Tại huyện Ngọc Lặc người Mường chiếm 68% dân số huyện, trong đó tập trung nhiều nhất ở xã Quang Trung với 82,6% là người Mường và từ lâu các thầy lang Mường ở đây đã có tiếng trong nhân
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh -
lê đình việt
điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc m-ờng tại xã quang trung, huyện ngọc lặc, tỉnh thanh hoá
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Văn Mại, đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn khoa học để tác giả hoàn thành bản luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy thuốc Bùi Xuân Đương hiện là phó chủ tịch Hội Đông Y huyện Ngọc Lặc, hội viên Hội Đông Y Việt Nam đã hết sức tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, thu mẫu tại địa phuơng để thực hiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Phan Xuân Thiệu, cùng các cán bộ phòng thí nghiệm khoa Sinh Đại Học Vinh đã hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tác giả xin gửi tới tất cả người thân và bạn bè lòng biết ơn sâu sắc
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được các
ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh - 2012
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 3
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 6
1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hóa 13
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
2.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.1.1 Vị trí địa lý 15
2.1.2 Địa hình, địa chất 15
2.1.3 Đặc điểm khí hậu 16
2.2 Điều kiện xã hội 18
CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Dự kiến thời gian nghiên cứu 19
3.3 Nôi dung nghiên cứu 19
3.3.1 Điều tra cây thuốc 19
3.3.2 Nghiên cứu hóa học 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật 20
3.4.1 Phương pháp phỏng vấn, điều tra 20
3.4.2 Phương pháp thu hái, xử lý và bảo quản mẫu vật 20
3.4.3 Phương pháp xác định tên khoa học 20
3.4.4 Phương pháp chỉnh lý tên khoa học 21
3.4.5 Phương pháp xây dụng danh lục 21
3.4.6 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại 21
3.5 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu 22
Trang 43
3.5.1 Phương pháp lấy mẫu 22
3.5.2 Phương pháp cất tinh dầu 22
3.5.3 Phương pháp phân tích 22
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 Thống kê các loài cây thuốc của dân tộc Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 24
4.2 Phân tích, đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của dân tộc Mường 42
4.2.1 Đa dạng về các taxon bậc ngành 42
4.2.2 Đa dạng các taxon bậc lớp trong ngành Ngọc Lan 43
4.2.3 Sự phân bố họ, chi, loài của cây thuốc dân tộc Mường 44
4.2.4 Đa dạng về dạng thân của cây thuốc dân tộc Mường 46
4.2.5 Đánh giá sự đa dạng bộ phận sử dụng của cây thuốc Mường 48
4.2.6 Đánh giá sự đa dạng về nơi sống của cây thuốc 50
4.2.7 Đánh giá sự đa dạng các loài cây thuốc theo cách sử dụng 50
4.2.8 Đánh giá sự đa dạng về nhóm bệnh có khả năng chữa trị của cây thuốc dân tộc Mường 51
4.3 Một số bài thuốc thu thập được của đồng bào dân tộc Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 54
4.4 Vài nét giới thiệu về cây gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E.Smith) 54 4.5 Kết quả xác định hàm lượng tinh dầu trong các bộ phận (củ, thân, lá) cây Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E.Smith) 56
4.6 Kết quả phân tích thành phần tinh dầu Củ cây Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E.Smith) 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: CÁC BÀI THUỐC THU THẬP ĐƯỢC
Phụ lục 2: PHIẾU ĐIỀU TRA VÀ NHÃN GHI
Phụ lục 3: ẢNH
Trang 5có hoa dùng làm thuốc
Là một đất nước được thiên nhiên ưu đãi, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có một thảm thực vật vô cùng đa dạng với hơn 12.000 loài thực vật bậc cao khác nhau, chứa đựng nguồn tài nguyên cây thuốc rất lớn, góp phần tạo nền y học dân tộc cổ truyền đặc sắc
Có 54 dân tộc anh em sống trải dài trên khắp miền đất nước, với bề dày lịch sử phát triển hành ngàn năm Mỗi dân tộc lại phân bố ở những vùng miền
có điều kiện khí hậu, địa lý khác nhau, cùng với tâp quán văn hóa riêng vì thế cách sử dụng và kết hợp cây thuốc trong chữa bệnh cũng khác, tạo nên sự đa dạng phong phú của y học cổ truyền Dân tộc Mường là một thành phần trong
54 dân tộc anh em, với dân số 1.268.963 người, sinh sống ở tất cả
63 tỉnh, thành phố, có một lịch sử hình thành, phát triển lâu dài và mang nhiều nét văn hóa riêng, cùng kho tàng kinh nghiệm sử dụng cây thuốc đặc sắc Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa người Mường chiếm 10,0% dân số toàn tỉnh (26,9% tổng số người Mường tại Việt Nam), tập chung chủ yếu ở các huyện Ngọc Lặc, Quan Hóa, Bá Thước, Cẩm Thủy đến Mường Lát Tại huyện Ngọc Lặc người Mường chiếm 68% dân số huyện, trong đó tập trung nhiều nhất ở
xã Quang Trung với 82,6% là người Mường và từ lâu các thầy lang Mường ở đây đã có tiếng trong nhân dân về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo, với những bài thuốc chữa được nhiều bệnh có hiệu quả như: viêm gan, xơ
