1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người trí thức tìm đường trong tiểu thuyết biết đâu địa ngục thiên đường của nguyễn khắc phê

130 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 897,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù rằng, tác phẩm cũng xoay quanh đề tài tìm đường của người trí thức nhưng ở đây, Nguyễn Khắc Phê đã tiếp cận hiện thực từ một hướng khác với chính mình và với các tác giả trước đó.. Bở

Trang 1

3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN PHƯƠNG YẾN

NGƯỜI TRÍ THỨC TÌM ĐƯỜNG

TRONG TIỂU THUYẾT

BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG

CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN – 2012

Trang 2

TRONG TIỂU THUYẾT

BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG

CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Khắc Sính

- người thầy đã hướng dẫn tôi tận tình với một tinh thần khoa học nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Vinh đã quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi xuyên suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã cung cấp cho tôi những tư liệu quý trong quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 4

6

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu … 5

2.1 Công trình nghiên cứu về Nguyễn Khắc Phê và các sáng tác của ông 5

2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi khảo sát 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

5.1 Phương pháp phân tích lịch sử 13

5.2 Phương pháp so sánh 13

5.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống 13

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 TIỂU THUYẾT BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG TRONG VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ 1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khắc Phê 14

1.1.1 Cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê với con số 9 định mệnh 14

1.1.2 Nguyễn Khắc Phê – nhà văn “con nhà quan, tính nhà lính” cả trong lối sống và cách viết 19

1.1.3 Thành tựu của Nguyễn Khắc Phê trong sự nghiệp sáng tác 22

1.2 Biết đâu địa ngục thiên đường - một “kỷ lục” trong sáng tác của Nguyễn Khắc Phê 32

1.2.1 Nội dung cơ bản của tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường 34

1.2.2 Số phận cuốn tiểu thuyết – bên cạnh “kỷ lục” về thời gian sáng tác là tiếng nói dư luận về tác phẩm này 39

Chương 2

NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG

VỚI NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TÌM KIẾM

Trang 5

7

2.1 Cụ Huy - người trí thức với số phận không may của một thời 41

2.1.1 Cụ Huy, nhà khoa bảng lỗi lạc một thời 41

2.1.2 Cụ Huy - vị quan thanh liêm, nhân hậu và chính trực 43

2.1.3 Số phận đau đớn của cụ Huy, một thời lầm lạc của lịch sử 47

2.2 Tâm – người trí thức tiêu biểu cho bi kịch tìm đường trong tác phẩm 51

2.2.1 Tâm – mẫu người trí thức luôn trăn trở về lẽ sống con người 52

2.2.2 Hành trình “trốn chạy” của Tâm – một bi kịch tiêu biểu 62

2.2.3 Con đường Tâm đi – thiên đường hay địa ngục? 64

2.3 Những nẻo đường gian nan của những trí thức khác trong tác phẩm 67

2.3.1 Thanh và Kiên - hai nhân vật có niềm tin mãnh liệt đến cực đoan về cách mạng nhưng cùng thất vọng đau đớn 67

2.3.2 Hưng và Hải - những kiểu chọn lựa nẻo đường khác của người trí thức 73

Chương 3 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ TRONG BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG 3.1 Khái niệm trần thuật và tính chất của trần thuật 78

3.1.1 Về khái niệm trần thuật 78

3.1.2 Tính chất của trần thuật 79

3.2 Nghệ thuật trần thuật trong Biết đâu địa ngục thiên đường 83

3.2.1 Điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm 83

3.2.2 Ngôn ngữ trần thuật 100

3.2.3 Giọng điệu trần thuật 110

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 126

Trang 6

8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vấn đề tìm đường nói chung, tìm đường của người trí thức nói riêng,

luôn là nỗi trăn trở và cũng gặp không ít bi kịch, có tính phổ quát của mọi thời đại, mọi dân tộc, trong đó có người trí thức Việt Nam từ xưa đến nay Hành trình ấy có lúc suôn sẻ, có lúc gặp quá nhiều khó khăn; có người thành công

và cũng có người là nỗi đau đớn Thực ra, không chỉ ở Việt Nam mà vấn đề này cũng là vấn đề có “tầm nhân loại” Chúng ta đã thấy những bi kịch kiểu

ấy trong các tác phẩm Trăm năm cô đơn (G.G Marquez), Anh em nhà Karamazov (Dostoyevski), Con đường đau khổ (Aleksy Tolstoi), Gia đình

(Ba Kim),… Trong những cơn biến động dữ dội của lịch sử, vấn đề tìm đường lại càng trở nên khẩn thiết Những trí thức tìm đường tiêu biểu của Việt Nam như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc luôn nung nấu khát vọng lớn tìm ra con đường đi cho dân tộc Việt Nam giữa thời buổi mịt mù, đen tối của lịch sử Trong những thời khắc, sự kiện lịch sử cụ thể, người trí thức cũng tìm sự lựa chọn lý tưởng cho riêng mình mà Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm,… là những ví dụ Từ thực tế này, rất nhiều tác giả văn học đã lấy nó làm đối tượng phản ánh trong tác phẩm và cũng đã có

nhiều tác phẩm thành công Tố Hữu viết Theo chân Bác, đề cập đến sự thất

bại trong lựa chọn con đường cho dân tộc của hai trí thức ưu tú: “Phan Chu Trinh lạc lối trời Âu/ Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng/ Vẫn bơ vơ nương

bóng ngoại hầu” Hoàng Minh Tường viết tiểu thuyết Thời của thánh thần

dựng lên số phận long đong của Nguyễn Kỳ Vỹ, Nguyễn Kỳ Vọng trong việc lựa chọn lối đi cho mình trong cơn bão Cải cách ruộng đất,…

1.2 Nguyễn Khắc Phê là một trong những tác giả lớn của nền văn học

Việt Nam đương đại Ông sáng tác cả hai thời kỳ: thời chiến tranh giải phóng dân tộc và thời kỳ sau 1975 và hiện nay ông vẫn viết rất đều đặn với một bút lực dồi dào Hành trang văn học với 9 tiểu thuyết trong tay, trong đó có những

tác phẩm đứng được với thời gian và được bạn đọc yêu thích như Đường giáp

Trang 7

9

mặt trận, Chỗ đứng người kĩ sư, Thập giá giữa rừng sâu,… Ông cũng đã

xuất bản 2 công trình nghiên cứu phê bình văn học và hàng trăm bài báo khác đăng ở các tạp chí trung ương và địa phương (như lời ông tự bạch là “đã viết trên 900 bài báo”) Ngoài tiểu thuyết, ông còn viết truyện ngắn, tạp văn và bút

ký Nói như Phạm Phú Phong: Nguyễn Khắc Phê trong hơn 40 năm cầm bút, với gia tài sáng tạo nghệ thuật gồm 5 tập ký sự, tiểu luận và 9 tiểu thuyết, dù

“chưa phải là tòa ngang dãy dọc gì ghê gớm” nhưng cũng đủ khẳng định mình trong làng văn và là niềm mơ ước của rất nhiều người cầm bút ở Việt Nam Những thành tựu ấy đã làm nên tên tuổi ông: Nguyễn Khắc Phê là nhà văn có

tên trong 2 cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (Nxb Hội nhà văn) và cuốn Từ điển Tác giả - Tác phẩm văn học Việt Nam (Dùng cho nhà trường của Nxb

Đại học Sư phạm Hà Nội)

1.3 Tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê từ

khi xuất bản (2010) đến nay đã được tái bản (2011) nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu của độc giả và nhất là đã nhận được rất nhiều ý kiến của các tầng lớp bạn đọc Ngay khi mới ra đời, một cuộc tọa đàm đã được tổ chức để các nhà nghiên cứu, độc giả, các nhà văn, nhà giáo trình bày những cảm nhận, những cách nhìn về tác phẩm này Hơn 40 bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình, hoặc cảm nghĩ của người đọc bình thường tập trung bàn về tác phẩm này đã cho thấy độ vang và sức hút của nó Trong đời viết văn của mình, đây cũng là cuốn tiểu thuyết Nguyễn Khắc Phê dành thời gian viết lâu nhất (20 năm) và phải chờ đợi phấp phỏng từ lúc “thai nghén” cho tới lúc nó “ra đời” Theo tác giả, đây là cuốn tiểu thuyết mà tác giả tâm đắc nhất Dù rằng, tác phẩm cũng xoay quanh đề tài tìm đường của người trí thức nhưng ở đây, Nguyễn Khắc Phê đã tiếp cận hiện thực từ một hướng khác với chính mình và với các tác giả trước đó Đây lại thêm một căn nguyên thú

vị nữa gây cho chúng tôi hứng thú tìm hiểu

Bởi những lý do trên khiến chúng tôi chọn vấn đề Người trí thức tìm

đường trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê làm luận văn tốt nghiệp

Trang 8

10

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Công trình nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Khắc Phê

Như đã nói ở trên, Nguyễn Khắc Phê là một trong những tác giả lớn của nền văn học Việt Nam đương đại Bởi thế cho nên mỗi tác phẩm của ông đều nhận được khá nhiều ý kiến đánh giá, nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình sau:

Tác giả Mai Hương trong Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam,

sau khi điểm qua những nét cơ bản về cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê và hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông, đã nhận xét: “vùng thẩm mỹ ” mà nhà văn này quan tâm là cảm hứng phản ánh cuộc sống của những con người xây dựng đường và những con đường, bởi suốt 15 năm Nguyễn Khắc Phê công tác trong ngành giao thông vận tải, gắn bó với những nơi tiền tuyến, những trí thức, công nhân luôn đứng nơi mũi nhọn của cuộc sống, vì thế, đây là lĩnh vực ông gắn bó nhất, thân thuộc nhất, quan tâm nhất, nó “tạo nguồn cảm hứng

và là chất liệu phong phú cho ngòi bút Nguyễn Khắc Phê” và khẳng định:

“Điều đáng quý ở Nguyễn Khắc Phê là thái độ tích cực hòa nhập vào đời sống, là bản lĩnh của người cầm bút có nhân cách, có trách nhiệm Nguyễn Khắc Phê không thuộc số những cây bút sắc sảo, tài hoa Phần thành công và đóng góp của ông có được trước hết là nhờ vốn sống thực tiễn phong phú, khả

năng phát hiện những vấn đề cập nhật của đời sống” (34, tr.442) Đánh giá

như thế, theo chúng tôi là khẳng định đúng chỗ mạnh đồng thời cũng nắm bắt đúng cái “tạng” của nhà văn này

Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, sau khi tổng quan cuộc đời, sự

nghiệp, và những thành tựu văn nghệ Nguyễn Khắc Phê đã nhận được, cuốn sách đã dành cho nhà văn một dung lượng từ ngữ hạn chế để mỗi nhà văn gửi tới bạn đọc “gần như nguyên vẹn tinh thần và lời văn” với hi vọng “dẫu chỉ là

ít dòng hạn chế, người đọc cũng có thể gần gũi thêm tâm tưởng” và những

mặt khác của nhà văn Đến phần mình, Nguyễn Khắc Phê tự bạch: “Chính là

cuộc sống gian khổ và anh hùng trên các cong trường xây dựng, trên những con đường chống Mỹ đã tạo cảm hứng, thôi thúc tôi cầm bút Dù chưa có mấy

