Mục đích nghiên cứu Hướng dẫn học sinh DBĐH Dân tộc sử dụng Bản đồ tư duy trong ôn tập hệ thống hóa kiến thức phần Cơ học nhằm tạo hứng thú học tập, bồi dưỡng tư duy hệ thống hóa, khái
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
-
Nguyễn thị h-ơng
NGHIấN CỨU SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
TRONG DẠY HỌC PHẦN CƠ HỌC CHO HỌC SINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin trân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS Phạm Thị Phú đã định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Vật lý Trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu, Ban KHTN, Tổ bộ môn Vật lý Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tác giả trong quá trình học tập và triển khai thực hiện đề tài
Nguyễn Thị Hương
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
8 Đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC 5
1.1 Tổng quan về Bản đồ tư duy 5
1.1.1 Định nghĩa về Bản đồ tư duy 6
1.1.2 Những ưu điểm của Bản đồ tư duy trong quá trình dạy học 7
1.1.3 Bản đồ tư duy có thể sử dụng vào những việc nào? 7
1.1.4 Các ứng dụng của Bản đồ tư duy trong dạy học 8
1.2 Khả năng hỗ trợ của Bản đồ tư duy đổi mới phương pháp dạy học Vật lí 13
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí 13
1.2.2 Bản đồ tư duy hỗ trợ học tập tích cực, hiệu quả 13
1.2.3 Các bước xây dựng một Bản đồ tư duy trong dạy và học 15
1.2.4 Chuẩn bị xây dựng Bản đồ tư duy tổ chức HĐNT cho HS 16
1.3 Ứng dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lý 16
1.3.1 Bản đồ tư duy trong bài học xây dựng kiến thức mới 18
1.3.2 Bản đồ tư duy trong bài học giải bài tập Vật lí 19
Trang 41.3.3 Bản đồ tư duy trong bài học ôn tập tổng kết và hệ thống hóa kiến thức 21
1.3.4 Bản đồ tư duy trong bài học thực hành thí nghiệm Vật lí 26
1.4 Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lí cho đối tượng HS trường DBĐH Dân tộc 26
1.4.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của HS Dân tộc thiểu số 26
1.4.2 Đặc điểm mục tiêu và nội dung dạy học Vật lí ở trường DBĐH Dân tộc 29
1.4.3 Thực trạng việc dạy học phần Cơ học trường DBĐH Dân tộc 32
Kết luận chương 1 35
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY DẠY VÀ HỌC PHẦN CƠ HỌC Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC 37
2.1 Tổng quan phần Cơ học ở trường DBĐH Dân tộc 37
2.1.1 Mục tiêu dạy học 37
2.1.2 Phân tích cấu trúc, nội dung phần Cơ học bằng công cụ Bản đồ tư duy 38
2.2 Xây dựng Bản đồ tư duy phần Cơ học chương trình Vật lý trường DBDH Dân tộc 39
2.2.1 Phương tiện vẽ Bản đồ tư duy 39
2.2.2 Bản đồ tư duy cấp bài 41
2.2.3 Bản đồ tư duy cấp chương 42
2.2.4 Bản đồ tư duy trong định hướng giải bài tập Vật lý 45
2.3 Thiết kế bài học sử dụng Bản đồ tư duy 48
2.3.1 Quy trình thiết kế bài học bằng việc sử dụng Bản đồ tư duy 48
2.3.2 Sử dụng Bản đồ tư duy trong bài học ôn tập hệ thống hoá kiến thức 52
2.3.3 Sử dụng Bản đồ tư duy trong bài học luyện giải bài tập Vật lý 64
Kết luận chương 2 74
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 76
3.1.1 Mục đích 76
3.1.2 Nhiệm vụ 76
Trang 53.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 77
3.2.1 Đối tượng 77
3.2.2 Nội dung 77
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 78
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 78
3.3.2 Quan sát giờ học 78
3.3.3 Các bài kiểm tra 84
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84
3.4.1 Kết quả định tính 84
3.4.2 Kết quả định lượng 85
3.4.3 Kiểm định giả thiết thống kê 90
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1 P1 PHỤ LỤC 2 P3 PHỤ LỤC 3 P4 PHỤ LỤC 4 P11 PHỤ LỤC 5 P19
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐTD : Bản đồ tư duy DBĐH : Dự bị đại học DTTS : Dân tộc thiểu số
ĐH : Đại học HĐNT : Hoạt động nhận thức
HS : Học sinh
GV : Giáo viên PPDH : Phương pháp dạy học QTDH : Quá trình dạy học SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm TNSP : Thực nghiệm sư phạm
Trang 7Một câu hỏi rất thực tế đang đặt ra là làm thế nào để học sinh có thể tiếp nhận và nhớ một cách đầy đủ lượng tri thức ngày càng tăng của nhân loại nói chung và kiến thức ở nhà trường nói riêng trong khi quỹ thời gian dành cho việc dạy và học không thay đổi Đứng trước thực trạng hiện nay, trong quá trình dạy học nói chung đa số giáo viên còn nặng về việc thuyết trình, chỉ chú trọng vào việc hoàn thành bài giảng, chưa chú ý đến việc phát huy nội lực của học sinh, cũng như định hướng cách học, cách nhớ và cách ghi chép hệ thống cho học sinh Trong thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy trong quá trình học tập, học sinh tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người tự khám phá, tự biết hệ thống và ghi chép một cách logic Ngược lại, nếu bắt các em phải ghi nhớ kiến thức một cách thụ động, dồn nén thì sẽ dẫn đến sự chán nản, ỷ lại, lười học
Trường Dự bị Đại học Dân tộc thuộc hệ thống các trường Đại học, có nhiệm vụ bổ túc nâng cao trình độ văn hóa cho học sinh người Dân tộc thiểu
số đã tốt nghiệp THPT thi trượt ĐH vào học Nội dung chương trình Vật lí trường DBĐH Dân tộc chủ yếu là ôn tập, hệ thống hóa kiến thức THPT Có nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau nên kết quả học tập của đại bộ phận
HS còn yếu, HS không tích cực học tập, ỷ vào chính sách dân tộc, không phát
Trang 8huy hết khả năng bản thân Trong quá trình học tập, nhiều em không biết cách học, học cái gì, học như thế nào để đạt kết quả cao nhất
Từ những vấn đề đặt ra ở trên, người giáo viên cần phải thay đổi cách
tư duy, cách chép và cách ghi nhớ ở học sinh bằng cách tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Đây là một biện pháp không thể thiếu được trong dạy học theo quan điểm “Dạy học là phát triển” Bởi một sự gợi ý khéo léo có tính chất gợi mở của giáo viên sẽ có tác dụng kích thích tính tự lực và
tư duy sáng tạo của học sinh, lôi kéo học sinh chủ động tham gia vào quá trình dạy học một cách tích cực, tự giác
Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của não bộ Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Bản đồ Tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau Do đó
