TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH THĂM DÕ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG PHÂN BÓN KHÁC NHAU ĐỐI VỚI GIỐNG LẠC L26 TRONG VỤ XUÂN, TRÊN ĐẤT CÁT NỘI ĐỒNG Ở TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC - TRƯỜNG Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THĂM DÕ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC
SỬ DỤNG PHÂN BÓN KHÁC NHAU ĐỐI VỚI GIỐNG LẠC L26 TRONG VỤ XUÂN, TRÊN ĐẤT CÁT NỘI ĐỒNG Ở TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60.62.01
Người thực hiện: Trần Anh Tuấn
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quang Phổ
VINH - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Phổ, người đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo trong Khoa Nông - Lâm - Ngư, Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn bè, đồng nghiệp và người thân Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý đó
Vinh, ngày 22 tháng 10 năm 2012
Tác giả
Trần Anh Tuấn
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ra hoa rộ Đâm tia và quả vào chắc Trước thu hoạch 15 ngày Thời gian sinh trưởng Trọng lượng 100 quả Trọng lượng 100 hạt
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng 06
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới 08
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 09
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Nghệ An 10
Bảng 3.1 Một số đặc điểm hình thái của giống lạc L26 36
Bảng 3.2 Tỉ lệ mọc mầm và thời gian mọc của giống lạc L26 37
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phương thức bón đến sinh trưởng và phát triển 39
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của phương thức bón đến chiều cao cây 42
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của phương thức bón đến số lá 46
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của phương thức bón đến số cành cấp 1 và cấp 2 48
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của phương thức bón đến diện tích lá 51
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phương thức bón đến chỉ số diện tích lá 53
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phương thức bón đến thời gian diện tích lá 56
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của phương thức bón đến tích luỹ chất khô 59
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phương thức bón đến hiệu suất quang hợp 61
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phương thức bón đến số lượng nốt sần 65
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phương thức bón đến sâu, bệnh hại 67
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phương thức bón đến hàm lượng diệp lục 69
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phương thức bón đến cấu thành năng suất 71
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phương thức bón đến năng suất 73
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ: 3.1 Tỉ lệ mọc mầm và thời gian mọc của các công thức 38
Biểu đồ: 3.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển ở các công thức 40
Biểu đồ: 3.3 Chiều cao thân chính ở các công thức 44
Biểu đồ: 3.4 Số lá trên thân chính ở các công thức 47
Biểu đồ: 3.5 Số cành cấp 1 ở các công thức 49
Biểu đồ: 3.6 Số cành cấp 2 ở các công thức 49
Biểu đồ: 3.7 Diện tích lá ở các công thức 52
Biểu đồ: 3.8 Chỉ số diện tích lá ở các công thức 55
Biểu đồ: 3.9 Thời gian diện tích lá ở các công thức 57
Biểu đồ: 3.10 Khả năng tích luỹ chất khô ở các công thức 60
Biểu đồ: 3.11 Hiệu suất quang hợp ở các công thức 63
Biểu đồ: 3.12 Số lượng nốt sần ở các công thức 66
Biểu đồ: 3.13 Yếu tố cấu thành năng suất ở các công thức 72
Biểu đồ: 3.14 Năng suất ở các công thức 74
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.2 Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường 4 1.1.3 Vai trò cải tạo đất và xen canh trong hệ thống canh tác đa canh 6 1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 7
1.3 Tiến bộ kỹ thuật mới sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 11 1.3.1 Những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc trên thế giới 11 1.3.2 Những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc ở Việt Nam 13 1.4 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với lạc 15
1.5 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc trên thế giới và Việt Nam 21 1.5.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc trên thế giới 21 1.5.2 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc ở Việt Nam 23 1.6 Những yếu tố hạn chế trong đất trồng lạc và cây họ đậu 25
Trang 7Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.2 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến tỷ lệ và thời gian mọc 37 3.3 Ảnh hưởng của phương thức bón đến thời gian sinh trưởng phát triển 38 3.4 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến chiều cao cây 40 3.5 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến số lá trên thân chính 45 3.6 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến số cành cấp 1 và cấp 2 47 3.7 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến diện tích lá 50 3.8 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến chỉ số diện tích lá 52 3.9 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến thời gian diện tích lá 55 3.10 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến tich lũy chất khô 58 3.11 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến hiệu suất quang hợp 60 3.12 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến số lượng nốt sần 64 3.13 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến sâu bệnh hại 67 3.14 Ảnh hưởng của phương thức bón N và K đến hàm lượng diệp lục 68 3.15 Ảnh hưởng của phương thức bón đến yếu tố cấu thành năng suất 70 3.16 Ảnh hưởng của phương thức bón đạm kali đến năng suất 73
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 15.493 ha Trong các loại cây trồng chính, cây lạc luôn chiếm diện tích và sản lượng lớn bên cạnh các loại cây trồng khác như lúa, ngô, đậu đỗ Trên địa bàn huyện lạc là cây trồng chính có nhiều tiềm năng phát triển Diện tích cũng như năng suất của lạc trong những năm gần đây không ngừng được tăng lên, diện tích trồng lạc năm 2003 đạt 4.386
ha, năm 2008 đạt 5.567 ha (chiếm 23,7% diện tích trồng lạc toàn tỉnh), đến năm 2010 diện tích trồng lạc đạt 4.668 ha năng suất đạt 22,6 tạ/ha
Đất trồng lạc trên địa bàn huyện chủ yếu là đất cát nội đồng và đất cát biển (chiếm 70% diện tích trồng lạc) Đây là loại đất giữ nước và hấp phụ các chất khoáng kém nên các ion khoáng rất dễ bị rửa trôi hoặc bị thẩm lậu vào lòng đất (đặc biệt phân Kali và phân đạm là những muối dễ hòa tan) Từ đó cho thấy rằng các loại phân dễ hòa tan mặc dù đã bón đủ lượng ở giai đoạn đầu nhưng đến giai đoạn sinh trưởng cuối cây vẫn thiếu dinh dưỡng cung cấp cho sinh trưởng và tạo năng suất
Hiện nay, ở Nghi Lộc người dân đã đầu tư thâm canh cây lạc, trồng lạc
có che phủ ni lông Tuy nhiên, diện tích chỉ tập trung ở một số xã có trình độ thâm canh cao (như Nghi Long, Nghi Trung ), còn lại đại đa số diện tích là không che phủ ni lông Do đó, việc sử dụng phân bón ở những vùng này là đang còn bất cập, chưa hợp lý, dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao, cây lạc sinh trường phát triển không cân đối Mặt khác cây lạc là cây ra hoa không tập trung, thời gian ra hoa thường kéo dài cho nên những hoa ra sau, vào giai đoạn hình thành quả và hạt, do bị thiếu dinh dưỡng nên tỷ lệ quả và hạt lép cao, khối lượng quả và hạt giảm, chất lượng hạt kém