Trang 9

11

thành công, bây giờ đọc lại những cuốn sách đã viết, có những trang vẫn làm tôi xúc động đến rơi nước mắt Có điều, đúng như một số bạn đọc

nhận xét, những trang sách của tôi có phần quá thật thà nghiêm túc” (45,

tr.515) Lời tự bạch của tác giả cũng khá gần với những nhận xét của Mai

Hương trong Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam

Về một số sáng tác của Nguyễn Khắc Phê, cũng đã có nhiều ý kiến bàn luận, đánh giá đáng chú ý trong những thành công và hạn chế của ông

Mai Hương (tlđd) cho rằng, tập bút ký Vì sự sống con đường, ngoài

“những ưu điểm nổi trội: sự phong phú, bộn bề của vốn sống, của chất liệu hiện thực, sự nắm bắt nhanh nhạy kịp thời những vấn đề thời sự của đời sống” thì tác phẩm còn bộc lộ những nhược điểm “Chưa có được tầm khái quát nghệ

thuật cao” (34, tr.442) Đúng là đóng góp và cái hạn chế của người viết tác

phẩm đầu tay! Đến tác phẩm Đường giáp mặt trận thì đã “ghi nhận một bước

tiến quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Khắc Phê” Tiểu thuyết này đã đạt được những ưu điểm là: “không chỉ ở sức phát hiện vấn đề mang ý nghĩa xã hội mà còn ở bản lĩnh mạnh dạn, trung thực của người viết, góp phần giải đáp một vấn đề rất “thời sự” của đời sống văn học khi đó: phản ánh những nhân

vật tiêu cực, những vấn đề tiêu cực của đời sống xã hội như thế nào?” (34, tr

442) Cũng về cuốn tiểu thuyết này, bài viết của tác giả Hà Vinh (Báo Văn nghệ, 1976), lại nghiêng về nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật của

Nguyễn Khắc Phê Sau khi phân tích các nhân vật Sơn, Loan, Ngô, Hiến, Chân, bác Tần, bác Thát, v.v… với các nét tính cách cũng như các mối quan

hệ chằng chịt giữa họ, bài viết đi đến kết luận: “Tất cả những điều ấy là hoàn toàn có thể hiểu được Với Nguyễn Khắc Phê, nhân vật được miêu tả bằng những đường nét vốn có của nó hơn là xuất phát từ khuôn mẫu có sẵn” Đặc biệt, trong bài viết này, Hà Vinh tỏ ra rất thích thú các nhân vật nữ được xây dựng trong cuốn tiểu thuyết như Loan, An, Mai… đến mức cho rằng: “Sẽ cảm thấy như là còn gì chưa đủ, chưa vừa ý nếu không nói đến các nhân vật nữ trong cuốn tiểu thuyết này” bởi “ở mỗi nhân vật nữ của Nguyễn Khắc Phê có nét khỏe đẹp riêng”

Trang 10

Nói về nghệ thuật văn xuôi của anh Nguyễn Khắc Phê thì có thể nói như thế này: Văn xuôi của anh là một thứ văn giàu chất hiện thực đời sống, giàu sự trải nghiệm sâu sắc và được viết bằng một phong cách riêng, rất kỹ lưỡng –

kỹ từng câu, từng chữ, từng ý tưởng – do đó gây ấn tượng rất mạnh mẽ Và như vậy, theo tôi đấy là một phong cách văn xuôi lớn và nghiêm túc”

Ở tác phẩm Chỗ đứng người kỹ sư, tác giả Nguyễn Văn Long (Báo Văn nghệ, 1980) cho rằng: “Tác phẩm còn muốn nêu lên vấn đề chỗ đứng: mỗi

con người phải và có thể tìm thấy chỗ đứng đích thực của mình trong cuộc chiến đấu chung, để phát huy mọi giá trị và năng lực của mình, góp phần vào chiến công của dân tộc (…) Viết về những người làm công tác khoa học kỹ thuật, Nguyễn Khắc Phê nói chung cũng đã không sa vào cách “làm dáng trí thức” cho nhân vật mình, không “trộ” người đọc bằng những tri thức chuyên môn thuần túy không cần thiết; anh cũng tránh được tình trạng “hư cấu” tùy tiện về những tìm tòi, phát kiến của nhân vật”

Ngoài ra, có thể tìm thấy những ý kiến khác nữa về tiểu thuyết Nguyễn

Khắc Phê không chỉ ở hai cuốn này mà ở các cuốn tiếp theo như Những cánh cửa đã mở, Miền xa kêu gọi, Nếu được chết thay em của Mai Hương, Ngô

Minh, Ma Văn Kháng… Riêng GS Phong Lê đã dành hẳn một bài viết khá dài

về tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu của Nguyễn Khắc Phê Tác giả Trần Huyền Sâm (Báo Văn nghệ, 2003) cũng cho rằng: “Tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu (…) chứa đựng nhiều ẩn số bất ngờ và có khả năng mở ra những

tầng nghĩa sâu xa để người đọc không ngừng chiêm nghiệm, suy ngẫm (…) Qua hành động của Mậu và con hổ (được bộc lộ trong cảnh ngộ của Đức) tác phẩm đã làm bật lên một vấn đề mà người đọc cần suy ngẫm: con người sẽ có

Trang 11

13

nguy cơ bị đẩy xuống hàng thú vật, nếu không ý thức được danh hiệu cao quý của con người…”

Về các nhận định, đánh giá cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên

đường chúng tôi sẽ đề cập đến trong mục 2.2 của phần này

2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết Biết đâu địa

ngục thiên đường

Năm 2010 được xem là “năm của Nguyễn Khắc Phê” bởi từ khi tiểu

thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của ông ra đời, có rất nhiều ý kiến đánh

giá về tác phẩm này cũng như nhìn nhận những đóng góp đáng kể của Nguyễn Khắc Phê đối với văn học Việt Nam

Viết về người trí thức trong một giai đoạn lịch sử nhất định nhưng Nguyễn Khắc Phê như đã “đụng chạm” đến nhiều vấn đề lớn của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 Tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề nhưng vấn đề người trí thức tìm đường được xem là vấn đề cốt lõi nhất của tác phẩm

Trong “Một sinh hoạt văn học bổ ích” (71, tr.9), Trần Huyền Sâm ngoài

việc tường thuật lại cuộc tọa đàm về Biết đâu địa ngục thiên đường, còn đánh

giá khá cao giá trị của tác phẩm này, trong đó lưu ý: “thông qua bi kịch cá nhân – gia đình, người đọc được sống lại và chiêm nghiệm về những năm tháng đầy biến động của lịch sử Việt Nam Đó là giai đoạn cải cách và thời hậu chiến – một thời kỳ đầy nhạy cảm, cũng có thể gọi là một “vết thương” trong lòng của một thế hệ đã qua Những vấn đề lớn về cá nhân con người và vận mệnh dân tộc đã được tác giả lý giải khá thấu đáo trong tác phẩm này”

(71, tr.9) Qua đối thoại với độc giả tham dự tọa đàm, Nguyễn Khắc Phê cũng

nhấn mạnh; “chủ đề của tác phẩm không chỉ là vấn đề trong cuộc “Cải cách”

mà nhiều tác phẩm khác đã viết, sâu xa hơn, đó là bản thể con người ở mọi

thời đại” Do đó “Bạn đọc sẽ chờ đợi một cuốn tiểu thuyết Hậu thiên đường

và địa ngục của nhà văn Nguyễn Khắc Phê” (71, tr.12)

GS Trần Đình Sử trong “Tâm huyết đối với số phận con người với vận mệnh đất nước”, đã khẳng định sáng tác của Nguyễn Khắc Phê nói chung:

“Đọc văn của anh, tôi thấy được Nguyễn Khắc Phê là một nhà văn hết sức

Trang 12

14

tâm huyết dối với số phận con người, với vận mệnh đất nước cũng như đối với sự tiến bộ xã hội Ngòi bút của anh không hề né tránh các vấn đề nhạy cảm của đất nước, đồng thời anh đã nêu các điều đó một cách điềm tĩnh và rất

chân thành” (71, tr.67)

Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải, từ cảm xúc khi nghe Chủ tịch Nguyễn

Minh Triết trích lại lời Bình Ngô đại cáo, liên hệ đến cái bất tử lại bị chết

thảm của Nguyễn Trãi, đã băn khoăn “Điều tôi trăn trở - và có lẽ cũng là sự trăn trở của nhiều thế hệ, của cả chúng ta - đó là tại sao những lỗi lầm, những

bi kịch cứ lặp đi lặp lại, tay mặt chặt tay trái, gây biết bao đau khổ cho dân

tộc?” (71, tr.51) Ở một chỗ khác, sau khi thưa trước mọi người là tác giả

“quen tất cả những anh em trong gia đình này”, Nguyễn Thị Bích Hải viết:

“Nhiều khi tôi cảm thấy rất là áy náy, khi nghĩ đến những con người thật sự đáng quý trọng ấy đã phải nếm trải những bi kịch như vậy (…) Bi kịch của cá nhân, bi kịch của dòng họ nằm trong nỗi khổ đau chung của dân tộc, đất nước Nhưng điều đáng nói là những tâm hồn như là anh Nguyễn Khắc Phê hay là nhân vật Tâm – tức là thầy Nguyễn Khắc Dương - thì tôi thấy các anh vẫn thiết tha với đất nước; cho nên nói như một câu thơ của Xuân Diệu, rằng:

“Mang vết thương trong lòng để yêu mơ cuộc sống” Quả là một sự “trải lòng chân thật” của tác giả bài viết khiến ai cũng xúc động! Đồng tình với cảm xúc của Nguyễn Thị Bích Hải, tác giả Trần Văn Hối ở bài viết “Số phận con người và bi kịch nhân loại” nhưng “đi xa” hơn khi cho rằng: “tác phẩm của anh Phê đặt ra rất nhiều vấn đề cho chúng ta suy nghĩ và theo tôi không phải chỉ là những quan hệ bình thường trong cuộc sống mà là những vấn đề lớn, tôi dám nói rằng đó là những bức xúc của cả nhân loại, kể cả trong thế kỷ 21 này Quả thật là chưa biết thế giới này rồi sẽ đi đến đâu? Bao giờ mới kết thúc được những tấn bi kịch đã khiến nhân loại tốn không biết nhường nào là

xương máu…” (71, tr.73)

Phan Tuấn Anh lại đặt vấn đề so sánh văn học bằng một chuyên luận

khá dài: “Bi kịch dòng họ trong Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê và Trăm năm cô đơn của G.G Marquez”, trong đó tác giả tập trung

