỏi trong phiếu phỏng vấn, và có cách thức tổ chức thu thập thông tin để đảm bảo tính khách quan

Lợi thế của vấn đáp là có thể đánh giá sự tích cực học tập của học sinh trên các phương diện cụ thể như; cách tiếp nhận câu hỏi, cách tìm tòi và sử dụng thông tin để trả lời, cách suy nghĩ và chia sẻ suy nghĩ với người khác, cách sử dụng ngôn ngữ, thời gian suy nghĩ và trả lời, c ng những thắc mắc về những vấn đề được hỏi của học sinh Với phương pháp đánh giá này, có thể

sử dụng kiểm tra vấn đáp để nắm thông tin

Kiểm tra vấn đáp là phương pháp tổ chức hỏi và đáp giữa giáo viên và học sinh, qua đó thu được thông tin về kết quả học tập của học sinh, được sử dụng sau khi học một hay nhiều bài, một hay nhiều chương hay kết thúc chương trình học Ưu điểm của phương pháp này là có thể sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học, vào cuối kỳ hoặc cuối năm học, có thể giúp giáo viên đánh giá theo ý muốn như hỏi vào những kiến thức và kỹ năng mà giáo viên quan tâm Nó giúp giáo viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người học nhờ

đó có thể thu được tín hiệu ngược một cách nhanh chóng, về mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh theo tiêu chuẩn chung, những khó khăn thiếu sót của từng cá nhân để kịp thời điều chỉnh việc giảng dạy tiếp theo, phát triển kỹ năng điễn đạt b ng ngôn ngữ nói của học sinh, tăng cường năng lực phản hồi nhanh cho các em Ngoài ra, giáo viên còn có thể phát hiện ra những năng lực đặc biệt của học sinh để bồi dưỡng, phát huy Hiệu quả của phương pháp này

bị ảnh hưởng bởi thái độ của giáo viên khi tiến hành vấn đáp do đó ảnh hưởng đến tính khách quan của kết quả kiểm tra

- Loại viết: Là phương pháp đánh giá qua việc thu thập thông tin từ các bài kiểm tra viết của học sinh Phương pháp này ph hợp với mọi lứa tuổi, mọi đối tượng và được thực hiện theo thời điểm nhất định hoặc thường xuyên

Trang 28

trong suốt qua trình dạy học Phương pháp đánh giá này có hình thức kiểm tra tương ứng là kiểm tra viết

Phương pháp kiểm tra viết: Là cách thức học sinh làm những bài kiểm tra viết trong khoảng thời gian khác nhau t y theo yêu cầu của người ra đề đối với các môn học (thường là 15 và 45 phút) Đây là hình thức kiểm tra phổ biến được sử dụng đồng thời với nhiều học sinh c ng một thời điểm, được sử dụng sau khi học xong một bài, phần, chương hay toàn bộ chương trình học Nội dung kiểm tra có thể bao quát từ vấn đề lớn đến vấn đề nhỏ, học sinh phải diễn đạt b ng ngôn ngữ viết Xét theo dạng thức của bài kiểm tra, có thể chia

ra thành hai loại là kiểm tra viết dạng tự luận và kiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan

Ưu điểm của phương pháp kiểm tra viết là trong một thời gian nhất định kiểm tra được toàn lớp, do đó dễ dàng thống nhất yêu cầu kiểm tra, đồng thời có thể đánh giá, đối chiếu, so sánh được trình độ giữa các học sinh với nhau Với phương pháp này, giáo viên có thể kiểm tra từ một vấn đề nhỏ đến một vấn đề lớn có tính chất tổng hợp, bao quát; việc ra đề nhẹ nhàng, không tốn nhiều công sức Kết quả bài làm của học sinh giúp giáo viên có thể đánh giá tương đối toàn diện không chỉ ở mức độ nắm kiến thức mà còn cả kỹ năng vận dụng kiến thức vào thức tiễn Mặt khác, bài kiểm tra viết còn giúp học sinh rèn luyện năng lực hệ thống hóa, khái quát hóa và tổng hợp hóa nội dung