Trang 9Để khắc phục tình trạng trên, chúng ta có thể chia lượng phân dễ hòa tan (như kali, đạm) để bón vào 2 thời kỳ: lần bón thứ nhất vào lúc gieo hạt, lần thứ 2 vào lúc ra hoa rộ Với phương thức bón phân như vậy liệu có hợp lý hơn, phù hợp với nền đất cát nói chung và yêu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây trồng để đạt năng suất cao và chất lượng tốt Đó là vấn đề cần nghiên cứu
của đề tài được đặt ra Từ thực tế đó chúng tôi đã tiến hành: “Thăm dò hiệu
quả của một số phương thức sử dụng phân bón khác nhau đối với giống lạc L26 trong vụ Xuân, trên đất cát nội đồng ở Trại thực nghiệm Nông học
- Trường Đại học Vinh.”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu phương thức, vai trò của việc phối hợp các phương thức bón ở các công thức khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L26 trong điều kiện cụ thể về trên đất cát nội đồng ở Trại thực nghiệm Nông học - Trường Đại học Vinh
- Xác định được phương thức bón hợp lý nhất để đạt năng suất và lợi nhuận tối ưu cho giống lạc L26
3 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu, theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của giống lạc L26 Từ đó, xác định chính xác được phương thức, liều lượng phân bón thích hợp nhất cho lạc L26 tại địa phương
- Nếu đề tài thành công sẽ trở thành một hướng kỹ thuật tốt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây lạc và các loại cây trồng khác trên nền đất cát nói chung Góp phần xây dựng quy trình phân bón thích hợp cho lạc nhằm nâng cao thu nhập cho người sản xuất
- Cung cấp nguồn thông tin chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cơ quan khuyến nông địa phương
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Vai trò của cây lạc
Cây lạc (Arachis hypogeae L.) là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng,
kinh tế cũng như tác dụng cải tạo đất do trong hạt lạc chứa nhiều protein và lipit, đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với con người và gia súc Ngoài
ra lạc là cây trồng lý tưởng trong hệ thống luân canh, xen canh, tăng vụ và cải tạo đất, ở rễ lạc có sự cộng sinh của vi khuẩn cố định đạm Rhizobium Vigna
có khả năng cố định nitơ từ khí quyển thành đạm cung cấp cho cây và sau mỗi
vụ trồng lạc có thể để lại trong đất 40 - 60 kgN/ha [3]
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lạc rất cao và rất có giá trị đối với sức khỏe con người Khi phân tích hạt lạc đã cho thấy trong hạt lạc hầu như có đầy đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm hóa hữu cơ và những chất vô cơ, các chất này chia thành các nhóm như sau:
* Lipit: Tỷ lệ lipit trong lạc chiếm 40 – 57%, đứng đầu trong các cây có
dầu về mặt số lượng Về mặt chất lượng chỉ đứng sau dầu ô liu, là loại dầu thực vật có chất lượng tốt ở nhiệt độ 200
C, dầu lạc là chất lỏng màu vàng nhạt, có độ nhớt từ 71,67 – 86,15 Dầu lạc là hỗn hợp glyxerin trong đó bao gồm 80% axit béo không no và 20% axit béo no Các axit béo không no bao gồm: axit Oleic, axit Linoleic Các axit béo no gồm: axit Panmitic…[26]
* Protein: Hàm lượng protein trong lạc khá cao thường đạt từ 20 –
37,5% Lượng protein hạt lạc chỉ thua kém protein của đậu tương Protein của lạc chủ yếu là do loại globulin (đạt 95% hợp chất) tạo nên Trong đó, arachin chiếm 2/3, conarachin chiếm 1/3 Hai protein này của lạc có hàm lượng lưu huỳnh khác nhau, phần lớn nguyên tố này đều ở dạng hữu cơ, nghĩa là ở dạng protit Trong protein của hạt lạc có tới 13 axit amin quan trọng và cần thiết cho
Trang 11hoạt động sống của con người gồm: arginin, histidin, ghycocon, loxin, izoloxin, lizin, metionin, triptophan, metonin, và izoxin hơi thiếu hụt so với tiêu chuẩn,
có thể bổ sung vào khẩu phần bằng các các loại ngũ cốc khác [32], [26]
* Vitamin: Hạt lạc có chứa hầu hết các vitamin nhóm B (chỉ trừ vitamin
B12) Đó là: vitamin PP, vitamin E, vitamin A…với hàm lượng được xác định như sau: Tiamin (B1) chiếm: 0,44%; Axit nicotinic (PP) chiếm: 0,16%; Ribollavin (B2) chiếm: 0,12%; Canoten (tiền vitamin A) chiếm: 0,02%.[26]
* Các nguyên tố khoáng: Trong hạt lạc lượng khoáng tổng số từ: 1,89 -
4,26%, gấp 1,8 - 2,2 lần so với hạt ngũ cốc, các nguyên tố khoáng 27 nguyên
tố đa lượng, trung lượng, vi lượng cần thiết cho cơ thể người và động vật
Do hạt lạc có giá trị dinh dưỡng cao như vậy, nên từ lâu người ta đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng Sản phẩm lạc được sử dụng rất đa dạng, phong phú qua các phương pháp chế biến như luộc, rang…Ngày nay, nhờ nền công nghiệp phát triển, người ta chế biến nhiều thực phẩm có giá trị từ lạc như: bơ lạc, chao, phomat lạc, sữa lạc…[32]
1.1.2 Giá trị kinh tế của cây lạc trên thị trường
* Giá trị xuất khẩu:
Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nông sản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao của nhiều nước Ở Việt Nam, những năm cuối thế kỷ
20 lạc là một trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm là 100 triệu USD Sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh
tế cao, đạt tỷ suất lợi nhuận đến 31,86% (cao hơn các loại nông sản khác) và xuất khẩu lạc đóng góp 15,11% cho nguồn vốn xuất khẩu Xuất khẩu lạc những năm qua đóng góp khoảng 15% trong nguồn hàng nông sản xuất khẩu Tuy nhiên, chất lượng xấu làm giảm kim ngạch xuất khẩu và thị trường bị thu hẹp (Nguyễn Minh Hiếu, 2003)[16]
Trong các loại cây lấy dầu hàng năm được trồng ở nước ta, cây lạc có
Trang 12diện tích và sản lượng lớn nhất, là đối tượng cây trồng có thể sinh trưởng phát triển trên nhiều loại hình sinh thái khác nhau nên diện tích trồng lạc có thể vẫn tiếp tục tăng nếu nhu cầu sản phẩm lạc tăng, giá cả phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Chính vì vậy, cây lạc được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định là một trong những cây trồng trọng điểm trong chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn ở nước ta, được nhiều địa phương trong cả nước xem là cây trồng chủ lực trong cơ cấu cây trồng và có nhiều chính sách để khuyến khích mở rộng diện tích, đầu tư thâm canh tăng năng suất và sản lượng
* Giá trị trong công nghiệp
Hạt lạc được dùng trong công nghiệp ép dầu Dầu lạc làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, làm bơ, nước chấm, mì ăn liền, sữa hộp đặc…và làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến xà phòng, chất tẩy rửa Dầu lạc tinh khiết dùng trong y học (thẩm mỹ học) và trong nghề tiểu thủ công nghiệp, trong mỹ nghệ (Nguyễn Minh Hiếu, 2003)[16]
* Giá trị trong nông nghiệp
Sản phẩm phụ của lạc được sử dụng nhiều trong nông nghiệp, vì vậy cần phải nâng cao giá trị nhiều mặc khi sản xuất lạc
Trong việc chế biến lạc, sau khi ép 100 kg lạc sẽ thu được từ 30 - 35 kg dầu các loại và 65 - 70 kg khô dầu Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong khô dầu còn khá cao nên làm thức ăn trong chăn nuôi rất tốt Các nghiên cứu bổ sung khô dầu trong khẩu phần của gia súc, gia cầm đều làm tăng trọng nhanh cho lợn và tăng sản lượng trứng gà, vịt
Vỏ hạt có một số dinh dưỡng đáng kể như: chất đường bột chiếm 47%; lipit chiếm 1,8%; đạm chiếm 1,78%; lân chiếm 0,19%; kali chiếm 0,51% [16]
Trong thân lạc cũng có một lượng các chất khoáng N,P,K không thua kém phân chuồng được thể hiện qua bảng 1.1:
Trang 13Bảng 1.1 Tỷ lệ một số chất dinh dưỡng trong thân lá lạc và phân chuồng
(Nguồn: Nguyễn Thị Đào, 2002 ) [14]
1.1.3 Vai trò cải tạo đất và xen canh trong hệ thống canh tác đa canh
Giá trị cải tạo đất của lạc ngoài phần thân lá, trên rễ lạc còn có vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định đạm từ đạm tự do thành dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng Chính nhờ khả năng cố định đạm mà lượng protein trong hạt, trong các bộ phận khác của cây lạc cao hơn nhiều cây trồng khác Bên cạnh