Trang 6gan, thận, bó gãy xương… Thuốc nam của người Mường có ý nghĩa về y học như vậy nên trong thời gian gần đây đã bắt đầu được Viện nghiên cứu dược liệu TW, trung tâm dược liệu Bắc Trung Bộ, các nhà khoa học quan tâm, sưu tầm và tiến hành lên kế hoạch bảo tồn, nghiên cứu Tuy nhiên việc nghiên cứu, sưu tầm còn gặp nhiều khó khăn, chưa đầy đủ, thống nhất và còn nhiều điều chưa được khám phá Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Mường, tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa” Qua đó đóng góp một phần nhỏ
sự hiểu biết về cây thuốc cũng như cách sử dụng độc đáo riêng biệt của người Mường vào công việc sưu tầm và bảo tồn chung
Mục tiêu của đề tài:
- Điều tra cây thuốc và các bài thuốc chữa bệnh của đồng bào dân tộc
Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa
- Tiến hành thu mẫu cây thuốc, xác định tên khoa học và xây dựng Danh lục thực vật làm thuốc tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần tinh dầu của cây Gừng gió (Zingiber zerumbet
(L.) J.E Smith) mọc trên địa bàn xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Trang 7CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới
Từ xa xưa để tồn tại con người đã phải sử dụng các cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của mình (tìm nguồn thức ăn, cây làm nhà, chữa bệnh…) Qua nhiều thế hệ, cây cỏ được sử dụng hàng ngày và kinh ngiệm dùng cây cỏ để chữa bệnh được đúc kết và phổ biến rộng rãi Theo thời gian cùng với sự phát triển của dân tộc đã tạo nên một nền Y học cổ truyền riêng
Ở nhiều nước trên thế giới, việc dùng cây cỏ làm thuốc cũng xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước Lịch sử y học Trung Quốc, Ấn độ ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cánh đây 3000-5000 năm [36] Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, họ đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh
như, sử dụng nước chè (Thea sinensis L.) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ,
còn theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia
Anh thì chè xanh (Thea sinensis L.) còn ngăn chặn sự phát triển các loại ung
thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine [42] Hoặc dùng rễ cây Cốt
khí củ (Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc.), vỏ rễ cây táo tàu (Zizyphus jujuba Miller)… để chữa vết thương, mà ngày nay khoa học đã chứng minh là
chúng có chứa tanin [53] Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã biết dùng
dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa vết thương, vết loét, giúp
chóng lành sẹo mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có tác dụng liền sẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hoá [30] Ở các nước như Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề
(Plantago major L.) sắc hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết
niệu, sỏi thận [59], [60] Từ lâu người dân Haiti đã dùng cây Cỏ lào
Trang 8(Eupatorium odoratum L.) để làm thuốc chữa các vết thương bị nhiễm khuẩn
hay cầm máu, áp xe, nhức răng, vết loét lâu ngày không liền sẹo…[47], [48]
Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một
vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá rễ, làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh hoa hồng có chức một lượng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh Nhân dân
Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare Retz.Merr.) sao vàng sắc
đặc để chữa kiết lỵ và tiêu chảy Có những loài cây mọc hoang mà nơi nào
cũng sẵn như cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa (L.) Hook.f.) đồng bào dùng vỏ
cây sắc làm thuốc cầm máu, hoặc tán nhỏ thành bột rắc lên mụn nhọt, vết lở
loét làm chúng chóng khỏi [29] Ở Malaixia cây Húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống hoặc lấy lá giã nhỏ
vắt nước cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà… Ở Campuchia,
Malaixia, dùng toàn cây Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) rễ trị đau
bụng, sốt rét, nước lá tươi trị họng đờm hoặc lá giã nát đắp trị bệnh ngoài da,
khớp [16], [19] Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) được dùng trị thổ huyết,
trực tràng xuất huyết, tử cung xuất huyết, đau bụng, bế kinh, phụ nữ bị động thai, trị chứng xuất huyết thuộc hàn và hư, kiêm tác dụng cường tráng, cây
Tỏi (Allium sativum L.) được dùng để chống bệnh xơ động mạch, huyết áp
cao, ung thư, viêm đường ruột [32], [33]
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm y học cổ truyền các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu các hợp chất hoá học có tác dụng chữa bệnh ở thực vật và đã công nhận rằng hầu hết các loài thực vật đều chứa chất kháng sinh, đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp như: phenolic, antoxyan, các dẫn chất quinon, alcaloid, heterosid, flavonoid, saponin… [38] Theo Anon (1982) trong vòng gần hai năm trở lại đây, ít nhất
Trang 9đã nắm được cấu trúc hoá học của 121 hợp chất tự nhiên, được chiết từ thực vật với mục đích làm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên các loại thuốc chữa trị có
hiệu quả Như từ cây (Aloe barbadensis Mill.) theo Gotthall (1950) đã phân
lập được chất Glycosid barbalion có tác dụng với vi khuẩn lao người và tác dụng với Baccilus subtilic Lucas và Lewis (1944) đã chiết từ Kim ngân
(Lonicera sp.) một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị,
mụn nhọt [38], [39] Người ta cũng đã chiết được Becberin từ cây Hoàng liên
(Coptis chinensis Franch.) Theo Gilliver (1946) thì Becberin có tác dụng