đã học; giúp học sinh bộc lộ khả năng suy luận, sắp xếp dữ kiện, khả năng phê phán và đưa ra những ý kiến mới qua sự biểu đạt b ng ngôn ngữ viết của mình Dạng thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan có ưu điểm là trong khoảng thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, kết quả bài kiểm tra chỉ phụ thuộc vào khả năng của học sinh chứ không phụ thuộc vào kỹ năng chấm của giáo viên, việc chấm bài nhanh và có thể chấm b ng máy

Hạn chế của phương pháp kiểm tra viết thể hiện ở chỗ không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên và học sinh nên giáo viên khó nắm bắt thông tin

Trang 29

ngược một cách kịp thời Bên cạnh đó, ở từng dạng thức kiểm tra tự luận hay kiểm tra trắc nghiệm khách quan lại có những hạn chế riêng Đối với kiểm tra viết dạng tự luận có hạn chế là do câu hỏi ít nên khó bao quát được nội dung của chương trình học, dễ gây thói quen học tủ, học lệch Việc xây dựng đáp

án và biểu điểm khó có thể cụ thể hóa mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng của học sinh thành các chuẩn điểm Kết quả bài kiểm tra chịu ảnh hưởng nhiều bởi chủ quan của người chấm bài do kỹ năng, kinh nghiệm, tình trạng sức khỏe, tâm lí… và mất nhiều thời gian để chấm bài

Hạn chế của kiểm tra trắc nghiệm khách quan là khó khăn trong việc

đo lường khả năng diễn đạt, sắp xếp trình bày và đưa ra ý tưởng mới, tức là chỉ mới kiểm tra kiến thức và kỹ năng của người học, chỉ nghiên cứu được kết quả chứ không nghiên cứu được quá trình tư duy đi đến kết quả, chỉ chú

ý đến mặt định lượng mà ít chú ý đến mặt định tính do hạn chế trong kỹ thuật soạn đề của giáo viên, quá trình chuẩn bị câu hỏi khó và mất nhiều thời gian

- Tự kiểm tra: Học sinh tự KTĐG và KTĐG lẫn nhau giúp nhận r mặt mạnh, mặt yếu và những tiến bộ của mình, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập, lòng tự tin, khả năng tự đánh giá trong mỗi hoạt động của bản thân

1.1.4.2.2 Theo mục tiêu của việc đánh giá

Có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm hai nhóm: đánh giá trong tiến trình và đánh giá tổng kết Đánh giá trong tiến trình được sử dụng trong quá trình dạy và học để nhận được các phản hồi từ học sinh, xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục Đánh giá tổng kết nh m tổng kết những gì học viên đạt được, xếp loại học viên, lựa chọn học viên thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai, chứng tỏ hiệu quả của khóa học và của việc dạy của giảng viên, đề

ra mục tiêu tương lai cho học viên Hai nhóm đánh giá nêu trên được tiến

Trang 30

hành theo những cách hoàn toàn khác nhau Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình thường gắn chặt với giảng viên, còn các đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi giảng viên

1.1.4.2.3 Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá

Có thể phân chia ra đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí

- Đánh giá theo chuẩn: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm mà trên đó việc đánh giá được thực hiện

- Đánh giá theo tiêu chí: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước

Nhìn chung, mỗi phương pháp KTĐG đều có giá trị trong việc thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh mặc d mỗi phương pháp có những

ưu, khuyết điểm khác nhau Vì thế, không có phương pháp nào là tối ưu hay hạn chế nhất Trong quá trình dạy học, t y theo từng bài học, từng khâu của quá trình dạy học, t y vào mục đích của việc đánh giá, t y đối tượng học sinh

và thời gian quy định… mà giáo viên lựa chọn phương pháp ph hợp hoặc kết hợp nhiều phương pháp KTĐG khác nhau

1.1.4.3 Hình thức kiểm tra, công cụ và phương tiện kiểm tra

1.1.4.3.1 Hình thức kiểm tra

Để kiểm tra kết quả học tập của học sinh, có nhiều hình thức (kĩ thuật)

và phương tiện khác nhau như: quan sát ngẫu nhiên (không theo kế hoạch), quan sát điểm (theo kế hoạch), chấm vở bài tập, bài soạn, chấm sổ ghi chép đọc tư liệu đọc thêm, tổ chức làm bài kiểm tra, thi, thực hành… Trong đó, kiểm tra và thi là những hình thức và phương tiện quan trọng nhất, liên quan trực tiếp đến đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường Việt Nam hiện nay [26, tr.26]