có thể vận dụng Bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi phần Điều này rất có ý nghĩa đối với HS Dân tộc thiểu số vốn tư duy chủ yếu vào hình ảnh, tư duy trừu tượng còn nhiều hạn chế so với các đối tượng
HS khác Do đó, tôi chọn đề tài “ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHẦN CƠ HỌC CHO HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC”
2 Mục đích nghiên cứu
Hướng dẫn học sinh DBĐH Dân tộc sử dụng Bản đồ tư duy trong ôn tập hệ thống hóa kiến thức phần Cơ học nhằm tạo hứng thú học tập, bồi dưỡng tư duy hệ thống hóa, khái quát hóa, giúp học sinh ghi nhớ tốt từ đó nâng cao chất lượng dạy học ở trường DBĐH Dân tộc
3 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học Vật lý ở trường DBĐH Dân tộc
- Lý thuyết về Bản đồ tư duy
Trang 94 Phạm vi nghiên cứu
- Phần Cơ học thuộc chương trình Vật lí trường DBĐH Dân tộc
- Vận dụng Bản đồ tư duy vào việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh DBĐH Dân tộc trong các bài học ôn tập và hệ thống hóa kiến thức
5 Giả thuyết khoa học
Nếu hướng dẫn học sinh DBĐH Dân tộc sử dụng Bản đồ tư duy để ôn tập hệ thống hóa kiến thức phần Cơ học sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh ghi nhớ tốt từ đó nâng cao được chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh 6.2 Nghiên cứu chương trình khung, chuẩn kiến thức Vật lí của HS ở trường DBĐH Dân tộc
6.3 Nghiên cứu lý luận về Bản đồ tư duy
6.4 Nghiên cứu nội dung phần Cơ học
6.5 Thực trạng nhận thức và vận dụng Bản đồ tư duy vào việc thay đổi cách ghi nhớ và ghi chép của HS trường DBĐH Dân tộc
6.6 Thiết kế các Bản đồ tư duy điển hình phần Cơ học thuộc chương trình Vật lí trường DBĐH Dân tộc
6.7 Thiết kế các tiến trình dạy học với các Bản đồ tư duy đã xây dựng 6.8 Thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra: quan sát, phỏng vấn, test
- Thực nghiệm sư phạm
- Thống kê toán học
Trang 108 Đóng góp của luận văn
- Góp phần hiện thực hóa việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lí ở trường DBĐH Dân tộc
- Đề xuất quy trình hướng dẫn HS lập Bản đồ tư duy để tổng kết bài học, tổng kết chương, tổng kết phần
- Xây dựng được 5 Bản đồ tư duy sử dụng cho dạy học phần Cơ học cho HS DBĐH Dân tộc
- Thiết kế được 3 bài học sử dụng Bản đồ tư duy trong phần Cơ học cho dạy học ở một số bài học, tổng kết chương, tổng kết phần cho HS DBĐH Dân tộc
9 Cấu trúc luận văn
- Mở đầu (04 trang)
- Nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lý ở trường Dự bị Đại học Dân tộc (31 trang)
Chương 2: Vận dụng Bản đồ tư duy dạy học phần Cơ học cho học sinh
Dự bị Đại học Dân tộc (40 trang)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (16 trang)
- Kết luận
- Phụ lục (27 trang)
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG
DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
1.1 Tổng quan về Bản đồ tư duy
Từ trước đến nay, với phương pháp học truyền thống chúng ta đều ghi
chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số hay khoa học hơn là cách gạch đầu dòng, tóm ý Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa sử dụng chức năng nào bên não phải, nơi
giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin Với mục tiêu giúp sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra Bản đồ tư duy (Mind Map) để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này Đó là lý do tại sao BĐTD được gọi là
công cụ ghi chép tối ưu
Việc giúp HS phát triển tư duy để vận dụng vào học tập là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của những người làm công tác giáo dục Mặt khác, hiện nay không chỉ phần đông HS mà cả GV đều nhận định là nội dung chương trình Vật lí phổ thông khá nhiều và rộng vì thế việc tiếp thu và nhớ bài của các em rất khó khăn Nhằm hướng các em đến phương pháp học tích cực và tự chủ, nâng cao kỹ năng trí tuệ và khả năng tư duy mạch lạc, chúng tôi xin trình bày một công cụ học tập mới - Bản Đồ Tư Duy
Bản đồ tư duy được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan [28] như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ khóa và các hình ảnh Các ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và
dễ ôn tập hơn Giữa thập niên 70, Peter Russell [29] đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kỹ xảo về Mind Map cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục
Trang 121.1.1 Định nghĩa về Bản đồ tư duy
Có nhiều định nghĩa khác nhau về Bản đồ tư duy như sau:
“Một bản đồ tâm trí là một sơ đồ được sử dụng để đại diện cho các từ, các ý tưởng, nhiệm vụ, hoặc các mục khác liên quan đến và sắp xếp xung
quanh một từ khóa trung tâm hay ý tưởng”
“Bản đồ tư duy là phi tuyến tính kỹ thuật cho các thông tin bản đồ bằng cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, hình dạng và màu sắc, hữu ích để chụp hình
đầu ra của các buổi động não” [30]
“Bản đồ tư duy là một đại diện của một chủ đề hoặc đề tài trong đó các
hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh
BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm
Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, điều này khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được [2], [7]
Trang 13Cơ chế hoạt động của
BĐTD chú trọng tới hình ảnh,
màu sắc, với các mạng lưới liên
tưởng (các nhánh) Vì thế, BĐTD
còn là công cụ đồ họa nối các
hình ảnh có liên hệ với nhau Do
đó, có thể vận dụng BĐTD vào
hỗ trợ dạy học kiến thức mới,
củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi phần, và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác
1.1.2 Những ưu điểm của Bản đồ tư duy trong quá trình dạy học [8]
- Dễ nắm bắt được trọng tâm của vấn đề
- Đỡ tốn thời gian ghi chép hơn so với kiểu ghi chép cũ
- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nắm bắt cơ hội khám phá tìm hiểu
- Hoàn thiện bộ não, tiếp thu linh hoạt và hiệu quả
- Giúp người học tự tin hơn vào khả năng của mình
- Trong giảng dạy và học tập: tạo hứng thú cho học sinh, giáo viên tiết kiệm thời gian soạn giáo án, học sinh hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn
1.1.3 Bản đồ tư duy có thể sử dụng vào những việc nào?
- Ghi nhớ chi tiết cấu trúc đối tượng hay sự kiện mà chúng chứa các mối liên hệ phức tạp hay chồng chéo
- Tổng kết dữ liệu
- Hợp nhất thông tin từ các nguồn nghiên cứu khác nhau
- Động não về một vấn đề phức tạp
- Trình bày thông tin để chỉ ra cấu trúc của toàn bộ đối tượng
- Ghi chép (bài giảng, phóng sự, sự kiện…)
Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD
Trang 141.1.4 Các ứng dụng của Bản đồ tư duy trong dạy học
Những ứng dụng của BĐTD bao gồm việc phân tích, giải quyết vấn đề, nhớ, viết luận, quản lý và hội họp trong phạm vi cá nhân, gia đình, trong các lĩnh vực kinh doanh, giáo dục và các lĩnh vực chuyên môn khác
Trong giáo dục, BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông, Dự bị Đại học, cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp
GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua sơ đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới…Sau đây là một số ứng dụng cụ thể của BĐTD trong dạy học:
- Lập kế hoạch:
GV có thể dùng BĐTD lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch chủ nhiệm cho một năm học, một học kỳ, một tháng hay kế hoạch cho một tuần cụ thể
Dùng BĐTD lập kế hoạch năm học giúp GV và HS có cái nhìn tổng quát
về chương trình học cũng như các chương trình hoạt động ngoài giờ khác như văn nghệ, thể thao, dã ngoại, các hội thi phải tham gia…
Lập kế hoạch là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất để quản lý thời gian hiệu quả BĐTD về một kế hoạch cụ thể nếu được tổ chức, sắp xếp khoa học thì không những sẽ giúp cho GV và HS có cái nhìn tổng quan về những việc đã, đang và sẽ làm mà còn rất thuận tiện khi muốn bổ sung một công việc mới mà không cần phải xóa bỏ cả bản đồ [3], [7]
Trang 15Hình 1.2 BĐTD kế hoạch giảng dạy
- Thảo luận nhóm:
BĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi
cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình
tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của BĐTD và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến trong khi đó mỗi người luôn giữ chính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút ra được kết luận cuối cùng
Sử dụng BĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi BĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn
đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề BĐTD còn tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể
Trang 16Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng BĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên BĐTD [11], [32]
Trong thảo luận nhóm, BĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi
nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng BĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học [11], [35]
Các nhánh chính của BĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng tư duy một cách logic Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi thành viên [11], [32], [35]
Hình 1.3 BĐTD điều khiển hoạt động nhóm
Trang 17Như vậy sử dụng BĐTD trong thảo luận nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả BĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn [11]
- Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng:
Trong phạm vi cá nhân, HS có thể sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học
Mục đích hàng đầu của ghi chép là ôn lại thông tin nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ Những bài ghi chép chỉ là những từ và cụm từ không cần thiết
sẽ khiến cho quá trình ôn lại rất khó khăn, ngoài ra HS ít có cơ hội bổ sung những liên tưởng và cách sắp xếp của chính mình Những bài ghi chép này có rất ít mối liên hệ với vốn kiến thức hiện có của HS và do đó, chúng dễ dàng mất đi hoặc bị lãng quên
Lập BĐTD là hình thức ghi chép hiệu quả hơn rất nhiều Kỹ thuật ghi chép này cho phép HS nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho HS cơ hội để hình thành những mối liên hệ và liên tưởng HS cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung những suy nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình
Khi sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, điều quan trọng là chỉ nên dùng các từ khóa BĐTD tự động loại bỏ những từ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp sơ bộ thông tin được tiếp nhận Để rút ra các từ then chốt,
HS cần phải chú ý và tham gia vào bài học, qua đó nắm được nội dung cơ bản của bài học, tăng khả năng hiểu bài và ghi nhớ của HS
Trang 18Hình 1.4 BĐTD hệ thống hóa kiến thức bài học
Như vậy, ưu điểm của BĐTD là đem đến cho HS những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập: nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức và biểu thị bằng bản đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc, rèn luyện kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK Có thể sẽ gặp khó khăn lúc đầu khi tập cho HS xây dựng BĐTD, nhưng chỉ là lúc đầu Khi
đã thành thói quen, HS sẽ rất thích thú sử dụng trong học tập và hình thành thói quen làm việc sau này, từ việc nắm vững vấn đề, biểu thị bằng bản đồ vận hành các biện pháp giải quyết BĐTD càng có tác dụng nếu HS sử dụng cho những bài ôn tập, tổng kết chương
Tóm lại, việc sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng dạy của GV HS sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy GV sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp HS nắm được kiến thức thông qua một BĐTD thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức
Trang 191.2 Khả năng hỗ trợ của Bản đồ tư duy đổi mới phương pháp dạy học Vật lí
