1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs luận văn thạc sỹ hóa học

181 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Luyện Kĩ Năng Cơ Bản Để Giải Bài Tập Hóa Học 8 Cho Học Sinh Ở Trường THCS
Tác giả Đặng Thị Mỹ Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Cao Cự Giác
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hóa học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, mà nội dung quan trọng nhất của môn hóa học là nhằm giúp cho học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng được kiến thức chính là khả năng th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG THỊ MỸ NGỌC

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CƠ BẢN

ĐỂ GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC 8 CHO HỌC SINH

Ở TRƯỜNG THCS

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG THỊ MỸ NGỌC

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CƠ BẢN

ĐỂ GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC 8 CHO HỌC SINH

Ở TRƯỜNG THCS

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Hóa học

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS CAO CỰ GIÁC

VINH – 2012

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy giáo PGS.TS Cao Cự Giác – Trưởng Bộ môn Lí luận và phương pháp

dạy học hoá học, khoa Hóa trường Đại học Vinh, đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường và PGS.TS Lê Văn Năm đã dành

nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn

- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học trường ĐH Vinh và ĐHSP Đồng Tháp đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệu Trường THCS An Hiệp, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Đồng Tháp, tháng 9 năm 2012

Đặng Thị Mỹ Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ của đề tài 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cái mới của đề tài 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Đặc điểm chung của học sinh ở trường THCS khi học tập môn hóa học 6

1.1.1 Tâm sinh lí 6

1.1.2 Trình độ nhận thức 8

1.1.3 Nhu cầu học tập 9

1.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn hóa học cấp THCS 10

1.2.1 Chuẩn 10

1.2.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình môn học 10

1.2.3 Các mức độ về kiến thức, kĩ năng của môn hóa học cấp THCS 10

1.2.4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông 11

1.3 Sự đổi mới nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng và theo nội dung chương trình giảm tải môn hóa học ở trường THCS 11

1.3.1 Đổi mới mục tiêu dạy học 11

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học 13

1.3.3 Đổi mới nội dung dạy học 14

1.3.4 Đổi mới phương pháp đánh giá 15

1.4 Khái niệm về kĩ năng giải bài tập 15

1.4.1 Kĩ năng 16

1.4.2 Kĩ năng giải bài tập 16

Trang 6

1.5.1 Khái niệm về bài tập hoá học 16

1.5.2 Tác dụng củng cố và phát triển kiến thức (trí dục) 17

1.5.3 Tác dụng phát triển tư duy cho học sinh 18

1.5.4 Tác dụng rèn luyện kĩ năng thực hành hóa học và liên hệ kiến thức với thực tế 18

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 19

Chương 2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC 8 CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS 20

2.1 Phương pháp giải bài tập hóa học cho học sinh lớp 8 ở trường THCS 20

2.2 Các kĩ năng giải bài tập hóa học cơ bản của học sinh lớp 8 ở trường THCS 22

2.2.1 Nhóm các kĩ năng chung khi giải bài tập 23

Kĩ năng “Đọc và phân tích kỹ đề bài” 23

Kĩ năng “Tóm tắt được đề bài” 24

Kĩ năng “Trình bày lời giải” 24

2.2.2 Một số kĩ năng cơ bản khi giải bài tập hóa học dành cho học sinh lớp 8 25

Kĩ năng 1: Viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố 26

Kĩ năng 2: Viết đúng công thức nguyên tử, phân tử 28

Kĩ năng 3: Lập được CTPT của chất dựa vào qui tắc hóa trị và ngược lại 29

Kĩ năng 4: Lập được phương trình hóa học 32

Kĩ năng 5: Áp dụng công thức tính toán 35

Kĩ năng 6: Tính theo công thức hóa học 39

Kĩ năng 7: Tính theo phương trình hóa học (bài toán mol tìm khối lượng, thể tích của chất trong phản ứng, …) 43

Kĩ năng 8: Phân loại và gọi tên các chất 47

Kĩ năng 9: Viết được phương trình hóa học cho các sơ đồ phản ứng 50

Kĩ năng 10: Nhận biết và phân biệt các chất 52

Kĩ năng 11: Xác định độ tan của chất và tính nồng độ dung dịch (C%, C M ) và ngược lại 54

Trang 7

Kĩ năng 12: Giải bài tập thực nghiệm 57

2.3 Cách sử dụng hệ thống bài tập để rèn các kĩ năng cơ bản trong dạy học hóa học lớp 8 ở trường THCS 59

2.3.1 Hệ thống bài tập để rèn các kĩ năng cơ bản trong dạy học hóa học lớp 8 ở trường THCS 59

2.3.2 Sử dụng hệ thống bài tập để rèn các kĩ năng cơ bản trong dạy học hóa học lớp 8 ở trường THCS 97

* Rèn kĩ năng cơ bản trong các bài dạy hình thành khái niệm, kiến thức mới thông qua các bài tập 97

* Rèn kĩ năng cơ bản trong các bài dạy luyện tập, vận dụng kiến thức thông qua các bài tập 101

* Rèn kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học trong các thí nghiệm và bài thực hành 103

* Rèn kĩ năng cơ bản trong các bài kiểm tra đánh giá mức độ vận dụng kiến thức của học sinh 105

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 116

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 117

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 117

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 117

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 117

3.2 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 117

3.3 Tiến hành thực nghiệm 118

3.3.1 Tiến hành các giờ dạy đã lựa chọn theo phương án 118

3.3.2 Phương tiện trực quan 119

3.3.3 Tiến hành kiểm tra kết quả 119

3.4 Kết quả các bài dạy thực nghiệm sư phạm 119

3.5 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 121

3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 128

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 132

Trang 8

2 Kiến nghị 135 TÀI LIỆU THAM KHẢO 136 PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN VÀ KẾT QUẢ ……… …P.1 PHỤ LỤC 2: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ……… P.10 PHỤ LỤC 3: ĐÁP ÁN CÁC ĐỀ KIỂM TRA ……….P.31

Trang 9

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999)

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động của người học, chống lại thói quen học tập thụ động

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là nhằm tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học, tự tìm tòi và óc sáng tạo Nhân tố quyết định thắng lợi và đưa một quốc gia từ nền nông nghiệp trở thành một quốc gia tiên tiến, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng tri thức Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông mà trước hết là phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo nhằm giúp cho học sinh phát triển tri thức cơ bản, hình thành và phát triển năng lực tư duy, nhận thức, kĩ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức đã học vào thức tiễn, cuộc sống hằng ngày

Trang 10

Đổi mới phương pháp dạy học giúp cho học sinh hoạt động tích cực hơn, chủ động hơn Ngoài ra, giáo viên chủ động tổ chức và hướng dẫn cho học sinh biết cách lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập, tiếp tục vận dụng các ưu điểm của phương pháp truyền thống và dần làm quen với phương pháp dạy học mới

Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát triển tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hóa học Hóa học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, mà nội dung quan trọng nhất của môn hóa học

là nhằm giúp cho học sinh nắm vững kiến thức và vận dụng được kiến thức (chính là khả năng thực hành thí nghiệm và giải quyết tốt các bài tập) vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết, người học còn phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành giải bài tập Việc giải bài tập hóa học không những giúp rèn luyện kĩ năng vận dụng, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học mà còn có tác dụng rèn luyện tính tích cực, trí thông minh, óc sáng tạo cho học sinh, giúp các em

có hứng thú học tập Chính vì điều này việc giải bài tập hóa học ở trường phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hóa học, đặc biệt là việc sử dụng hệ thống các bài tập này theo hướng dạy học tích cực

Để giải được các dạng bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và các loại sách bài tập hóa học cơ bản và nâng cao khác dành cho học sinh lớp 8, đòi hỏi học sinh phải có

kĩ năng giải bài tập hóa học Thực tế là hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập này thường phải được hình thành và rèn luyện ngay từ lớp 8 Vì với nhiều khái niệm mới, các định luật, công thức hóa học, phản ứng hóa học, phương trình hóa học, công thức tính toán, … buộc học sinh phải nhớ và vận dụng một cách máy móc vào việc giải bài tập, thì lâu ngày học sinh cũng sẽ dần quên đi

Đồng thời, theo kết quả thăm dò ý kiến của 200 học sinh và một số giáo viên trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, số lượng học sinh không giải được các dạng bài tập hóa học lớp 8 cơ bản, đặc biệt là: không viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố; không tính được phân tử khối; không viết được công thức hóa học của hợp