Trang 31

Về hình thức kiểm tra, trong nhà trường thường được thể hiện dưới ba dạng cơ bản sau: Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết [18], [26], [75]

Kiểm tra thường xuyên: Được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn học tập, không cần ôn tập và cũng không được thông báo trước, được thực hiện thông qua quan sát một cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi học sinh nói riêng, qua các khâu ôn tập củng cố bài

cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Kiểm tra thường xuyên giúp cho giáo viên phát hiện kịp thời trình độ nắm kiến thức của học sinh, kịp thời điều chỉnh hoạt động của cả giáo viên và học sinh ở mỗi giai đoạn dạy học Trên cơ sở đó từng bước cố gắng tích cực tìm ra phương pháp giảng dạy và học tập tối ưu, tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang bước phát riển cao hơn Hai hình thức chủ yếu của kiểm tra thường xuyên là kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút Những bài kiểm tra thường xuyên được nhân hệ số 1 khi tính điểm trung bình môn học

Kiểm tra định kỳ: hình thức kiểm tra này được thực hiện sau khi học xong một chương lớn, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ Nó giúp cho giáo viên và học sinh nhìn lại kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định, đánh giá trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, củng cố, mở rộng những điều

đã học, đặt cơ sở tiếp tục học sang những phần mới Trong trường phổ thông hiện nay, kiểm tra định kỳ bao gồm các loại bài kiểm tra 1 tiết, bài kiểm tra học kì Khi thực hiện hình thức kiểm tra này, học sinh được ôn tập trước nội dung sẽ kiểm tra, được thông báo trước thời điểm kiểm tra Học sinh làm bài kiểm tra qua hình thức viết Thông thường, nhiều học sinh c ng làm chung một đề kiểm tra

Kiểm tra tổng kết: hình thức kiểm tra này được thực hiện vào cuối mỗi chương trình, cuối năm học nh m đánh giá kết quả chung, củng cố mở rộng

Trang 32

chương trình toàn năm của môn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học sau

Theo cách phân loại như trên, hai hình thức kiểm tra đầu (kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ) thường được gọi là kiểm tra, còn hình thức kiểm tra tổng kết thường được gọi là thi Tuy nhiên, thi còn được tiến hành vào thời điểm đầu hoặc cuối một giai đoạn học tập dài (đầu hoặc cuối một cấp học, bậc học) và

có quy mô tổ chức thống nhất ở một thời điểm, trên phạm vi rộng (cấp tỉnh/thành phố hoặc cấp quốc gia), các học sinh làm chung một đề thi Khác với kiểm tra, thi chỉ là một hình thức và phương tiện đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong đánh giá, hoặc để phân loại, hoặc để cấp chứng chỉ (thi đầu ra), hoặc để chuyển vào cấp học (thi đầu vào) Trong nhà trường Việt Nam, hình thức thi chuyển cấp (được gọi là thi tuyển sinh) được thực hiện để tuyển sinh, phân loại học sinh đầu các cấp học Với mục đích này, thi chuyển cấp có chức năng, tác dụng như một loại đánh giá chẩn đoán Kết quả điểm thi có thể coi như một căn cứ quan trọng để đo năng lực học tập của học sinh [26, tr.29]

Hiện nay, hình thức kiểm tra được quy định trong nhà trường phổ thông gồm có: kiểm tra miệng (kiểm tra b ng hỏi - đáp), kiểm tra viết, kiểm tra thực hành Hình thức đánh giá kết quả học tập được chia thành 3 loại: Đánh giá

b ng nhận xét (đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), kết hợp giữa đánh giá b ng điểm số và nhận xét (đối với môn Giáo dục công dân), đánh giá

b ng điểm số (đối với các môn học còn lại) [83, Điều 6 - Điều 7]