chữa bệnh đường ruột và kiềm chế một số vi khuẩn làm hại cây cối Trong lá và
rễ (Allium odorum L.) có các hợp chất Sulfua, saponin và chất đắng Năm
1948 Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin, ít độc với động vật cao cấp, nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn [39] Trong nhiều loài Ba gạc
(Rauwolfia sp.) đã chiết được chất Resecpin, Serpentin làm thuốc hạ huyết áp Hợp chất Vinblastin được chiết xuất từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus
(L.) G.Don) có tác dụng hạ huyết áp và làm thuốc chống ung thư máu Hoặc
Strophantin được chiết xuất từ các loài cây Sừng dê (Strophanthus sp.) dùng
làm thuốc trợ tim đã nhiều thập kỷ nay Vài chục năm trở lại đây, nhiều loại thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lượt ra đời từ việc ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc bán tổng hợp hoá học [36], [46]
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) sử dụng làm thuốc cung cấp các hoạt chất để biến thuốc Trong đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc 5.000 loài; vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 loài thực vật có hoa Cũng theo số liệu của (WHO) thì mức độ sử dụng thuốc ngày càng cao, riêng ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1996, còn
Trang 10nguồn gốc thực vật là hơn 43 tỉ USD Tại các nước có nền nông nghiệp phát triển thì cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con người (theo tuyên ngôn Chiang Mai, 1988)
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do con người khai thác bừa bãi nên rất dễ dẫn đến tuyệt chủng Trên thực tế theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây, đã có khoảng 1000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, rất nhiều loài khác có thể gặp rủi
ro hoặc sự tồn tại của chúng là mỏng manh vào giữa thế kỷ tới nếu chiều hướng đe doạ ngày càng tiếp diễn gay gắt Mặt khác sự khai thác liên tục của con người có thể làm triệt cả nguồn gen, dẫn đến tình trạng bị nguy hiểm cho các loài thực vật và làm mất cân bằng sinh thái [2], [14], [18] Vì vậy tại hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc, họp từ ngày 21 đến 27 tháng 3 năm 1983 tại Chieng mai – Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc được đặt ra khẩn thiết
Hướng tới thế kỷ XXI, để phục vụ mục đích sức khoẻ con người, để chống lại các bênh nan y, thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông – Tây Y, giữa y học hiện đại và cổ truyền
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời, với nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh hiệu quả Qua thời gian, kinh nghiệm trong dân gian đã dần được đúc kết, ghi chép tổng hợp lại thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi Thời vua Hùng Vương dựng nước (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam Chích Quái liệt truyện…) và qua các truyền thuyết chứng tỏ tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm
thuốc chữa bệnh từ rất sớm [17], [32], [36], [37] Trong cuốn “Long uy bí thư”
đã chép lại vào đầu thế kỷ II TCN có hàng trăm vị thuốc của đất Giao Chỉ (Việt
Trang 11Nam) như: Ý dĩ (Coix lachryma-jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin
(Blanco.) Benth.)…được người Tàu đưa về nước để giới thiệu sử dụng [36] Cùng với tiến trình lịch sử, nền y học cổ truyền Việt Nam cũng dần phát triển gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của các danh Y nổi tiếng đương thời Đời nhà Lý (1020 – 1224) có nhà sư Nguyễn Minh Công tức Nguyễn Chí Thành
đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và nhà Vua, nên được Tấn phong “Quốc sư” Triều Lý
Đời nhà Trần (1225 – 1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn dùng cây thuốc
để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “Sơn Dược”, hiện vẫn còn di tích để lại tại một đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng Năm
1429 Chu Tiên đã biên soạn cuốn “Bản thảo cương mục toàn yến” là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản Có hai danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Công Bân (thế kỷ XIII) và người thầy thuốc nổi tiếng Tuệ Tĩnh Tuệ Tĩnh tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV), ông là người đã biên soạn ra bộ “Nam dược Thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông còn viết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư”, tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho
37 chứng sốt khác nhau Trong “Nam dược thần hiệu” có ghi: Tô mộc
(Caesalpinia sappan L.), vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng thương phong, sưng lở; Sử quân tử (Quisqualis indica L.) có vị ngọt,
tính ôn, không độc vào hai kinh tỳ vị, chữa 5 chứng cam ở trẻ em, tiểu tiện,
sát khuẩn, chữa tả lị; Sầu đâu rừng (Brucea javanica (L.) Merr.) có vị đắng,
tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang, điên
cuồng và ghẻ lở; cây Lá móng (Lawsonia inermis L.) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan…; Bạc Hà (Mentha arvensis L.)
chữa sốt, nhức đầu [60] Tuệ Tĩnh được coi là một bậc Danh y kỳ tài trong
Trang 12lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc nam” Ông chủ trương lấy “Nam dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông về sau bị quân Minh thu gần hết nay chỉ còn lại:
- “Nam dược thần hiệu”
“Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dược như: “Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772 Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Trong quyển
“Lĩnh nam bản thoản” Ông đã tổng hợp được 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian Mặt khác ông mở trường đào tạo y sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học Do vậy Lãn Ông được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Viêt Nam [55]
Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ông còn có hai trạng nguyên là Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ “Vạn phương tập nghiêm” gồm 8 quyển xuất bản năm 1763 [34]
Vào thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788 - 1883) có tập “Nam dược”,
“Nam dược chỉ danh truyền”, “La Khê phương dược”… của Nguyễn Quang Tuân, ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [36], hoặc quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng viết về các bài thuốc nam đơn giản thường dùng [32], hay trong “Ngư tiều vấn đáp y thuật” của Nguyễn Đình Chiểu [32], “Nam Thiên Đức Bảo toàn thư” của Lê
Trang 13Đức Huệ gồm 511 vị thuốc nam và bệnh học [32] Đến 1858 Trần Nguyên Tây Phương đã kể tên và mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc” [34]
Trong thời kỳ 1884 – 1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại y học dân tộc nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính là khai thác tài nguyên Điển hình là các nhà dược học nổi tiếng của Paris như: Charles Crevost, Ch Lemarie và A Petelot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de l’lndochine” (1928 – 1935) trong đó ở tập V “Produits médicinaux” (1928) đã mô tả 368 cây thuốc là các loài thực vật có hoa Đến năm 1952 A Petelot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les Plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Viet Nam” gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc của 3 nước Đông Dương Trong quá trình tìm ra các loài cây thì xuất hiện một số vấn đề về cách bào chế, tính kỵ thuốc, kiêng các chất trong khi dùng thuốc cần được giải quyết Cuốn “Bắc nam dược tính” (1937) của Vũ Như Lâm đã đề cập tới dược tính, công dụng cách bào chế, sự kiêng kỵ của một số vị thuốc Bắc, Nam Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phương châm của
Đảng đề ra là “tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp”, ngành y tế đã đưa thuốc nam
vào điều trị và phát huy được vai trò to lớn của nó, xây dựng nên “Toa căn bản”, nêu cao các phương pháp chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường [11], [12], [16], [21]
Từ ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc và giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đến công tác điều tra nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam, phục vụ cho vấn đề sức khoẻ toàn dân Ngày 27 tháng 2 năm 1955, trong thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh gửi Hội Nghị ngành Y tế, Người đã đề ra đường lối xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa y học cổ
Trang 14truyền của dân tộc với y học hiện đại Bộ y tế cũng tạo điều kiện cho Đông y phát triển, nên việc nghiên cứu thuốc Nam được xúc tiến mạnh mẽ, trong đó
GS – TS Đỗ Tất Lợi là người đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm, xuất bản được nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con, dùng làm thuốc của đồng bào dân tộc Đáng chú ý nhất là năm 1957 đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả đã mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam [50]
Từ 1962 - 1965 GS Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành hai tập trong đó
có 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, liên tục bổ sung về cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 2000 Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc ông đã nghiên cứu được lên tới 792 loài Trong đó ông
mô tả tỉ mỉ tên khoa học, vị trí phân bố, thành phần hóa học và công dụng chữa trị các nhóm bệnh khác nhau của từng cây thuốc [50], đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa kinh nghiệm dân gian với khoa học hiện đại
Năm 1978 Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển Y học dân tộc với phương châm: “Thừa kế, phát huy, phát triển y học dân tộc cổ truyền và kết hợp Đông y với y học hiện đại để xây dựng nền y học Việt Nam” Với phương châm ấy có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều bộ sách quý như: Vũ Văn Kính (1979) cho xuất bản cuốn sổ tay y học “500 bài thuốc gia truyền” và tái bản lần thứ 3 vào năm 1997 [47], năm (1980) Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu cuốn sách “Sổ tay cây thuốc Việt nam” với 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện [11] Liên quan đến vấn đề cây thuốc, năm (1978, 1983) Bộ y tế đã xuất bản cuốn “Dược liệu Việt Nam” tập I, II trong đó tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua [17], [18] Bên cạnh đó Viện dược