Trang 11

chất do không nhớ hóa trị; không viết được phương trình hóa học do không biết cách viết hoặc không biết cách cân bằng phương trình; không biết tính theo công thức hóa học và phương trình hóa học do không áp dụng được công thức hoặc không thể chuyển đổi được công thức, … Từ kết quả khảo sát trên, số lượng học sinh không giải được các dạng bài tập hóa học cơ bản này chiếm một tỉ lệ khá cao

Chính vì thế, giáo viên cần thiết phải giúp học sinh hình thành và rèn luyện được những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học, từ đó giúp học sinh dễ dàng giải quyết các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo, giúp các em khắc sâu kiến thức và đồng thời cũng giúp học sinh dễ dàng lĩnh hội kiến thức mới

Nhận thức được vấn đề trên và cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Cao

Cự Giác tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập Hóa học 8 cho học sinh ở trường THCS”

2 Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn, xây dựng hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học cần hình thành cho học sinh lớp 8 và nghiên cứu áp dụng chúng theo hướng dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học, góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS

3 Đối tượng nghiên cứu

- Bài tập trong SGK hóa học 8

- Học sinh lớp 8 ở trường THCS An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

- Giáo viên dạy môn Hóa học 8 ở trường THCS An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

4 Giả thuyết khoa học

Việc nghiên cứu sử dụng những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học cho học sinh lớp 8 ở trường THCS đạt được hiệu quả cao theo hướng dạy học tích cực đòi hỏi người giáo viên nắm chắc bản chất các định hướng đổi mới phương pháp dạy học, nội dung kiến thức của chương trình đổi mới và lựa chọn được một hệ thống kĩ năng, bài tập đa dạng phong phú, chứa đựng những bài toán nhận thức, những vấn đề thực tiễn cần giải quyết để thông qua việc giải chúng trong giờ học dưới mọi hình thức đều rèn luyện

Trang 12

phát triển năng lực học tập, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng tìm tòi một cách độc lập, sáng tạo cho học sinh

5 Nhiệm vụ của đề tài

 Nghiên cứu tổng quan các cơ sở lý luận liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực

 Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chuẩn kiến thức, kĩ năng môn hóa học cấp THCS và chương trình giảm tải nội dung môn hóa học cấp THCS của Bộ giáo dục

 Lựa chọn – xây dựng hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học cần rèn luyện cho học sinh lớp 8

 Nghiên cứu việc rèn luyện hệ thống những kĩ năng cơ bản vào việc giải bài tập hóa học cho học sinh lớp 8

 Thực nghiệm sư phạm: Đánh giá hiệu quả các nội dung đề xuất về phương hướng rèn luyện hệ thống những kĩ năng có bản để giải bài tập hóa học cho học sinh lớp 8

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

- Phương pháp thu thập các nguồn tài liệu lí luận

- Phương pháp phân tích tổng hợp các nguồn tài liệu đã thu thập

 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp chuyên gia, quan sát các quá trình học tập, giảng dạy hóa học ở trường THCS

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: đánh giá hiệu quả các biện pháp rèn luyện những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học theo hướng dạy học tích cực

 Phương pháp thống kê toán học: xử lý phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Cái mới của đề tài

Trang 13

 Lựa chọn - xây dựng hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học cần rèn luyện cho học sinh ở trường THCS

 Đề xuất phương hướng rèn luyện hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh theo hướng dạy học tích cực đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THCS

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đặc điểm chung của học sinh ở trường THCS khi học tập môn hóa học

1.1.1 Tâm sinh lí

Trong tự nhiên, mọi sinh vật không ngừng phát triển và thay đổi Con người cũng vậy, kể từ khi sinh ra đời, cơ thể ngày một lớn lên, trí tuệ ngày thêm sâu sắc Có một khoảng thời gian đặc biệt mà có những bước phát triển nhảy vọt, đó là tuổi dậy thì Dậy thì bắt đầu từ 10 - 15 tuổi Thời gian này, các em đang học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”,… Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này

Theo tâm lí học lứa tuổi, học sinh lớp 8 ở trường THCS đang có những thay đổi, phát triển cả về thể chất lẫn tâm sinh lí Giai đoạn này trong các em có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, thích tự khẳng định mình, muốn tự mình quyết định các vấn đề xảy ra trong cuộc sống của chính bản thân mình Chính vì lẽ đó

mà một số vấn đề các em chưa hiểu, chưa thể giải quyết một cách đúng đắn, hợp lí nhất

là trong giao tiếp ứng xử và trong học tập

Đến tuổi này, các em đã có những vai trò nhất định, được gia đình thừa nhận như

là một thành viên tích cực của gia đình, cha mẹ không còn coi các em là bé nhỏ nữa,

mà đã quan tâm đến ý kiến của các em hơn, dành cho các em những quyền sống độc lập hơn, đề ra những yêu cầu cao hơn, các em được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình và đã biết quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ uy tín của gia đình Những

sự thay đổi đó đã làm cho trẻ ý thức được vị thế của mình trong gia đình và động viên, kích thích các em hoạt động tích cực, độc lập, tự chủ

Các em được tham gia vào nhiều dạng hoạt động ở nhà trường như: lao động, học tập ngoại khóa, văn nghệ, thể thao, công tác xã hội Thiếu niên thích làm những công

Trang 15

việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người lớn Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn và muốn được thừa nhận mình là người lớn Do tham gia công tác xã hội, mà quan hệ của học sinh trung học cơ

sở được mở rộng, kinh nghiệm cuộc sống phong phú lên, nhân cách của thiếu niên được hình thành và phát triển

Việc học tập ở trường trung học cơ sở là một bước ngoặc quan trọng trong đời sống của trẻ Ở các lớp dưới, trẻ học tập các hệ thống các sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể và đơn giản giữa các sự kiện và hiện tượng đó Ở trường trung học cơ sở, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những có sở của các khoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao Trong học tập, các em phải thật sự nhận thức được việc học tập của bản thân, xây dựng động cơ học tập đúng đắn, thái độ học tập tích cực, hiệu quả Nếu như không có một động lực từ bên trong thoi thúc các em, động cơ học tập không đúng đắn hoặc không có động cơ học tập thì việc học tập của các em như một thói quen, một việc làm thường nhật mà không có sự định hướng, không có sự hứng thú của những đam mê Chính vì thế mà một số em hời hợt, dửng dưng trước kết quả học tập của mình

Trong giao tiếp ứng xử với bạn bè, các em thích khẳng định mình, bảo vệ “cái tôi” của bản thân, cho nên khi bị hỏng một vài kiến thức nhỏ các em ngại hỏi lại thầy cô, bạn bè dẫn đến lỗ hỏng nghiêm trọng dẫn đến mất căn bản, các em học yếu môn học dẫn đến chán học, không chịu học, …

Theo kết quả thăm dò ý kiến học sinh thì tỉ lệ học sinh ngại hỏi khá cao (47%), dẫn đến việc các em bị hỏng kiến thức, mất căn bản, không hình thành được những kĩ năng

cơ bản để giải bài tập hóa học, mà hóa học ở lớp 8 là nên tảng cho các lớp tiếp theo Vì vậy giáo viên cần tạo niềm tin cho các em, xác định động cơ học tập đúng đắn và giúp các em hình thành, phát triển và rèn luyện các kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học cho học sinh

Trang 16

Khi vào lớp 8 các em học sinh bắt đầu làm quen với môn học mới – môn Hóa học

mà thực tế hóa học không xa lạ đối với các em, các loại hợp chất hóa học hiện hữu khắp mọi nơi, trong cơ thể sinh vật, trong thực phẩm, quần áo, vật dụng sinh hoạt thường ngày, …

Khi học các môn học khác học sinh có được kĩ năng tư duy, suy luận, chứng minh, giải thích các kết quả, … thì khi học môn Hóa học, các em có thêm được nhiều kĩ năng như: gọi tên các hóa học của các chất quen thuộc (than – cacbon, muối ăn – natri clorua, ) ; viết được công thức hóa học của các chất đó, biết tính toán thành phần phần trăm của các nguyên tố trong hợp chất hoặc phần trăm của các chất trong hỗn hợp; có thể viết được PTHH cho các phản ứng hóa học xảy ra trong đời sống; tính được nồng

độ dung dịch của chất; nhận biết các chất quen thuộc (khí oxi, hiđrô, khí cacbonic, hoặc dung dịch axit, bazơ, ), …