1.1.4.3.2 Công cụ và phương tiện kiểm tra

Các công cụ KTĐG thường được sử dụng trong nhà trường phổ thông hiện nay là các câu hỏi kiểm tra miệng; các đề trắc nghiệm khách quan, các đề

tự luận hoặc hỗn hợp giữa trắc nghiệm và tự luận dưới dạng bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết (45phút) và kiểm tra học kì (45 phút trở lên); các loại phiếu quan sát, phiếu học tập, các loại phiếu hỏi

Trang 33

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Khái quát về đặc điểm Quận 8, TPHCM

1.2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư

Quận 8 có diện tích trải dài, khá rộng, tiếp giáp với nhiều quận, huyện khác thuộc Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, liên hệ công việc hành chính cũng như giao lưu, trao đổi công tác giáo dục và học tập

Mật độ dân cư của Quận 8 khá dày Tỉ lệ tăng dân số khá cao, xuất phát

từ sự phân tán dân cư các quận nội thành và dân nhập cư từ các tỉnh thành khác đổ về Cư dân Quận 8 thuộc nhiều dân tộc, nhiều thành phần, nhiều ngành nghề, nhiều tôn giáo khác nhau, khả năng và trình độ nhận thức, kiến thức cũng khác nhau Điều này góp phần đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa, xã hội hóa giáo dục, đồng thời cũng là trở ngại cho việc quản lý, KTĐG và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo

1.2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Kinh tế tiếp tục phát triển gắn với tiến trình đô thị hóa Môi trường kinh

tế được cải thiện, thu hút các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều việc làm mới Hoạt động thương mại dịch vụ phát triển nhiều loại hình đa dạng Khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãi, đáp ứng sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục của Quận Đời sống nhân dân được cải thiện, việc thực hiện chính sách xã hội đạt nhiều kết quả Công tác giáo dục có nhiều chuyển biến Các cơ sở giáo dục đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm đều khá cao; kết quả phổ cập giáo dục THCS và xóa m chữ được giữ vững, đã hoàn thành phổ cập bậc trung học vào năm 2008, đang tiến hành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi Hiện ngành giáo dục đang mở rộng quy mô, đáp ứng yêu cầu về đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ quản lý về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức nhà giáo

Tình hình an ninh chính trị, tình hình trật tự xã hội luôn được ổn định

Trang 34

Tỷ lệ học sinh bỏ học (%)

Hiệu suất đào tạo (%)

Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày (%)

Số trường Lớp

Học sinh

2011-2012 11 335 13,848 100 0,16 95 39.8

(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8)

Thực hiện tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, tỷ lệ huy động học sinh hoàn thành chương trình cấp tiểu học tiếp tục học lên lớp 6 được duy trì

ở mức 99,9% Tỷ lệ học sinh bỏ học qua các năm giảm từ 2,03% xuống còn 0,16% Hiệu suất đào tạo qua các năm đều ở mức cao trên 85%, năm học 2011-2012 đạt tỷ lệ 95%

Có thể nói, giáo dục THCS đã có những thay đổi ph hợp với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục nói chung, thông qua việc đổi mới phương pháp KTĐG theo hướng phát huy tính tích cực, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục an toàn giao thông cho học sinh, phát huy quyền và trách nhiệm của học sinh trong nhà trường; duy trì và củng cố kết quả phổ cập giáo dục, chống m

chữ, phấn đấu đạt chuẩn phổ cập đúng độ tuổi, từng bước nâng cao chất lượng

và hiệu quả giáo dục Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được trang bị

tương đối đầy đủ

Bảng 1.2 Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn

Trang 35

Biểu thống kê trên cho thấy, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm tỷ lệ cao Đội ngũ giáo viên thời gian qua ngày càng tăng về số lượng

và chất lượng, số giáo viên cấp THCS là 590 Nhìn chung, đội ngũ giáo viên

có ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, nhân cách, sống gương mẫu, lành mạnh, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn

1.2.2.2 Thực trạng giáo dục THCS ở các trường Quận 8, TP.HCM 1.2.2.2.1 Tình hình trường lớp

Bảng 1.3 Thống kê trường lớp cấp THCS năm học 2011 - 2012

Loại hình Số trường Số lớp Số phòng Số học sinh

(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8)