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS Trong QTDH, có hai hoạt động, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể của hoạt
động học Người thầy đóng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn HS tự
tìm kiếm tri thức, dạy HS phương pháp học; tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học, thể chế hóa kiến thức còn HS luôn chủ động, tự giác, tích cực, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức, ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết, tự tìm tòi nghiên cứu, trao đổi tranh luận trong quá trình giải quyết nhiệm vụ GV giao
Trong từng đơn vị kiến thức, PPDH phải thể hiện rõ từng hoạt động cụ thể của GV và HS
Tư tưởng cơ bản của đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDH vật lý nói riêng là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng PP tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS; đưa
HS vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức
Việc đổi mới PPDH đòi hỏi phải thực hiện chức năng mới của GV và
HS, khác với kiểu dạy học truyền thống Điều này phải được thể hiện ở tất cả các khâu: thiết kế bài học, tiến hành dạy bài học đã thiết kế và kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của HS
1.2.2 Bản đồ tư duy hỗ trợ học tập tích cực, hiệu quả
BĐTD biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ tương hỗ giữa các
khái niệm có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một
vấn đề lớn Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng
Trang 20BĐTD, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách biểu diễn như vậy, các dữ liệu được ghi nhớ và hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn
- BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương
pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là môn Vật lý, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
- BĐTD hỗ trợ HS lĩnh hội kiến thức tích cực và hiệu quả: Một số kết
quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
- BĐTD giúp HS ghi chép có hệ thống: Do đặc điểm của BĐTD nên
người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để
“ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic Vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả
- BĐTD giúp HS rèn luyện tư duy khái quát hóa, hệ thống hóa theo thiên hướng cá nhân: BĐTD có ưu điểm là phát huy tối khả năng tư duy của
HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự
“sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức
Trang 21của từng HS và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng
“tác phẩm” của mình
1.2.3 Các bước xây dựng một Bản đồ tư duy trong dạy và học
Trước hết, hãy tin rằng bất cứ ai cũng có thể tạo ra và sử dụng BĐTD Bạn chỉ cần cầm bút vẽ, viết vấn đề cần suy nghĩ ở giữa ở giấy (có thể thêm hình ảnh nào đó mà bạn thấy phù hợp) Tiếp đến, bạn hãy suy nghĩ thật thoải mái, cứ có một ý nghĩ nảy ra, bạn lại vẽ một nhánh đi từ trung tâm ra Và cứ như vậy, hãy viết, vẽ, tưởng tượng không hạn chế, không cần chú ý đến trình
tự, cũng không, cần quan tâm xem một ý nào đó đã đầy đủ chưa (vì bạn có thể
bổ sung bất cứ lúc nào mà chẳng sợ thiếu giấy) Để có một BĐTD hiệu quả, bạn nên thực hiện các bước sau đây:
Xác định rõ mục tiêu và tập trung vào nội dung bài học cụ thể (các từ khóa của bài học)
Bước 1: Vẽ chủ đề chính ở trung tâm
Để vẽ chủ đề chính ở trung tâm, trước hết HS phải xác định được nội dung kiến thức trọng tâm của bài học hoặc một phần của bài học Sau đó, HS thể hiện nội dung chủ đề ở chính giữa tờ giấy đặt nằm ngang bằng hình ảnh hoặc từ khóa Sử dụng các yếu tố: kích thước, màu sắc…để làm nổi bật nội dung của chủ đề chính
Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
Nội dung của các tiêu đề phụ là nội dung kiến thức cơ bản của một bài học hoặc một đơn vị kiến thức nào đó của bài học Những nội dung kiến thức này sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung của chủ đề chính ở trung tâm HS vẽ thêm các tiêu đề phụ bằng hình ảnh hoặc chữ in hoa xung quanh hình ảnh trung tâm, lưu ý cách bố trí và sử dụng màu sắc
Trang 22Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, HS xác định những nội dung kiến thức hỗ trợ cho nội dung của các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ý chính
và các chi tiết hỗ trợ Trong khi vẽ, HS cũng chỉ nên tận dụng các từ khóa
và hình ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh
Bước 4: Hoàn thiện Bản đồ tư duy
HS có thể thêm nhiều hình ảnh và sử dụng màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện BĐTD [8]
1.2.4 Chuẩn bị xây dựng Bản đồ tư duy tổ chức HĐNT cho HS
Ngoài các bước xây dựng một BĐTD vừa nêu ở phần trên, trong việc
tổ chức HĐNT cho HS cần chuẩn bị như sau:
- Đối với giáo viên:
+ Chuẩn bị các phiếu học tập có ghi các từ khóa sao cho phù hợp nhất với từng nhóm bài
+ Vẽ BĐTD hệ thống các nhóm bài trên máy tính và trên giấy để tiện cho việc hướng dẫn, đối chiếu với BĐTD của các nhóm HS
+ Phân nhóm: 4 hoặc 8 học sinh/nhóm
+ Phần hướng dẫn các bước tiến hành vẽ một BĐTD
- Đối với nhóm học sinh:
+ Chuẩn bị giấy A4, bút chì màu, các mẫu giấy nhỏ, bút dạ quang + Cần nắm vững nội dung kiến thức của nhóm bài đã học
1.3 Ứng dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lý
Trong dạy học Vật lý, ngoài các ứng dụng nêu trên, BĐTD còn được ứng dụng vào phân tích, giải quyết vấn đề trong dạy học những kiến thức Vật lý
cơ bản, bài tập Vật lý và thí nghiệm Vật lý, tóm tắt nội dung kiến thức theo đề cương, theo chương, theo đoạn văn hoặc theo loại kiến thức Vật lý