Trang 13

15

so sánh hai tác phẩm từ 3 điểm nhấn: 1 Đặc thù cá tính nhân vật, 2 Quan

hệ gia đình, 3 Những đứa con nổi loạn và thủ pháp liên văn bản Chẳng hạn,

“Xem xét hai tác phẩm của Marquez và Nguyễn Khắc Phê, chúng ta thấy có một sự trùng hợp khá thú vị Nếu như dòng họ Buendia có thể chia thành hai nhánh cá tính cơ bản: nhánh của những Aureliano u sầu, nội tâm nhưng có chiều sâu về mặt tư tưởng; nhánh còn lại là nhánh của những Jose Arcadio mạnh mẽ, quyết liệt nhưng đậm tính bản năng (…) Dòng họ Nguyễn cũng có thể tạm chia thành hai nhánh: nhánh H và nhánh T Nhánh H gồm những thành viên mang tên có chữ H làm đầu gồm Hưng, Hải, Huy (…); nhánh còn lại gồm Tâm, Thanh và cả Thủy – một người cháu họ có vai trò khá quan trọng trong tác phẩm Nếu như nhánh H là những nhân vật mang dáng dấp của những Aureliano với thuộc tính thích yên ổn, bình lặng sống nội tâm, thì nhánh T là nhánh của những Jose Arcadio với nét tính cách mạnh mẽ, sôi nổi,

sống hiện sinh với tư tưởng của mình” (71, tr.175) Một công trình nghiên cứu

khá công phu và cũng rất sâu sắc

Nhà nghiên cứu Từ Sơn trong bài viết “Bao nhiêu là trăn trở chưa thể lý giải được” đã chia sẻ: “Nỗi băn khoăn thánh thiện của bạn thể hiện rất rõ qua

từng trang sách Có thể không phải là quá lời khi tôi cho rằng ngòi bút của Phê đã rỉ máu, nước mắt và mồ hôi khi nhìn lại thân phận những con người thông qua sự chiêm nghiệm đầy trách nhiệm và đậm tính nhân văn từ những

mẫu người có liên quan máu thịt đến cuộc đời mình”; Biết đâu địa ngục thiên đường không chỉ là băn khoăn của các nhân vật: bà cụ Huy, Tâm, Hưng… mà

luôn luôn là vấn đề nóng bỏng của mọi kiếp người từ khi trái đất này có con người - con người biết suy nghĩ “Địa ngục”, “Thiên đường” là những vùng miền, những thân phận có thật trên nơi Trần thế Con người, loài người thì đúng hơn, đã, đang và sẽ bước đi trên các nẻo đường ở chốn trần gian mang

theo khát vọng tìm về cõi Chân, Thiện, Mỹ hoàn thiện” (71, tr.206) Từ Sơn

cũng chỉ ra hạn chế của cuốn sách: “Có vẻ như bạn cân nhắc quá “chừng mực” để “phòng vệ từ xa” tránh những điều ai đó quy kết xằng bậy – tôi muốn nói hình như bạn chưa dám mạnh dạn đi đến tận cùng mọi vấn đề đặt ra

Trang 14

16

nên đã để cho các nhân vật của mình “ẩn dấu” khá nhiều tâm trạng và tính

cách” (71, tr.208) Chung quy tác giả Từ Sơn mong muốn nhà văn Nguyễn

Khắc Phê quyết liệt hơn, “tận bờ sát góc” hơn trong việc miêu tả cuộc sống, miêu tả nhân vật,… để từ đó phanh phui, lên án cái hiện thực được trình bày trong tác phẩm Tuy nhiên, theo chúng tôi, mỗi nhà văn có cái “tạng” viết riêng, “tạng” Nguyễn Khắc Phê không phải như thế, và đây cũng là điểm khác

giữa tác phẩm này của ông với tác phẩm Thời của thánh thần của Hoàng

Minh Tường Mặt khác, liệu có cần “mạnh dạn đi tới tận cùng mọi vấn đề đặt ra” hay chỉ nên dừng ở mức độ nào đó, để dành “khoảng trống” cho sự tiếp nhận của bạn đọc?

Các ý kiến bàn luận, đánh giá về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường còn có thể thấy ở những bài viết khác nữa như: Nguyễn Văn Hùng,

“Trần thuật phi đẳng thời” trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường” (tr.136); Phạm Trần Quốc Bảo, “Mệnh đề cuộc đời trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường” (tr.165); Minh Nhi, “Đi tìm thiên đường và địa ngục trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê” (tr.95), Ngô Hương Giang, “Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê” (tr.104); Nguyễn Mạnh Tiến,

“Tiếp nhận tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường từ góc nhìn phân tâm

học” (tr.120), v.v…

Như vậy, từ khi ra đời, Biết đâu địa ngục thiên đường thực sự được độc

giả quan tâm Mặc dù vậy, theo chúng tôi, những nhận xét trên mới dừng lại ở một vài ấn tượng, cảm nghĩ; một số nhận xét lại đi vào từng vấn đề cụ thể của tác giả chiếm lĩnh Cho tới nay, theo chỗ chúng tôi biết được, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, dài hơi về cuốn tiểu thuyết này Bởi thế, qua tiếp thu những điều cụ thể trong những công trình đi trước, chúng tôi

chọn vấn đề Người trí thức tìm đường trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục

thiên đường của Nguyễn Khắc Phê làm đề tài luận văn như một công trình

chuyên biệt

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 15

17 Khi nghiên cứu đề tài Người trí thức tìm đường trong tiểu thuyết

Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê, mục đích luận văn

muốn đi sâu khảo sát, phân tích, xác định vấn đề tìm đường của người trí thức Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc Đồng thời giúp người đọc

có cái nhìn toàn diện hơn khi tìm hiểu, đánh giá tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hành trình tìm đường của người trí thức

trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê

Đặt Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê trong tương

quan với các tác phẩm khác viết về đề tài này như đã đề cập trong mục 3.2

5.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Đặt tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê trong

tương quan với các tác phẩm khác của chính ông và các tác giả khác viết về

đề tài này như đã đề cập trong mục 3.2

Trang 16

18

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Cố gắng làm bật nổi vấn đề tìm đường của người trí thức trong một

hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử và trong một gia đình cũng mang tính đặc biệt Qua đó, khẳng định những đóng góp của Nguyễn Khắc Phê trong văn học Việt Nam đương đại, nhất là mảng viết về người trí thức

6.2 Nếu thành công, luận văn sẽ là tư liệu cần thiết cho những ai quan

tâm nghiên cứu vấn đề này

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường trong văn nghiệp

của Nguyễn Khắc Phê

- Chương 2: Người trí thức trong Biết đâu địa ngục thiên đường và

những nẻo đường tìm kiếm

- Chương 3: Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khắc Phê trong Biết đâu địa ngục thiên đường.

Chương 1

TIỂU THUYẾT BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG

TRONG VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ

1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khắc Phê

1.1.1 Cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê với con số 9 định mệnh

Khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Khắc Phê, điểm thú vị nhất chúng tôi nhận thấy là sự “tổng kết” đời người, đời văn hết sức độc đáo của ông

Nguyễn Khắc Phê đã gắn cuộc đời mình với con số 9 định mệnh Bài viết

Những “nút” số 9 trong cuộc đời của tôi (71, tr.203) đã nói rõ hơn điều này

Nguyễn Khắc Phê sinh ngày 26.4.1939 ở xã Sơn Hòa, huyện Hương

Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Hà Tĩnh nói riêng, miền Trung nói chung, là vùng đất khô cằn sỏi đá, khí hậu khắc nghiệt với “đặc sản” gió Lào Nguyễn Bùi Vợi từng

Trang 17

19

thở than: “Gió Lào thổi rạc bờ tre/ Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc

nhằn” Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng đã từng nói: “Em mới về, em chưa biết gì đâu/ Chỉ thấy cát và gió Lào quạt lửa” Tuy vậy, đây cũng là vùng “địa linh

nhân kiệt” Và con người nơi đây cũng rất cực đoan, xét cả từ hai phía dữ dội

và ân tình, nói như Chế Lan Viên là “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào”

Xuất thân trong gia đình có 9 người con (chưa kể thân phụ ông đã có 5

người con với người vợ trước), thân sinh của nhà văn Nguyễn Khắc Phê là cụ

Nguyễn Khắc Niêm từng đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ năm 19 tuổi Dòng họ

Nguyễn Khắc cũng là dòng họ có từ lâu đời (từ thế kỷ XIV) và là một dòng

họ khá lớn với nhiều người đỗ đạt cao: người đầu tiên của dòng họ là Tiến sĩ

Nguyễn Khắc Thiệu như trong Gia phả họ Nguyễn Khắc có ghi (dịch): “Thần

tổ ta xưa quán Bắc Hà/ Đỗ đại khoa năm Vĩnh Tộ triều Lê/ Làm quan suốt một bề thanh bạch”, người cuối cùng của chế độ thi cử phong kiến ở nước ta

là Hoàng giáp Tiến sĩ Nguyễn Khắc Niêm, một người làm quan rất thanh liêm chính trực và đã từ quan về dạy học và tham gia công tác Mặt trận Liên Việt huyện ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Ngoài ra còn phải kể đến những người con khác trong gia đình này cũng là những người nổi tiếng như nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, Chủ tịch Hội liên hiệp Việt kiều tại Pháp, ủy viên Ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài, Giám đốc Nhà xuất

bản Ngoại văn, người dịch hay nhất bản Truyện Kiều của Nguyễn Du ra tiếng Pháp và là người được tặng Giải thưởng lớn (Grand prix de la Francophonie)

của Viện Hàn lâm Pháp Hoặc như GS Nguyễn Khắc Phi, người thầy của bao thế hệ sinh viên và nghiên cứu sinh, nguyên Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo dục và là Tổng chủ biên sách giáo khoa môn Văn – Tiếng Việt CCGD bậc THCS Rồi GS Nguyễn Khắc Dương, nguyên Trưởng khoa Triết Đại học Đà

Lạt (người là “nguyên mẫu” nhân vật Tâm trong Biết đâu địa ngục thiên đường), và nhiều người khác nữa

Như đã nói ở trên, cuộc đời nhà văn Nguyễn Khắc Phê gắn với con số 9

định mệnh Ông sinh vào tuổi con Mèo (1939) sau khi đã nằm trong bụng mẹ

Trang 18

(Quảng Bình) Nguyễn Khắc Phê học “Trường bồi dưỡng viết văn trẻ” khóa 3

trong thời gian 9 tháng và tốt nghiệp trường này năm 1969 Đời viết văn của

ông có nhiều tác phẩm, riêng sách có 15 cuốn, nhưng mới “chỉ” có 9 cuốn

tiểu thuyết, có điều, chừng ấy cũng đủ để ông nhận được 9 giải thưởng văn

học ở địa phương và Trung ương!