Kết quả khảo sát thu được ở bảng 1 3 cho thấy hệ thống mạng lưới trường lớp bậc THCS tại Quận 8 đã được xây dựng tốt, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trong địa bàn quận Các điểm trường được đặt ngay trên địa bàn dân cư, thuận lợi cho việc huy động trẻ đến trường đúng độ

tuổi; sĩ số học sinh/lớp được thực hiện đúng quy định của cấp học

1.2.2.2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý

Trong những năm qua, Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8 luôn sắp xếp và bố trí đủ số lượng cán bộ quản lý cho các trường THCS Trình độ cán

bộ quản lý luôn được ngành quan tâm bồi dưỡng nâng cao

1.2.2.2.3 Tình hình đội ngũ giáo viên

Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên THCS Quận 8 tương đối ổn định, tỉ lệ giáo viên đứng lớp đạt 1,76 Tính đến nay, số giáo viên đạt và trên chuẩn là 100% Đa số giáo viên có tinh thần học hỏi, cầu tiến Đó chính là nhân tố tích cực cho sự nghiệp phát triển giáo dục của Quận 8

Trang 36

1.2.2.2.4 Về chất lượng dạy và học

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trung học, Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8 đã quan tâm, chỉ đạo các trường thực hiện tốt các chuyên đề, bồi dưỡng giúp giáo viên có định hướng, phát huy được sự sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời triển khai đến đội ngũ giáo viên các trường việc KTĐG và xếp loại học sinh theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành Quy chế

đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông

Vào đầu mỗi năm học, căn cứ vào Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm học của ngành, các trường xây dựng kế hoạch chuyên môn

cụ thể Thông qua kết quả các kỳ khảo sát, đánh giá chất lượng đầu năm, các trường có kế hoạch điều chỉnh các biện pháp tăng cường chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém

Bảng 1.4 Thống kê xếp loại học lực

Năm học học sinh Tổng số Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém

SL % SL % SL % SL % SL % 2009-2010 14,060 3,780 26.88 5,301 37.70 4,282 30.46 620 4.41 77 0.55 2010-2011 13,666 3,786 27.70 5,380 39.37 3,830 28.03 584 4.27 86 0.63 2011-2012 13,848 4,440 32.1 5,512 39.8 3,409 24.6 436 3.1 54 0.4

Bảng 1.5 Thống kê xếp loại hạnh kiểm

Năm học học sinh Tổng số Tốt Khá Trung bình Yếu

SL % SL % SL % SL % 2009-2010 14,060 9,813 69.79 3,276 23.30 953 6.78 18 0.13 2010-2011 13,666 10,510 76.91 2,630 19.24 522 3.82 4 0.03 2011-2012 13,848 10,846 78.3 2499 18.0 499 3.6 4 0.03

(Nguồn: Phòng Giáo dục - Đào tạo Quận 8)

Trang 37

Số liệu thống kê ở bảng 1 4 cho thấy chất lượng học sinh THCS trong quận xếp loại khá, giỏi (học lực) chiếm tỉ lệ trên từ 65% đến trên 70%, xếp loại khá, tốt (hạnh kiểm) chiếm tỉ lệ trên 93% Tỉ lệ học sinh học sinh xếp loại trung bình và yếu là rất ít Kết quả trên đây cũng cho thấy hầu hết các trường đã chú ý xây dựng tốt các biện pháp quản lý, kiểm tra nh m tăng cường chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng học sinh khá giỏi và phụ đạo học

sinh yếu

1.2.2.2.5 Về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy và học

Đáp ứng yêu cầu trong việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng cá thể hóa, tích cực hóa, Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8 đã đầu tư vào việc đổi mới trang thiết bị, đồ d ng dạy học Ngoài kinh phí được phân bổ hàng năm, các cơ sở giáo dục tích cực tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thể và huy động mọi tầng lớp nhân dân tích cực chăm lo, tạo mọi điều kiện để mua sắm thiết bị, phương tiện phục

vụ tốt cho hoạt động dạy và học

Hiện nay, toàn quận có 11 trường THCS, có 8 trường thư viện đạt chuẩn Việc đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho dạy và học được quan tâm H ng năm, các trường được trang bị đủ đồ d ng dạy học, trang thiết bị theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo để thực hiện việc giảng dạy theo chương trình