Trang 15liệu (Bộ y tế) đã tiến hành nghiên cứu, điều tra dược liệu tại 2795 xã, phường, thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước, qua đó thu thập, sưu tầm được nhiều nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với kinh nghiệm sử dụng trong Y học cổ truyền dân gian, được đúc kết trong “Danh mục cây thuốc miền Bắc Việt Nam” và “Danh mục cây thuốc Việt Nam” Qua các kết quả thu được ở trên đã thống kê và công bố một danh sách về cây thuốc ở Miền Bắc (1961 – 1972) là 1114 loại, ở Miền Nam (1979 - 1985) là 1119 loài Tổng hợp trong cả nước đến năm (1985) là 1863 loài và dưới loài, phân bố trong 1033 chi, 136 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành được sắp xếp theo hệ thống của Takhtajan mỗi loài đều giới thiệu công dụng cùng với cách dùng cụ thể [8], [11], [40]
Về vấn đề cây thuốc Việt Nam thì Võ Văn Chi là người từ lâu có nhiều tâm huyết Năm 1976, trong luận văn PTS khoa học của mình ông đã thống
kê có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở Miền Bắc Đến năm 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ
II, tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu danh sách các loài cây thuốc Việt Nam, với 2280 loài cây thuốc là thực vật bậc cao có mạnh, thuộc 254 họ trong 8 ngành Có thể nói công bố này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất Xét về thành phần các cây thuốc đã biết hiện nay ở Việt Nam, theo Viện dược liệu trong tổng số trên 2.000 loài cây thuốc, có tới gần 90% cây mọc tự nhiên, chúng chủ yếu tập trung trong các quần thể rừng với trữ lượng lớn, còn khoảng trên 10% là cây trồng
Ngoài ra cũng có nhiểu công trình về cây thuốc Việt Nam thuộc các địa phương hoặc theo các phạm vi nhỏ cũng đã được công bố Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và một số người khác đã cho ra cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với hàng năm có khoảng 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng ở mức độ khác nhau
Trang 16Trần Đình Lý (1995) và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích” [51] Trong số các loài cây thực vật bậc cao đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 có tinh dầu, 260 loài có dầu béo, 600 loài chứa tanin,
50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây
Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995 [1] Cho đến chương trình tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc của Viện dược liệu KV.02 cho ra đời quyển “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”…[8]
Năm 1996 Võ Văn Chi xuất bản quyển “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã
mô tả kỹ 3200 cây thuốc củaViệt Nam [24] Đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thực vật học Ngoài ra còn rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí trung ương, địa phương giới thiệu về cây thuốc, bài thuốc và tác dụng làm thuốc của cây cỏ quanh ta, như vậy nguồn cây cỏ được sử dụng làm thuốc rất phong phú Theo
Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu… hàng năm nước ta đã khai thác
và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở mức độ khác nhau [12] Rất khó thống kê được một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác, bởi lẽ hàng năm ngoài các cơ sở tư nhân, thì còn có các ông Lang, bà Mế và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian Theo Nguyễn Khang và Vũ Văn Chương thì trong vài chục năm gần đây nước
ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn khoảng 20 triệu USD và lượng tinh dầu là 20 – 30 triệu USD chưa kể giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và buôn lậu qua biên giới của tư thương [43]
Đặc biệt, năm 1994, trong công trình nghiên cứu thuốc tại Lâm Sơn – Lương Sơn – Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài cây thuốc thuộc 50 họ
Bên cạnh ý nghĩa sử dụng cây thuốc trong y học dân tộc, theo kết quả nghiên cứu của: Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Việt Tựu (1986) Trịnh Gia Ân,
Trang 17Phạm Đình Sửu (1971, 1979) Lê Tùng Châu (1991)… nguồn cây thuốc ở Việt Nam đã và sẽ có nhiều triển vọng là nguyên liệu dùng để chiết xuất các hợp chất tự nhiên làm thuốc của ngành công nghiệp dược Chỉ tính trong vòng hơn một năm lại đây đã có 701 loài cây thuốc điều tra có tính kháng khuẩn và một
số loài cây thuốc chính thức được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: Thanh
hao hoa vàng (Artemisia annua L.) Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr), Sừng dê (Strophanthus divergens Graham.), Ba gạc (Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill.)… Ngoài ra vấn đề tìm kiếm các thuốc
mới từ nguồn gốc cây cỏ ở Việt Nam cũng đầy triển vọng Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995) các nhà khoa học Việt Nam
bước đầu đã biết được hợp chất Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxus Spp.) có
tác dụng chống ung thư Việc ứng dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam nói chung, các dân tộc ít người nói riêng là rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên cây thuốc, bảo tồn nguồn gen, cùng những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc chữa bệnh phong phú trong y học
cổ truyền
1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, đứng thứ 5 về diện tích, thứ 3 về số dân trong