Con số 9 định mệnh còn theo đuổi Nguyễn Khắc Phê ở các lĩnh vực khác

nữa: ông công tác ở Tạp chí Sông Hương từ năm 1983 đến năm 1991, vừa tròn 9 năm và được giữ chức Tổng biên tập vỏn vẹn…9 tháng! Ông là “đối tượng Đảng” được tròn 19 năm (1963 - 1982) thì kết nạp vào tháng 9 năm

1982 (xin nói thêm một thông tin thú vị: người anh ruột của ông, GS Nguyễn Khắc Phi còn có “thâm niên” đối tượng Đảng lâu hơn ông nhiều: thầy là đối tượng Đảng từ 1963 ở trường ĐHSP Vinh, kết nạp Đảng năm 1990 ở NXB

Giáo dục, tròn 27 năm, bội số của 9!) Hiện nay nhà văn Nguyễn Khắc Phê

đang có dự định tập hợp từ hàng trăm bài báo của mình để ra tập “99 bài báo chọn lọc” Ngoài ra cũng phải kể thêm: ông sinh Kỷ Mão (1939) lấy vợ sinh

Kỷ Sửu (1949) và “hình như” người yêu (nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ) cũng sinh

Kỷ Sửu! Nhà văn Nguyễn Quang Lập từng viết về chuyện này: “Chuyện NKP đòi cưới Lâm Thị Mỹ Dạ dân văn nghệ Bình Trị Thiên ai cũng biết Ngày đó chị Dạ 19 tuổi đẹp mê tơi, mấy ông Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khắc Phê tất nhiên là mê tít Anh Phê thậm chí còn đòi cưới cho được chị Dạ, kẹt vì mạ chị

Trang 19

21

Dạ không cho, nói con Dạ cũng con địa chủ, anh cũng con địa chủ ai cho

lấy, mà lấy rồi sống mần răng nổi” (Tuần san Thanh niên, 2010)

Quả là một nhà văn có số phận lạ kỳ nhưng hết sức thú vị

Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa, văn học như thế, Nguyễn Khắc Phê thừa hưởng được cái vốn văn học từ người cha giỏi văn cũng như rất đáng kính về lối sống giản dị, thanh bạch Nguyễn Khắc Phê

đã từng làm rất nhiều nghề (cán bộ kỹ thuật thi công cầu đường ở Lạng Sơn,

Hà Đông, Nghệ An; cán bộ bảo đảm giao thông chống Mỹ ở đường 12A tây Quảng Bình (đường Hồ Chí Minh); cán bộ thi đua giao thông vận tải Quảng Bình; cán bộ binh vận,…) nhưng ông lại được mọi người chú nhiều nhất ở nghề viết văn với hàng chục tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự; hàng trăm bài báo và các tập tiểu luận Nguyễn Khắc Phê cũng là người từng giữ nhiều chức

vụ trong giới văn nghiệp như: Ủy viên Thường vụ BCH Hội Văn nghệ Quảng Bình, Ủy viên BCH hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên- Huế Hiện nay, Nguyễn Khắc Phê sống và sáng tác ở Huế đồng thời giữ cương vị Chi hội trưởng Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế

Những ngày chiến đấu gian khổ để đảm bảo giao thông ở Trường Sơn, Nguyễn Khắc Phê vẫn dành thời gian cho sáng tác văn chương Dõi theo hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khắc Phê theo chúng tôi, có thể tạm chia sáng tác của ông thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu tiên (1959 - 1968), nhà văn có bài báo đầu tiên: Những người đi tiên phong đăng trên báo Văn học năm 1959 Năm 1962, Nguyễn

Khắc Phê đoạt giải ba cuộc thi viết về “Thầy giáo và nhà trường” do Bộ Giáo

dục tổ chức với truyện ngắn Một đêm mưa Thành quả đầu tiên ấy có lẽ là tiền

đề tốt để nhà văn theo “nghiệp” văn sau này

Sau khi tốt nghiệp trường giao thông, Nguyễn Khắc Phê vào Vĩnh Linh tham gia xây dựng và bảo đảm giao thông trên các cung đường Tại đội thanh niên xung phong 759, chứng kiến những đồng chí của mình không ngại gian

Trang 20

22

khổ để mở con đường quan trọng tiến vào Nam, nhà văn viết nên tập ký sự

Vì sự sống con đường (1968) Tập ký sự này đánh dấu bước dấn thân sâu hơn

của Nguyễn Khắc Phê vào làng văn chương

- Giai đoạn thứ 2 (1969 - 1989): Nhờ có tập ký sự trên, Nguyễn Khắc Phê được gọi ra học ở “Trường bồi dưỡng viết văn trẻ” khóa 3 với các thầy Nguyên Hồng, Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Sanh, … Vào nghề văn, với Nguyễn Khắc Phê, cũng giống như vào chiến trường vậy Mỗi vùng đã đi qua ông để lại dấu ấn bằng những đứa “con cưng” của mình Khi tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Phê, hẳn người đọc một

thời không thể không háo hức với những tác phẩm của ông Hết Đường qua

làng Hạ (1976) đến Đường giáp mặt trận (1976, tái bản lần 2 năm 2011 được

tác giả đổi tên là Đường đỏ đá xanh, đúng như tên cũ lúc gửi in lần đầu) Đọc qua Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980) người đọc sẽ tới Miền xa kêu

chết thay em (tiểu thuyết, 1989), cùng với rất nhiều bài báo, tản văn, ký Hàng

loạt tác phẩm ra đời đã khẳng định tên tuổi của Nguyễn Khắc Phê

- Giai đoạn thứ 3 (1990 đến nay): Ông vừa chuyên tâm sáng tác, vừa giữ

cương vị Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương (9 tháng), sau chuyển sang làm

Phó Chủ tịch Hội văn nghệ Thừa Thiên - Huế Bên cạnh những bài báo,

những công trình khảo cứu, trong đó có chuyên luận Hiện thực sáng tạo và tác phẩm văn nghệ, NXB Hội nhà văn, 2006 rất bổ ích cho công tác nghiên cứu là các tác phẩm: Những ngọn lửa xanh, (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 2008), Nguyễn Khắc Phê - Tản văn chọn lọc (NXB Văn nghệ 2009), Thập giá giữa

tác phẩm là một điểm tựa để nhà văn có thể vững bước hơn trên con đường đi

vào làng văn chương Đặc biệt, cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên

đường, cuốn tiểu thuyết thứ 9 trong sự nghiệp sáng tác của mình, đồng thời

cũng là cuốn sách lập nhiều kỷ lục (chúng tôi sẽ đề cập đến ở mục sau) thì Nguyễn Khắc Phê đã “định vị” vững chắc trong làng văn Việt Nam

Trang 21

23

Đến nay, Nguyễn Khắc Phê đã trở thành nhà văn quen thuộc với độc

giả cả nước Ông cũng có tên trong Từ điển tác gia – tác phẩm văn học Việt

Nam và trong nhiều công trình nghiên cứu khác Chỉ xét riêng trong thể loại

tiểu thuyết, nhà văn đã đoạt được các giải thưởng:

- Chỗ đứng người kỹ sư (1980 – Giải thưởng Tổng Công đoàn và Hội

Nhà văn Việt Nam)

- Những cánh của đã mở (1986, tái bản 2006 – Giải thưởng “Bông sen

trắng” hạng A của UBND tỉnh Bình Trị Thiên)

- Nếu được chết thay em (1989 – Giải thưởng “Cố Đô” hạng B của

UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế)

- Thập giá giữa rừng sâu (2002 – Tặng thưởng của Ủy ban toàn quốc

các Hội VHNT Việt Nam; Giải thưởng “Cố Đô” hạng A của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế)

- Những ngọn lửa xanh (2008 – Giải thưởng “Cố Đô” hạng C của UBND

Thừa Thiên-Huế)

- Biết đâu địa ngục thiên đường (2010, tái bản 2011 – Giải thưởng cuộc

thi tiểu thuyết 2006-2009 của Hội Nhà văn Việt Nam; Tặng thưởng VHNT

“Nguyễn Du” của UBND tỉnh Hà Tĩnh; Tặng thưởng tác phẩm xuất sắc năm

2010 của Hội Liên hiệp VHNT Thừa Thiên-Huế)

1.1.2 Nguyễn Khắc Phê – nhà văn “con nhà quan, tính nhà lính” cả trong lối sống và cách viết

Như trên đã nói, Nguyễn Khắc Phê sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là “Cụ Hoàng Hương Sơn” (tên một công trình do Nguyễn Đắc Xuân biên soạn) Nguyễn Khắc Niêm, người học giỏi nổi tiếng một thời ở vùng Nghệ Tĩnh, thi đậu Hoàng giáp Tiến sĩ khi mới 19 tuổi Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm từng làm Đốc học Nghệ An; Tư nghiệp Trường Quốc tử giám Huế; Án sát rồi Bố chánh Nghệ An; Thị lang, Tham tri bộ Hình,…Nói cách khác,

Nguyễn Khắc Phê không đơn thuần chỉ là “con nhà quan” mà là con quan lớn Tuy sinh trưởng trong một gia đình như thế, là “con nhà quan” nhưng

tính tình Nguyễn Khắc Phê lại rất cởi mở, hòa đồng, giản dị Chưa gặp ông, ít

Trang 22

Văn nghệ, 2009)

Với mọi người, Nguyễn Khắc Phê để lại trong họ nhiều ấn tượng đẹp Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng “Tôi rất quý mến anh, bởi cái tính tính giản dị

và rất là chí tình đối với bạn bè” (71, tr.67) Có lẽ cái tính tình giản dị và rất

chí tình ở Nguyễn Khắc Phê chính là một phần chất “lính” ở ông

Lối sống cởi mở, hòa đồng, giản dị là điều ta dễ bắt gặp trong cách sinh hoạt của nhà văn Bích Phượng, một phóng viên của Đài truyền hình VCTV1, khi phỏng vấn nhà văn (năm 2009), đã nhận xét về ông, rằng ông là người

“cởi mở và thẳng thắn” Có lẽ vì tính tình ấy mà khi gặp những gương người tốt việc tốt, những anh hùng trong sản xuất và chiến đấu,… ông không thể không cầm ngòi bút, sử dụng “khiếu” văn chương của mình mà miêu tả về họ

Ấn tượng của nhà văn Nguyễn Quang Lập về Nguyễn Khắc Phê lại là sự giản dị, dễ gần: “anh mặc cái áo đại cán đã sờn, đội cái mũ lá, đi đôi dép cao

su y chang mấy ông cán bộ xã, bụng tấm tắc khen sao nhà văn giản dị thế Té

ra anh ăn mặc “giản dị” như thế cho đến già, bất kể lúc nào, ở quê hay ra phố, trên đường hay vào hội nghị, thời bao cấp hay thời đổi mới… bất di bất dịch”

(71, tr.224) Ở một chỗ khác, Nguyễn Quang Lập viết: “Đi đâu có khát nước

cháy cổ anh cũng cố chạy về nhà uống nước chứ chẳng chịu mất cho quán nước một xu, còn bảo vào quán uống chén trà thì anh cười lắc đầu, nói trà ở nhà mình cũng có, vô đó mần chi Thằng Dương Thành Vũ nói ông Phê kẹt gớm, đến nhân vật ông cũng chẳng cho ăn một bữa ngon” Nhà văn Ngô Minh thì viết: “Tôi sống ở Huế với anh Phê hơn ba mươi năm nay, quả thực tôi thấy anh không khi nào “mắt tròn mắt dẹt” trước các người đẹp”; “Trong ăn uống,

Trang 23

25

anh rất dè sẻn, tiết kiệm Cánh báo chí ở Huế gọi anh là Nguyễn Khắc

Khổ hay “khắc cả cà phê” (71, tr.218) Lối sống này có thể là do tính “di

truyền” từ ông bố Hoàng giáp làm quan đại thần triều Nguyễn như chính Nguyễn Khắc Phê kể lại: “Khi về hưu (năm 1942) các việc sinh hoạt của bản thân, cụ ít sai bảo, thường tự làm lấy Thậm chí cụ đi nhặt mo cau làm dép đi trong nhà Có thể mô tả thân phụ tôi bằng mấy chữ “ngoại quan nội sư”, quan chỉ là cái vỏ, nội dung là một cụ đồ nho xứ Nghệ”

Nhưng Nguyễn Khắc Phê không phải thuộc dòng họ nhà keo kiệt, họ kiết, “chính xác anh chỉ kiết cho chính anh thôi, bạn bè ai hỏi mượn tiền anh đưa liền, chẳng khi nào hỏi mượn làm gì, khi nào trả” Đó là lý do mà ông có

vẻ “cá gỗ” nhưng lại rất đông bạn bè thân thiết và đam mê, nói như Nguyễn Quang Lập “anh nghiện chữ, sách đắt mấy cũng mua, mua cả tấn sách” nên