Trang 23Trong quá trình chuyển hóa một nội dung Vật lý nào đó thành BĐTD đòi hỏi HS phải đào sâu suy nghĩ, tìm tòi đồng thời phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng, khái quát hóa…Chính vì vậy, việc sử dụng BĐTD trong dạy học là một trong những biện pháp để rèn luyện cho HS kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác tư duy và biện pháp logic
Khi tiến hành lập BĐTD từ một nội dung dạy học ở sách giáo khoa, HS luôn tự đặt câu hỏi: Ở đây nói về vấn đề gì? Vấn đề đó đề cập đến những khía cạnh nào? Trong những khía cạnh đó, khía cạnh nào là chủ yếu, bản chất? Vì vậy, HS sẽ có được kỹ năng tách ra được nội dung bản chất từ tài liệu đọc được, tìm được những nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm để lập BĐTD Ngoài ra, khi xây dựng BĐTD cho cả một bài học, HS cần tách ra các ý chính sau đó thiết lập mối quan hệ giữa chúng và trên cơ sở chia nhỏ bài đọc, lựa chọn đề mục cho từng phần nhỏ Quan hệ giữa các phần nhỏ và phần lớn hơn
là quan hệ giữa toàn thể với bộ phận như là giống với loài, giữa cái chung với cái riêng…Chính những việc làm này giúp HS có kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK, kỹ năng tóm tắt tài liệu đọc được thành BĐTD [11]
Khi HS gia công trí tuệ chuyển hóa nội dung bài học thành BĐTD, HS
sẽ hiểu bài một cách sâu sắc, chắc chắn Sử dụng BĐTD vừa giúp HS chiếm lĩnh được tri thức, vừa có được phương pháp tái tạo kiến thức cho bản thân, vừa phát huy được năng lực tự học và năng lực tư duy sáng tạo của HS trong dạy học
Quá trình hướng dẫn HS xây dựng BĐTD giúp GV thu được mối liên hệ ngược, phát hiện kịp thời những sai sót của HS để điều chỉnh tối ưu quá trình dạy học
Trang 241.3.1 Bản đồ tư duy trong bài học xây dựng kiến thức mới
Sử dụng BĐTD phân tích, giải quyết vấn đề trong bài học xây dựng kiến
thức mới các khái niệm, định luật, thuyết Vật lý:
Trong dạy học kiến thức mới các khái niệm, định luật, thuyết vật lý, GV
có thể tổ chức cho HS lập BĐTD để phát hiện vấn đề nghiên cứu, phân tích, đưa ra các ý tưởng và giải pháp để giải quyết vấn đề, từ đó hình thành và chiếm lĩnh tri thức
Ví dụ: Trong dạy học bài “Rơi tự do”, sau khi cho HS quan sát hoặc tiến
hành thí nghiệm về sự rơi của hai vật bất kỳ trong không khí, GV yêu cầu HS đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chuyển động rơi của vật
HS lập BĐTD và đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chuyển động rơi của vật trong không khí (phát hiện vấn đề nghiên cứu)
Hình 1.5 BĐTD nguyên nhân ảnh hưởng đến chuyển động rơi của vật
Trên cơ sở các nguyên nhân đã nêu, HS phân tích, đưa ra các ý tưởng, giải pháp để giải quyết vấn đề: lập BĐTD đề xuất phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra, từ đó hình thành và chiếm lĩnh tri thức
Trang 25Hình 1.6 BĐTD phương án thí nghiệm kiểm tra nguyên nhân ảnh hưởng đến
chuyển động rơi của vật
1.3.2 Bản đồ tư duy trong bài học giải bài tập Vật lí
Mục đích chính của việc dạy và học là làm cho HS hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập cũng như vào thực tiễn đời sống, sản xuất
Việc luyện giải bài tập Vật lý cũng có nhiều dạng và nhiều cấp độ khác nhau Trong mỗi dạng như vậy BĐTD cũng ít nhiều góp phần hoàn tất công việc một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Dạng 1: học sinh nhớ lại những kiến thức cơ bản mới học cần luyện
tập, phát biểu chính xác những định nghĩa, định luật, viết các công thức, vẽ
đồ thị, chỉ rõ ý nghĩa của các thuật ngữ, các ký hiệu mới Trong quá trình này học sinh sử dụng BĐTD gợi nhớ lại kiến thức mới đã được xây dựng từ bài học
Dạng 2: GV đưa ra một số bài tập tương tự như bài tập đã giải mẫu khi
nghiên cứu kiến thức mới Trong những bài tập này, chỉ vận dụng trực tiếp một, hoặc hai kiến thức mới học Tuy yêu cầu đơn giản nhưng khi HS sử dụng BĐTD vẫn giúp học sinh định hướng tốt hơn nên thực hiện trình tự công việc như thế nào là hợp lý nhất, đầy đủ nhất
Dạng 3: GV đưa ra bài tập phức tạp hơn trong đó hiện tượng xảy ra
nhiều giai đoạn liên tiếp, mỗi giai đoạn tuân theo một định luật, một quy tắc
Trang 26đã biết Trong dạng bài tập này sử dụng BĐTD giúp HS nhận biết được các dấu hiệu đặc trưng cho mỗi giai đoạn là có thể tìm được lời giải
Dạng 4: GV đưa ra bài tập khó hơn, đòi hỏi sự sáng tạo của HS Đó là
những bài tập đề cập đến những hiện tượng bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân, chịu tác động đồng thời của nhiều định luật, quy tắc Trong dạng bài tập này, HS cần thiết phải sử dụng BĐTD, thiết lập mạng lưới, liên kết dữ kiện của đề bài nhằm có được cái nhìn tổng quan và các suy nghĩ được tổ chức sẽ lần lượt đi theo các hướng xác định, các ý tưởng sẽ gợi mở xem xét và đi đến lời giải chính xác, tối ưu nhất
Cấu trúc bài học luyện tập giải bài tập Vật Lí theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức, công thức quan trọng (đơn vị, ý nghĩa của các đại lượng) công thức suy ra, các công thức có liên quan
- Các dạng bài tập thường gặp và cách giải
- Dạng bài tập nâng cao, cách giải
- Chú ý quan trọng
Trong dạy học giải bài tập Vật lý, GV tổ chức cho HS lập BĐTD để đưa
ra các phương án giải một dạng bài tập hoặc một bài tập cụ thể nào đó
Ví dụ: HS lập BĐTD xác định phương pháp giải bài toán xác định lực
bằng các đại lượng động học và ngược lại:
Hình 1.7 BĐTD phương pháp giải bài toán xác định lực bằng các đại lượng
động học và ngược lại
Trang 271.3.3 Bản đồ tư duy trong bài học ôn tập tổng kết và hệ thống hóa kiến thức
- Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức theo đề cương