Với môn học mới có khá nhiều kiến thức liên quan gần gũi với thực tế, giải thích các hiện tượng xảy ra trong đời sống hằng ngày (Vì sao quả bong bóng khi bơm khí hiđro vào lại bay cao được, còn ta thổi hơi vào nó lại không bay cao? Hay tại sao ta không nên dùng nước để dập tắt đám lửa do xăng dầu cháy? …) Vấn đề quan trọng cốt lõi là làm cách nào để học sinh học tốt môn học, từ đó học sinh mới có thể yêu thích môn học này Vấn đề này được rất nhiều giáo viên quan tâm và nhận thấy rằng học sinh phải nắm vững kiến thức và các kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học thì mới có thể học tốt bộ môn Vì vậy, ta cần hiểu rõ học sinh và giai đoạn phát triển tâm lý tuổi thiếu niên, điều đó giúp chúng ta có biện pháp giáo dục đúng đắn để các em có hứng thú học tập bộ môn và phát triển một nhân cách toàn diện

1.1.2 Trình độ nhận thức

Tuy cùng học tập cùng một chương trình giáo dục giống nhau nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau, có điều kiện học tập, hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau, môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập, khả năng chiếm lĩnh tri thức của mỗi học sinh cũng sẽ khác nhau

Trang 17

Khả năng học tập, giải quyết vấn đề của mỗi học sinh rất khác nhau, cùng một độ tuổi nhưng về trình độ chung rất chênh lệch nhau Mỗi học sinh có ưu thế riêng nhưng nhìn chung các em chưa biết phát huy hết khả năng nổi trội của mình

- Một số học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu kiến thức chưa sâu, chưa vững, thiếu tự tin Điều này được thể hiện qua kết quả khảo sát ý kiến của học sinh: tỉ lệ học sinh không chuẩn bị bài trước ở nhà là 32%; không khai thác hết công dụng của sách giáo khoa chiếm tỉ lệ khá cao 55%; khi giải bài tập, học sinh còn bị

lệ thuộc vào sách giải thể hiện qua tỉ lệ học sinh trang bị sách giải bài tập hóa học 54%

- Qua kết quả phỏng vấn lấy ý kiến của giáo viên và học sinh: kĩ năng giải các dạng bài tập cơ bản trong sách giáo khoa của học sinh còn nhiều hạn chế như: viết sai kí hiệu hóa học, công thức phân tử của chất, gọi tên chất đa số còn chưa chính xác, chưa biết cách cân bằng phương trình hóa học, học thuộc bài nhưng không áp dụng được các tính chất của chất, vận dụng các công thức còn sai sót, chưa linh hoạt dẫn đến kết quả học tập cũng bị hạn chế

- Một số học sinh chưa có ý thức học tập tốt nên khi vào lớp lại không viết bài, không chủ động chiếm lĩnh kiến thức, không làm bài tập, gây mất trật tự dẫn đến kết quả học tập bị yếu kém

1.1.3 Nhu cầu học tập

Thực tế là học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong học tập bộ môn hóa học, vì đây là môn học mới, có nhiều kí hiệu, công thức tính toán, phương trình hóa học phức tạp, khó cân bằng, …học sinh ngại học nhất là hóa trị của nguyên tố hóa học, đến viết công thức hóa học (vì hai vấn đề này liên quan mật thiết với nhau), chuyển đổi công thức tính toán hay bị sai nên ngần ngại khi gặp các bài toán tính theo công thức hóa học và phương trình hóa học, …

Theo kết quả khảo sát ý kiến của học sinh thì tỉ lệ học sinh đạt điểm dưới trung bình khoảng 14%, đây là con số mà giáo viên bộ môn hóa học phải có nhiều cố gắng trong giảng dạy để hạ thấp tỉ lệ này Bằng cách giúp học sinh tạo động cơ học tập đúng đắn, kích thích lòng say mê học tập của học sinh từ lĩnh vực mà các em thích, đó là qua các

Trang 18

bài dạy có thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm do học sinh tự làm, thực hành, … Từ đó, giúp học sinh biết cách khai thác sách giáo khoa ở phần có thí nghiệm, thực hành, dần dần đến toàn bài và đến các bài tập, …

Vì vậy, phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện các kĩ năng là những yêu cầu cơ bản, quan trọng nhất của quá trình dạy học hóa học cho học sinh Trong dạy học hoá học, bài tập hóa học là một phương tiện và phương pháp rất có lợi thế để hình thành các kĩ năng và phát triển năng lực tư duy cho học sinh

1.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn hóa học cấp THCS

1.2.1 Chuẩn

Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng

để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí hoạt động, công việc, sản phẩm đó

1.2.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình môn học

Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu

về kiến thức, kĩ năng của môn học là học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn

vị kiến thức

1.2.3 Các mức độ về kiến thức, kĩ năng của môn hóa học cấp THCS

Các mức độ về kiến thức, kĩ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông

Về kiến thức:

Học sinh có một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản, ban đầu về hóa học bao gồm: (1) Hệ thống các khái niệm hóa học cơ bản

(2) Các kiến thức cơ bản về một số hợp chất vô cơ, hữu cơ quan trọng

Học sinh có được một số kiến thức cơ bản, kỹ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình, thiết bị sản xuất hóa học và bảo vệ môi trường

Về kĩ năng:

Học sinh có được một số kĩ năng phổ thông, cơ bản, thói quen làm việc khoa học,

đó là:

Trang 19

(1) Kĩ năng cơ bản, tối thiểu làm việc với hóa chất, với dụng cụ thí nghiệm (2) Biết cách làm việc khoa học, biết tổ chức hoạt động để chiếm lĩnh khoa học,

kĩ thuật

(3) Có kĩ năng giải các bài tập định tính, định lượng

(4) Biết vận dụng kiến thức

Về thái độ, tình cảm

(1) Giáo dục học sinh lòng say mê bộ môn hóa học

(2) Học sinh có niềm tin về sự tồn tại và sự biến đổi vật chất,cống mê tín dị đoan, thấy được sức mạnh của tri thức con người, đó chính là sức mạnh tiềm tàng của con người

(3) Học sinh có ý thức tuyên truyền, vận dụng những tiến bộ khoa học trong đời sống hằng ngày

(4) Học sinh có những phẩm chất, thái độ cần thiết trong cuộc sống

Kiến thức, kĩ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học sinh ở các mức độ từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức

Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo

1.2.4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông

Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông vừa là căn cứ, vừa là mục tiêu của giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá

1.3 Sự đổi mới nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng và theo nội dung chương trình giảm tải môn hóa học ở trường THCS

1.3.1 Đổi mới mục tiêu dạy học

Môn hóa học ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường THCS Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến

thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phân giáo dục đạo đức,

Trang 20

phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học

lên hoặc đi vào cuộc sống lao động

Chương trình môn hóa học ở trường THCS có nhiệm vụ giúp cho học sinh đạt được các mục tiêu cụ thể sau đây:

+ Một số chất vô cơ và hữu cơ quan trọng, gần gũi với đời sống và sản xuất như: oxi, hiđro, nước, một số kim loại và phi kim, một số hợp chất oxit, axit, bazơ, muối, hiđrocacbon, dẫn xuất hiđrocacbon, polime, …

Học sinh có được một số kiến thức cơ bản, kĩ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa học và môi trường

Về kĩ năng

Học sinh có được một số kĩ năng phổ thông cơ bản và thói quen làm việc khoa học như:

+ Biết cách làm việc khoa học và hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức

+ Biết thu thập, phân loại, tra cứu và sử dụng thông tin tư liệu

+ Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có thói quen học tập và tự học

+ Có kĩ năng cơ bản để làm việc với hóa chất, dụng cụ hóa học, quan sát, mô tả hiện tượng và tiến hành một số thí nghiệm hóa học đơn giản

+ Có kĩ năng giải bài tập hóa học và các phương pháp tính toán trong hóa học + Biết vận dụng kiến thức để góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn có liên quan

Về thái độ và tình cảm

Trang 21

+ Có hứng thú học hóa học, có niềm tin về sự tồn tại và biến đổi của vật chất, về vai trò của hóa học trong cuộc sống

+ Có ý thức tuyên truyền và vận dụng khoa học, hóa học vào đời sống

+ Có những phẩm chất, thái độ cần thiét của người lao động như: tính cẩn thận,

tỉ mỉ, kiên trì, chính xác, trung thực, …

+ Có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, hòa nhập với thiên nhiên, môi trường và cộng đồng

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, theo định hướng “hoạt động hóa người học”