“Phàm đã nghiện chơi chữ thì thấy chơi mấy thứ khác đều tầm phào, thậm chí

vô nghĩa, anh kiên quyết không chịu tốn tiền cho mấy trò mà anh cho là vô

nghĩa, vậy thôi” (71, tr.218)

Lối sống ấy đã ảnh hưởng nhiều đến cách viết của ông Trong lời tựa cho

cuốn Biết đâu địa ngục thiên đường, ông nói đại ý ông cũng biết để sách bán

chạy bây giờ nhà văn cũng phải bỏ vào đấy một ít gay cấn hồi hộp, một ít câu chữ “lạ”, một ít sex, Nhưng ông không làm như thế bởi ông quan niệm sức hấp dẫn của văn chương không chỉ có vậy mà còn muôn nẻo khác, miễn là nhà văn có tài năng Sách không hấp dẫn bạn đọc trước hết phải là do tài năng của nhà văn chứ không phải mấy cái “kỹ thuật” câu khách ấy Nguyễn Khắc Phê viết một cách rất giản dị, không màu mè, tiểu xảo, không cần tạo yếu tố giật gân Cách viết của ông tưởng là “cũ cũ” vậy mà cuốn nào ra cũng tạo

nên sự chú ý nơi bạn đọc Chỉ riêng tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường

vừa xuất bản 2010, đến năm 2011 đã phải tái bản, thế mà vừa ra đã bán hết

Hai cuốn khác của ông, cuốn Đường giáp mặt trận (Đường đỏ đá xanh) và Chỗ đứng người kỹ sư không còn bán trên thị trường trong khi nhu cầu bạn

đọc vẫn đòi hỏi nên cuối năm 2011 cũng đã tái bản,

Trang 24

26

Chất “lính” trước hết thể hiện ở việc tác giả dù trong lửa đạn gian khổ của đường Trường Sơn nhưng vẫn bám trụ đường và cổ vũ cho đồng chí của mình bằng những bài báo, bài văn để họ vững tin bám trụ, mở đường Trường Sơn và mở lối cho các chiến sĩ vào Nam chiến đấu trong cuộc chiến tranh

gian khổ, quyết liệt với đế quốc Mỹ Bài bút ký Vì sự sống con đường (1968)

đã cổ xúy cho khá nhiều chiến sĩ trong cuộc hành quân mở đường Ở tác phẩm này, tác giả không viết về một cá nhân hay một đơn vị mà về hàng loạt anh chị em Thanh niên xung phong và công nhân giao thông với nhiều con người được khắc họa khá rõ nét Dưới ngòi bút của tác giả, làm nên những chuyện tưởng như “thần thoại” để góp công vào chiến thắng trong “cuộc chiến thần thánh” với Mỹ lại không phải do thánh thần mà do chính ý chí mạnh mẽ, sắt đá của những người thanh niên yêu nước Tuy nhiên, tác giả không sa vào kể lể thành tích của từng cá nhân hay tập thể mà cố gắng tập trung ngòi bút trình bày thật trung thực, thật chính xác hành động của họ Chính những hành động ấy đã nói lên những con người với chiến công hiển hách Sống trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt như vậy nhưng họ vẫn rất lãng mạn, rất “đời”, rất lính Có lẽ nếu không phải là người trực tiếp tham gia, đồng cam cộng khổ với các thanh niên xung phong trên những nẻo đường ấy thì sẽ khó có nhiều trang viết chân thực, cảm động và có chiều sâu đến như vậy được Với tác giả, “người biết yêu cuộc sống, biết sống một cách say sưa lại chính là người dám hy sinh hơn cả”

Không chỉ miêu tả con người trong chiến đấu, ngòi bút của Nguyễn Khắc Phê còn luôn mạnh mẽ, thẳng thắn khi đề cập đến những vấn đế “nóng” của từng thời kỳ của lịch sử dân tộc – những vấn đề mà “không phải nhà văn nào cũng dám nói” (71, tr.231) Có tác phẩm khi mới gửi in bị “thổi còi”, nhưng sau một thời gian, có lẽ xét thấy vấn đề mà nhà văn nêu ra là rất thật nên nhà xuất bản đã cho in và tác phẩm bán hết rất nhanh Dám nói dám làm, dám chịu trách nhiệm và đã làm là không sợ, đó là bản lĩnh đáng quý ở Nguyễn Khắc Phê Tuy nhiên, tác giả cũng khá cẩn trọng khi viết Ông cho rằng “nhà báo phải có bản lĩnh và anh phải có ý thức trách nhiệm về việc làm

Trang 25

1.1.3 Thành tựu của Nguyễn Khắc Phê trong sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Khắc Phê là một trong những tác giả lớn của nền văn học Việt Nam đương đại Ông sáng tác cả hai thời kỳ: thời chiến tranh chống Mỹ và thời kỳ sau 1975, và hiện nay ông vẫn viết rất đều đặn với một bút lực dồi dào Với hơn 30 năm cầm bút, Nguyễn Khắc Phê đã để lại một khối lượng tác phẩm mà nhiều nhà văn mơ ước: hành trang văn học với 9 tiểu thuyết trong tay, trong đó có những tác phẩm đứng được với thời gian và được bạn đọc

yêu thích như Đường giáp mặt trận (1976) (tái bản lại với tên khi khởi thảo Đường đỏ đá xanh (2011)), Chỗ đứng người kĩ sư, Thập giá giữa rừng sâu, Biết đâu địa ngục thiên đường,…

Đánh giá về ngòi bút Nguyễn Khắc Phê, Phạm Phú Phong viết: “Gần nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn Khắc Phê đã để lại nhiều dấu chân in đậm trên đường: 5 tập ký sự, tiểu luận và 10 tiểu thuyết – chưa phải là tòa ngang dãy dọc gì ghê gớm nhưng cũng là một tài sản đáng mơ ước của những người cầm bút” Những thành tựu ấy đã làm nên tên tuổi ông: Nguyễn Khắc Phê là nhà

văn có tên trong 2 cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội nhà văn) và cuốn Từ điển tác giả và tác phẩm văn học Việt Nam (dùng cho nhà trường)

của NXB Đại học Sư phạm Hà Nội

đường (tập ký sự, 1968); Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết, 1976); Đường giáp mặt trận (tiểu thuyết, 1976, tái bản có sửa chữa lần 1 năm 1985, tái bản 2011

vơi tên gọi ban đầu Đường đỏ đá xanh); Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980); Miền xa kêu gọi (tiểu thuyết, 1985); Những cánh cửa đã mở (tiểu

Trang 26

28

thuyết, 1986); Nếu được chết thay em (tiểu thuyết, 1989); Lê Văn Miến,

lửa xanh, (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 2008); Nguyễn Khắc Phê -Tản văn chọn lọc (NXB Văn nghệ, 2009); Biết đâu địa ngục thiên đường (tiểu thuyết, NXB

tổ chức như đã trình bày ở trên

Có thể điểm qua thành công của tác giả qua một số công trình tiêu biểu

Tiểu thuyết là thể loại Nguyễn Khắc Phê thành công nhất Chín cuốn tiểu

thuyết chưa phải thật nhiều nhưng thực sự nó là tài sản đáng mơ ước của nhiều người cầm bút Ở mỗi cuốn tiểu thuyết, nhà văn có cách khai thác vấn

đề một cách khác nhau Người đọc thấy được sự già dặn của ông qua từng cuốn sách Với Nguyễn Khắc Phê, nhân vật trong tiểu thuyết được miêu tả bằng những đường nét và bản chất vốn có của nó hơn là sự hư cấu giả tạo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đem lại cho dân tộc ta một sức mạnh dường như vô biên Làm nên sức mạnh ấy chính là nhân dân Trong

hơn 400 trang của cuốn tiểu thuyết đầu tay Đường giáp mặt trận, tác giả

không miêu tả trực tiếp công cuộc chiến đấu với kẻ thù bằng súng đạn mà miêu tả sự chiến đấu bằng trí tuệ, bằng sự thông minh sáng tạo, sự dũng cảm của nhân dân ta qua công việc bắc cầu, làm đường Chính thời gian đầu công tác ở Quảng Bình với nhiệm vụ thiêng liêng là mở đường cho quân ta Nam tiến, cùng với việc mượn bối cảnh là con đường 12A lên đèo Mụ Dạ (Quảng Bình) - đoạn quan trọng nhất trên đường Hồ Chí Minh những năm đầu cuộc chiến tranh phá hoại – tác giả dựng nên những tấm gương sáng trong kháng chiến chống Mỹ Đó là những kỹ sư, công nhân, những cán bộ lãnh đạo xây dựng cầu mới, mở tuyến đường tránh qua dãy núi đá hiểm trở để chuẩn bị cho con “đường giáp mặt trận” này đáp ứng tốt hơn yêu cầu của tiền tuyến lớn miền Nam Tác phẩm đế cao hình ảnh lao động sáng tạo, quên mình của những cán bộ kỹ thuật trẻ tuổi như Sơn, Hiến và hình mẫu người cán bộ lãnh đạo mới biết coi trọng, tin cậy - những trí thức trẻ của Chủ nghĩa xã hội, đồng

Trang 27

Với Đường giáp mặt trận tác giả đặt ra một vấn đề có ý nghĩa rất lớn ở

mọi thời đại, đó là mỗi người, nhất là những trí thức, cần phải biết suy nghĩ độc lập, sáng tạo, dũng cảm mới thành công trong công việc mình đặt ra Suy cho cùng, sáng tạo là một phẩm chất không thể thiếu được của lớp trí thức mới, của những con người mới

Từ câu chuyện xây dựng cầu đường lồng trong chuyện đôi lứa trắc trở do

ngộ nhận giữa Sơn - Loan, Ngô - An, Đường giáp mặt trận nêu một vấn đề

“nóng” và quan trọng là mối quan hệ giữa lãnh đạo và trí thức trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội Bởi thế, ngay khi mới ra đời, tác phẩm đã nhận được rất nhiều tiếng nói từ dư luận Nhà phê bình Phong Vũ viết: “… Điều

đáng quý của cuốn Đường giáp mặt trận là sự thể hiện chân thật, sinh động

cuộc sống, là cách nhìn nhận, lý giải vấn đề không nông cạn, sáo mòn và nhất

là sự chừng mực, chứng tỏ người viết biết lượng sức mình…” (Báo Nhân dân 5/4/1977) Hà Vinh (Báo Văn nghệ, 1976) viết: “ Những câu hỏi, những

điều ngạc nhiên trước cuộc sống mà nhân vật Sơn nêu lên mang nhiều ý nghĩa phổ biến trong cuộc sống phong phú của chúng ta Và qua Sơn người đọc đã thấy được một hình ảnh tiêu biểu về người cán bộ khoa học mới Khẳng định nhân vật Sơn tức là tác giả đã khẳng định một cách sống: sống thẳng thắn, tin yêu và chân thành” Hà Vinh đặc biệt thích các nhân vật nữ trong cuốn tiểu thuyết này vì ông phát hiện: “Ở nhân vật nữ của Nguyễn Khắc Phê, ta bắt gặp