HS có thể sử dụng BĐTD để tóm tắt kiến thức dựa trên bảng mục lục trong sách giáo khoa Điều này giúp HS có cái nhìn tổng quan về toàn bộ nội dung của môn học và có khái niệm về số lượng kiến thức HS phải chuẩn bị cho kỳ thi Trong quá trình học tập ở trường DBĐH Dân tộc, HS nên lập BĐTD theo đề cương cho mỗi môn học
- Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức của chương
Sau khi lập BĐTD theo đề cương, HS nên lập BĐTD cho từng chương sách riêng biệt Đối với các chương ngắn khoảng từ 10-12 trang, có thể tập trung tất cả các thông tin trên một trang BĐTD Đối với những chương dài khoảng 20 trang trở lên, có thể cần đến 2-3 trang BĐTD Giả sử HS đang vẽ BĐTD về chương “Động học chất điểm” có thể đánh dấu các trang BĐTD là
“Động học chất điểm 1”, “Động học chất điểm 2”…
Trang 28Hình 1.8 BĐTD theo đề cương dành cho môn Vật lý lớp 10 nâng cao
Trang 29Hình 1.9 BĐTD chương “Tĩnh học vật rắn”
- Sử dụng BĐTD tóm tắt nội dung kiến thức của một đoạn văn
Một cách khác là vẽ BĐTD theo từng đoạn nhỏ trong sách Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một trích đoạn trong sách BĐTD theo đoạn văn giúp tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó
Hình 1.10 BĐTD theo đoạn văn
Trang 30- Sử dụng BĐTD tóm tắt nội dung theo loại kiến thức vật lý
Tóm tắt nội dung khái niệm vật lý
Trong dạy học các khái niệm vật lý, GV có thể tổ chức cho HS lập BĐTD về một khái niệm vật lý bao gồm các yếu tố: đặc điểm định tính, đặc điểm định lƣợng, định nghĩa đại lƣợng, đơn vị đo và vận dụng khái niệm vào thực tiễn
Hình 1.11 BĐTD về một khái niệm vật lý
Hình 1.12 BĐTD về khái niệm lực
Tóm tắt nội dung định luật vật lý
Dùng BĐTD để tóm tắt nội dung một định luật vật lý đƣợc dùng trong dạy học các định luật vật lý Một định luật vật lý bao gồm các yếu tố: nội dung và biểu thức định luật, ý nghĩa vật lý của các đại lƣợng trong biểu thức, vận dụng định luật vào thực tiễn
Trang 31Hình 1.13 BĐTD về định luật vật lý
Hình 1.14 BĐTD về định luật III Niu-tơn
Tóm tắt nội dung của thuyết vật lý
Trong dạy học các thuyết vật lý, GV có thể tổ chức cho HS lập BĐTD về nội dung của thuyết vật lý, bao gồm các yếu tố sau: Cơ sở của thuyết, hạt nhân của thuyết và hệ quả của thuyết
Hình 1.15 BĐTD về thuyết vật lý
Trang 321.3.4 Bản đồ tư duy trong bài học thực hành thí nghiệm Vật lí
Trong dạy học thí nghiệm vật lý, GV tổ chức cho HS lập BĐTD đề xuất các phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra một nội dung kiến thức nào đó, giúp
HS định hướng được mục đích và phương thức tiến hành thí nghiệm đó Qua đó
HS không phải mất nhiều thời gian cho việc đo đạc, tính toán và vẽ đồ thị
Hình 1.16 BĐTD Phương án thí nghiệm xác định gia tốc rơi tự do
1.4 Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Vật lí cho đối tượng HS trường DBĐH Dân tộc
1.4.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của HS Dân tộc thiểu số
Học sinh DBĐH Dân tộc sống ở nhiều vùng khác nhau, điều kiện học tập còn nhiều khó khăn, chất lượng các môn học không đồng đều, kiến thức
cơ bản chưa vững, thiếu tính hệ thống, thậm chí HS không được học một số môn như Ngoại ngữ, Tin học Vì vậy HS DBĐH Dân tộc có các đặc điểm sau:
- Về tư duy: HS chủ yếu lĩnh hội các khái niệm bằng kinh nghiệm, tiếp
thu tri thức chậm, không hứng thú trong quá trình học tập, hay chán học, trốn học Tư duy trừu tượng của HS phát triển chậm so với trình độ chung, việc sử
Trang 33dụng các thao tác tư duy còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tư duy khái quát hóa, trừu tượng hóa, dẫn đến việc lĩnh hội tri thức mới còn gặp nhiều khó khăn
- Về ngôn ngữ: Vốn từ vựng còn nghèo, ngoài giờ lên lớp HS thường
giao tiếp bằng tiếng dân tộc, ít nói tiếng phổ thông, vốn Tiếng việt hạn chế, kỹ năng đọc yếu, phát âm các thuật ngữ khoa học bằng tiếng Latinh khó khăn, khả năng viết kém, sai chính tả, sai ngữ pháp nhiều
- Về tình cảm: Chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, các em thường ít
có thái độ quanh co, sống nội tâm, tình yêu quê hương, bản làng sâu nặng
- Về tính cách: HS hồn nhiên, giản dị chất phát, trung thực Đây là những
nét tiêu biểu trong tính cách của HS người DTTS Các em thường nghĩ sao nói vậy, ít khi xúc phạm người khác và cũng không muốn bị xúc phạm HS thường rụt rè, ít nói, ngại phát biểu, sợ nói sai, tự ti cho rằng mình yếu kém, ngại đấu tranh với những biểu hiện sai trái Tính tự trọng cao, hay tự ái, HS thích lối sống tự do, phóng khoáng, không thích sự quản lý gò bó, ngại lao động trí óc, thích lao động chân tay và các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao HS có tính cộng đồng cao, gắn bó với bạn cùng buôn làng, cùng dân tộc, thường xuyên quan tâm giúp đỡ nhau
HS lứa tuổi này là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển trí tuệ Ở lứa tuổi này, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức, tri giác có mục đích đã đạt được ở mức rất cao, quan sát trở nên có mục đích,
có hệ thống và toàn diện hơn, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo được phát triển Tư duy của các em chặt chẽ có căn cứ và nhất quán hơn, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, Trong học tập các
em chú ý hơn tới tính rõ ràng, tính cơ sở, tính có thể chứng mính được của các luận điểm Sự thay đổi về chất này tạo điều kiện để HS có các thao tác tư
Trang 34duy phức tạp, phân tích được nội dung cơ bản của những khái niệm trừu tượng, hiểu được mối quan tâm nhân quả trong tự nhiên và xã hội