Phương pháp dạy học (PPDH) tạo nên một hệ thống rất phong phú, rất đa dạng và

sẽ còn tiếp tục được sáng tạo thêm trong thực tiễn nhà trường.Với tư tưởng của công nghệ dạy học, chịu ảnh hưởng của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, hệ thống PPDH lại càng thay đổi cả về số lượng, loại hình lẫn bản chất

- Ta có thể nêu lên sau đây một số xu hướng cơ bản của sự đổi mới có tính chất sáng tạo của PPDH:

(1) Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản chất của PPDH

(2) Hoàn thiện chất lượng của những PPDH hiện có

(3) Sáng tạo ra những PPDH mới, bằng cách:

a) Liên kết nhiều PPDH riêng lẻ thành tổ hợp PPDH phức hợp

b) Liên kết PPDH với phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại (nghe – nhìn, kỹ thuật vi tính ) tạo ra các tổ hợp PPDH phức hợp có dùng kỹ thuật;

c) Chuyển hóa phương pháp khoa học (chung và riêng rộng) thành PPDH đặc thù của môn học; chẳng hạn như phương pháp grap dạy học hóa học

Trang 22

(4) Về mặt chức năng PPDH chuyển dần trọng tâm: Từ tính chất thông báo – tái hiện đại trà chung cả lớp sang tính chất tìm tòi – ơrixtic, phân hóa – cá thể hóa cao độ, tiên tiến theo nhịp độ cá nhân

- Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là nhằm tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học, tự tìm tòi và óc sáng tạo của người học

- Vận dụng các phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy các yếu tố tích cực và những ưu điểm của các PPDH truyền thống với các PPDH hiện đại nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong học tập Chú trọng vận dụng hiệu quả các PPDH đặc thù bộ môn như: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học theo sơ đồ tư duy, …

- Hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, biết sử dụng SGK và các tư liệu tham khảo một cách có hiệu quả

- Tổ chức các hình thức học tập: cá nhân, học theo nhóm, hợp tác, …

- Tăng cường sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học, thực hiện đầy đủ các bài thực hành

- Không áp đặt, gò bó học sinh trong tiết dạy mà giáo viên có thể tổ chức, điều khiển học sinh hoạt động học tập sáng tạo, hiệu quả theo mục tiêu của bài học

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động của người học, chống lại thói quen học tập thụ động truyền thụ kiến thức một chiều

1.3.3 Đổi mới nội dung dạy học

Chương trình, sách giáo khoa (SGK) hóa học THCS được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc xây dựng chương trình đồng thời trong giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay, chương trình cần chú trọng đến những vấn đề mang tính định hướng và đổi mới của giáo dục:

- Chú trọng tính thiết thực trên cơ sở đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, đặc trưng bộ môn, chú ý cập nhật kiến thức môn học, bổ sung các kiến thức thiết yếu của thời đại như các kiến thức về môi trường

- Chú trọng đến việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy, năng lực hành động

Trang 23

- Chú trọng thực hành thí nghiệm, tăng số lượng thí nghiệm và số bài thực hành thí nghiệm

- Chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

và có kiểm tra đánh giá năng lực thực hành, vận dụng kiếm thức và kĩ năng thí nghiệm hóa học

- Chú trọng đến việc luyện tập và rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh

- Chú trọng mối liên hệ liên môn và liên thông, đảm bảo yêu cầu phân hóa học sinh và giảm tải

Trên cơ sở những định hướng đổi mới chương trình và SGK hóa học THCS, chương trình và SGK hiện hành đã có nhiều điểm mới cả về nội dung, cấu trúc chương trình và sự trình bày trong SGK, cụ thể là:

- Về thời gian: có sự tăng số giờ luyện tập, thực hành

- Thay đổi cấu trúc các chương cho phù hợp các nguyên tắc, định hướng đổi mới chương trình

- Sự đổi mới trong trình bày của SGK hóa học THCS tăng kênh hình, giảm kênh chữ

1.3.4 Đổi mới phương pháp đánh giá

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình xác định mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh so với mục đích dạy học từ đó giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy – học cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả dạy học như mục tiêu chung đã đặt ra

- Phải bám sát mục tiêu môn học

- Đảm bảo tỉ lệ các mức độ kiến thức, kĩ năng: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, sáng tạo

- Coi trọng đánh giá toàn diện: kiến thức, kĩ năng, thái độ

- Đảm bảo nội dung kiểm tra gần gũi, sát với thực tế ở địa phương

Đổi mới kiểm tra đánh giá cần kết hợp giữa: kiểm tra năng lực học tập của học sinh, kiểm tra đánh giá năng lực thực hành, vận dụng kiến thức và kĩ năng thí nghiệm hóa học

1.4 Khái niệm về kĩ năng giải bài tập

Trang 24

1.4.2 Kĩ năng giải bài tập

Kĩ năng giải bài tập là khả năng phân tích đề bài (đọc, tóm tắt đề, ), lựa chọn phương pháp giải và trình bày được bài giải

1.5 Tác dụng của bài tập hóa học trong dạy học ở trường THCS

1.5.1 Khái niệm về bài tập hoá học

Trong thực tiễn dạy học cũng như trong tài liệu giảng dạy, các thuật ngữ “bài tập”,

“bài tập hoá học” được sử dụng cùng các thuật ngữ “bài toán”, “bài toán hoá học” Ở từ điển tiếng Việt “bài tập” và “bài toán” được giải nghĩa khác nhau: Bài tập là bài ra cho học sinh để vận dụng những điều đã học; bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học Trong một số tài liệu lý luận dạy học thường người ta dùng thuật ngữ “bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng (có tính toán) trong đó học sinh phải thực hiện những phép toán nhất định

Trong tài liệu lý luận dạy học tác giả Dương Xuân Trinh phân loại bài tập hoá học thành: bài tập định lượng (bài toán hoá học), bài tập lý thuyết, bài tập thực nghiệm và bài tập tổng hợp Còn theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã dùng bài toán hoá học để chỉ bài toán định lượng và cả những bài toán nhận thức (chứa cả yếu tố lý thuyết và thực nghiệm) Các nhà lý luận dạy học của Liên Xô cũ lại cho rằng: Bài tập đó là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng Câu hỏi đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phải tiến hành một hoạt động tái hiện bất luận trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm Bài toán đó là bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động sáng tạo, có thể là hình thức trả lời

Trang 25

miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng xếp vào hai nhóm bài toán định lượng (có tính toán) và bài toán định tính

Ở nước ta theo cách dùng tên sách hiện nay: “Bài tập hoá học 8”, “Bài tập hoá học 9”, vv thì thuật ngữ bài tập có sự tương đồng với quan niệm trên

Tóm lại: Bài tập hóa học là khái niệm bao hàm tất cả, giải bài tập hoá học học sinh không chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến thức mới và vận dụng kiến thức cũ trong những tình huống mới

1.5.2 Tác dụng củng cố và phát triển kiến thức (trí dục)

- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc

- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập học sinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập

- Rèn luyện kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh

- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất cũng như bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng

- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy

Bài tập hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển

tư duy hoá học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kĩ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình Trước khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề bài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm,

Trang 26

thực hiện phép đo Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao

1.5.3 Tác dụng phát triển tư duy cho học sinh

Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân

1.5.4 Tác dụng rèn luyện kĩ năng thực hành hóa học và liên hệ kiến thức với thực

tế

- Kĩ năng thí nghiệm hóa học (Bài tập thực nghiệm)

Khi tìm hiểu về các loại bài tập trong sách giáo khoa hóa học lớp 8, chúng ta thấy loại bài tập thực nghiệm còn chiếm tỉ lệ khá nhỏ so với các dạng bài tập khác

Bài tập thực nghiệm có tác dụng không những về mặt củng cố lý thuyết mà còn có tác dụng lớn trong việc rèn luyện các kĩ năng thực hành; có ý nghĩa lớn trong việc gắn liền giữa lý thuyết và thực tiễn,

- Kĩ năng giải thích các ứng dụng của hóa học THCS trong thực tế (đời sống, sản xuất, kinh doanh, sức khỏe, môi trường, hiện tượng tự nhiên, )

Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư tưởng đạo đức Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tư tưởng

về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới Thông qua việc giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất đạo đức, độc lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng thú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung, giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, phát triển tư duy logic, thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học vô thần trong việc giải thích các vấn đề có liên quan trong thực tiễn đời sống, sản xuất

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài luận văn:

1 Đặc điểm chung của học sinh ở trường THCS khi học tập môn hóa học

2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học cấp THCS

3 Sự đổi mới nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và theo nội dung chương trình giảm tải bộ môn hóa học ở trường THCS

4 Khái quát về kĩ năng giải bài tập và tác dụng của bài tập hóa học trong dạy học ở trường THCS

5 Tiến hành điều tra, thu thập ý kiến về thực trạng học tập bộ môn hóa học, đặc biệt là các kĩ năng giải bài tập hóa học của học sinh ở trường trung học cơ sở, giúp chúng tôi có định hướng tích cực trong quá trình thực hiện đề tài

Thực tế cho thấy, để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, giáo viên phải thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, thu hút, kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo động cơ, phương pháp học tập đúng đắn cho học sinh Giáo viên phải phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của các em; hướng dẫn cho các em phương pháp học tập mà quan trọng nhất là phương pháp tự học, tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, sách bài tập phù hợp với trình độ, năng lực của các em để cuối cùng là cả thầy và trò đều đạt mục tiêu giáo dục đề ra

Trang 28

Chương 2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC 8

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS 2.1 Phương pháp giải bài tập hóa học cho học sinh lớp 8 ở trường THCS

Ở chương trình trung học, hóa học là bộ môn được đưa vào chương trình học sau cùng Đặc điểm của bộ môn hóa là mang tính thực nghiệm cả về định tính và định lượng Khái niệm hóa học luôn trừu tượng, khó hiểu, không quan sát bằng mắt thường được (như nguyên tử, phân tử…) Khi học sinh học bộ môn này cần kết hợp các kĩ năng cần thiết như: Kĩ năng quan sát, tổng hợp, phân tích, đánh giá, suy luận; kĩ năng vận dụng kiến thức vào bài tập; kĩ năng tính toán Vì vậy nó đòi hỏi ở học sinh (HS) khả năng tư duy, sự nhạy bén, thông minh, … để hiểu rõ những khái niệm khá trừu tượng, những hiện tượng hóa học khá thú vị

Riêng kĩ năng tính toán, đòi hỏi học sinh phải làm thật nhiều bài tập để hình thành và rèn luyện cho mình có được hệ thống những kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học Để có được những kĩ năng này, bắt buộc học sinh cần phải nắm được trọng tâm của bài học, các định nghĩa, khái niệm, quan trọng hơn là phải hiểu được bản chất của vấn đề, biết cách vận dụng được các khái niệm - định luật trên Và theo kết quả khảo sát thực tế, khi học sinh học môn hóa học thường gặp khó khăn ở một số vấn đề như sau:

+ Không ghi đúng KHHH của nguyên tố và không viết được kí hiệu của nguyên tử, phân tử

+ Không thuộc nguyên tử khối và không tính được khối lượng mol phân tử, dẫn đến không tính toán được các bước tiếp theo

+ Không thuộc hóa trị và lập công thức sai

+ Không thuộc tính chất hóa học và viết phương trình hóa học sai thì sẽ giải sai bài toán

+ Không thuộc tính chất hóa học và không viết được sơ đồ chuyển hóa và cũng không nhận biết được các chất

+ Không thuộc các công thức và tính toán sai

+ Không thuộc các bước giải bài toán tính theo phương trình hóa học

Trang 29

+ Sai đơn vị, đổi mol sai

+ Hay nhầm lẫn giữa tính % và C%, thể tích dung dịch và thể tích chất khí ở điều kiện tiêu chuẩn

+ Viết ẩu các chỉ số từ đề bài, ghi ẩu kí hiệu hóa học

Để làm tốt phần này, học sinh cần nhớ kí hiệu và hóa trị của các nguyên tố, nắm vững tính chất hóa học và phương pháp điều chế của các chất, chú ý các hiện tượng hóa học xảy ra, viết được các PTHH minh họa và tính chất vật lí của chất Trong đó, một số nội dung trọng tâm mà học sinh cần phải nắm là:

- Viết KHHH của nguyên tố, kí hiệu của nguyên tử, CTHH của phân tử

- Viết phương trình phản ứng: phải nắm vững phần tính chất hóa học của các

chất, suy nghĩ xem loại chất đó có thể tác dụng được với những tác chất nào?

- Chuỗi phản ứng: Nắm vững cả tính chất hóa học và điều chế, mối quan hệ

giữa các chất, … kết hợp với điều kiện phản ứng để suy luận tìm công thức các chất (đối với dạng khó), nhớ cân bằng và ghi rõ điều kiện nếu có

- Nhận biết chất: nắm được thuốc thử cần dùng, dấu hiệu và viết phương trình

phản ứng kèm dấu hiệu

- Giải thích hiện tượng, chứng minh: viết được phản ứng xảy ra ở từng giai

đoạn, chú ý sự tạo kết tủa – bay hơi hay sự thay đổi màu sắc, mùi, …

- Phương pháp chung để giải bài toán tính theo PTHH cho học sinh lớp 8:

Nắm vững được lý thuyết, có một số kĩ năng tính toán (áp dụng được công thức, tính toán theo phương trình phản ứng, …)

+ Tóm tắt đề: liệt kê các dữ kiện của đề bài (các số liệu: khối lượng, thể tích, nồng độ; mối quan hệ giữa các chất phản ứng; điều kiện xảy ra phản ứng, …) theo yêu cầu của đề bài

+ Viết tất cả các phương trình phản ứng xảy ra (nên sắp xếp theo thứ tự, nhớ cân bằng, ghi điều kiện nếu có)

+ Thiết lập mối quan hệ giữa dữ kiện đề bài với yêu cầu đề bài: tính số mol chất

từ dữ kiện đề bài cho, kê vào PTHH và suy ra mol chất cần tìm

Trang 30

+ Sử dụng các thủ thuật tính toán, áp dụng các định luật cơ bản của hóa học (định luật bảo toàn khối lượng, …), các công thức chuyển đổi để giải quyết vấn đề

+ Kiểm tra lại và kết luận

Khi ứng dụng một công thức phải hướng dẫn các em cách hoán đổi các đại lượng trong công thức, đổi đơn vị từ ml ra lít… nếu được GV có thể yêu cầu các em học thuộc các công thức hoặc chỉ cho các em biết “mẹo” để chuyển đổi công thức từ các công thức đơn giản mà không sợ bị sai

Trong quá trình dạy và học hóa học, bên cạnh những kiến thức về lí thuyết, bài tập hóa học cũng góp phần rất quan trọng trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức của học sinh Bài tập giúp HS củng cố mở rộng, đào sâu kiến thức, rèn luyện cho các em kĩ năng vận dụng kiến thức vào những trường hợp cụ thể, nhờ đó mà kiến thức tiếp thu được vững chắc hơn Giáo viên (GV) cần phải biết phân loại HS, cũng như phân loại bài tập để chọn những bài tập phù hợp cho từng đối tượng tránh gây sự nhàm chán cũng như quá sức đối với các em GV cho HS làm các dạng bài tập thật đơn giản nhằm giúp các em nắm được kiến thức cơ bản, cho các em làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập để HS yếu kém có thể nhớ được các công thức, nắm vững phương pháp chung

để giải các bài tập hóa học dạng phức tạp hơn

Bên cạnh phương pháp giảng dạy và xác định trọng tâm trong từng bài, GV phải xác định kiến thức cơ bản tổng quát nhất của chương trình, tóm tắt lại những gì cốt lõi

mà HS cần nắm Không yêu cầu cao nơi các em, chỉ yêu cầu những cái thật cơ bản với mục đích cuối cùng là các em có được những kiến thức cơ bản nhất về hóa học, có thể vận dụng các kiến thức đó vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, đặc biệt là học sinh phải có được các kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học lớp 8, tạo nền tảng cho việc học môn hóa học ở các lớp tiếp theo

2.2 Các kĩ năng giải bài tập hóa học cơ bản của học sinh lớp 8 ở trường THCS

Trang 31

2.2.1 Nhóm các kĩ năng chung khi giải bài tập

Kĩ năng “Đọc và phân tích kỹ đề bài”

Đây là kĩ năng rất quan trọng cần có được ở học sinh khi học bất kì môn học nào,

từ Ngữ văn, Toán, Vật lí, Có đọc kĩ và phân tích đúng “đề bài cho gì” và “yêu cầu học sinh cần phải làm gì” để đạt được mục đích của đề bài đặt ra Đối với các môn tự nhiên, học sinh phải thận trọng đọc và phân tích dữ kiện đề bài cho và yêu cầu tính toán, tìm hoặc chứng minh, giải thích vấn đề nào, Bước này quyết định cả hướng đi của bài giải