Trong những năm học qua, ngành Giáo dục Quận 8 luôn cố gắng mở rộng quy mô trường lớp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong quận; thực hiện tốt việc duy trì sĩ số học sinh Bên cạnh đó, qua khảo sát thực

tế vẫn còn một số điểm trường có diện tích chật hẹp, thiếu độ che phủ, chưa

có sân chơi; việc đáp ứng trang thiết bị, đồ d ng dạy học cho các trường cũng chưa đầy đủ, một số thiết bị chưa đạt yêu cầu về chất lượng, chưa đáp ứng tốt việc thực hiện chương trình dạy học

Trang 38

1.2.3 Thực trạng việc KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh ở các trường THCS Quận 8 TPHCM

Như đã nêu, KTĐG kết quả học tập của học sinh là một khâu rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình đào tạo Bởi nó là khâu cuối c ng, không chỉ có ý nghĩa đánh giá độ tin cậy kết quả học tập của quá trình dạy và học mà còn có tác dụng điều tiết trở lại hết sức mạnh mẽ đối với quá trình đào tạo Kết quả KTĐG không chỉ phản ánh năng lực học của học sinh mà còn phản ánh một phần phương pháp dạy học của giáo viên, bởi vì KTĐG gắn liền và quan hệ trực tiếp với việc đổi mới phương pháp dạy học của người dạy

là giáo viên và đổi mới phương pháp học tập của người học là học sinh Dạy, học và KTĐG là những khâu liên hoàn có quan hệ chặt chẽ với nhau trong nhà trường Kết quả của việc học tập chỉ được đánh giá chính xác và toàn diện trong việc vận dụng vào trong thực tiễn, khi người học vào đời, nhưng trong nhà trường thì kiểm tra, thi cử vẫn là cách đánh giá quan trọng để đo lường kết quả giáo dục Thông thường thì kiểm tra, thi cử phải ph hợp với nội dung

và cách thức dạy, học và yêu cầu cần đạt được của chương trình Việc KTĐG phải thực hiện trong suốt quá trình học, có ghi nhận sự chuyển biến tích cực ở học sinh chứ không phải dừng lại ở việc lượng hóa b ng điểm số Tuy nhiên, không phải hoạt động KTĐG nào cũng mang lại kết quả như mong muốn mà việc đưa ra cách KTĐG có tính chất quyết định

1.2.3.1 Những việc đã làm được

Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận đã tiến hành tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về dạy học, KTĐG theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông Giáo viên đã được trang bị các kiến thức về KTĐG trong quan niệm KTĐG theo chuẩn kiến thức - kỹ năng của môn học và quy trình KTĐG, sự cần thiết phải đổi mới KTĐG

Bước đầu giáo viên có ý thức vận dụng thang Bloom để xác định các mức độ cần KTĐG trong quá trình ra đề kiểm tra

Trang 39

Câu hỏi trắc nghiệm khách quan được sử dụng ở mức độ vừa phải, kết hợp nhiều dạng trắc nghiệm khách quan khác nhau trong một đề kiểm tra

Một số đề tự luận trong các đề thi chọn học sinh giỏi đã được xây dựng theo hướng mở rộng phạm vi kiến thức, kỹ năng nhất là ở câu hỏi nghị luận

xã hội

1.2.3.2 Những mặt tồn tại

Chu kỳ đánh giá chỉ chú trọng điểm cuối của quá trình dạy - học và mục đích của KTĐG vẫn chủ yếu để phục vụ quản lý như xếp loại học sinh, xét lên lớp, xét công nhận tốt nghiệp THCS Chức năng cung cấp thông tin phản hồi cho học sinh và giáo viên về quá trình dạy - học của việc KTĐG chưa được chú trọng đúng mức Cụ thể như sau:

Hình thức và phương pháp KTĐG chưa phong phú để đảm bảo tính toàn diện, khách quan, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và cải tiến chất lượng học tập của học sinh Việc đánh giá vẫn còn nặng về hình thức, điểm số

đã phần nào hạn chế sự chính xác và khách quan trong đánh giá, nhận xét về khả năng của học sinh Cách đánh giá này đôi khi hơi phiến diện vì điểm số không thể hiện hết những gì cần đánh giá