Đặc điểm nổi bật trong tư duy của HS là thói quen lao động tri óc chưa bền, ngại suy nghĩ Trong học tập, HS có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ thừa nhận điều người khác nói Khi nêu kết luận hay hiện tượng, HS ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa hoặc những diễn biến và ý nghĩa của sự việc, hiện tượng đó Khả năng tư duy trực quan - hình ảnh của các em tốt hơn khả năng tư duy trừu tượng, logic [12],[43]
Các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì, tính kỷ luật của HS chưa được chuẩn bị chu đáo Quá trình chuyển hoá nhiệm vụ, yêu cầu học tập, cũng như cơ chế hình thành ở bản thân HS diễn ra còn chậm Do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của HS phát triển khá tốt Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy nhiên còn thiếu toàn diện, chưa thấy được bản chất của sự vật, hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật tạo ra xúc cảm ở HS Đối tượng tri giác của HS chủ yếu là sự gần gũi cây cối, con vật, thiên nhiên; tri giác thời gian bằng những quy ước có tính cộng đồng nhỏ thiếu chuẩn mực, như: khoảng vài quả đồi, vài cối gạo, buổi làm thay cho các đại lượng đo thời gian và không gian Nhờ việc tổ chức các loại hình học tập đa dạng như tham quan, ngoại khoá, nghiên cứu tài liệu, tăng cường cách dạy học trực quan sẽ làm tăng hiểu biết của HS, uốn nắn lệch lạc, tạo ra phương pháp nhận thức cảm tính tích cực làm tiền đề cho nhận thức ở mức độ cao hơn
Chính vì vậy học sinh DBĐH Dân tộc cần có môi trường và phương pháp dạy học thuận lợi để phát huy tính tích cực trong nhận thức Việc sử dụng BĐTD là một trong những cách thức dạy học thuận lợi trong môi trường đó
Trang 351.4.2 Đặc điểm mục tiêu và nội dung dạy học Vật lí ở trường DBĐH Dân tộc
1.4.2.1 Đặc điểm dạy học Vật lý ở trường Dự bị đại học dân tộc
Trường DBĐH Dân tộc ngoài những nét chung như các cơ sở giáo dục khác còn có đặc thù về đối tượng HS là người dân tộc thiểu số, có mục tiêu đào tạo là tạo nguồn cho các trường ĐH để đào tạo cán bộ cho các dân tộc và công tác tuyển sinh được thực hiện thông qua việc xét tuyển từ kết quả tuyển sinh ĐH, chất lượng văn hoá của HS không đồng đều và còn nhiều hạn chế
HS đa dạng và khác biệt về văn hoá dân tộc
Mục tiêu dạy học vật lý ở trường DBĐH Dân tộc tập trung vào việc tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức THPT và rèn luyện kỹ năng cơ bản, phương pháp thực nghiệm mang tính đặc thù của Vật lý phù hợp với đặc điểm tâm lý
và năng lực của đối tượng HS dân tộc thiểu số thi trượt ĐH Tăng cường tính thực tiễn và tính sư phạm giúp HS nâng cao năng lực tư duy trừu tượng, hình thành cảm xúc thẩm mĩ, khả năng diễn đạt và kỹ năng thực hành Vật lý Giúp
HS có những kiến thức, kỹ năng, cơ bản, thiết thực, góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận cần thiết cho cuộc sống Đồng thời góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học, tạo cơ sở cho HS chuẩn bị kiến thức, kỹ năng học ở ĐH
Thời gian học DBĐH Dân tộc là một năm, ngoài việc tập trung củng cố
và khái quát hóa nội dung chương trình THPT, nhà trường còn hướng dẫn cho
HS phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp các em tiếp cận với cách học ở ĐH Do đó, hoạt động dạy học ở trường DBĐH Dân tộc cũng rất khác biệt, không giống như hoạt động dạy học ở trường THPT và trường ĐH: GV và HS phải hợp tác với nhau, GV phải thường xuyên quan tâm đến tình cảm, mục đích học tập của HS, gắn nội dung dạy học với kinh nghiệm học của HS, quan tâm động viên HS
Trang 36Vì vậy phương pháp dạy học ở trường DBĐH có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giáo dục cho HS DBĐH Dân tộc, góp phần củng cố, bổ sung
và hệ thống hóa kiến thức ở bậc THPT nhằm nâng cao, mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng tạo điều kiện thuận lợi cho các em hoàn thiện kiến thức và
kỹ năng để đi học ĐH
1.4.2.2 Nội dung dạy học môn Vật lý ở trường Dự bị Đại học Dân tộc
Chương trình dạy học ở trường DBĐH Dân tộc vừa có tính chất THPT nhưng vừa có tính chất tiếp cận giáo dục ĐH, đồng thời mang tính đặc thù đáp ứng nhu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực địa phương, miền núi, dân tộc Đặc điểm của chương trình có tính cơ bản, hiện đại, có hệ thống, sát thực tiễn đảm bảo tính đại trà và phân hoá theo đối tượng trong đó chứa đựng một tỷ lệ nhất định phần nội dung bổ sung cho phù hợp đối tượng HS dân tộc thiểu số Dạy học ở các trường DBĐH Dân tộc dựa trên
cơ sở kế thừa kết quả học tập của HS trong thời gian học ở THPT, nhờ đó tạo
cơ hội cho HS củng cố lại hệ thống kiến thức THPT để đủ điều kiện vào học các trường ĐH và Cao đẳng
Ở trường DBĐH Dân tộc, HS được hệ thống hoá lại toàn bộ các kiến thức Vật lý ở ba năm THPT Việc sắp xếp và hệ thống kiến thức cũng có sự thay đổi so với THPT, khối lượng kiến thức mà các em phải ôn tập và hệ thống rất lớn so với thời lượng là 28 tuần
Vật lý là môn chính khoá của HS khối A DBĐH (gồm Toán, Vật lý, Hoá học, Tin học và Tiếng Việt) Chương trình môn vật lý hệ DBĐH Dân tộc được thực hiện theo Quyết định số 24/2006/QĐ-BGDĐT ngày 29/5/2006 của
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành đề cương chi tiết 11 môn học hệ DBĐH Dân tộc, khung chương trình quy định học 5 tiết/tuần [25]
Ngoài ra có 20 tiết thí nghiệm thực hành gồm 10 bài, mỗi bài thực hành trong 2 tiết và được trải đều trong năm học Giáo trình Vật lý được cấu trúc theo yêu cầu chuyên đề hoá kiến thức THPT để giảng dạy trong một năm học
Trang 37DBĐH Dân tộc Bộ GD&ĐT chỉ ban hành quy định đề cương chi tiết, còn các Trường tự xây dựng giáo trình trên cơ sở tổng hợp kiến thức Vật lý ở THPT cho phù hợp với đối tượng HS của từng trường