đó, lạc có khả năng sử dụng được đạm do vi sinh vật cố định đạm từ không khí, nhờ vi sinh vật này sống cộng sinh trong nốt sần ở rễ cây họ đậu Trong
hệ thống cố định N sinh học, giữa vi khuẩn Rhozobium và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80 triệu tấn mỗi năm tương đương với lượng phân đạm vô cơ trên toàn thế giới năm 1990 [32]
So sánh với phân chuồng tính theo chất khô thì tỷ lệ lân và kali trong thân lá lạc xấp xỉ ngang phân chuồng, riêng đạm của thân lá lạc bằng 2 lần phân chuồng Cho nên, thân lá lạc còn loại phân xanh có giá trị cả về số lượng
và chất lượng Mỗi ha lạc cho khối lượng trung bình từ 8 – 10 tấn có khi đến
15 – 20 tấn thân lá tươi Hiện nay, hầu hết các vùng trồng lạc đều sử dụng thân, lá lạc làm phân bón cho lúa, màu Mỗi ha thân, lá lạc đủ bón cho 2 – 3
ha lúa và năng suất tăng rõ rệt (Trần Văn Lài, 1995) [19]
Vì vậy, người ta trồng lạc luân canh với các loại cây trồng khác, xen
Trang 14canh giữa các cây hàng rộng như chè, sắn, dâu, dừa, mía…ở thời kỳ chưa khép tán, để cải tạo đất, chống xói mòn và tăng độ phì nhiêu đất
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm, cây lấy dầu quan trọng ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Theo số liệu FAO, trên thế giới hiện
có 100 nước trồng lạc với tổng diện tích trong niên vụ từ năm 1998 - 1999 đến
2000 - 2001 đạt 21,63 triệu ha (1999 - 2000) Diện tích trồng lạc ở các nước châu Á chiếm 63,17% tổng diện tích, châu Phi chiếm 31,81%, châu Mỹ chiếm 5,8%, châu Âu chiếm 0,22% Các nước có diện tích lớn nhất gồm 10 nước Trong đó, Ấn Độ có diện tích lớn nhất đạt 8,10 triệu ha, thứ hai là Trung Quốc đạt 4.10 triệu ha, Nigieria: 1,19 triệu ha (Nguyễn Minh Châu, 2003 [6]
Năng suất lạc của thế giới là 1,33 - 1,39 tấn/ha, đứng đầu là Mỹ biến động từ 2,81 - 3,03 tấn/ha, sau đó đến Trung Quốc có năng suất từ : 2,59 - 2,90 tấn/ha, Inđonêxia biến động khoảng 1,52 tấn/ha Một số nước có diện tích trồng lạc hẹp nhưng có năng suất rất cao như Ixraen 68,33 tạ/ha; một trang trại nước Cộng hòa Nam Phi đạt 100 tạ/ha (Nguyễn Minh Hiếu, 2003) Trong khi đó, năng suất lạc ở Việt Nam năm 2000 là: 1,45 tấn/ha trên diện tích 243,9 ngàn ha [16]
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng lạc Diện tích và năng suất lạc tăng nhanh trong những thập kỷ qua Thập kỷ 70, diện tích là 2,092 triệu ha/năm, năng suất là 12,0 tạ/ha; thập kỷ 80, diện tích tăng lên 2,647 triệu ha/năm, năng suất 17,6 tạ/ha [36] Sản lượng hàng năm của Trung Quốc là 14,160 triệu tấn, chiếm 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới [37]
Tính đến năm 2008, những nước có diện tích, sản lượng và năng suất hàng đầu trên thế giới được thể hiện qua bảng 1.2:
Trang 15Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước
trên thế giới năm 2008 Nước Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tấn) Năng suất (tấn/ha)
5 tấn/ha Trong khi năng suất các cây ngũ cốc như lúa mì và lúa nước đã gần đạt tối đa và có xu hướng giảm dần ở nhiều nước trên thế giới thì năng suất cây lạc trong sản xuất còn khác rất xa so với năng suất tiềm năng Thực tế này
đã gợi mở khả năng nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lạc trên cơ sở áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để khai thác tiềm năng
(Ngô Thế Dân và các tác giả, 2000) [9]
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây lạc được trồng từ lâu đời Trong những năm trở lại đây, cây lạc đã được quan tâm và phát triển Nhưng so với một số cây trồng khác thì diện tích, năng suất và sản lượng đều giảm
Trang 16Từ năm 1990 đến nay công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc ở nước ta đã được quan tâm hơn trước Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước và quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc đã được triển khai Một số biện pháp
kỹ thuật thâm canh lạc cũng đã được áp dụng như phân bón NPK cân đối, mật
độ gieo thích hợp, kỹ thuật che phủ nilon đã làm tăng năng suất 30 - 40% Nhiều mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao trên 3 tấn/ha đã được trình diễn trên đồng ruộng nông dân ở nhiều địa phương (Ngô Thế Dân và các tác giả, 2000) [8]
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy trên diện rộng hàng chục ha, gieo trồng giống mới với các biện pháp canh tác tiên tiến, nông dân có thể
dễ dàng đạt năng suất lạc 4 - 5 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất lạc bình quân trong sản xuất đại trà Tình hình sản xuất lạc ở nước ta trong 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.3:
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam từ năm 2006 - 2010
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2011) [40]
Diện tích trồng lạc ở nước ta trong những năm qua không mở rộng nhiều (năm 2006 là 246,7 nghìn ha đến năm 2008 cũng chỉ có 255,3 nghìn ha) Nhưng do áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nên sản lượng lạc đã tăng
Trang 17lên từ 462,5 nghìn tấn năm 2006 lên 530,2 nghìn tấn năm 2008 Sản lượng tăng chủ yếu do năng suất tăng, năm 2006 năng suất lạc bình quân mới chỉ 1,9 tấn/ha đến năm 2008 năng suất đã lên đến 2,08 tấn/ha
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn nhưng để khai thác triệt để tiềm năng này cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu
và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An
Nghệ An là tỉnh nằm trong vùng có khí hậu thời tiết phức tạp, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên gây nhiều khó khăn trong phát triển Cây trồng có sự đa dạng, một số loại cây trồng chính như lúa, lạc, ngô
Trong những năm gần đây, ở một số địa phương của tỉnh Nghệ An, cây lạc lạc là một trong những cây trồng ngắn ngày quan trọng, có hiệu quả kinh
tế cao Diện tích và sản lượng lạc ở Nghệ An ngày càng được mở rộng và tăng lên Số liệu cụ thể diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh từ năm
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê 2011) [40]
Qua số liệu trên bảng 1.4 cho thấy, trong 5 năm (2007 - 2011) diện tích sản xuất lạc ở Nghệ An tương đối ổn định và năng suất, sản lượng có sự thay
Trang 18đổi theo chiều hướng tăng lên, năng suất tăng từ 21,68 tạ/ha (năm 2007) lên 22,34 tạ/ha (năm 2009); Sản lượng tăng từ 52.986 tấn (năm 2007) lên 53.078 tấn (năm 2009) Đến năm 2011 diện tích lạc giảm xuống 20.541 ha, năng suất giảm còn 21,91 tạ/ha dẫn đến sản lượng lạc toàn tỉnh chỉ còn 42.962 tấn Nguyên nhân là do năm 2011 sản xuất nông nghiệp Nghệ An gặp nhiều khó khăn, thời tiết rét đậm rét hại kéo dài làm cho một số diện tích lạc gieo không mọc được, người dân phải chuyển qua trồng một số loại cây trồng khác Thời tiết khắc nghiệt cũng làm cây lạc sinh trưởng, phát triển kém, năng suất đạt được không cao
Những năm trước ở Nghệ An chủ yếu sản xuất các giống lạc Sen Nghệ
an, LVT, MD7, L08 có thời gian sinh trưởng 95÷115 ngày Năng suất bình quân 15÷18 tạ/ha, những nơi thâm canh tốt năng suất đạt cao nhất 20÷22 tạ/ha Trong các năm gần đây, tại các huyện như Nghi Lộc, Diễn Châu đã tiến hành xây dựng mô hình khảo nghiệm một số giống lạc mới có năng suất cao, chất lượng tốt như L14, L18, L23, L26, kết quả các mô hình rất thành công, được các địa phương đánh giá cao Hiện nay, diện tích lạc giống mới đã và đang phát triển nhiều trong sản xuất đại trà như giống lạc L26 Nhưng bước đầu mới chỉ khảo nghiệm tính thích nghi, còn các khâu về chân đất, liều lượng phân bón thì chưa được nghiên cứu cụ thể, vì vậy nên năng suất của các giống lạc trong thực tế còn hạn chế