Học sinh muốn có được kĩ năng này, đòi hỏi phải tường xuyên rèn luyện, đọc và làm thật nhiều bài tập, từ những dạng bài tập tương tự nhau đến những dạng bài tập khác nhau, tìm ra những vấn đề đã cho và cần tìm

Ví dụ 1: Cho 36,5 gam dung dịch HCl tác dụng hết với kim loại kẽm, thu được

Nhưng nếu học sinh đọc thật kĩ đề bài thì sẽ thấy con số 36,5g này là khối lượng dung dịch, không thể tính trực tiếp ra số mol nếu như không có thêm đại lượng C% Và lúc này học sinh sẽ phát hiện chìa khóa của bài chính là con số 2,24 lít khí (ở đktc), học sinh sẽ phải dùng dữ liệu này để qui đổi ra mol, rồi sau đó kê mol vào PTHH và tính toán theo yêu cầu của đề bài

Đối với học sinh lớp 8, các em mới bắt đầu làm quen với môn Hóa học, các đại lượng, kí hiệu rất mới, một số lại rất dễ nhầm lẫn và đặc biệt hơn là dễ nhầm các đại lượng của môn Hóa học với môn Vật lí Tuy nhiên kĩ năng đọc và phân tích đã được hình thành và phát triển ở các môn học khác thậm chí ngay từ các lớp tiểu học

Tuy vậy, kĩ năng này vẫn cần được chính các em trau dồi, phát triển hơn nữa Bởi

vì càng học lên cao, các dạng bài tập hóa học càng đa dạng, phức tạp hơn, nhiều ẩn số

Trang 32

hơn, càng khó giải hơn Vì thế các em sẽ cảm thấy rất bối rối khi đối diện với chúng, nếu không có định hướng được phương pháp giải sinh ra thiếu tự tin, từ đó dẫn đến các

em mau nãn và dần dần sẽ chán học môn Hóa học, thậm chí sẽ trở nên học yếu bộ môn Bên cạnh kĩ năng này, để có được định hướng cách giải chính xác đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng tóm tắt được đề bài

Kĩ năng “Tóm tắt được đề bài”

Kĩ năng này cũng khá quan trọng như kĩ năng đọc và phân tích đề bài Bởi vì học sinh có xác định được những vấn đề, những dữ liệu đề bài cho, biết viết thành các kí hiệu đúng, từ đó sẽ xác định được các bước giải cần thực hiện để tìm ra đáp án cho yêu cầu của đề bài

Trở lại ví dụ trên, nếu học sinh nhầm lẫn 36,5g dung dịch HCl mà ghi kí hiệu thành m HCl36 5g, , nếu như thế thì sẽ đi đến việc tìm số mol từ mHCl Còn nếu học sinh tóm tắt đúng đề bài thì đại lượng này phải là mddHCl Ta không thể tính trực tiếp ra số mol được vì đề bài không cho dữ liệu C% của dung dịch HCl Bắt buộc học sinh phải tìm số mol từ thể tích khí (VK = 2,24 lít) mà ở đây là khí hiđro Từ đó, học sinh sẽ kê mol vào PTHH để tính toán theo yêu cầu của đề bài

Như vậy, cơ bản học sinh đã có được hướng đi chính xác cho việc giải quyết các yêu cầu của đề bài Vấn đề còn lại là trong quá trình tính toán học sinh trình bày cách giải và hình thức lập luận như thế nào Vấn đề này thuộc về kĩ năng trình bày lời giải cho bài toán

Kĩ năng “Trình bày lời giải”

Cùng với hai kĩ năng đã nêu, kĩ năng “Trình bày lời giải” học sinh đã được rèn luyện ngay từ các lớp ở bậc tiểu học, nhất là ở môn Toán, dần lên cấp 2, kĩ năng này tiếp tục được rèn luyện ở các môn Toán, Vật lí, Trình bày lời giải đúng, mạch lạc, lôgic sẽ làm cho bài giải trở nên thuyết phục hơn đối với người đọc

Trở lại ví dụ trên, bài giải được trình bày như sau:

Trang 33

* Tóm tắt đề: 2

ddHCl H ZnCl ZnCl Zn Zn ddHCl

cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường THCS

2.2.2 Một số kĩ năng cơ bản khi giải bài tập hóa học dành cho học sinh lớp 8

Hóa học là một khoa học vừa lí thuyết, vừa thực nghiệm, hóa học có nhiều khả năng phát triển những năng lực nhận thức cho học sinh Việc nghiên cứu các vấn đề lí thuyết cơ bản của chương trình như các khái niệm nguyên tử, phân tử, phản ứng hóa

Trang 34

học, có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển tƣ duy, năng lực nhận thức cho học sinh Bài tập hóa học là một phần khá quan trọng trong việc góp phần phát triển năng lực tƣ duy, năng lực nhận thức ở học sinh, bài tập hóa học vừa giúp các em củng cố lại các kiến thức vừa học, vừa có thể giúp các em mở rộng kiến thức (nhƣ các bài tập thực nghiệm), vừa giúp các em kiểm tra lại kiến thức của mình

Để giải đƣợc các dạng bài tập khác nhau từ mức độ đơn giản đến phức tạp, đòi hỏi học sinh phải có hệ thống những kĩ năng cơ bản nhƣ sau:

Kĩ năng 1: Viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố

Đây là kĩ năng cơ bản nhất cần phải có khi học sinh học môn hóa học ở bất cứ cấp học, bậc học nào Học sinh có viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố thì học sinh mới

có thể thực hiện các yêu cầu tiếp theo của quá trình chiếm lĩnh kiến thức hóa học Thực

tế cho thấy rằng, nếu nhƣ học sinh không có đƣợc kĩ năng này thì mọi vấn đề hóa học tiếp theo sau học sinh sẽ rất khó tiếp thu và thậm chí là không thể nào tiếp thu đƣợc Khi đó học sinh sẽ cảm thấy môn hóa học quá rắc rối, thậm chí là môn học “cực kì khó hiểu”, dẫn đến không thích, không muốn học môn này

Để giúp học sinh nắm vững kĩ năng này, đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tƣ rất nhiều ngay từ các tiết dạy mở đầu của môn Hóa học Tạo không khí thoải mái khi tiếp xúc với môn học, từ đó khơi dậy niềm hứng thú, say mê bộ môn Biết đề ra các bài tập cân đối, vừa sức với các đối tƣợng học sinh nhằm tạo động lực cho học sinh tiếp tục tìm tòi, khám phá kiến thức từ môn hóa học qua các tiết học, qua các loại sách bài tập, sách tham khảo,

Đối với kĩ năng này, điều thật sự cần thiết là học sinh phải ghi nhớ “Một số nguyên tố hóa học” ở bảng 1, trang 42 (SGK Hóa học 8, Tác giả Lê Xuân Trọng – Tổng chủ biên (2004), NXBGD) Khi học sinh ghi nhớ đƣợc thông tin về một số nguyên tố này thì việc áp dụng vào giải các bài tập hóa học rất dễ dàng Khi học sinh

đã ghi nhớ thông tin trong bảng này, học sinh có thể vận dụng chúng vào việc giải quyết các yêu cầu của bài học hoặc bài tập, dần dần kĩ năng viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố đƣợc hình thành và phát triển

Trang 35

Để ghi nhớ thông tin về các nguyên tố trong bảng 1 không phải là vấn đề đơn giản,

vì các tên nguyên tố khá mới lạ, các kí hiệu hóa học (KHHH) dễ bị nhầm lẫn, nguyên

tử khối (NTK), hóa trị lại càng rắc rối hơn Nhằm giúp các em ghi nhớ các thông tin này, giáo viên có thể soạn ra một số bài tập cho các em thực hiện trên lớp và ngay cả khi về nhà như với các dạng như sau:

Ví dụ 2: Hãy viết KHHH và cho biết NTK của các nguyên tố hóa học sau:

a) Hiđro, cacbon, nitơ, oxi, photpho, lưu huỳnh, clo, brom

b) Natri, magie, nhôm, kali, canxi, mangan, sắt, đồng, kẽm, bạc, bari

Ví dụ 3: Hãy cho biết tên và KHHH của các nguyên tố hóa học có NTK như sau:

a) 1, 12, 14, 16, 23, 24, 27, 32

b) 35.5, 39, 40, 55, 56, 64,65, 80

Định hướng cách giải: HS phải dựa vào các thông tin về tên nguyên tố, KHHH

và nguyên tử khối của một số nguyên tố hóa học ở bảng 1, trang 42 (SGK Hóa học 8)