Vẫn tồn tại một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lí nhìn nhận đánh giá đồng nghĩa với kiểm tra Việc đánh giá được xem như là hoàn tất sau khi các bài kiểm tra được cho điểm Chính vì quan niệm đánh đồng việc cho điểm với đánh giá như vậy, nên có hiện tượng sử dụng điểm số như mục tiêu dạy và học cần phải đạt; điểm số là thông báo chủ yếu về lao động của học sinh và của thầy giáo Sự thành công của nhà trường, của người học chủ yếu được xác định thông qua các chỉ số thành tích Nói như Bà Đặng Huỳnh Mai - nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT đó là “một sự đánh tráo khái niệm đánh giá b ng khái niệm cho điểm” Vì vậy việc KTĐG kết quả học tập còn chưa có tác dụng mạnh mẽ, kích thích, động viên học sinh nỗ lực học tập Thậm chí còn khiến một số học sinh cảm thấy sợ và ghét việc kiểm tra vì mỗi lần kiểm tra là mỗi lần các em

Trang 40

nhận được một điểm số để biết r ng mình yếu hơn so với bạn khác, ít khi được giúp đỡ để hiểu được làm cách nào có thể học tốt hơn Một thói quen khá phổ biến ở hầu hết giáo viên khi chấm bài kiểm tra chỉ chú trọng việc cho điểm, ít cho những lời phê chỉ r ưu, khuyết điểm của học sinh khi làm bài, không mấy quan tâm đến việc ra những quyết định sau kiểm tra nh m điều chỉnh hoạt động dạy và học, bổ sung những lỗ hổng trong kiến thức của học sinh, giúp đỡ riêng đối với học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi Kết quả này thường ít được chia

sẻ với các em để phân tích điểm mạnh, điểm yếu và giáo viên không biết được học sinh có đồng tình với kết quả đánh giá hay không Vì thế, các em thường

có tâm lý đối phó với việc kiểm tra nên sinh ra tình trạng học thuộc lòng, học

tủ, học vẹt, sao chép các bài văn mẫu hay gian lận để có được điểm số cao chứ không thực sự xem hoạt động kiểm tra là cơ hội để đánh giá lại một cách khách quan kiến thức mà các em tích luỹ được Điều này cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan bởi chỉ có ở nơi học thêm, các em mới dám mong đợi những hướng dẫn nh m giải quyết những khó khăn của riêng mình, để lấp đầy các lỗ hổng kiến thức

Bên cạnh đó, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh còn thiếu giá trị qua những lời nhận xét chung chung: “giỏi, chăm ngoan” hay “học yếu, cần cố gắng thêm”… chưa giúp học sinh hiểu r hơn đặc điểm của mình để có hướng phấn đấu

Hoạt động giảng dạy, KTĐG của giáo viên trong suốt năm học chủ yếu

nh m vào mục tiêu cuối c ng là học sinh đạt chất lượng cao trong bài kiểm tra giữa và cuối kỳ Vai trò của giáo đánh giá cuả giáo viên trong suốt quá trình học tập cuả học sinh vì thế mà bị xem nhẹ Do đó, giáo viên không nỗ lực và không có các biện pháp cải tiến chất lượng học tập thực sự của học sinh, mà chỉ tập trung vào việc cải tiến các điểm số