1.3 Tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 1.3.1 Những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc trên thế giới
Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì ngành nông nghiệp cũng được đầu tư và nghiên cứu rất nhiều Ngoài các vấn đề về đất đai, phân bón, thủy lợi…thì vấn đề hiện nay được các nhà nghiên cứu trong nông nghiệp đặc biệt quan tâm đó là vấn đề giống và kỹ thuật canh tác
Các tiến bộ về năng suất lạc trong nhiều năm qua là kết quả của hàng
Trang 19loạt các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, trong đó việc tạo ra giống mới có vai trò quan trọng
Tại Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới bán khô hạn (ICRIAT), Ấn Độ đã thông báo sự khác biệt giữa năng suất lạc ở các trại thí nghiệm và năng suất trên đồng ruộng của nông dân từ 4 – 5 tấn/ha Trong khi năng suất của các giống ngũ cốc như lúa mì, lúa nước đã đạt gần tới tối đa và có xu hướng giảm thì năng suất lạc vẫn còn thấp so với tiềm năng.(Ngô Thế Dân, 2002) [8]
Trong công việc chon tạo giống, ngoài việc nâng cao về mặt năng suất, chương trình chọn giống của Ấn Độ với mục đích là chọn ra giống có tỷ lệ nhân và hàm lượng dầu cao đã xác định được một số giống có hàm lượng dầu cao 52 – 56%, chỉ tiêu về mặt chất lượng dầu tốt như tỷ lệ oleic/linoleic cao (Nguyễn Thị Đào, 1998) [14]
Trung Quốc là nước đứng sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc nhưng lại đứng đầu về sản lượng Điều này chứng tỏ công tác nghiên cứu cải tiến kỹ thuật về thâm canh và công tác lai tạo giống của họ rất có hiệu quả Các giống mới có năng suất cao được đưa ra sản xuất chiếm diện tích 90 – 95% diện tích trồng lạc cả nước (Ngô Thế Dân, 1999) [9] Tính đến năm 1991, Trung Quốc
đã chọn tạo được hơn 200 giống lạc năng suất cao và được trồng phổ biến ở nhiều địa phương Giống Fushuasheng và baisha 106 là 2 giống chín sớm cho năng suất cao, được trồng trên diện tích 10,33 triệu ha (Ngô Thế Dân, 1999) [9] Các giống lạc có chất lượng hạt tốt, phục vụ cho xuất khẩu như: Baisha
1016, Luhua 10 và 8013, hay các giống lạc có khả năng kháng bệnh cao như: Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, được trồng rộng rãi ở những vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao Trong các năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, 99-1507,
R 1549 có năng suất đạt 46,0 – 70,0 tạ/ha [34]
Song song với quá trình nghiên cứu về các giống lạc, Trung Quốc
Trang 20không ngừng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cao, đặc biệt đã tìm
ra phương pháp tiến bộ và hiệu quả, đó là kỹ thuật che phủ nilong Cụ thể, năng suất tăng 20 - 50% so với đối chứng (không phủ nilong) Những năm
1960, năng suất lạc của Trung Quốc chỉ mới đạt 1,14 tấn/ha, năm 1980 là 1,78 tấn/ha, năm 1990 năng suất lạc trung bình đạt 2,5 tấn/ha, tới năm 1994 đạt 2,69 tấn/ha ( Nguyễn Thị Đào, 1998) [14]
Mỹ là nước có sản lượng lạc đứng thứ 3 (gần 1,9 triệu tấn năm 2004),
năng suất lạc trung bình cao nhất thế giới (gần 34,0 tạ/ha) Để đạt được những
thành tựu trên, các nhà khoa học ở Mỹ đã không ngừng cải tiến kỹ thuật và chọn tạo giống Nhiều giống năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh cao Điển hình là giống Florigant năng suất trung bình đạt 56,0 - 88,0 tạ/ha và được trồng rộng rãi Florida, Teas, Georgia, North, Carolina đều
là những giống chín sớm, cho năng suất cao (30 - 35tạ/ha), khả năng kháng bệnh đám lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn tốt Các giống này được trồng phổ biến
ở bang Georgia, Florida và Alabama [35]
Một số nước khác như Inđônêsia nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đến năm 1995 đã đưa năng suất lạc lên 1,8 tấn/ha Hàn Quốc cũng là một trong những nước đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc Từ 1960 – 1990, năng suất lạc đã tăng lên 4 lần, nhờ đó đưa năng suất lạc của Hàn Quốc lên 6 tấn/ha/năm (Nguyễn Minh Hiếu, 2003)[16]
Từ những thông tin trên, có thể thấy rằng những kết quả nghiên cứu đã góp phần to lớn vào thâm canh tăng năng suất lạc Trên cơ sở đó, tăng hiệu quả kinh tế cho các vùng trồng lạc trên thế giới
1.3.2 Những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, diện tích cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng đã bị thu hẹp, với mục đích tăng sản lượng lạc cho đất nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, các nhà nghiên cứu đã và đang chọn tạo
Trang 21nhiều giống lạc có năng suất cao, phẩm chất tốt nhằm góp phần đưa nền kinh
tế nước nhà phát triển, tăng thu nhập cho người dân
Từ năm 1995 đến năm 2005, Việt Nam đã chọn tạo được 14 giống lạc mới, trong đó có 5 giống quốc gia được chọn tạo bằng lai hữu tính và gây đột biến, 9 giống được chon lọc từ các tập đoàn giống nhập nội Các giống đã được trồng phổ biến trên cả nước (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [7]
Các giống được chọn tạo từ việc gây đột biến gồm: giống V79 có năng suất trung bình 25 tạ/ha, tỉ lệ nhân 73 – 76%, khối lượng 100 hạt 48 – 52 gram, chịu hạn khá, nhưng dễ mẫn cảm với các bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn (Lê Song Dự và cs, 1969) [13] Giống 4329 có năng suất trung bình 25 tạ/ha, khối lượng 100 hạt 55 - 60 gram, tỷ lệ nhân đạt 70 - 72%, thích hợp cho vùng đồng bằng Trung du Bắc Bộ (Trần Đình Long và cs, 2005)[21] Giống được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật: giống MD7 có khối lượng
100 hạt đạt 60 - 65 gram, tỷ lệ nhân đạt 70 - 75%, có tính thích ứng rộng, trồng thuần, trồng xen đều cho năng suất cao, trung bình 35 tạ/ha, hiện được trồng ở nhiều vùng sinh thái của Việt Nam [21] Giống VD1 được chọn lọc từ giống Lỳ địa phương, chín rất sớm, năng suất trung bình đạt 42 gram, thích hợp cho các tỉnh phía nam [22]
Trong những năm qua, Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ đã tiến hành lai tạo, nhập nội và chọn lọc ra những giống có thời gian sinh trưởng trung bình, cho năng suất cao Kết quả nhập nội và lai tạo đã chọn ra được 12 giống có nhiều triển vọng cho vùng thâm canh là TQ3, TQ6, QĐ1, QĐ2, QĐ8, QĐ9, ĐL1 Tất cả các giống trên đều có nguồn gốc từ Trung
Quốc, trừ ĐL1 có nguồn gốc từ Đài Loan (Trần Đình Long, 1991) [22]
Tại Viện nghiên cứu cây có dầu miền Nam, Ngô Thị Lam Giang và cộng tác viên đã đánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một số giống có triển vọng, có thời gian sinh trưởng trung bình như: VD2,
Trang 22VD3, VD4, VD5 Tất cả các giống này có năng suất cao hơn giống Lỳ (giống đối chứng) [10] Có thể nói rằng, trong thời gian qua những nghiên cứu về cây lạc ở nước ta đã mang lại những thành công nhất định trong công việc lai tạo giống mới Những thành công của các nhà khoa học đã góp phần không nhỏ vào việc đa dạng hóa bộ giống lạc cũng như các biện pháp tăng năng suất
và hiệu quả kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập và đời sống của người nông dân
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu thì đòi hỏi phải có các vùng chuyên canh sản xuất lạc, người sản xuất phải được trang bị các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ…Bên cạnh đó, việc tạo ra các giống mới bằng ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ là một trong những yếu tố quyết định đến sản xuất lạc ở nước ta
1.4 Vai trò của các yếu tố dinh dƣỡng đối với lạc
1.4.1 Vai trò của phân đạm đối với lạc
Đạm là yếu tố hàng đầu đối với các cơ thể sống vì nó là thành phần cở bản của protein, chất cơ bản biểu hiện sự sống Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các chất men, các bazơ có nitơ, thành phần cơ bản của axit nucleic, trong các ADN, ARN của nhân tế bào, nơi cư trú các thông tin di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp prôtein Do vậy, đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác (Võ Minh Kha, 1996)[18]