để giải quyết yêu cầu của đề bài

Với các bài tập dạng này khá đơn giản, giáo viên cần cho các em làm lặp lại nhiều lần, có chú ý hoán đổi các nguyên tố thành nhiều nhóm khác nhau để các em làm cho quen và dần dần sẽ ghi nhớ, khắc sâu các thông tin cơ bản về một số nguyên tố hóa học

Trang 36

thường gặp ở chương trình hóa học lớp 8 Từ đó, các thao tác giải bài tập dạng này sẽ trở nên quen thuộc và từ đó sẽ hình thành và rèn được kĩ năng viết đúng KHHH của nguyên tố, nguyên tử, phân tử của chất Khi đã có được kĩ năng viết đúng KHHH của nguyên tố thì khi học về nguyên tử, phân tử học sinh sẽ dễ dàng viết được công thức của nguyên tử hoặc phân tử

Kĩ năng 2: Viết đúng công thức nguyên tử, phân tử

Kĩ năng “Viết đúng công thức nguyên tử, phân tử” là một trong những kĩ năng cơ bản quan trọng nhất khi học môn hóa học 8 – mở đầu về hóa học Khi học sinh đã có được kĩ năng viết đúng kí hiệu hóa học của nguyên tố thì các bài học tiếp theo về nguyên tử, phân tử học sinh sẽ dễ dàng hiểu và biểu diễn đúng kí hiệu của nguyên tử, phân tử của các đơn chất và một số hợp chất đơn giản quen thuộc Cũng thông qua đó, học sinh được làm quen với cách tính nguyên tử khối, phân tử khối của các chất để dễ dàng thực hiện các phép tính toán trong hóa học sau này Từ đó, học sinh sẽ rèn được

kĩ năng “Viết đúng công thức nguyên tử, phân tử” làm nền tảng cho việc học môn hóa học tiếp theo sau

Ví dụ 4: Hãy dùng chữ số và KHHH để diễn đạt các ý sau:

a) Nguyên tố oxi, nguyên tố sắt, nguyên tố kẽm

b) Ba nguyên tử natri, bốn nguyên tử nhôm, năm nguyên tử nitơ

c) Hai phân tử hiđro, ba phân tử kẽm, bốn phân tử clo

Ví dụ 5: Các cách viết 2 Ca, 3 Cl2, 4 N2, 5 Fe lần lượt có ý nghĩa gì?

Ví dụ 6: Hãy tính phân tử khối của các phân tử sau: CO2, CH4, H2O, NaCl

Định hướng cách giải: HS dựa vào kiến thức về KHHH của nguyên tố, nguyên

tử khối của nguyên tử, cách biểu diễn nguyên tử, phân tử (ở các trạng thái rắn, lỏng, khí) để học sinh giải các bài tập dạng này

Trang 37

Ví dụ 5:

- Cách viết 2 Ca có ý chỉ 2 nguyên tử canxi

- Cách viết 3 Cl2 có ý chỉ 3 phân tử khí clo

- Cách viết 4 N2 có ý chỉ 4 phân tử khí nitơ

- Cách viết 5 Fe có ý chỉ 5 nguyên tử sắt

Ví dụ 6:

- Phân tử khối của khí cacbonic (CO2) bằng: 12.1+16.2 = 44 (đvC)

- Phân tử khối của khí mêtan (CH4) bằng: 12.1+1.4 = 16 (đvC)

- Phân tử khối của nước (H2O) bằng: 1.2+16.1= 18 (đvC)

- Phân tử khối của muối ăn (NaCl) bằng: 23.1+35,5 = 58,5 (đvC)

Khi học sinh đã có được kĩ năng viết đúng CTPT của nguyên tử, phân tử thì vấn

đề tiếp theo là các em phải biết cách lập CTPT của các chất khác nhau dựa trên cơ sở qui tắc hóa trị

Kĩ năng 3: Lập được CTPT của chất dựa vào qui tắc hóa trị và ngược lại

Việc lập được CTPT của các hợp chất rất phức tạp nếu như học sinh không nhớ hóa trị của các nguyên tố Để lập được CTPT của các chất đòi hỏi học sinh phải thuộc hóa trị của một số nguyên tố thường gặp ở bảng 1, trang 42 (SGK Hóa học 8, Lê Xuân

Trọng (2004), NXBGD) Học sinh phải làm thật nhiều bài tập dạng lập CTPT của một

chất dựa vào hóa trị và dạng tính hóa trị của nguyên tố khi biết CTPT của chất đó Khi

học sinh làm quen, thành thạo thì dần dần sẽ rèn luyện được kĩ năng “Lập được CTPT của chất dựa vào qui tắc hóa trị và ngược lại” Đây cũng là một trong những kĩ năng quan trọng cho việc học hóa học về sau trong chương trình hóa học lớp 8 và cả chương trình hóa học ở các cấp, bậc tiếp theo

Ví dụ 7: Viết CTHH và tính phân tử khối của các hợp chất sau:

a) Canxi oxit (vôi sống), biết trong phân tử có 1 Ca và 1 O

b) Đồng sunfat, biết trong phân tử có 1 Cu và 1 S và 4 O

Định hướng cách giải: Học sinh phải nhớ lại công thức chung của hợp chất là

AxBy , AxByCz , trong đó A, B, C là kí hiệu của nguyên tố; còn x,y,z (gọi là chỉ số) là số

nguyên chỉ số nguyên tử của mỗi nguyên tố có trong phân tử của hợp chất Và cách

Trang 38

tính phân tử khối của chất học sinh đã đƣợc học và đã đƣợc làm nhiều bài tập dạng này Vậy là học sinh chỉ cần áp dụng hai mảng kiến thức trên vào giải bài tập

Đề bài đã cho số lƣợng nguyên tử của từng nguyên tố trong phân tử, học sinh chỉ cần ghép chúng lại theo thứ tự thì đã xong đƣợc yêu cầu thứ nhất của đề bài và còn lại

là tính phân tử khối của các phân tử vừa lập đƣợc

Giải

a) Canxi oxit có CTPT là: CaO, có PTK bằng: 40.1+16.1 = 56 (đvC)

b) Đồng sunfat có CTPT là: CuSO4, có PTK bằng: 64.1+32.1+16.4 = 160 (đvC)

Ví dụ 8: Lập công thức hóa học của những hợp chất sau:

a) P(III) và H b) Fe(III) và O c) Ca(II) và NO3(I)

Định hướng cách giải: Từ những bài tập đầu tiên về lập CTHH của hợp chất, học

sinh phải đặt công thức hóa học của hợp chất là A B a x y b với A, B là kí hiệu của nguyên tố

mà đề bài cho; còn a, b là hóa trị của nguyên tố và x, y là chỉ số cần xác định theo qui

tắc hóa trị (a.x = b.y) Sau đó, HS thiết lập tỉ lệ x b

Đặt công thức hóa học của hợp chất tạo bởi P(III) và H là PxHy

y III

Vậy công thức hóa học là: PH3

b) Fe(III) và O

Đặt công thức hóa học của hợp chất tạo bởi Fe(III) và O là FexOy

y III

Vậy công thức hóa học là: Fe2O3

c) Ca(II) và NO3(I)

Trang 39

Đặt công thức hóa học của hợp chất tạo bởi Ca(II) và NO3(I) là Cax(NO3)y

y II

Vậy công thức hóa học là: Ca(NO3)2

Ví dụ 9: Hãy tính hóa trị của các nguyên tố đồng Cu, photpho P, silic Si và sắt Fe

trong các công thức hóa học sau: Cu(OH)2, PCl5, SiO2, Fe(NO3)3

Định hướng cách giải: Để tìm đƣợc hóa trị của nguyên tố trong công thức hóa

học, học sinh phải đặt ẩn số x hoặc y là hóa trị của nguyên tố cần tìm, dựa vào qui tắc

hóa trị để suy ra hóa trị của nguyên tố đó

Giải

* Trong công thức hóa học Cu(OH)2

Gọi x là hóa trị của đồng (Cu)

Theo qui tắc hóa trị, ta có: 1.x = 2.I => x = II

Vậy đồng (Cu) có hóa trị là II

* Trong công thức hóa học PCl5

Gọi x là hóa trị của photpho (P)

Theo qui tắc hóa trị, ta có: 1.x = 5.I => x = V

Vậy photpho (P) có hóa trị là V

* Trong công thức hóa học SiO2

Gọi x là hóa trị của silic (Si)