Giáo viên trong quá trình ra đề kiểm tra, hầu như chỉ cho các đề, bài tập

n m ở sách giáo khoa, đề kiểm tra còn thiên về khả năng ghi nhớ, nhấn mạnh

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (2008), Kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì môn Ngữ văn
Tác giả: Lê A
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Phan Quý Bích (2005), "Ba việc nên làm ngay để chấn hưng giáo dục", Dạy và học ngày nay, (9), trang 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba việc nên làm ngay để chấn hưng giáo dục
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2005
3. Nguyễn Lăng Bình (2010), Dạy và học tích cực, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Câu lạc bộ Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh phía Nam (2011), Hội thảo khoa học - Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo các tỉnh phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học - Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo các tỉnh phía Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Câu lạc bộ Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh phía Nam
Năm: 2011
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo dục THCS II, Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên THCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án phát triển giáo dục THCS II
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường cán bộ quản lý giáo dục TP HCM (2009), Tài liệu bồi cộng tác viên thanh tra giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi cộng tác viên thanh tra giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trường cán bộ quản lý giáo dục TP HCM
Năm: 2009
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục trung học (2004), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 8 môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 8 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục trung học
Năm: 2004
8. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho (2007), Những vần đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội 9. Trần Đình Châu (chủ biên, 2012), Xây dựng mô hình trường THCS tổchức các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vần đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn," Nxb Giáo dục, Hà Nội 9. Trần Đình Châu (chủ biên, 2012), "Xây dựng mô hình trường THCS tổ "chức các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. H ng Phi Chường (2012), “Đề làm văn mở và đổi mới phương pháp dạy học phân môn Làm văn”, Dạy và học ngày nay, (4), trang 20 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề làm văn mở và đổi mới phương pháp dạy học phân môn Làm văn”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: H ng Phi Chường
Năm: 2012
11. Hoàng Minh Đạo (2010), Một số vấn đề dạy - học văn học dân gian trong nhà trường, Nxb Nghệ An, Thành phố Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy - học văn học dân gian trong nhà trường
Tác giả: Hoàng Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2010
12. Đỗ Tiến Đạt (2009), "Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học", Dạy và học ngày nay, (4), trang 11- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Đỗ Tiến Đạt
Năm: 2009
13. Đào Ngọc Đệ (2009), "Về phương pháp dạy - học tác phẩm văn học (giảng văn)", Dạy và học ngày nay, (10), trang 15 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp dạy - học tác phẩm văn học (giảng văn)
Tác giả: Đào Ngọc Đệ
Năm: 2009
14. Sử Khiết Doanh - Trâu Tú Mẫn (2009), Kĩ năng tổ chức lớp - kĩ năng biến hóa trong giảng dạy, Nxb Giáo dục,Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng tổ chức lớp - kĩ năng biến hóa trong giảng dạy
Tác giả: Sử Khiết Doanh - Trâu Tú Mẫn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
15. Ngô Trí Đương (2009), "Đổi mới ra đề thi môn Ngữ văn THPT một việc làm phức tạp, khó khăn, công phu ", Dạy và học ngày nay, (4), trang 18 -19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ra đề thi môn Ngữ văn THPT một việc làm phức tạp, khó khăn, công phu
Tác giả: Ngô Trí Đương
Năm: 2009
16. B i Vĩnh Trường Giang (2010), "Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học địa lý ở trường THCS", Dạy và học ngày nay, (2), trang 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học địa lý ở trường THCS
Tác giả: B i Vĩnh Trường Giang
Năm: 2010
17. Nguyễn Thị Thu H ng - Cao Thị Thặng (2012), "Dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, hướng tới phát triển một số năng lực cho sinh viên sư phạm", Tạp chí Khoa học giáo dục, Số (79), trang 36 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, hướng tới phát triển một số năng lực cho sinh viên sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Thu H ng - Cao Thị Thặng
Năm: 2012
18. Nguyễn Thị Bích Hạnh - Trần Thị Hương (2004), Lý luận dạy học, Nxb Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh - Trần Thị Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
19. Nguyễn Trọng Hoàn (2001), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
(2009), Kĩ năng phản hồi - Kĩ năng luyện tập, Nxb Giáo dục, Vĩnh Phúc 22. Trần Bá Hoành (2006), Vấn đề giáo viên - những nghiên cứu lí luận vàthực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng phản hồi - Kĩ năng luyện tập", Nxb Giáo dục, Vĩnh Phúc 22. Trần Bá Hoành (2006), "Vấn đề giáo viên - những nghiên cứu lí luận và "thực tiễn
Tác giả: Kĩ năng phản hồi - Kĩ năng luyện tập, Nxb Giáo dục, Vĩnh Phúc 22. Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
23. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học - chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đổi mới phương pháp dạy học - chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Hình thức nói hay viết, trắc nghiệm hay tự luận hay kết hợp cả trắc nghiệm và tự luận?   - Hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh các trường trung học cơ sở ở quận 8, thành phố hồ chí minh
Hình th ức nói hay viết, trắc nghiệm hay tự luận hay kết hợp cả trắc nghiệm và tự luận? (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w