Đạm là thành phần của nguyên sinh chất tế bào, axit amin, axit nucleic (ADN và ARN), các emzim và các diệp lục Đạm là chất dinh dưỡng của cây lạc Đạm có vai trò làm tăng sinh trưởng và phát triển của mô sống, quyết định phẩm chất của nông sản Cây lạc chứa nhiều đạm trong lá và hạt Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá mảnh, có màu xanh nhạt, sự hình thành quả bị
Trang 23hạn chế (Trần Văn Lài, 1993)[20]
Dinh dưỡng đạm còn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành hoa ở cây lạc Quá trình phân hóa mầm hoa bắt đầu từ khi lạc có 2 lá bắc nổi lên ở nách lá Khi lạc có 2 - 4 lá thật xòe ra thì hoa đầu tiên bắt đầu phân hóa Sau khi mọc 25 - 45 ngày thì bắt đầu nở hoa Như vậy, thời kỳ đầu
rễ lạc còn non, bộ rễ phát triển chưa hoàn thiện, sự hình thành nốt sần chưa nhiều nên thời kỳ này đạm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự sinh trưởng phát triển thuận lợi các bộ phận trên mặt đất Là cơ sở cho việc hình thành và phân hóa mầm hoa thuận lợi
Nhìn chung, nhu cầu đạm của cây lạc có sự khác nhau trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của nó Nó có thể tự thỏa mãn một phần nhu cầu đạm của mình nhờ hoạt động của sinh vật cố định đạm sống cộng sinh ở rễ nhưng phải sau 3 tuần thì lạc mới phát triển đủ rễ và sau khi nở hoa thì nốt sần mới phát triển mạnh Mặc dầu nhu cầu về đạm cao nhưng trong thực tế đạm bón cho lạc bao giờ cũng thấp hơn lân và kali Bón nhiều đạm sẽ làm cho sinh khối phát triển mạnh (Nguyễn Văn Bộ và cs, 1999) [4], thời gian sinh trưởng kéo dài, ngăn cản sự hình thành nốt sần ở rễ và khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần do sản phẩm quang hợp chuyển hóa nhanh thành protein, làm giảm việc cung cấp hyđratcacbon cho các vi sinh vật này (Nguyễn Hữu Quân 1984) [23]
Ở nước ta, quá trình nghiên cứu Nông Hóa Thổ Nhưỡng, đã kết luận: trên đất thịt nhẹ chỉ nên bón khoảng 30kg N/ha là thích hợp, nếu tăng lên đến 40kg/ha thì sẽ làm giảm hiệu suất, hiệu suất của 1 kg N trên đất cát ven biển
và bạc màu từ 6 - 10 kg lạc vỏ (Trần Văn Lài, 1993)[20] Trên đất chuyên màu Quảng Trị, nếu bón 30kg N cho hiệu quả cao nhất (11kg lạc khô/kg N) Trên đất cát biển tỉnh Thừa Thiên Huế, nếu bón đạm đơn độc liều lượng 40kg N/ha hiệu quả đạt 4,88kg lạc quả/kgN (Nguyễn Minh Hiếu, 2003)[16]
Trang 241.4.2 Vai trò của lân đối với lạc
Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, prôtein, lipit, coenzim, NAD, NADN, ATP và nhiễm sắc thể Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào,
mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt
và quả (Trần Văn Lài, 1993)[20] Ngoài việc xúc tiến phát triển, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn có tác dụng đẩy mạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăng khả năng hút, giữ đạm khí trời, thúc đẩy lạc tăng số cành hữu hiệu, hoa nở sớm và tập trung, nâng cao tỷ lệ quả và quả chắc, giảm tỷ lệ nước trong quả Quan trọng hơn là xúc tiến việc hình thành chất béo và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già, chín
Lân là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc và cũng là một trong những yếu tố hạn chế năng suất trên các loại đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ Lân là nguyên tố cần thiết để làm tăng lượng dầu, cần cho hoạt động của vi khuẩn Lân làm tăng khả năng huy động đạm cho cây Trong cây, lân tồn tại ở dạng photphoric tham gia tổng hợp các chất có chứa nitơ Cũng như đạm, tỷ lệ lân cao ở trong hạt và các cơ quan non, cơ quan đang phát triển dùng vào việc tổng hợp chất hữu cơ mới Do vậy, hiện tượng thiếu lân biểu hiện ở lá già trước Cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân, thiếu lân trong thời kỳ này cây con cằn cỗi, sau này dù bón nhiều lân cũng không bù đắp được Do đó, cần phải bón lót lân ngay từ đầu và bón gần hạt vì khả năng di chuyển lân trong đất rất thấp Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưõng đạm, cây được bón cân đối đạm và lân sẽ xanh tốt, sinh trưởng mạnh nhiều hoa, nhiều quả, chín sớm và phẩm chất nông sản cao (Ngô Thế Dân và
cs, 1994) [9]
Sự hình thành và phát triển của nốt sần ở rễ lạc và quá trình cố định đạm chịu ảnh hưởng rất lớn của lượng lân trong đất trồng lạc cũng như lượng lân được bón bổ sung từ các loại phân bón thì mối liên quan chặt chẽ giữa
Trang 25nguyên tố lân và quá trình cố định đạm ở cây họ đậu được thể hiện như sau:
* Nốt sần bắt đầu hình thành khi lông hút rễ bị lây nhiễm bởi vi khuẩn
Rhizobium và ở giai đoạn này việc thiếu hụt lân làm cho rễ kém phát triển sẽ
ngăn cản sự hình thành nốt sần và giảm cường độ quá trình cố đình đạm cũng như sự hút nước và dinh dưỡng của cây
* Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởng của vi khuẩn nốt sần và sự chuyển hóa N2 thành NH3 Nguồn năng lượng đó chủ yếu được cung cấp từ lân ở dạng ATP
* Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quá trình quang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốt sần về các bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân, lá
Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ cây trồng, nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinh dưỡng từ đất và từ phân bón
Vậy lân được xem như một yếu tố dinh dưỡng hạn chế sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của các cây họ đậu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [33] Lượng lân bón không thích hợp sẽ làm giảm cường độ quá trình đồng hóa carbonhyđrate, trong khi đó việc tổng hợp chất này thông qua quá trình quang hợp vẫn tiếp tục xảy ra hiện tượng tích lũy carbonhyđrate làm cho
lá có màu xanh sẫm, trầm trọng hơn sẽ có màu huyết dụ và có ảnh hưởng bất lợi đối với quá trình quang hợp và cuối cùng làm sụt giảm năng suất cây trồng
rõ rệt (Vũ Văn Vụ và cs, 1993) [27]
Theo kết quả nghiên cứu nhu cầu lân của lạc, cho thấy đất càng nghèo dinh dưỡng thì hiệu lực của lân càng cao Các nhà nghiên cứu của nhiều nước đều cho thấy rõ hiệu lực phân lân từ 4,5 - 11 kg quả khô/1 kg P2O5 Các nghiên cứu ở Việt Nam, với các liều lượng phân lân từ 60 – 90kg P2O5 cho thấy hiệu lực chung của lân biến động từ 3,3 - 9,2 kg quả/1kg P2O5, hiệu lực
Trang 26các dạng phân lân cũng khác nhau: photphoric từ 2,5 - 6,8 kg lạc quả/1kg
P2O5, bón supper photphat đạt hiệu lực từ 6 - 9,2 kg lạc quả/1kg P2O5 Trên đất cát biển Thừa Thiên Huế, khi bón phân lân đơn độc 90kg P2O5/ha hiệu quả đạt 6,79 kg lạc khô/kg P2O5 Bón phối hợp 40 kgN + 90kg P2O5/ha hiệu quả đạt 5,6 kg lạc quả khô/kg P2O5 (Ngô Thế Dân và cs, 2000)[8]
1.4.3 Vai trò của kali đối với lạc
Kali là một trong ba nguyên tố khoáng thiết yếu nhất đối với cây trồng Vai trò quan trọng nhất của kali được thể hiện ở khả năng hoạt hóa enzim trong hợp chất ATP đóng vai trò cung cấp năng lượng cho rất nhiều quá trình sinh hóa xảy ra trong cây (Trần Văn Lài, 1993)[20] Kali có tác dụng hoạt hóa các enzim liên quan đến quá trình quang hợp, chuyển hóa các hyđratcacbon
và prôtein cũng như sự di chuyển và di trì sự ổn định của chúng Kali giúp điều khiển quá trình sử dụng nước bằng đóng mở khí khổng, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm NH4+, cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết âm
u nên tăng hiệu suất quang hợp Kali ảnh hưởng đến quá trình hình thành màng tế bào và độ chắc của nó nên tăng khả năng chống đổ, tăng khả năng chống bệnh của cây trồng Kali có tác dụng làm tăng phẩm chất nông sản, tăng kích thước hạt (Vũ Hữu Yêm, 1995)[30]