Theo qui tắc hóa trị, ta có: 1.x = 2.II => x = IV

Vậy silic (Si) có hóa trị là IV

* Trong công thức hóa học Fe(NO3)3

Gọi x là hóa trị của sắt (Fe)

Theo qui tắc hóa trị, ta có: 1.x = 3.I => x = III

Vậy sắt (Fe) có hóa trị là III

Khi học sinh làm quen với các dạng bài tập nhƣ trên thì dần dần sẽ rèn đƣợc kĩ năng “Lập đƣợc CTPT của chất dựa vào qui tắc hóa trị và ngƣợc lại” Nhƣ vậy, học sinh sẽ có thể giải đƣợc nhiều dạng bài tập lập công thức hóa học ở mức độ cao hơn,

Trang 40

khó hơn ví dụ như tìm công thức hóa học viết sai, giải thích và sửa lại cho đúng hoặc tìm công thức hóa học đúng cho hợp chất,

Ví dụ 10: Cho biết công thức hóa học hợp chất của nguyên tố X với O là XO và của

nguyên tố Y với H là YH3 (X, Y là những nguyên tố nào đó) Hãy chọn công thức hóa học đúng cho hợp chất giữa X và Y

Định hướng cách giải: Học sinh phải dựa vào hóa trị của oxi để suy ra hóa trị

của X, tương tự dựa vào hóa trị của H để suy ra hóa trị của Y Đặt công thức hóa học của X và Y, dựa vào qui tắc hóa trị để xác định công thức hóa học hợp chất của X và Y

Giải

Trong công thức hóa học XO: X có hóa trị II

Trong công thức hóa học YH3: Y có hóa trị III

Đặt công thức hóa học của hợp chất của X và Y là XxYy

y II

Vậy công thức hóa học của hợp chất là X3Y2

Học sinh rèn được kĩ năng lập công thức phân tử (công thức hóa học) của hợp chất rất quan trọng vì nó liên quan đến nhiều kĩ năng khác trong chương trình hóa học, viết được công thức của chất, học sinh mới có thể viết được phương trình hóa học và

sơ đồ chuyển hóa của các chất

Kĩ năng 4: Lập được phương trình hóa học

Khi học về hóa học, học sinh được biết các khái niệm hóa học: chất, nguyên tử, phân tử, và sự chuyển hóa các chất Để biểu diễn ngắn gọn quá trình biến đổi chất này thành chất khác (phản ứng hóa học) ta dùng phương trình hóa học Như vậy, học sinh phải nhận biết đâu là hiện tượng vật lí (không có phản ứng hóa học xảy ra) và hiện tượng hóa học (có phản ứng hóa học xảy ra) để viết phương trình hóa học cho phản ứng hóa học đó

Để lập được phương trình hóa học đúng, học sinh phải thực hiện 3 bước như sau: + Bước 1: Viết sơ đồ phản ứng, gồm công thức hóa học của các chất phản ứng

và sản phẩm

Ngày đăng: 16/09/2021, 15:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Để ghi nhớ thơng tin về các nguyên tố trong bảng 1 khơng phải là vấn đề đơn giản, vì các tên nguyên tố khá mới lạ, các kí hiệu hĩa học (KHHH) dễ bị nhầm lẫn, nguyên  tử khối (NTK), hĩa trị lại càng rắc rối hơn - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
ghi nhớ thơng tin về các nguyên tố trong bảng 1 khơng phải là vấn đề đơn giản, vì các tên nguyên tố khá mới lạ, các kí hiệu hĩa học (KHHH) dễ bị nhầm lẫn, nguyên tử khối (NTK), hĩa trị lại càng rắc rối hơn (Trang 35)
Ví dụ 23: Hãy sắp xếp những chất cĩ cơng thức hĩa học sau vào bảng theo từng loại hợp  chất  tƣơng  ứng  và  gọi  tên  chúng:  HBr,  Ba(OH) 2,  Al2(SO4)3,  H2SO4,  H3PO4 ,  Zn(OH) 2, CuO, FeS, K2O, Na2HPO4 - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
d ụ 23: Hãy sắp xếp những chất cĩ cơng thức hĩa học sau vào bảng theo từng loại hợp chất tƣơng ứng và gọi tên chúng: HBr, Ba(OH) 2, Al2(SO4)3, H2SO4, H3PO4 , Zn(OH) 2, CuO, FeS, K2O, Na2HPO4 (Trang 58)
Bảng 1. Nhận biết, phân biệt một số chất dựa vào dấu hiệu đặc trƣng - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 1. Nhận biết, phân biệt một số chất dựa vào dấu hiệu đặc trƣng (Trang 60)
3. Hình Đỗ Thùy Dƣơng – Dạy lớp 8A1, 8A2 – Trƣờng THCS An Hiệp   Các  lớp  đối  chứng  và  thực  nghiệm  do  từng  giáo  viên  phụ  trách  đều  tƣơng  đƣơng  nhau về trình độ, khả năng học tập - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
3. Hình Đỗ Thùy Dƣơng – Dạy lớp 8A1, 8A2 – Trƣờng THCS An Hiệp Các lớp đối chứng và thực nghiệm do từng giáo viên phụ trách đều tƣơng đƣơng nhau về trình độ, khả năng học tập (Trang 126)
Kết quả kiểm tra đƣợc thống kê ở các bảng sau: - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
t quả kiểm tra đƣợc thống kê ở các bảng sau: (Trang 128)
Bảng 1b. Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 1b. Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra (Trang 129)
(1) Lập bảng phân phối: tần số, tần suất, tần suất lũy tích. - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
1 Lập bảng phân phối: tần số, tần suất, tần suất lũy tích (Trang 130)
Bảng 2b. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - Bài 2 - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 2b. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - Bài 2 (Trang 131)
Bảng 2c. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 15 phút - Bài 3 - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 2c. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 15 phút - Bài 3 (Trang 132)
Bảng 2d. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - Bài 4 - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 2d. Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - Bài 4 (Trang 133)
Bảng 3. Kết quả thực nghiệm tổng hợp - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 3. Kết quả thực nghiệm tổng hợp (Trang 134)
Bảng 4. Phân loại kết quả thực nghiệm. - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 4. Phân loại kết quả thực nghiệm (Trang 134)
Trình độ học sinh đƣợc biểu diễn dƣới dạng biểu đồ hình cột thơng qua dữ liệu ở bảng 4 - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
r ình độ học sinh đƣợc biểu diễn dƣới dạng biểu đồ hình cột thơng qua dữ liệu ở bảng 4 (Trang 135)
Bảng 6. Tổng hợp các tham số đặc trưng - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
Bảng 6. Tổng hợp các tham số đặc trưng (Trang 136)
- Điểm trung bình cộng của HS khối TN cao hơn của khối ĐC (Bảng 1b). - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
i ểm trung bình cộng của HS khối TN cao hơn của khối ĐC (Bảng 1b) (Trang 138)
Câu 3: Theo thầy cơ nhận xét về tình hình học tập mơn hĩa học của học sinh lớp 8 hiện nay là như thế nào? - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
u 3: Theo thầy cơ nhận xét về tình hình học tập mơn hĩa học của học sinh lớp 8 hiện nay là như thế nào? (Trang 153)
Câu 3: Theo thầy cơ nhận xét về tình hình học tập mơn hĩa học của học sinh lớp 8 hiện nay là như thế nào?  - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
u 3: Theo thầy cơ nhận xét về tình hình học tập mơn hĩa học của học sinh lớp 8 hiện nay là như thế nào? (Trang 154)
+ Bài tập 1: đáp án b, c. (Yêu cầu HS lên bảng viết 2 phƣơng trình trên). + Bài tập 4:   - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
i tập 1: đáp án b, c. (Yêu cầu HS lên bảng viết 2 phƣơng trình trên). + Bài tập 4: (Trang 160)
- Thảo luận nhóm, hồn - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
h ảo luận nhóm, hồn (Trang 163)
bảng nhĩm - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
bảng nh ĩm (Trang 163)
- Treo bảng phụ ghi nội dung  2  bài  tập, yêu  cầu  2  HS lên bảng giải.  - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
reo bảng phụ ghi nội dung 2 bài tập, yêu cầu 2 HS lên bảng giải. (Trang 165)
- Treo bảng phụ nội dung bài tập:  - Rèn luyện kĩ năng cơ bản để giải bài tập hóa học 8 cho học sinh ở trường thcs   luận văn thạc sỹ hóa học
reo bảng phụ nội dung bài tập: (Trang 165)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w