Trang 28

30

sự kết hợp tương đối nhuần nhuyễn giữa những nét ổn định truyền thống

và những trăn trở cựa quậy đôi khi đến mức tung phá vượt ra khỏi những khuôn mẫu cũ” Đó là những nhân vật nữ như “cái nét ngang ngang” của cô

kỹ thuật An, “cái sức sống tràn trề, lồ lộ” của cô y tá Loan, Nhà văn Ma Văn Kháng cho rằng “Tôi rất có ấn tượng về hai cuốn tiểu thuyết của anh hồi

đó là cuốn Đường giáp mặt trận và nhất là cuốn sau: Chỗ đứng người kỹ sư”

Nhà văn Nguyễn Khải khi nghe Nguyễn Khắc Phê nói qua dự kiến nội dung tập 2, trong đó có chi tiết cô y tá Loan sẽ hi sinh ngay trong những ngày đầu

Mỹ dội bom xuống con đường, ông đã nói ngay: “Nhà văn không dễ dựng được một nhân vật có góc cạnh như thế đâu! Đừng để cô ta “chết” sớm quá! ” Và quả nhiên, Nguyễn Khắc Phê đã nghe theo và đã xây dựng cô Loan đã thành một nhân vật sinh động cho tới cuối cuốn tiểu thuyết

Nối tiếp với Đường giáp mặt trận là Chỗ đứng người kỹ sư Nói đúng

hơn đây là tiểu thuyết bộ đôi của Nguyễn Khắc Phê Tác phẩm dài gần 500 trang này tiếp tục miêu tả cuộc chiến đấu quyết liệt trên đoạn đầu mối quan trọng ở đường Hồ Chí Minh dưới bom đạn Mỹ và trước cả những phút yếu hèn, những kẻ cơ hội và sự kém hiểu biết của một số cán bộ Các nhân vật được đặt trước những tình huống thử thách gay go hơn, không chỉ trong bom đạn mà chính trong cuộc đấu tranh để thực hiện một kiểu cầu mới, dạng cầu - cáp Việt Nam, thích ứng với đường Trường Sơn trong chiến tranh, một công trình đòi hỏi trí tuệ, sự trung thực và hy sinh cả tính mạng mới thực hiện được Trong những tình huống ấy, tính cách và phẩm chất anh hùng của các nhân vật được toả sáng, đồng thời những thói xấu theo đó cũng bị phơi bày Cũng do dựa chủ yếu vào câu chuyện sáng tạo một công trình khoa học kỹ

thuật, đặc biệt với các nhân vật chủ yếu là trí thức và cán bộ lãnh đạo, Chỗ đứng người kỹ sư tiếp tục chủ đề quan hệ giữa lãnh đạo và trí thức - “chỗ

đứng” của người trí thức trong sự nghiệp cách mạng - một cách sinh động, có

sức thuyết phục hơn Nhà phê bình Nguyễn Văn Long đã viết về Chỗ đứng người kỹ sư trên báo Văn nghệ (năm 1980): “… Con đường Trường Sơn vĩ

đại đã từng thu hút và làm nảy nở nhiều cây bút (…) đem lại cho văn học ta

Trang 29

31

không ít tác phẩm có giá trị Nhưng ít nhiều, một đề tài được khai thác tập trung như vậy (…) đã không tránh khỏi tạo ra một vài “lối mòn nào đó” (…) Truyện của Nguyễn Khắc Phê ít ra cũng đã không rơi vào tình trạng ấy, có lẽ trước hết là vì anh có một vốn sống trực tiếp khá dày dặn… Có thể nói là tác giả đã làm chủ được đề tài của mình, đã tìm cho mình một hướng khai thác

thích hợp (…) Chỗ đứng người kỹ sư vẫn “đứng” được, vẫn đáng được chú ý

và trân trọng; trước hết là vì cái chân thực của một mảng đời sống được thể hiện bằng một cách viết cẩn thận, chân chất; thêm nữa còn là vì cái ý hướng đúng đắn của một vài vấn đề xã hội mà tác giả nêu lên và tìm cách lý giải trong tác phẩm của mình…”

Có thể nói, cùng với Đường giáp mặt trận, Chỗ đứng người kỹ sư đã xây

dựng được hình ảnh những người trí thức, những người lao động đầy chân thực và sinh động Họ không trực tiếp chiến đấu nhưng chính họ cũng chính

là những “biểu tượng đẹp nhất của thời chiến tranh vệ quốc” (32, tr.37)

Khác với hai tiểu thuyết trên, tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở (gần

600 trang, được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại trong bộ sách “Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới”) tuy lấy bối cảnh là những công trình thuỷ lợi ở miền Trung, nhưng các nhân vật trải qua những hoàn cảnh khác nhau, những bài học xương máu trong cuộc đời cả ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa và vùng mới giải phóng, nên đã nêu được nhiều vấn đề xã hội rất đáng chú ý trong cả một thời

kỳ dài của đất nước Có cả hình ảnh lãnh tụ trở về bên dòng sông Hương gặp lại bạn trí thức cũ; rồi vấn đề “trí thức cũ - trí thức mới”, vấn đề “mở cánh cửa

tự do” tạo điều kiện cho sáng tạo; rồi vẻ đẹp trong lao động và cả trách nhiệm của người làm báo trước những công trình vô dụng do bệnh duy ý chí… Ta có thể thấy đã có sự mở rộng trong cách tiếp cận vấn đề lẫn đề tài của Nguyễn

Khắc Phê Cũng ít nhiều đề cập đến trí thức, tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu miêu tả cuộc chiến đấu quyết liệt của những nhân viên kiểm lâm trên mặt

trận bảo vệ rừng Thông qua tác phẩm, tác giả đề cao tấm gương anh hùng của một nhân viên kiểm lâm chống lại bọn lâm tặc hung hãn Đồng thời ngòi bút của tác giả lên án và phê phán mạnh mẽ những kẻ thoái hoá “nối giáo cho

Trang 30

Ở phương diện tiểu thuyết ta có thể thấy, từ Đường giáp mặt trận đến Thập giá giữa rừng sâu là cả quá trình lao động nghệ thuật công phu của nhà

văn Từ vị trí của một cán bộ kỹ thuật ngành cầu đường đến một nhà văn chuyên nghiệp, Nguyễn Khắc Phê đã tự vượt lên mình để luôn luôn ở vị trí mũi nhọn của cuộc sống, để tác phẩm của anh chứa chất những vấn đề lớn của

Trang 31

33

hiện thực anh hùng và vĩ đại của nhân dân ta Có lẽ vì những lí do ấy mà những tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê ngay khi vừa xuất bản đã được đông đảo bạn đọc, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm đọc

Riêng về cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường, chúng tôi sẽ

nói trong phần 1.2 của luận văn này

Ngoài tiểu thuyết, Nguyễn Khắc Phê cũng đã xuất bản hai công trình

nghiên cứu phê bình văn học và hàng trăm bài báo khác đăng ở các tạp chí

trung ương và địa phương (như lời ông tự bạch là “đã viết trên 900 bài báo”)

Lê Văn Miến- người hoạ sĩ đầu tiên, người thầy đầu tiên, dày 100 trang,

là tập bút ký chân dung mà cũng có thể xem là tập sách nghiên cứu về một danh nhân đặc biệt: ông là hoạ sĩ Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp tại Trường Mỹ thuật danh tiếng Paris và là một trong những người thầy đầu tiên của Nguyễn Tất Thành (về sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh) ở Trường Quốc học Huế Cuốn sách không phải là tài liệu đầu tiên viết về Lê Văn Miến nhưng là tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất, sinh động nhất về một danh nhân gần như bị quên lãng nhiều năm, nêu một tấm gương sáng về tài năng và nhân cách một hoạ sĩ, một người thầy, dù Lê Văn Miến đã trải một cuộc đời không may mắn: “sinh bất phùng thời”… Cuốn sách đã có tác dụng đáng kể trong việc đưa tên Lê Văn Miến đặt tên đường ở Thành phố Huế và Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên- Huế công nhận phần mộ cụ là Di tích Lịch sử - Văn hoá

Cuốn Hiện thực và sáng tạo tác phẩm văn nghệ dài hơn 300 trang, là

cuốn sách tập hợp hơn năm mươi bài phê bình tiểu luận của nhà văn Nguyễn Khắc Phê Trong ba phần của cuốn sách (Phần một: chân dung; phần hai: tiểu luận; phần ba: phê bình), người đọc dễ nhận thấy ở tác giả “tính thời sự và

tính lịch sử”, là Sức trẻ của một ngòi bút (tên bài viết của Phạm Xuân

Nguyên, Báo Tuổi trẻ, ngày 19/9/2006) ở hầu hết các bài viết “Đọc một cuốn

sách hay kể một thân phận, bàn một vấn đề hay nói một suy nghĩ, Nguyễn Khắc Phê đều từ bây giờ, từ cái hôm nay mà luận bàn, nhận xét, nhưng anh biết dẫn dắt cho người đọc có cảm nhận từ hôm qua, từ trước đó, để sẻ chia cùng anh những cảm xúc và cảm nghĩ Những bài viết đăng báo đây đó, nay

Trang 32

34

tập hợp lại đọc liền một mạch trong một hệ thống phân loại tương đối, đưa lại cho người đọc nhiều thông tin, nhiều gợi mở Như họa sĩ Lê Văn Miến

“sinh bất phùng thời” nhưng là người thầy của nhiều danh nhân Như Yvelin

Féray với tiểu thuyết Vạn Xuân viết về Nguyễn Trãi Như Trần Vàng Sao với bài thơ Người đàn ông 43 tuổi nói về mình từng gây “sóng gió” Sông Hương

thuở Nguyễn Khắc Phê là Tổng biên tập Như Nguyễn Mộng Giác sống ở Mỹ

với bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ viết về Tây Sơn Nguyễn Huệ in ở trong

nước”… (Phạm Xuân Nguyên, tlđd)

Nguyễn Khắc Phê cũng có viết truyện ngắn nhưng không nhiều nên ở trong luận văn này chúng tôi xin được không đề cập đến

Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê, người đọc không thể không nhắc

đến tản văn của ông Ở thể loại này, độc giả thấy ngòi bút Nguyễn Khắc Phê

thâm nhập vào thực tế bằng những bài tản văn với một phong cách mới lạ và độc đáo Đọc tản văn của Nguyễn Khắc Phê, người đọc có thể thấy rõ ít nhiều

chút “bụi bặm” của cuộc sống xô bồ hiện nay qua những bài như 2,9 tỷ và

500, Những con chuột khôn ngoan, Nỗi khổ giám đốc ngày Tết, nhưng cũng

dễ nhận ra “những thanh âm trong trẻo chen lẫn vào giữa bản đàn mà tất cả

nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ” (76-76) như Tiếng đàn trong chiều mưa, Chiếc

lá thơ, Đời hoa, Lá và hoa, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Đó có thể là những

nghịch cảnh như bác xích lô ráng sức đạp xe về cùng vợ con với cái thân thể

mồ hôi nhẫy nhụa và một vị quan bụng to mắt híp, chễm chệ trên xe bốn bánh đời mới với máy lạnh bật 24/24 Hoặc đó cũng có thể là một chiếc lá, một bình hoa, một bài thơ… gợi cho tác giả nhiều suy tư, trăn trở về cuộc sống, về đời sống con người,… Nói như Hoàng Bình Thi “Ngắn gọn, súc tích, xa mà gần, tản văn đâm ra có nhiều ưu thế Đọc tản văn của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, tôi cũng nghĩ là ta đã gặp trong văn ông những nét chung đó (…), nhưng cách viết thì lại riêng, giản dị, từ tốn và gần gũi Nguyễn Khắc Phê thường viết về những điều tưởng rất nhỏ, (…) nhưng lại hàm chứa bao điều lớn lao của cuộc sống, (…) Nguyễn Khắc Phê giỏi xâu chuỗi những vấn đề tưởng chừng như không liên quan” (64, tr.213) Hay như Lương Mỹ Hà từng nhận