số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương và có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới, việc chữa bệnh cho nhân dân xưa nay là do các ông Lang, bà Mế vì vậy kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và các bài thuốc dân gian của người dân tộc rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về cây thuốc, bài thuốc của các dân tộc miền núi Thanh Hóa Chỉ có một số công trình nghiên cứu thực hiện đơn lẻ được công bố rải rác trên các tài liệu như: sách của các tác giả Đỗ Tất Lợi, Đỗ Huy Bích, Vũ Văn Chuyên, trên các tạp chí và website của Viện Dược Liệu Bắc Trung Bộ như: “Nghiên cứu và thuần
Trang 18hóa thành công cây Hy thiêm từ hoang dại trở thành cây thuốc sản xuất theo
hóa thành công cây Sâm báo từ lưu giữ bảo tồn trong nông hộ trở thành cây thuốc được sản xuất hàng hóa theo GAP” [66] Trong thời gian gần đây có một số đề tài, luận văn thạc sĩ của các trường đại học cũng bắt đầu quan tâm nghiên cứu về cây thuốc ở Thanh Hóa như:
Phạm Hồng Ban, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Đình Hải, Đỗ Ngọc Đài
(2009), “Đánh giá tính đa dạng cây thuốc dân tộc Thái vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa”, tạp chí nông nghiệp và phát triển nông
thôn, (số 11/2009, tr 103 - 106) [3]
Phạm Hồng Ban, Trần Văn Kỳ, Lê Thị Hương, Đỗ Ngọc Đài “Một số dẫn liệu về hệ thực vật bậc cao có mạch ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam, đã xác định được có 75 loài cây có giá trị làm thuốc [4]
Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Huệ (2009) ĐHV, “Điều tra thành phần loài cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái, xã Bát Mọt, khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa”, đã thống kê được 178 loài của 75 họ thuộc 5
ngành thực vật bậc cao, phát hiện được 6 loài quí hiếm trong đó có 3 loài thuộc danh lục đỏ cây thuốc và bổ sung cho từ điển cây thuốc VN của Võ Văn Chi 57 loài thuộc 34 họ [41]
Nói tóm lại việc điều tra cây thuốc của đồng bào các dân tộc miền núi Thanh Hóa đã và đang được tiến hành nhưng còn đơn lẻ, rời rạc Vì vậy cần phải tiến hành điều tra, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống trên qui
mô toàn tỉnh để thu thập cây thuốc, bài thuốc có giá trị để bảo tồn, không bị mai một
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Ngọc Lặc là huyện miền núi, nằm ở cửa ngõ phía Tây của tỉnh Thanh Hóa và có tọa độ địa lý như sau:
Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước, núi Bù Trèm là đường ranh giới tự nhiên giữa huyện Ngọc Lặc với huyện Bá Thước và huyện Cẩm Thuỷ
- Phía Nam giáp huyện Thường Xuân
- Phía Tây giáp huyện Lang Chánh bởi các dãy núi và sự phân dòng nước của các con suối
- Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân và huyện Yên Định
Trên bản đồ tỉnh Thanh Hoá thì Ngọc Lặc nằm ở trung tâm của tỉnh, từ thị trấn Ngọc Lặc đến bờ biển khoảng trên 90km, từ thị trấn Ngọc Lặc đến huyện Mường Lát khoảng 150km
2.1.2 Địa hình, địa chất
- Địa hình: Địa hình phức tạp, đồi núi ở phía Tây (chiếm 40,1% diện
tích), đỉnh Lam Sơn (472 m), đồng bằng phía Đông xen nhiều đồi gò Sông ngòi ở Ngọc Lặc thuộc hệ thống sông Mã (hệ thống sông lớn nhất trong tỉnh, bắt nguồn từ Điện Biên, Lai Châu dài 512km, chảy qua Thanh Hóa dài 242km) Sông Mã có nhiều nhánh chính, chảy qua Ngọc Lặc là sông Cầu
Trang 20Chày, dài 87,5km, diện tích lưu vực 551km2, độ dốc nhỏ, dòng chảy kém phong phú Ngoài ra Ngọc Lặc còn có sông Âm, sông Hép chảy qua
- Địa chất: Theo kết quả điều tra của phòng tài nguyên và môi trường
tỉnh Thanh Hóa năm 2010 thì, huyện Ngọc Lặc có tổng diện tích tự nhiên là:
là đất nâu đỏ trên macma bazơ, khu vục giáp Thọ Xuân là đất nâu vàng trên phù sa cổ Một phần nhỏ diện tích là đất vàng nhật trên đất cát, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa và xói mòn nhưng không nhiều Trong tổng diện tích đất
tự nhiên của huyện có 37.411,33 ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp; 8.308,11
ha đất phi nông nghiệp và còn 3.883,6 ha đất chưa sử dụng, thuận tiện cho việc trồng các loại cây công nghiệp và trồng rừng kết hợp với kinh tế trang trại tổng hợp
2.1.3 Đặc điểm khí hậu
Huyện Ngọc Lặc có khí hậu cận nhiệt đới với bốn mùa rõ rệt, thuộc khí hậu đồi núi cao ở Thanh Hóa Nằm sâu trong nội chí tuyến, trên một vĩ độ hơi lệch về phía Bắc, thuộc rìa Đông Nam của đại lục Âu - Á, thuộc hoàn lưu gió mùa của Đông Nam Á Trong mùa Đông thịnh hành là gió Bắc, Đông Bắc kèm theo giá rét, khô hanh từng đợt, có sương giá, sương muối Trong mùa hè thịnh hành là gió Đông và Đông Nam, xen lẫn gió Tây Nam khô nóng, là mùa nhiều mưa, bão, lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan như dông tố, lốc, mưa đá… Có độ cao mặt trời lớn, thời gian chiếu sáng đồng đều quanh năm, lượng bức xạ phong phú, cán cân bức xạ luôn cân trong cả 12 tháng
- Nhiệt độ: Chế độ nhiệt của nhiệt đới, nhiệt độ cao, trung bình năm
24 - 25oC, biên độ lớn, mùa đông đến muộn, kết thúc sớm nhưng rất lạnh Mùa hè đến sớm, kết thúc muộn, do điều kiện địa lý mà chủ yếu là vĩ độ và độ cao tạo nên sự biến động lớn của nhiệt độ Biên độ nhiệt ngày- đêm, mùa đông- mùa hè rất lớn, đây là đặc điểm riêng biệt ở khu vực Thanh Hóa nói chung và ở Ngọc Lạc nói riêng
Trang 21- Mưa: Lượng mưa phong phú nhưng có biến động lớn về thời gian,
cường độ và lượng mưa giữa các mùa, các tháng và các năm Mùa mưa từ tháng 4, kết thúc vào tháng 10, trùng với mùa gió Tây khô nóng, bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, dông tố, lốc, lũ quét, sạt lở đất, tạo nên những đợt mưa lớn kéo dài nhiều ngày gây lũ lụt nghiêm trọng Trong mùa mưa có những đợt gió Tây khô nóng kéo dài, gây nên tình trạng nắng nóng gay gắt và khô hạn trong các tháng 5, 6, 7