Thiếu kali ở những lá già phần mép lá xuất hiện các đốm màu vàng nhạt, phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trưng, còn trên các lá non thì hiện tượng chuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn có những chấm nhỏ màu nâu, nhiều quả một hạt và năng suất thấp Tuy nhiên, nếu lượng kali quá nhiều sẽ làm giảm sẽ làm giảm năng suất ở những giống dạng đứng chín sớm Kali có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển của quả, tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc, tăng thêm tính chịu hạn và chống đỗ của cây Do tác động đến quang hợp và
hô hấp nên kali ảnh hưởng tích cực đến việc tổng hợp đạm và tổng hợp
Trang 27prôtêin Kali làm giảm tác hại của việc bón quá nhiều đạm Thiếu kali cây quang hợp giảm mà hô hấp tăng lên nên năng suất giảm, chất lượng quả kém Kali xúc tiến sự phân cành của lạc, tăng chiều cao cành, tăng nhiều hoa, làm hoa nở đều và vỏ ít thối Kali còn có tác dụng tăng sức đề kháng của cây, giúp lạc chống chịu khá với một số loại sâu bệnh, kali còn tác động đến toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây và cuối cùng đến năng suất lạc (Trần Văn Lài, 1993) [20]
Khác với lân, kali không tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành nốt sần Tuy nhiên, ảnh hưởng của kali đến chỉ tiêu này có thể thông qua việc tích lũy và vận chuyển lân trong cây Sự vận chuyển photphat và các nguyên tố khác trong các xylem trong cây bị giảm sút khi cây không được cung cấp đầy
đủ kali Bón đầy đủ kali góp phần đảm bảo cân bằng lân trong cây, tạo điều kiện để hệ rễ phát triển mạnh và tăng số lượng nốt sần xâm nhập [20] Kali có vai trò vận chuyển carbonhyđrate vào rễ cây họ đậu và tạo điều kiện để nốt sần có thể hình thành nhiều hơn (Nguyễn Vy, 1993) [28]
Cây lạc trong thời kỳ phát triển hút một lượng kali rất lớn Tác dụng của kali đối với lạc thể hiện ở khả năng xúc tiến sự phân cành, tăng chiều cao cây, tăng nhiều hoa, làm hoa nở nhiều, tăng tỉ lệ hoa hữu hiệu, trọng lượng quả Kali còn tác dụng tăng sức đề kháng của cây, giúp cây chống một số loại sâu bệnh Kali tác động đến toàn bộ thời gian sinh trưởng của cây và cuối
cùng là đến năng suất của lạc (Võ Đình Quang và cs, 1999) [24]
1.4.4 Vai trò của canxi đối với lạc
Canxi là chất dinh duỡng cần chú ý đầu tiên khi trồng lạc Ca hấp thu ở
rễ chỉ chuyển vị lên thân, cành, lá mà không chuyển vị lên quả Ca rất cần thiết cho sự chuyển hóa các hyđrat cacbon, sự hấp thụ và chuyển hóa N ở cây lạc Ca hấp thu ở tia sẽ kết hợp với axit oxalic ở quả và vỏ quả, yếu tố lipase
sẽ hữu hiệu thêm ở sự tổng hợp là nhờ Ca, chứ không phải nhờ K hay Mg
Trang 28Thời gian hấp thụ Ca để phát triển quan trọng nhất là 15 - 30 ngày sau khi tia chui xuống đất (Trần Thị Kim Ba, 2003) [2]
Canxi tồn tại trong lạc dưới dạng pentat và cần cho sự phân chia tế bào
Ca có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng của lạc, lý do là lạc nhất thiết hấp thu Ca mới phát triển thành quả Ca được rễ hấp thu chuyển qua thân đến lá và hoa, sự cần thiết phải hấp thu là sau khi hoa thụ phấn, tia hình thành
và đâm vào đất
Như vậy, đối với lạc Ca là thức ăn cần thiết Ngoài ra, Ca còn giảm độ chua, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động cố định đạm nhiều hơn Ca ngăn ngừa việc tích lũy các chất độc hại và điều chỉnh sự bốc hơi nước, làm tăng sức chịu hạn của lạc Bón canxi còn huy động được đạm cho lạc, quả thêm chắc và tiết kiệm được đạm Lạc mẫn cảm với canxi và yêu cầu cao với canxi, nhất là thời kỳ kết quả Ca làm cho rễ phát triển, tia dài và thuận tiện cho việc hình thành quả Bộ rễ, tia, quả còn non trực tiếp hút được canxi Bón canxi kết hợp với kali thì sẽ kiện toàn cấu tạo bộ máy của tia làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm quả lép, tăng số quả hai hạt, hạt tròn đẹp, quả ít eo
Ca là yếu tố quan trọng nhất để sản xuất lạc quả to Ngoài ra, Ca còn hạn chế sâu bệnh, giảm kiến, mối phá hại mầm Thiếu ca từ gốc đến ngọn cây lạc bị chuyển màu, lá chuyển màu có đám trắng, lá già hơi vàng và chết dần, thiếu nặng thì cây vàng úa, cuống lá dễ gãy, ngọn héo
1.5 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc trên thế giới và Việt Nam 1.5.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc trên thế giới
Lạc là cây trồng khá mẫn cảm với độ chua Vì vậy, bón vôi cho lạc trên các loại đất chua thường có kết quả rõ rệt Bón vôi có tác dụng cải thiện độ chua của đất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của rất nhiều loại vi sinh vật Bón vôi giúp cho chất hữu cơ trong đất phân giải mạnh và góp phần tích lũy các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất Bón vôi cải thiện độ chua của đất, có
Trang 29tác dụng tăng cường hoạt động cố định đạm của vi khuẩn chủng Rhizobium [38]. Bón vôi kết hợp với lân có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng suất
lạc [37] Trong các nguyên tố dinh dưỡng, lân là nguyên tố có vai trò rất lớn đối với sự sinh trưởng phát triển của cây lạc Hiệu lực của lân phụ thuộc vào từng loại đất trồng lạc, lượng bón, tỷ lệ đạm - lân, phương pháp bón và dạng lân được sử dụng
Tại nhiều vùng trồng lạc ở Trung Quốc, loại phân lân thường sử dụng bón cho cây lạc là super photphat và phân lân nung chảy Loại phân lân này phù hợp cho đất có độ phì trung bình, đất chua (Duan Shufen, 1999) Theo Borkert và cs, cây họ đậu có phản ứng với phân kali khi lượng kali trao đổi trong đất ở mức dưới 40 mg K/kg đất Cũng theo tác giả này thì bón kali ở mức trên 80 kg K2O/ha sẽ cho năng suất cây trồng cao nhất và đồng thời cũng góp phần trả lại lượng kali trong đất đã mất đi sau 5 năm thí nghiệm Abd - El
- Hardi và cs lại cho rằng: bón kali ở mức 70kg K2O/ha cho năng suất cao nhất tại Egypt [33]
Ngoài ra còn có những kết quả thực nghiệm ở Sơn Đông – Trung Quốc cho thấy rằng so với việc bón đơn lẻ N, P và K thì bón kết hợp đã làm tăng khả năng hấp thụ đạm của cây lên 77,33%, lân lên 3,58%, bón kết hợp N, P
và K làm tăng khả năng hấp thụ N là 2,0 – 6,1%, P là 1,6 – 6,1% Nhờ đó tăng khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần lên 13,5 – 21,33% Tỷ lệ bón kết hợp N, P và K tối ưu theo khuyến cáo là 1 : 1,5 : 2 Để thu được 100kg lạc quả cần bón 5 kg N, 2 kg P2O5 và 2,5 kg K2O cho một ha Mức đạm bón cho lạc trên đất có độ phì trung bình và cao cần phải giảm đi 50% trong khi đó lượng lân cần bón gấp 2 lần (Duan Shufen, 1998)[36]
Cây lạc dường như rất mẫn cảm với bón phân không cân đối, do đó có những kết quả mâu thuẫn nhau khi làm những thí nghiệm về phân bón trên các chân đất khác nhau Lượng phân bón được đề nghị ở Ấn Độ là 10 - 20
Trang 30kgN/ha, 20 - 60 kgP2O5/ha và 0 - 60 kgK2O/ha, hiệu suất 1 kg N khoảng 6 -
10 kg lạc khô, 1 kg P2O5 khoảng 4 - 6 kg lạc khô và 1 kg K2O khoảng 6 - 10
kg lạc khô Ở Mỹ lượng phân bón được đề nghị là 20 - 25 kgN/ha, 50 - 80 kg
P2O5 [35]
Kết quả của 436 thí nghiệm trên ruộng chủ trại (1967 - 1972) ở tất cả các vùng trồng lạc của Ấn Độ cho thấy: bón phối hợp 30 kgN + 17kg P2O5/ha, tăng năng suất gấp đôi so với chỉ bón 30 kgN/ha và nếu bón thêm 16 kg K2O vào luợng phân đã bón là 30 kgN + 17kgP2O5/ha thì năng suất lại tăng thêm nhiều (Kanwar, 1978) Thí nghiệm tiến hành ở Parou (1961) cho thấy: không
có phân chuồng hay phân hóa học năng suất lạc vỏ chỉ đạt 1950 kg/ha, nếu chỉ bón phân hóa học năng suất chỉ đạt 3091 kg lạc vỏ/ha, bón NPK + 10 tấn phân chồng/ha, nanưg suất đạt 3540 kg/ha [38]
Như vậy, bón NPK cân đối cho lạc là việc làm rất cần thiết, theo Kanwar tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng lạc ở Ấn Độ và hiệu quả bón phân từ năm 1958 - 1959 đến 1975 - 1976 đã kết luận: chỉ cần bón phân cân đối thôi đã có thể tăng sản lượng lạc lên rất nhiều [38]