Trang 33

35

định: “Phẩm chất đáng quý nhất trong tản văn Nguyễn Khắc Phê chính là trực giác nhạy bén, một tâm hồn giàu xúc cảm” “Từ đoá hoa trắng trên cây bưởi ở góc vườn, đến hình ảnh những trẻ em lang thang trên hè phố, Nguyễn Khắc Phê không chỉ đưa người đọc bước vào thế giới bao la, thanh khiết mà dường như ông đã “cắm thẳng ngòi bút” vào những vấn đề của cuộc sống”

(Đọc Đời hoa – tr.3) Có khi, nhà văn như mở rộng hồn mình để đón nhận những âm vang của cuộc sống xô bồ (Bà già bên dốc Bến Ngự và những chuyến xe qua), lại có khi ông gưởi gắm sự trân trọng, yêu thương vào những cái tưởng nhỏ bé mà quan trọng như chú gà con mới nở (Mẹ và con) Viết về

thực trạng xã hội, nhà văn quan tâm sâu sắc đến mảng đề tài suy thoái giá trị đạo đức tốt đẹp của Việt Nam nói riêng, phương Đông nói chung Trong xã hội

ấy, mỗi thành viên đều dễ trở thành nạn nhân của đồng tiền nếu lệ thuộc quá nhiều vào nó Tác giả gửi gắm nỗi suy tư của mình: “Phải, ước chi các quan tham đang núp bóng các cửa quan cũng biết cảm thấy nhục nhã khi nhận những

“món quà tình nghĩa” mà cấp dưới cống nạp lên trong dịp lễ tết thì bạc tỉ của

công quỹ sẽ không bay hơi” (2,9 tỉ và 500) Thì ra, đối với ông, “mỗi điều

trông thấy đều đau đớn lòng!” Tuy nhiên, với Nguyễn Khắc Phê, “Cuộc sống đâu chỉ toàn chuyện xấu và đừng vội nghi ngờ”, “Chợt nghĩ trong hàng ngũ những người làm công việc thầm lặng trên mọi nẻo đường đời, hẳn còn biết

bao người như anh ” (64, tr.144) Có thể nói, những hình tượng mà tác giả sử

dụng trong tản văn của mình đều toát lên sức nặng tư tưởng Tản văn Nguyễn Khắc Phê với kết cấu chặt chẽ, song lại nhẹ nhõm thoải mái Đối với ông, mỗi giờ, mỗi khắc trong đời sống đều nhắc nhớ trách nhiệm của mình Vạn sự, vạn vật đều có thể đi vào văn pháp, hiểu được tận cùng đạo lý của sự vật sẽ nghĩ ra nhiều điều kỳ diệu “Vì thế giữa vòng xoay ngày một nhanh trong cuộc sống hiện đại, ngày ngày xin nhớ dành ít phút tĩnh lặng cho tâm hồn ”

Có thể nói, phong cách tản văn của Nguyễn Khắc Phê khá mới lạ và độc đáo Cái mới lạ cái độc đáo ở đây không phải ở sự khoa trương ngôn ngữ mà chính ở chất trữ tình đằm thắm, sâu sắc “Nguyễn Khắc Phê đã xâu chuỗi được những chi tiết nhỏ bé, giản đơn trong cuộc sống thường nhật, thổi vào đó một

Trang 34

36

linh hồn để nó cựa quậy, sống cùng độc giả Như một đạo diễn tài hoa, tản

văn Nguyễn Khắc Phê là sự tổng hợp nhiều kết cấu” (26, tr.213)

Khi tìm hiểu sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khắc Phê, chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của Trần Đình Sử khi Giáo sư cho rằng: “Nguyễn Khắc Phê là một nhà văn hết sức tâm huyết đối với số phận con người, với vận mệnh đất nước cũng như đối với sự tiến bộ của xã hội Ngòi bút của anh không hề né tránh các vấn đề nhạy cảm của đất nước, đồng thời anh đã nêu

1945 đến 1975 được xem là tiểu thuyết “mang tính sử thi” (32, tr.51) Loại

tiểu thuyết này, ở Việt Nam còn kéo dài thêm một thời gian nữa đến sau 1975 như một “quán tính sử thi” Tuy nhiên, do hiện thực thay đổi, người đọc cũng nhận thấy cần phải có sự chuyển biến về đề tài, cốt truyện, nhân vật đến thể loại và thi pháp trong tiểu thuyết, bởi đó là “sự chuyển hướng dần từ tư duy

sử thi sang tư duy thế sự, chuyển từ cảm hứng ngợi ca, khẳng định sang

chiêm nghiệm, suy tư” (32, tr.tr7)

Trong tinh thần Đổi mới của Đảng, từ 1986, tiểu thuyết Việt Nam xuất

hiện hiện tượng “nhận thức lại” tư duy khi phản ánh hiện thực Cũng đề cập đến con người trong chiến tranh nhưng tiểu thuyết giai đoạn này đề cập nhiều hơn đến con người cá nhân - đời tư Nói rõ hơn, trong tiểu thuyết giai đoạn này con người xuất hiện trong tiểu thuyết gần giống với con người thực ngoài đời “Đó là những con người vừa có khiếm khuyết, bất toàn vừa đẹp đẽ, thánh

Trang 35

37 thiện” (32, tr.9) Điều này đã có dấu hiệu xuất hiện từ trước trong các sáng

tác của Nguyễn Minh Châu, “người mở đường tinh anh” cho trào lưu văn học

đổi mới qua những truyện ngắn Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Về tiểu thuyết, có thể kể đến Thời xa vắng của Lê Lựu Từ số phận chìm nổi của nhân vật Giang Minh Sài với bi

kịch khi còn trẻ thì phải yêu cái người khác yêu, đến khi được tự do thì lại chạy theo yêu cái mình không có, nhà văn đặt vấn đề phải “nhận thức lại” tư duy của thời đại Tiếp theo là một loạt tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường

(Mảnh đất lắm người nhiều ma), Dương Hướng (Bến không chồng), Hoàng Minh Tường (Thời của thánh thần), Tô Hoài (Ba người khác), Nguyễn Đình Chính (Đêm Thánh nhân), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Trong số đó các tiểu thuyết như Thời của thánh thần, Ba người khác, Lão Khổ hay Chuyện làng Cuội (Lê Lựu) là những tác phẩm đề cập trực

tiếp đến Cải cách ruộng đất như “một thời lầm lỗi” (chữ của Lê Lựu) nhưng

nặng nề của dân tộc Ba người khác của Tô Hoài dựng lại bức tranh cải cách

ruộng đất ở một vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ trong tư cách nhân chứng của một anh trí thức được cử về tham gia công tác Đội Tô Hoài khắc họa những con người được coi là Đội, một tổ chức được trao quyền sinh quyền sát người dân, một nỗi ám ảnh ghê rợn đối với người dân trong vùng quê ấy Đội muốn làm gì là làm, muốn vu cho ai là phản động, địa chủ là vu, hãm hiếp người ta nhưng hễ chống cự là bị vu cáo do nghe lời bọn phản động nên cố tình hạ uy tín Đội! Trong khi đó lại là những con người dốt nát, vô học, hoang dâm vô độ Truyện cũng mô tả số phận những con người hiền lành, thậm chí

là nhân tố tích cực sau khởi nghĩa nhưng bị vu là Quốc dân đảng, là phản bội cách mạng nên bị đấu tố, giam cầm, tra tấn không khác gì thời Trung cổ như nhốt trong chuồng trâu ngập ngụa phân, dùng gậy tre đánh gẫy hàm răng, trói

vào cọc bắt phơi dưới trời nắng như đổ lửa… Thời của thánh thần lại tiếp cận

hiện thực cải cách ruộng đất từ hướng oan khuất của một gia đình danh gia vọng tộc Cơn bão cải cách quét qua đã làm tan nát toàn bộ gia đình và mỗi người trong đó phải tứ tán tìm đường tránh bão Sau bao nhiêu năm, lòng hận

Trang 36

38

thù vẫn không nguôi và khi khá giả lên, một số người trong gia đình quyết tâm về xây lại cơ ngơi bề thế hơn để hả mối hận bao năm Hiện thực được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết này có vẻ na ná như hiện thực trong tiểu

thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê nhưng hướng

tiếp cận, cách tiếp cận hoàn toàn khác

Và rồi những thăng trầm chìm nổi trong cuộc đời lão Khổ (Tạ Duy Anh) khi thì làm chủ tịch quyền bính nghiêng thành, khi thì chuẩn bị hầu tòa trong

tư cách một tên tội phạm chung quanh cuộc đảo điên giá trị của một thời cải cách Hoặc cái bi kịch của Nguyễn Vạn, ông Xung, Đột, Công, tiếp theo là Nghĩa, Hạnh… trước cái dốt nát, mù quáng của những con người thực thi cải

cách (Bến không chồng – Dương Hướng), hay cái kiếp phận long đong của bà Hiêu Đất, cái tráo trở hãnh tiến của chủ tịch Hiếu (Chuyện làng Cuội),… cũng

nêu bật và lên án cái thực trạng thời cải cách

Tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê được

khởi viết ngay sau Đại hội VI của Đảng (1986) và được viết trong hai mươi năm (1987 – 2007), làm nên một kỷ lục về thời gian trong đời viết của ông Cũng tiếp tục đề tài người trí thức - đề tài tâm huyết của Nguyễn Khắc Phê, cũng là miêu tả cơn bão cải cách ruộng đất đã làm phân hóa các số phận khác nhau trong một gia đình làm quan, nhưng với tác phẩm này nhà văn trình bày cách tiếp cận cuộc sống, con người theo một hướng mới, khác hẳn với hướng tiếp cận của chính tác giả trong các tác phẩm đã được viết trước đó về người trí thức và cũng không giống với những tác phẩm của các tác giả khác viết về

đề tài này

1.2.1 Nội dung cơ bản của tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường

Biết đâu địa ngục thiên đường được xem là cuốn tiểu thuyết “để đời” của

nhà văn Nguyễn Khắc Phê Được bắt đầu viết vào năm 1987 nhưng mãi đến năm 2007 tác giả mới có thể hoàn thành tác phẩm Chính quá trình viết với thời gian khá dài ấy đã tạo nên “độ chín” trong tư tưởng và kết tinh nghệ thuật

cho tác phẩm Bởi thế, không phải ngẫu nhiên mà khi vừa xuất hiện, Biết đâu địa ngục thiên đường đã có mặt trong danh sách những tác phẩm lọt vào vòng

Trang 37

39

chung khảo cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam Sự kiện tác phẩm đoạt giải thưởng đã góp phần khẳng định giá trị của nó