Sự biến động về mưa thể hiện qua cường độ mưa sau từng thời đoạn của từng tháng, từng mùa Tháng nhiều mưa (5,10) có thể gấp 30 - 40 lần tháng ít mưa (4, 11)… Năm nhiều mưa có thể trên 2000 mm, năm ít mưa có thể dưới
1000 mm Cường độ sau mưa một ngày đêm có thể từ 200 – 300 mm trong mùa mưa, nhưng trong mùa khô cường độ sau mưa một ngày đêm đạt dưới 1,0 mm, thậm chí cả tháng liên tục không mưa, đặc điểm này chủ yếu do độ cao và đặc điểm địa hình tạo nên
Bảng 2.1 Nhiệt độ, độ ẩm và lƣợng mƣa năm 2011 tại Ngọc Lặc Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Độ ẩm (%) Lƣợng mƣa (mm)
Trang 22Với đặc điểm khí hậu, thủy văn và thổ nhưỡng như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật phát triển, vì vậy Ngọc Lặc rất phong phú về các loài thực vật, trong đó có nhiều loài có tác dụng làm thuốc chữa bệnh
2.2 Điều kiện xã hội
Toàn huyện có 22 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn (Ngọc Lặc - huyện lị) và 21 xã (Mỹ Tân, Thúy Sơn, Thạch Lập, Vân Âm, Cao Ngọc, Ngọc Khê, Quang Trung, Đồng Thịnh, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Lộc Thịnh, Cao Thịnh, Ngọc Trung, Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc Thịnh, Nguyệt Ấn, Kiên Thọ, Minh Tiến, Minh Sơn, Lam Sơn)
Dân số toàn huyện tính đến năm (2010) là 146.272 người, bình quân
4 dân tộc sinh sống xen cư hòa thuận bên nhau là: Mường, Kinh, Dao, Thái tạo thành một nền văn hóa đa sắc tộc cho Ngọc Lặc
Huyện có giao thông tương đối thuận lợi, với quốc lộ 15A (từ phố Lê Duẩn trung tâm Ngọc Lặc tới giáp huyện Lang Chánh), tỉnh lộ 519 (chỉ còn
đoạn gần 2km qua Phố 1) và đường Hồ Chí Minh chạy qua
Trên địa bàn huyện Ngọc Lặc có một bệnh viện đa khoa khu vực, một trung tâm y tế, được đầu tư trang thiết rất cơ bản, hiện đại để phục vụ cho
xã, thị trấn đều có các trạm y tế và mạng lưới cộng tác viên cơ sở đáp ứng nhu cầu chữa bệnh và chăm só sức khỏe cho người dân Huyện có 3 trường THPT,
1 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 25 Trường THCS và 36 trường tiểu học Tất cả các trường đều được đầu tư các trang thiết bị dạy học hiện đại
Do là một huyện miền núi nên cơ sơ vật chất và hạ tầng còn thiếu, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào việc kinh doanh và sản xuất của nhân dân chưa phổ biến, diện tích đất canh tác không nhiều nên cơ bản Ngọc Lặc vẫn là một huyện nghèo với thu nhập bình quân con thấp gần 4 triệu đồng /người /năm
Trang 23CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những cây thuốc được đồng bào dân tộc Mường
tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa dùng để chữa bệnh
- Phạm vi nghiên cứu: Những người dân và thầy lang dân tộc Mường tại
xã Quang Trung huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa
3.2 Dự kiến thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 9/2011 đến tháng 10/ 2012 cụ thể là:
- Từ 9/2011 đến 10/2011: Sưu tầm tài liệu và lập đề cương
- Từ 10/2011 đến 12/2011 bắt đầu tiến hành thu mẫu
- Từ 1/2012 đến 6/2012 tiếp tục thu mẫu, phân tích số liệu, nghiên cứu hóa học cây thuốc
- Từ 7/2012 đến 10/2012 hoàn thành số liệu và hoàn thành luận văn 3.3 Nôi dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra cây thuốc
- Lập danh mục thành phần các loài cây được người Mường sử dụng làm thuốc
- Phân tích đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng về:
+ Đa dạng về bậc phân loại
Trang 24- Thu thập các bài thuốc của người Mường tại địa bàn nghiên cứu
3.3.2 Nghiên cứu hóa học
Tiến hành nghiên cứu thành phần tinh dầu của cây Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E Smith) thu tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa
3.4 Phương pháp nghiên cứu thực vật
3.4.1 Phương pháp phỏng vấn, điều tra
Điều tra, phỏng vấn rộng rãi bà con và các thầy lang dân tộc Mường tại địa bàn nghiên cứu để thu thập các cây thuốc và sưu tầm bài thuốc
3.4.2 Phương pháp thu hái, xử lý và bảo quản mẫu vật
Mẫu vật được thu hái và sử lý theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997 [58]
- Mẫu cây được đánh số hiệu và đặt trong một tờ báo, cho vào túi nilon lớn khoảng 20 – 30 mẫu, sau đó đổ cồn vào để bảo quản (xử lý sơ bộ tại địa bàn thu mẫu) Khi đưa về tiếp tục xử lý và cho vào cặp mắt cáo để phơi khô dươi ánh nắng hoặc ánh điện Mẫu được bảo quản và lưu trữ tại phòng lưu trữ mẫu thực vật Khoa Sinh học - Đại học Vinh
3.4.3 Phương pháp xác định tên khoa học
Chúng tôi sử dụng phương pháp hình thái so sánh, được tiến hành theo các bước sau:
- Phân chia mẫu theo họ và chi
Sau khi thu mẫu, phân loại sơ bộ ngay tại hiện trường dựa vào các bảng
chỉ dẫn nhận nhanh các họ trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [58] và “Cẩm nang tra cứu và nhận nhanh các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [5]
- Xác định tên khoa học dựa vào “Khóa định loại” của Phạm Hoàng Hộ, (1991 - 1993) [40] và “Thực vật chí Việt Nam” [6], [49], [52], [56], [57]
Trang 253.4.4 Phương pháp chỉnh lý tên khoa học
Sau khi định loại, tiến hành kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học theo tài