1.5.2 Tình hình nghiên cứu về phân bón cho lạc ở Việt Nam
Cây lạc là loại cây họ đậu, có nhu cầu dinh dưỡng không cao và lại có khả năng sử dụng được đạm từ không khí nhờ các vi khuẩn nốt sần Một tấn lạc củ (kèm với thân lá) lấy đi từ đất 64 kgN, 16 kgP2O5 và 7kgK2O Như vậy, cây lạc hút đạm cao hơn 5 - 6 lần lân và kali Cây lạc cũng có nhu cầu khá cao
về Ca và Mg Trên đất bạc màu, bón vôi làm tăng năng suất lạc 9 - 10%, bón
Mg năng suất tăng 11% Song việc lạm dụng bón vôi quá mức cần thiết lại làm giảm năng suất lạc do đất bị bão hòa canxi Việc xác định chính xác lượng vôi cần thiết không thực sự dễ dàng Qua thí nghiệm trên đất bạc màu bón 300 - 500kg vôi/ha làm tăng năng suất lạc đáng kể, nếu tăng liều lượng lên 600kg/ha đã làm năng suất giảm Trên đất cát biển lượng vôi thích hợp
Trang 31300 - 400kg/ha [31]
Theo Đỗ Thị Xô và cs năm 1995, bón vôi trên đất bạc màu làm tăng năng suất lạc từ 9 - 10%, bón Mg làm tăng năng suất 11% Bón vôi cho lạc, ngoài việc cung cấp canxi như các nguyên tố dinh dưỡng mà còn có tác dụng khử chua, tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn nốt sần phát triển
Kết quả nghiên cứu trên đất bạc màu ở Ba Vì, đất bạc màu ở Hà Bắc
và đất cát biển ở Diễn Châu của Nguyễn Thị Dần và cs: trên đất bạc màu ở
Ba Vì nếu bón vôi ở mức 300 - 500 kg CaO cho một ha, năng suất từ 2 - 4 tạ/ha trên nền 8 tấn phân chuồng 90 kg P2O5 và 40 kg K2O Ở Hà Bắc với lượng vôi bón 300 - 500 kg CaO/ha năng suất tăng 3,8 - 4,1 tạ/ha [11]
Cùng với vôi, lân là nguyên tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng không chỉ đối với sự sinh trưởng và phát triển của lạc mà còn có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của vi sinh vật cố định đạm ở nốt sần cây lạc và quá trình đồng hóa đạm trong cây Liều lượng , tỷ lệ và phương pháp bón lân có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hình thành năng suất của cây lạc
Theo Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm và cs có nhận xét: bón phân lân cho lạc trên đất đỏ vàng phát triển trên bazan và phiến thạch sét làm tăng năng suất tương đương 24 - 145% và 11 - 71% so với không bón Năng suất lạc cao nhất ở mức 90 - 100 kg P2O5/ha [25]
Theo Nguyễn Thị Dần và cs, trên các chân đất càng nghèo lân, thì hiệu lực lân càng cao, trung bình hiệu suất 1 kg P2O5 là 4 - 6 kg lạc Hiệu suất đầu
tư thêm trên mức 60 P2O5 là 3,6 - 5 kg lạc Do đó, để đạt giá trị kinh tế cao bón 60 P2O5 kg/ha, để thu sản phẩm cao cần bón 90 P2O5 năng suất có thể đạt
10 - 18 tạ/ha [11]
Bên cạnh các nghiên cứu về lân cho lạc, đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của kali đến sinh trưởng phát triển của lạc Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến năng suất lạc xuân trên đất bạc màu của Nguyễn Thị Hiền
Trang 32và cs, cho thấy bón phân kali cho lạc trong vụ Xuân trên đất bạc màu Bắc Giang đã có tác dụng làm tăng sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc, đồng thời làm tăng sự tích lũy N, P và K trong thân lá Cũng theo tác giả thì trên đất bạc màu, lượng kali bón ở mức 90 kg K2O/ha cho năng suất cao nhất [17]
Bên cạnh nghiên cứu các loại phân trên cho các chân đất khác nhau, đạm cũng được nghiên cứu rất cụ thể: theo kết quả nhiều thí nghiệm của Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng đã chỉ ra rằng trên nền 10 tấn phân chuồng; 60 kg
P2O5/ha; 30 kgN/ha được năng suất lạc 16 -18 tạ/ha Nếu tăng liều lượng đạm 40kgN/ha thì năng suất giảm rõ rệt Hiệu suất kg N trên hai loại đất bạc màu
và cát biển biến đổi từ 6 - 10 kg lạc (Bùi Đinh Dinh, 1999) [12]
Theo cục Khuyến nông khuyến lâm (1998) thì bón phân cân đối cho lạc
dù trên loại đất nào cũng làm tăng năng suất đáng kể Trên đất cát ven biển bón cân đối đạm lân cho bội thu 2,5 - 3,2 tấn/ha Trên đất bazan bội thu 5,6 -
10 tạ/ha Kali cũng là yếu tố quan trọng trong cân đối dinh dưỡng của cây lạc Quy luật tương tự cũng thấy trên đất bạc màu, đất xám, đất bazan…Tuy nhiên, dù kali có hiệu quả cao, song cũng chỉ cân đối ở mức 30 - 60 kg K2O, bón kli cao hơn nữa không tăng năng suất và giảm hiệu quả Với năng suất trung bình 1,5 - 2,0 tấn lạc củ thì tỷ lệ dinh dưỡng cân đối cho lạc là 20 - 30
kg N, 60 - 90 kg P2O5 và 30 - 60 kg K2O [31]
1.6 Những yếu tố hạn chế trong đất trồng lạc và cây họ đậu
Ở Việt Nam, theo Trần Văn Lài những yếu tố chính hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam là: đất trồng lạc thiếu dinh dưỡng, hàm lượng chất hữu cơ và mùn thấp, pH thấp, vi sinh vật ít, sâu bệnh hại lạc phòng trừ chưa có hiệu quả Trong rất nhiều các yếu tố hạn chế đó, yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất lạc có ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể (Trần Văn Lài, 1993) [20]
Có những đất có độ phì nhiêu cao, xét về độ phì nhiêu tự nhiên nhưng lại thiếu một chất dinh dưỡng nào đó làm cho các chất dinh dưỡng khác
Trang 33không thể phát huy được Như vậy, sự thiếu hụt một chất dinh dưỡng này hoặc một chất dinh dưỡng khác sớm muộn cũng dẫn tới yếu tố hạn chế (Nguyễn Vy, 1998) [29]
Sự thiếu hụt về chất dinh dưỡng trong đất Việt Nam lớn nhất và quan trọng nhất là thiếu hụt về đạm, lân và kali Đây cũng là chất dinh dưỡng cây trồng hấp thụ lớn nhất Trong các loại đất chua, sự thiếu canxi và magiê cũng trở nên quan trọng Ở nhiều nơi còn thiếu hụt lưu huỳnh và kẽm Thiếu lưu huỳnh đang là một yếu tố phổ biến trong sản xuất, đặc biệt những vùng chỉ dùng Urê và DAP
Theo các tác giả Việt Nam thì lân là yếu tố hạn chế năng suất đứng hàng đầu hiện nay, đặc biệt đối với những chân đất luân canh lúa lạc Nói cách khác, đất Việt Nam đang thiếu lân trầm trọng và phân lân đã trở thành chiến lược trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta (Đỗ Ánh, 2002)[1]
Yếu tố hạn chế cũng xuất hiện khi nồng độ một chất vượt quá ngưỡng cho phép đã trở thành độc tố cũng kìm hãm sự phát triển của cây trồng, làm giảm năng suất, thậm chí không cho thu hoạch Nghiên cứu vấn đề này trên hai loại đất mặn và đất phèn, các tác giả cho rằng các loại đất mặn ở nước ta, theo quá trình tạo thành và phát triển thực chất chỉ là đất phù sa nhiễm mặn
Độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế sẽ được đồng nhất nhanh chóng khi loại trừ lượng muối mặn có trong đất xuống dưới ngưỡng độc hại của một cây trồng cụ thể Yếu tố hạn chế thừa trong trường hợp này là các ion Na+ giữ
vị trí hơn nhiều so với Cl- Độc tố trong đất phèn chủ yếu là sunphat nhôm và sunphat sắt [1]
Kết quả nghiên cứu của Lê Thành Bồn (1999), trên đất cát biển điển hình khô ở Thừa Thiên Huế, khi trồng lạc thì lân là yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất lạc đứng đầu [5] Kết quả này cũng được khẳng định lân là yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất lạc, sau đó thứ tự lần lượt đến kali rồi canxi
Trang 34trong kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà trên hai loại đất phù sa và đất cát ở Thừa Thiên Huế (Trần Thị Thu Hà, “Nghiên cứu khoa học của việc bón phân cân đối cho lạc trên hai loại đất trồng chính ở Thừa Thiên Huế” Luận án Tiến Sỹ Nông nghiệp, 2006[15]
Nhiệm vụ của các nhà khoa học nghiên cứu ngành trồng trọt là phải tìm
ra được các yếu tố hạn chế, yếu tố hạn chế này được giải quyết thì phát sinh yếu tố mới Muốn đầy đủ và giúp cho việc bón phân có hiệu quả thì định luật này được mở rộng như sau: “Năng suất cây trồng phụ thuộc vào các chất dinh dưỡng nào có hàm lượng dễ tiêu thấp nhất so với yêu cầu của cây trồng” (Bùi Đình Dinh, 1998) [12]
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống lạc: Thí nghiệm được thực hiện trên giống lạc L26;
- Loại phân sử dụng để thí nghiệm:
+ Phân Urê: 46%N
+ Phân lân Super phosphat: 16% P2O5
+ Phân kali (Kali Clorua): 60% K2O
+ Phân chuồng
+ Vôi bột: CaO
2.2 Thời gian, địa điểm thực hiện thí nghiệm.
- Thí nghiệm được bố trí trên đất cát nội đồng ở Trại thực nghiệm Nông học - Trường Đại học Vinh
- Thời gian: Vụ Xuân năm 2012
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc tính nông học của giống lạc L26
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức bón đạm và kali đến sự sinh trưởng và phát triển của giống lạc L26
- Nghiên cứu ảnh hưởng phối hợp công thức bón khác nhau đến năng suất và chất lượng hạt của giống lạc L26
- Nghiên cứu tình hình phát sinh sâu, bệnh hại phổ biến trên giống lạc L26 ở các công thức phối hợp khác nhau về lượng phân bón
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3640Kg N + 90 Kg P205 + 60 Kg K20 + 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột
Nền bón lót chung cho cả 6 công thức là: 100% Phân chuồng + 90 Kg
P205 + 500 kg vôi bột (bón ⅔ vôi bột trước lúc gieo + ⅓ lúc lạc ra hoa rộ)
Sự khác nhau giữa 6 công thức là phương thức bón Đạm và Kali được sử dụng cho bón lót và bón thúc tỷ lệ khác nhau, cụ thể như sau:
+ Công thức I: Bón lót (lúc gieo): ½ đạm + ½ kali
Trang 372.4.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm
- Làm đất: Đất tiến hành thí nghiệm được cày bừa kỹ, san bằng phẳng, nhặt sạch cỏ dại đảm bảo đất tơi xốp, thoáng khí
- Lên luống: Sau khi làm đất tiến hành lên luống, chia ô thí nghiệm + Luống rộng: 3m;
+ Luống dài: 4m;
+ Chiều cao luống: 25 cm;
+ Rãnh rộng: 0,25m
- Mật độ, khoảng cách và kỹ thuật gieo:
+ Mật độ 33 cây/m2, hàng cách hàng 30 cm, cây cách cây 10 cm + Lạc giống được xử lý mầm, sau đó tiến hành gieo ra ruộng, độ sâu lấp hạt 2 - 3 cm
- Chăm sóc: Xới xáo, làm cỏ và vun gốc, tiến hành 2 đợt:
Đợt 1: Trùng với bón phân đợt 1 Xới xáo toàn bộ mặt luống, nhẹ tay, xới nông 2 - 3 cm, xới xa gốc
Đợt 2: Trùng với bón phân đợt 2 Xới toàn bộ mặt luống, xới sâu 5 - 7cm, vun đất vào gốc lạc 3 - 5 cm Các lần xới đều kết hợp trừ cỏ dại và có tác dụng làm xốp đất Mục đích của vun là tạo điều kiện bóng tối cho tia lạc phát triển thành quả
2.4.3 Nghiên cứu về cây trồng
* Chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển: Theo dõi 5 cây/ô thí nghiệm
- Xác định thời gian sinh trưởng (ngày) Theo dõi và quan sát sự sinh
trưởng, phát triển của các giống lạc trên đồng ruộng để xác định thời gian sinh trưởng của cây ở các thời kỳ Mỗi thời kỳ được xác định như sau:
+ Thời gian từ gieo hạt đến bắt đầu nở hoa: 10% tổng số cây/ô có hoa; + Thời gian từ gieo hạt đến ra hoa rộ: 80% tổng số cây/ô có hoa;
+ Thời gian từ gieo hạt đến quả vào chắc: 10% tổng số cây/ô có quả già;
Trang 38+ Thời gian từ gieo đến thu hoạch: Nhổ 5 cây lấy số quả tính tỷ lệ quả kinh tế (quả già + quả bánh tẻ)/tổng số 5 cây Khi tỷ lệ quả kinh tế đạt 85% tổng số quả là lạc đúng độ chín cần thu hoạch
+ Tổng thời gian sinh trưởng: là tổng số ngày tính từ ngày gieo hạt đến ngày thu hoạch
- Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): Tính từ khi gieo đến khi có
50% số hạt mọc xoè 2 lá mầm trên mặt đất
Tỷ lệ mọc mầm (%): Là tỷ lệ mọc trung bình của các lần nhắc
Tỷ lệ mọc mầm (%) = Tổng số cây mọc/ô x 100
Tổng số hạt gieo/ô
- Chiều cao cây: Theo dõi qua từng giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; ra hoa
rộ; đâm tia và hạt vào chắc, trước thu hoạch 15 ngày
Cách đo: Đo từ chỗ phân cành cấp 1 đầu tiên đến đỉnh sinh trưởng của thân chính
- Theo dõi động thái phân cành cấp 1, cấp 2 qua các thời kỳ: Bắt đầu
ra hoa; ra hoa rộ; đâm tia và hạt vào chắc, trước thu hoạch 15 ngày
Phương pháp: Đếm số cành cấp 1, cấp 2 qua các thời kỳ trên
- Tổng số lá trên cây: Theo dõi qua từng giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; ra
hoa rộ; đâm tia và quả vào chắc, trước thu hoạch 15 ngày
- Khối lượng tươi của nốt sần (5 cây/1 ô thí nghiệm): Theo dõi qua
từng giai đoạn: Bắt đầu ra hoa; ra hoa rộ; đâm tia và hạt vào chắc, trước thu hoạch 15 ngày
Nhổ cây ở thời kỳ theo dõi, rửa sạch, đếm số lượng, tách nốt sần, cân khối lượng tươi của số nốt sần
* Chỉ tiêu nghiên cứu về sinh lý
- Diện tích lá (LA: dm 2 /cây)
+ Cách lấy mẫu: Mỗi công thức nhổ ngẫu nhiên 5 cây/ô thí nghiệm của
Trang 39mỗi lần nhắc lại
+ Phương pháp xác định: Sử dụng máy đo diện tích lá CI-202
Sau khi lấy mẫu về để ráo nước và tách toàn bộ lá ra khỏi thân rồi lần lượt đặt lá lên máy đo diện tích lá để xác định diện tích lá, nhắc lại 3 lần
- Chỉ số diện tích lá (LAI: m 2 lá/m 2 đất)
Chỉ số diện tích lá được xác định theo công thức sau:
Công thức tính: LAI = Số cây/m2
x Diện tích lá/cây (m2)
- Thời gian diện tích lá (dm 2 lá/cây x số ngày)
Thời gian diện tích lá được xác định theo công thức sau:
LAD = A1 + A2 x T
2 Trong đó: A1, A2 là diện tích lá của một cây được xác định ở lần thu mẫu thứ nhất và lần thu mẫu thứ hai (dm2
+ Định luợng sắc tố ở dạng hỗn hợp: đem dịch sắc tố chiết đuợc so màu trên máy để xác định mật độ quang ở các buớc sóng () 665nm, 649nm, rồi tính hàm luợng diệp lục (mg sắc tố/ lít dung dịch chiết) theo công thức:
Ca(mg/l) = 13,70 E665 - 5,76 E649
Cb(mg/l) = 25,80 E649 - 7,60 E665
Ca+b(mg/l) = 6,40 E665 + 20,40 E649 = 25,10 E654
Hàm lượng diệp lục được tính theo công thức: A = (C x V)/(1000 x P)
Trang 40Trong đó: - A là hàm lượng diệp lục (mg sắc tố/1g lá tươi);
- C là nồng độ sắc tố (mg sắc tố/lít dịch chiết);
- V là thể tích dịch chiết (ml);
- P là khối lượng mẫu (g)
Các chỉ tiêu này được theo dõi tại các thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, đâm tia và quả vào chắc
- Xác định trọng lƣợng chất khô
+ Xác định ở 4 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và quả vào chắc, trước thu hoạch 15 ngày
+ Chọn 5 cây trên một ô thí nghiệm với 3 lần nhắc lại
+ Phương pháp xác định: sử dụng phương pháp sấy khô đến trọng lượng không đổi
Cây mẫu sau khi ngắt riêng phần lá để đo diện tích lá cho toàn bộ cây được rửa sạch sau khi nhổ, cắt nhỏ cả rể đem cân, cho vào túi đựng mẫu riêng biệt cho mỗi cây (túi đựng mẫu làm bằng giấy xi măng hoặc giấy báo có tác dụng hút ẩm để tránh hút ẩm trở lại sau khi sấy khô) Các túi đựng mẫu này được đánh dấu để phân biệt nhau, sau đó xếp các túi mẫu vào tủ sấy Lúc đầu đặt nhiệt
độ tủ lên đến 1050C trong khoảng 15 phút để diệt men Sau đó mở tủ sấy, hạ nhiệt độ xuống 600C, đóng cửa tủ sấy và sấy đến khi trọng lượng không đổi, đem cân và xác định được trọng lượng chất khô của mỗi cây mẫu (g/cây)
- Xác định hiệu suất quang hợp
Tính theo công thức của Brigơ (1929), Bagiesv (1953) và Nisiprovits (1956)
HSQH = W2 – W1 (g/m2 lá/ngày)
1/2 x (S1 + S2) x T Trong đó:
+ W1,, W2 là trọng lượng khô tuyệt đối bình quân của một cây ở định kỳ lấy mẫu ở lần thứ nhất và lần thứ hai