CHƯƠNG TRÌNH KHUNG HỆ DỰ BỊ ĐẠI HỌC
STT Chương Tên Chương
11 XI Dòng điện xoay chiều 11 4 7
12 XII Dao động điện từ sóng điện
Trang 381.4.3 Thực trạng việc dạy học phần Cơ học trường DBĐH Dân tộc
Qua tìm hiểu tình hình dạy học phần cơ học ở trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn và các trường DBĐH khác, tôi nhận thấy một số thuận lợi và
khó khăn trong dạy học phần này như sau:
+ Thuận lợi:
- Hầu hết GV ý thức được việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay Số lượng GV sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày càng nhiều
- Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học được đầu tư về số lượng cũng như
về chất lượng Các thí nghiệm của phần Cơ học hầu như đều được trang bị ở các trường DBĐH
- HS đã được học kiến thức phần Cơ học ở THPT nên đa số các em
đã nắm bắt được kiến thức trong chương trình nên việc truyền đạt, khái quát hóa và ôn tập nội dung kiến thức cho HS DBĐH Dân tộc đơn giản hơn ở cấp THPT
- Đa số HS Dân tộc thiểu số ngoan, hiền có ý thức học tập và rèn luyện
- Nội dung kiến thức phần Cơ học có nhiều ứng dụng thực tế, rất gần gũi với đời sống làm tăng hứng thú học tập của HS, từ đó làm tăng hiệu quả và chất lượng của quá trình dạy học Bởi lẽ HS càng hứng thú học tập bao nhiêu thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực và chắc chắn bấy nhiêu
+ Khó khăn:
Ngoài những thuận lợi như trên, trong quá trình tổ chức HĐNT cho HS
trong dạy học phần Cơ học thường gặp phải những khó khăn sau:
- Khả năng tư duy, phân tích và giải quyết vấn đề của HS còn kém, ngại suy nghĩ chỉ phát huy được khả năng tư duy trực quan - hình ảnh
Trang 39- Trong phần Cơ học, phải sử dụng các đại lượng vi phân và những phép tính tích phân mới mô tả được chính xác mối quan hệ giữa quãng đường đi với thời gian Các đại lượng đặc trưng cho trạng thái chuyển động của một vật như vận tốc, gia tốc cũng chỉ được định nghĩa chính xác khi sử dụng các phép tính vi phân Như vậy, đòi hỏi phải có những kiến thức về toán học cơ bản như giới hạn, đạo hàm, vi phân, tích phân để mô tả chuyển động một cách chính xác Những kiến thức toán học như vậy các em đã được học nhưng đa
số các còn quên nên ảnh hưởng đến bài giảng và quá trình lĩnh hội kiến thức của HS
- Cách giảng dạy chủ yếu của đa số GV là thuyết trình, giảng giải kết hợp với đàm thoại, chưa tạo ra được các tình huống kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong dạy học Điều này làm cho HS trở nên thụ động trong việc suy nghĩ, tìm tòi để tìm ra kiến thức mới HS tiếp thu và tái hiện, ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, không phát huy được tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của mình
- Khối lượng các đơn vị kiến thức mà HS phải tiếp thu trong phần này nói riêng và nội dung kiến thức cho HS DBĐH Dân tộc nói chung khá lớn với thời lượng ngắn và nhiều khái niệm, đại lượng, hiện tượng Đa số HS ghi chú nội dung kiến thức của bài học theo lối dùng câu hoặc tường thuật, liệt kê, đánh thứ tự bằng số Lối ghi chú này làm cho các từ khóa truyền tải những nội dung kiến thức quan trọng của bài học bị chìm khuất HS khó ghi nhớ được nội dung của bài học do tập trung nhiều thời gian vào việc ghi chép và không thấy được bản chất bên trong của các khái niệm, hiện tượng
- Hầu hết GV đều tiến hành thí nghiệm trong phần lớn giờ học nhưng chủ yếu là dưới dạng thí nghiệm biểu diễn, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc tổ chức hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức trong giờ học của HS Khi
sử dụng các bộ thí nghiệm thực trong dạy học phần Cơ học, HS phải mất
Trang 40nhiều thời gian cho việc đo đạc, tính toán và vẽ đồ thị nên không còn đủ thời gian dành cho các hoạt động trí tuệ như đề xuất các phương án thí nghiệm, phân tích số liệu, đề xuất giả thuyết hoặc đưa ra các ý tưởng
- Thời gian trong việc cho HS tự lực hoạt động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo còn ít Cơ sở vật chất tuy đã được đầu tư và phát triển nhưng chưa tạo ra được môi trường giáo dục thuận lợi cho HS trong quá trình
tự lực hoạt động HS còn gặp khó khăn trong việc khai thác và sử dụng thông tin, hình ảnh, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, videoclips…trong quá trình tự lực hoạt động giải quyết nhiệm vụ nhận thức
Những phân tích trên cho thấy rằng việc sử dụng BĐTD trong việc tổ chức HĐNT cho HS trong dạy học phần Cơ học là hết sức cần thiết Với việc
sử dụng BĐTD, HS sẽ ghi chú nội dung bài học một cách tích cực, chủ động,
từ đó tăng khả năng hiểu bài, ghi nhớ của HS trong dạy học Bên cạnh đó, HS còn sử dụng BĐTD trong việc đưa ra các ý tưởng, các giả thuyết, xây dựng các phương án thí nghiệm, các phương án giải quyết nhiệm vụ nhận thức…Với sự hỗ trợ của máy vi tính, GV có thể tổ chức cho HS tự lực khai thác, tìm kiếm, thu thập thông tin, tranh ảnh, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng…từ internet hoặc từ thư viện điện tử được xây dựng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nhận thức một cách nhanh chóng, chính xác
Từ những thông tin tìm kiếm và khai thác được từ internet, kết hợp với việc
sử dụng BĐTD, HS sẽ tích cực, chủ động đưa ra các lập luận chứng minh cho những ý tưởng, giải pháp được vạch ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhận thức của mình
Như vậy, sử dụng BĐTD nhằm tổ chức HĐNT sẽ phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của HS trong dạy học phần Cơ học nói riêng và dạy học Vật lý nói chung