Trong quá trình viết suốt hai mươi năm ấy, nhà văn đã có những sửa đổi

để chắt lọc những gì là hay, là đẹp và cũng là “đời” nhất vào tác phẩm mà ông

đã dành rất nhiều tâm huyết này Đến với Biết đâu địa ngục thiên đường ta

thấy nổi lên nhiều vấn đề, như: số phận con người, nhất là số phận của người trí thức, vấn đề cải cách ruộng đất, những nét văn hóa của một vùng quê,…

nhưng đọng lại trong người đọc có lẽ vấn đề tìm đường của người trí thức –

vấn đề không riêng của một quốc gia nào Người trí thức luôn có sự băn khoăn, trăn trở trước những nẻo đường mình chọn Với không chỉ riêng họ, chọn một hướng đi cho mình thì hướng đi ấy có thể dẫn tới “thiên đường” và cũng có thể dẫn tới “địa ngục” Họ có thể tìm thấy sự sung sướng, thanh thản

và họ cũng có thể đau khổ, dằn vặt bởi nẻo đường mình đã chọn Có thể thấy,

đề tài Nguyễn Khắc Phê đề cập tới không phải là mới Tuy nhiên, với vốn sống phong phú, với sự trải nghiệm sâu sắc và với tinh thần “dấn thân”, Nguyễn Khắc Phê thuộc số ít nhà văn dám đi sâu phản ánh những vấn đề tế nhị, nhạy cảm của xã hội thời chiến cũng như thời đổi mới để đem đến cho độc giả cái nhìn chân thực và có chiều sâu

Biết đâu địa ngục thiên đường xoay quanh gia đình cụ Huy – một ông

quan của chế độ cũ đang sống trong một xã hội mới – xã hội của chế độ dân chủ cộng hòa dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và lấy nông dân làm động lực của cách mạng Trong tác phẩm, theo hồi ức của nhiều nhân vật, đặc biệt là Tâm, mọi diễn biến của đất nước, của quê hương, của gia đình cụ Huy trước và sau 1945, và cả sau 1975, cũng như số phận của từng thành viên trong gia đình được lần lượt tái hiện

Nhà văn Mỹ Thomas Wolf cho rằng “mọi tác phẩm nghiêm túc suy đến cùng đều là có tính chất tự truyện, một người nếu muốn sáng tạo một cái gì chân thực và có giá trị thì phải thì phải sử dụng kinh nghiệm và tư liệu trong

cuộc sống của mình” Chính nhà văn Nguyễn Khắc Phê cũng thừa nhận “dại

gì không lợi dụng” khi được sống trong gia đình đậm chất tiểu thuyết Nói

Trang 38

40

như thế, chúng tôi muốn khẳng định rằng, tác phẩm mang ít nhiều yếu tố

tự truyện Tuy nhiên, không vì lí do ấy mà tác phẩm mất đi cái chất nghệ thuật vốn có của thể loại tiểu thuyết Cuốn tiểu thuyết này bắt đầu bằng cuộc trở về quê của nhân vật chính là Tâm - đứa con “đi lạc” (như lời của chính Tâm) hơn ba mươi năm trời đằng đẵng Nếu như: “hành trình là số kiếp của con người trong trần gian” như trải nghiệm triết học nhân sinh của K Jaspers, thì, với Tâm (và xung quanh anh là Thanh, Kiên, Hưng ) cuộc đời đúng là

“hành trình bất tận” cả trong lý tưởng và thực tế (Có lẽ cũng rút ra được điều

ấy nên chính Kiên sau bao năm lăn lộn cũng thở than: “Ôi chao! Nhưng biết đâu là con đường sáng, đâu là ngõ cụt tối tăm mà bảo ai đi lạc! ”) Một quê nhà nơi cõi miền sơn cước vùng Hà Tĩnh hay cõi miền mẹ thân thương nơi Tâm sinh ra để sau này, suốt trong quãng đời lưu đày còn lại sẽ là niềm an ủi, chốn yên bình hướng tới trong tâm hồn hiền lành, dễ tổn thương của Tâm Sau năm 1975, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, non sông đã liền một dải, nhưng Tâm, người con trai trưởng của người vợ sau cụ Huy đến năm

1976 mới mãn hạn cải tạo và được trở ra Bắc để về với mẹ sau 30 năm Trên chuyến tàu cũ kỹ, lạc hậu của thời ấy, một con người nhỏ thó, rụt rè trong chiếc măng tô san bẩn thỉu, lạc lõng trước tất cả hành khách, khiến không ai biết đó vốn là một giáo sư Thần học của Chủng viện Đà Lạt Từ đây, theo hành trình của con tàu và hành trình trong tâm tưởng, mọi kỷ niệm hiện về như một cuốn phim nhiều tập Chúng ta hiểu rằng, đây là con trai của một quan Thượng thư bộ Hình đã treo ấn từ quan về dạy học ở quê, sống cuộc đời thanh bạch Cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, người người náo nức

“cùng nhau đi hồng binh” trong niềm vui đến ngỡ ngàng của sự thay đổi số phận “Đem người nô lệ thành người tự do” Trong không khí ngày hội đó, gia đình cụ Huy cũng hăng hái tham gia với niềm tin, niềm vui nơi cuộc đời mới:

cụ Huy vui vẻ hẳn lên tham gia vào công tác Bình dân học vụ, tham gia Mặt trận Liên Việt huyện; Tâm trở thành một nhân viên hành chính của xã; Thanh (con gái cụ Huy) thoát li gia đình trở thành cán bộ kháng chiến Nhưng rồi

cải cách ruộng đất đến với khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc

Trang 39

41

tận rễ” bấy giờ như một cơn bão hoành hành gia đình này Xét theo

“tiêu chí” trong khẩu hiệu ấy thì tiêu chí nào gia đình cụ Huy cũng “lọt” vào cả! Thế là bản thân cụ Huy chưa kịp đi (đúng hơn là cụ không muốn đi dù lúc

ấy đã có thư Bác Hồ gửi về triệu tập cụ ra dự Hội nghị ở Việt Bắc - thực chất

là Bác muốn tránh cho các trí thức tiến bộ như cụ khỏi lâm vào vòng lao lý) thì đã bị giải lên huyện; Tâm là người chứng kiến cảnh cha mình bị bắt, hoang mang không biết làm sao; Thanh thì không dám về nhà vì sợ liên lụy đến gia đình địa chủ, phản động; vợ cụ Huy và các con nhỏ chui rúc trong một túp lều

ở góc vườn vì nhà cửa, đồ đạc đã bị tịch thu làm “quả thực”, Tâm là một thanh niên ốm yếu, sợ hãi như con chim trước bão tố, lúc được đi dạy ở một trường cấp hai, trọ trong nhà một người bạn Công giáo, anh đã đọc và “giác ngộ” Kinh Thánh nên đã trốn nhà theo Chúa với một đức tin trong sáng là tìm con đường “chân lý”, con đường lên “thiên đàng” theo lý tưởng của mình Cũng vì thế mà anh đã chồng thêm một tai họa nữa cho cả nhà đang khốn khổ: gia đình có người “đi Nam” (đồng nghĩa với “phản động” lúc đó) Sau

30 năm, giờ đây anh trở về với một con số không (0) tròn trĩnh: không gia đình vợ con, không nghề nghiệp, không tiền bạc, không biết con đường mình mải miết đi tìm bao năm qua là “địa ngục” hay “thiên đường”, đúng như lời

mẹ than khi anh bỏ nhà ra đi: “Con ơi, biết đâu địa ngục thiên đường là đâu, con ơi!”, anh về chịu tội trước người mẹ già đang trong cơn thập tử nhất sinh

Hành trình trở về này, Tâm đã được quỳ dưới chân mẹ sám hối về tội lỗi của mình Cũng lần trở về này, Tâm đã gặp lại những đứa em như Thanh, Hưng, Hải, Thủy, mỗi người một số phận nhưng đều vượt qua được cơn bão táp; cùng những người bạn như Kiên, Dự, Lập cũng mỗi người một số phận sau cơn bão, kể cả Dung - “người yêu” một thời của Tâm Tất cả đều không ai trả lời được câu hỏi: “Thiên đường” là đâu? “Địa ngục” là đâu? Những năm tháng qua, mỗi người một nẻo tìm kiếm: theo Cách mạng triệt để đến cực đoan và cuối đời rơi vào khủng hoảng, mất niềm tin vào chính con đường mình chọn như Thanh, Kiên , hay mải mê theo đuổi một lý tưởng tôn giáo như Tâm, hoặc làm một “con buôn”, “phe phẩy” sống tự do mà thoải mái như

Trang 40

42

Thủy, đó là thiên đường hay địa ngục? Hay là lý giải như Tâm, khi

anh đi nhầm dép của một hành khách, trước câu hỏi của Thủy: “anh không biết chiếc dép nào là phải, chiếc nào là trái à”? Tâm đã bảo rằng: “Đâu phải lúc nào cũng phân biệt được”; “nếu o đứng đối mặt với mình thì bên trái o lại

là bên phải mình Vấn đề là chỗ đứng, là cách nhìn…” (63, tr.613)

Tác phẩm kết thúc bằng chuyến đi tìm mộ cụ Huy sau mấy chục năm không có người thân hương khói của Tâm, Hưng, Thủy Nó như một “hành trình trở về” với nguồn cội vậy

Trong toàn bộ gần 700 trang của cuốn tiểu thuyết, Nguyễn Khắc Phê dường như sử dụng bút pháp của tiểu thuyết “dòng ý thức”: xen kẽ giữa mơ

và thực, xen kẽ những đối thoại trực tiếp giữa anh em, bạn bè với những độc thoại của Tâm, giữa những sự kiện trong hồi ức quá khứ với những việc xảy

ra ngay trong thời khắc hiện tại ở bệnh viện, ở căn phòng của vợ chồng Hải, ở những lời nói bỗ bã, thẳng thắn, nghe rất “phũ” nhưng lại đúng đến đau lòng của Thủy, Cuộc trở về của Tâm giống như trong một đám sương mù dày đặc, dần dần nắng lên, sương tan và mọi việc lại dần sáng trong những sự cảm thông của tình anh em, xóm giềng, bè bạn Lần trở về này càng trọn vẹn hơn khi Tâm về quê bằng cả thể xác lẫn tâm hồn Với Tâm, 30 năm xa quê, giờ đây “Chỉ cần một tín hiệu nhỏ là những kỷ niệm này cuốn dậy những kỷ niệm khác”; “một cơn bão khốc liệt đã làm tan vỡ tất cả nhưng quê hương vẫn như một vùng đất thánh thiêng liêng, mà hễ có dịp là anh lại muốn trở về, dù chỉ trong tưởng tượng”

Không phán xét vấn đề Tâm bỏ gia đình, rời đồng chí, quê hương đi theo Đạo Thiên Chúa là đúng hay sai, vấn đề cải cách ruộng đất là đúng hay sai, Nguyễn Khắc Phê chỉ tái hiện một phần số phận cá nhân, một phần của công cuộc cải cách đối với gia đình cụ Huy Những biến đổi của số phận con người trong tác phẩm khiến người đọc luôn phải chú ý tìm hiểu

1.2.2 Số phận cuốn tiểu thuyết – bên cạnh “kỷ lục” về thời gian sáng tác là tiếng nói dư luận về tác phẩm

Ngày đăng: 16/09/2021, 16:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w