liệu “Từ điển cây thuốc” của Võ Văn Chi (1996) [24], “Cây thuốc và động vật làm thuốc của Việt nam” của Đỗ Huy Bích (2004) [10]
3.4.5 Phương pháp xây dụng danh lục
Xây dựng danh lục các taxon được sắp xếp theo cách sắp xếp của R K Brummit [63]
3.4.6 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại
3.4.6.1 Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ đa dạng của nó
3.4.6.2 Đánh giá đa dạng loài của các họ chi và loài
Theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn 1997 [58]
3.4.6.3 Đánh giá sự đa dạng về dạng thân
3.4.7 Đánh giá sự đa dạng về bộ phận của cây thuốc được sử dụng
Dựa vào kinh nghiệm của người dân Mường và các thầy lang Mường tại địa bàn nghiên cứu
3.4.8 Đánh giá sự đa dạng về nơi sống của cây thuốc
Dựa vào sự phân bố môi trường sống của các loài thực vật khi thu mẫu
3.4.9 Đánh giá sự đa dạng các loài cây thuốc theo cách sử dụng
Dựa vào kinh nghiệm sử dụng của các thầy lang Mường
Trang 26Dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy lang dân tộc Mường
3.4.11 Thu thập một số bài thuốc của người Mường
Dựa vào các thầy lang dân tộc Mường
3.5 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu
3.5.1 Phương pháp lấy mẫu
Củ Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) J.E Smith) được thu đầu tháng 3,
đây là thời gian củ gừng ở vào giai đoạn cuối thời kỳ lụi lá và chuẩn bị nảy mầm Lá và thân cây gừng được thu vào tháng 6 khi cây đã phát triển
- Mẫu tươi sau khi lấy về được rửa sạch, để nơi thoáng mát hoặc bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ thích hợp trước khi sử dụng Việc sử lý mẫu tiếp theo để phục vụ cho các quá trình phân tích hóa học sẽ được trình bày cụ thể tại các nội dung dưới đây
3.5.2 Phương pháp cất tinh dầu
Nguyên liệu sau khi sơ chế sạch được thái mỏng (1-2mm), sắt nhỏ và tiến hành cất tinh dầu bằng phương pháp cất kéo hơi nước, sử dụng bộ dụng
cụ cất tinh dầu theo qui định của “Dược điển Việt Nam” III [20] và “Bài giảng dược liệu” tập II [15]
C
3.5.3 Phương pháp phân tích
3.5.3.1 Phương pháp phân tích định lượng
- Hàm lượng % tinh dầu tính theo nguyên liệu tươi, được xác định theo
phương pháp của “Dược điển Việt Nam” III [20], áp dụng với tinh dầu có tỷ
trọng (d)<1
X: Hàm lượng % tinh dầu a: Thể tích tinh dầu đọc được sau khi cất (tính theo mililit) b: Khối lượng dược liệu tươi đã dùng ( tính theo gram)
Trang 273.5.3.2 Phương pháp phân tích thành hóa học phần tinh dầu
Thành phần hoá học của tinh dầu được xác định bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS), trên máy sắc ký khí gép khối phổ liên hợp, với hệ thống HP 6890N/HP 5973 MS, cột HP - 5MS (dài 30m;
C (2 phút) tăng 40C/phút, đến 2200C (10 phút); nhiệt độ injector 2500
C; nhiệt độ detector 2600
C, khí mang He (1,4ml/phút); bơm mẫu tự động, 1µl của dung dịch đã pha loãng (50mg tinh dầu hòa tan trong 1ml n-hexan); tỷ lệ chia dòng 1:50 Các thông số vận hành khối phổ (MS) là
35 -450
Các thành phần tinh dầu được xác nhận bằng cách so sánh các dữ kiện phổ MS thu được với phổ chuẩn đã có trong thư viện Willey/Chemstation HP Thí nghiệm được tiến hành tại phòng TN Khoa Sinh, Đại Học Vinh
Trang 28CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
A Kết quả nghiên cứu phân loại thực vật
4.1 Thống kê các loài cây thuốc của dân tộc Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Quá trình điều tra, thu thập mẫu và phân tích liệu chúng tôi đã xây dựng được bảng danh lục các loài cây thuốc của dân tộc Mường tại xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Kết quả được trình bày tại Bảng 4.1 Trong bảng các loài cây được sắp xếp theo theo cách sắp xếp của R.K.Brummit (1992) [63]
Ghi chú: Những ký hiệu được dùng trong Bảng 4.1
- Nơi sống: + M: Mọc hoang
+ T : Trồng
- BPSD: Bộ phận sử dụng
Trang 29
STT TÊN THUỐC Dạng
thân
Nơi sống BPSD Công dụng Cách dùng Tên khoa học Tên phổ thông Tên Mường
Trang 30Fam.2 Alangiaceae Họ Quăng
7 Alangium barbatum var decipiens (Evr.)
Tardieu
Thôi chanh lá mỏng
Fam.3 Amaranthaceae Họ rau rền
đòn
Sắc uống
12 Parabarium spireanum Pierre ex
Spire
viêm gan, phong thấp
Trang 31Fam.6 Araliaceae Họ Ngũ gia bì
Seem
thấp, bồi bổ
Ngâm rượu, sắc uống
mác
sữa
Sắc uống
thấp, huyết áp cao, đau
TK bại liệt
Sắc uống
Trang 3222 Xanthium inaequilaterum DC Ké đầu ngựa Hể tê Thảo M Quả Chữa bệnh phong thấp Sắc uống
gan
Sắc uống
kinh
Sắc uống
kim, giun đũa
Sắc uống
29 Connarus cochinchinensis (Baill.)
Pierre
khớp
Sắc uống
Trang 3330 Rourea microphylla (Hook et Arn.)
Planch
kinh, đau xương khớp
Sắc uống
Trang 3439 Glochidion eriocarpum Champ Bòn bọt Ô kha Gỗ M Thân, lá Chữa bệnh dạ dày,
leo
bụi
Trang 3547 Crotalaria pallida Aiton Sục sạc Bùng bục Thảo M Thân, lá Tác dụng tiêu viêm,
lợi tiểu
Sắc uống
49 Dendrolobium triangulare (Retz.)
trằng
Thảo T,M Thân, lá Tác dụng giải cảm, lợi
tiểu
Sắc uống, nấu xông
tiểu
Sắc uống, nấu xông
tiết niệu
Sắc uống
Trang 36Fam 20 Lauraceae Họ Long não
60
thương, cầm máu
Giã đắp
thận
Sắc uống
Trang 37Fam.25 Menispermaceae Họ Tiết dê
ruột, dạ dày
Sắc uống
gỗ
nhựa
Chữa bệnh đường ruột, mụn nhọt
Ăn,bôi
nhỏ
Trang 38Fam.29 Oleaceae Họ Nhài
tiết niệu
Sắc uống
mun nhọt
Sắc uống, giã đắp
viêm phổi
Săc uống
Trang 39Fam.35 Rhizophoraceae Họ Đước vẹt
đòn
Giã đắp
78 Hymenodictyon excelsum (Roxb.)
Wall
nhỏ
M Thân, lá Chữa bệnh đường ruột Sắc uống
lá
nhỏ
nhỏ
chảy
Sắc uống