1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ hóa học

172 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục điều 24.2, trong Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sá

Trang 1

tr-ờng đại học vinh -  -

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến :

- Thầy giáo PGS.TS Lê Văn Năm đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn, dành

nhiều thời gian đọc bản thảo, bổ sung và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Thầy giáo PGS.TS Cao Cự Giác và thầy giáo PGS.TS Nguyễn Xuân

Trường đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn

- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học trường ĐH Vinh đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

- Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh các trường THPT-DTNT Con Cuông; THPT-DTNT Mường Quạ; THPT Anh Sơn 1 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm để hoàn thành luận văn

Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn luôn quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này !

Tp Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Phan Sỹ Tuệ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 6

1 Lý do chọn đề tài…… ……… ……….6

2 Mục đích nghiên cứu ………. 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 8

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu ……… ……….8

5 Phương pháp nghiên cứu ……… ……….……… 8

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận……….……… ……… … 9

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn ……….……… ……… 9

5.3 Các phương pháp xử lí thực nghiệm bằng toán học thống kê……… …… 9

6 Giả thuyết khoa học ……… ……… ………9

7 Đóng góp mới của đề tài ……… ………9

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……….11

1.1 Phương pháp dạy học, những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay……….……… 11

1.1.1 Phương pháp dạy học……… ……….11

1.1.2 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ……… ………14

1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh, những biểu hiện về năng lực sáng tạo và cách kiểm tra đánh giá ……….……… 28

1.2.1 Năng lực sáng tạo của học sinh ……… ……… ………30

1.2.2 Những biểu hiện về năng lực sáng tạo của học sinh ……… …… ……… 33

1.2.3 Cách kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh …… …… ……… 35

1.3 Thực trạng dạy học hoá học ở các trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An………….…… 35

1.3.1 Nội dung, phương pháp điều tra thực trạng rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong dạy học hóa học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An … …………35

1.3.2 Nguyên nhân yếu kém về năng lực độc lập, sáng tạo của HS trong học tập hoá học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An ……… 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… ……… 38

Trang 4

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC ĐỘC LẬP, SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN PHI KIM TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG ……….……… 39

2.1 Một số biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh THPT …… 39

2.1.1 Lựa chọn một logic nội dung thích hợp và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức HS, phù hợp với trình độ HS …… 39

2.1.2.Tìm những cách hình thành và phát triển năng lực sáng tạo phù hợp với bộ môn ………40

2.1.2.1 Tạo động cơ, hứng thú hoạt động nhận thức sáng tạo, tạo tình huống có vấn đề nhằm phát huy cao độ trí tuệ của HS vào hoạt động sáng tạo ……… 41

2.1.2.2 Cung cấp các phương tiện hoạt động nhận thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo sử dụng các phương tiện hoạt động nhận thức đó …… ……… 44

2.1.2.3 Sử dụng PP DH phức hợp để rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS ………50

2.1.3 Sử dụng bài tập hoá học như là một phương tiện để phát triển năng lực độc lập, sáng tạo cho HS ……….……… 51

2.1.4 Kiểm tra, động viên kịp thời và biểu dương, đánh giá cao những biểu hiện sáng tạo của học sinh ……… ……….… 54

2.1.5 Cho HS làm các bài tập lớn, tập cho HS nghiên cứu khoa học ………… ………55

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nhằm rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh ……… 56

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng ……… ………56

2.2.2 Hệ thống bài tập chương nhóm halogen ……… ……….57

2.2.3 Hệ thống bài tập chương nhóm oxi ……… 72

2.2.4.Hệ thống bài tập chương nhóm nitơ ……….………77

2.2.5 Hệ thống bài tập chương nhóm cacbon ……….……….83

2.3 Xây dựng một số giáo án thực nghiệm ……… …… ……… 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ……… …… 93

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……… ……… …94

Trang 5

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm……….……… 94

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……… ……… 94

3.2.1 Lập kế hoạch thực nghiệm ……… ….………94

3.2.2 Lựa chọn mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng …… ……… 95

3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm ……… …… 95

3.4 Kết quả và xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm ……… ……… 96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ….……… ………102

KẾT LUẬN CHUNG ……….……… 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……….105

PHỤ LỤC……….109

Phụ lục 1 Các giáo án thực nghiệm……… ……….109

Phụ lục 2 Đề và đáp án các bài kiểm tra ……… 126

Phụ lục 3 Hướng dẫn giải và đáp án các bài tập……… ……….129

Trang 6

KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

PP PTHH PTPƯ

r SGK

Giáo dục – Đào tạo Giáo viên

Học sinh Kiểm tra - đánh giá Loãng

Lí luận Nhà xuất bản Phương pháp Phương trình hoá học Phương trình phản ứng rắn

Trung học phổ thông Trắc nghiệm khách quan

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là trọng tâm của sự phát triển Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người lao động năng động, sáng tạo làm chủ đất nước, tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá VII đã xác định: phải khuyến

khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Định hướng này đã được pháp chế hoá trong luật Giáo dục điều 24.2, trong

Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy

tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tối đa sự sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thí nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay… Chính vì thế trong thời gian gần đây Bộ Giáo dục

và Đào tạo khuyến khích giáo viên sử dụng các PPDH tích cực nhằm hoạt động hoá người học

Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáo dục

là rèn luyện tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoá học Hoá học

là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc nắm vững lý thuyết, người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành, giải bài tập

Để thực hiện được yêu cầu rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo của HS cần đổi

Trang 8

mới PPDH các bài lên lớp và sử dụng bài tập hoá học trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông Bài tập hoá học đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, rèn luyện tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất Bài tập hoá học không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng tạo cho HS, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho bài tập hoá học ở phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá

học, đặc biệt là sử dụng hệ thống bài tập để rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho

học sinh trong quá trình dạy học

Qua quá trình giảng dạy ở trường THPT tôi thấy thực trạng đó là một lượng không nhỏ HS học tập còn thụ động và ít sáng tạo Nguyên nhân một phần là do GV và nhà trường rất ít chú ý kiểm tra, đánh giá năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh ;Phương pháp dạy học chậm đổi mới

Với mong muốn tìm hiểu và sử dụng hiệu quả các bài lên lớp, trong đó có các

bài tập hoá học nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở THPT, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo và kĩ năng vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường THPT, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT

+ Tầm quan trọng chiến lược của việc rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh trong dạy học hóa học

+ Nghiên cứu thực trạng về vấn đề rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An

Trang 9

- Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo và kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh nói chung và học sinh các trường THPT thuộc tỉnh Nghệ

An nói riêng

+ Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh thuộc tỉnh Nghệ An, chú ý vào những vấn đề lí thuyết cơ sở hoá học vô cơ, cụ thể

là phần phi kim, chú ý vào các bài học nghiên cứu tài liệu mới và hoàn thiện kiến thức

+ Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự luận và TNKQ phần

phi kim theo chương trình hoá học lớp 10, 11

- Kiểm tra khảo sát hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp được đề xuất

Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu : Các biện pháp rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo và kĩ

năng vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học hóa học phần phi kim ở trường THPT, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học hoá học trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo

có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học và các tài liệu liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và bài tập hoá học THPT, đặc biệt là chương trình hoá học lớp 10, 11 phần phi kim

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Điều tra, thăm dò, trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hoá học THPT về nội dung, hình thức diễn đạt, số lượng câu hỏi tự luận và TNKQ của mỗi bài học và sử dụng trong quá trình dạy học

b Phương pháp hội thảo chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm

c Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 10

Đánh giá hiệu quả sử dụng các biện pháp được đề xuất để rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong học tập

5.3 Các phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê

6 Giả thuyết khoa học

Trong dạy học hoá học, nếu chọn được những biện pháp phù hợp và áp dụng những biện pháp rèn luyện tích cực, chúng ta có thể rèn luyện được năng lực độc lập, sáng tạo cho HS, từ đó nâng cao chất lượng học tập hoá học lên cao hơn

7 Đóng góp mới của đề tài

- Đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong dạy học hóa học ở trường THPT

- Xây dựng và sưu tầm :

+ Các bài soạn theo hướng hoạt động hoá người học với các lớp có nhiều đối tượng HS nhận thức khác nhau, kết hợp giữa bài học trên lớp với việc chia nhóm để giúp đỡ HS

+ Hệ thống các bài tập cơ bản, thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú học tập, củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS lớp 10, 11 THPT

+ Sử dụng hệ thống các bài soạn và bài tập để góp phần làm tăng tỉ lệ HS khá, giỏi trong học tập môn hoá học ở trường THPT

Trang 11

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Phương pháp dạy học, những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [8]; [31]; [33]

1.1.1 Phương pháp dạy học

1.1.1.1 Định nghĩa phương pháp dạy học

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang thì : “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt được mục đích dạy học” [33]

Từ định nghĩa trên, ta thấy phương pháp dạy học gồm PP dạy và PP học

Nếu xét riêng hoạt động dạy thì GV là chủ thể của hoạt động này, còn nội dung

và HS là hai đối tượng của hoạt động đó

Nếu xét riêng hoạt động học của HS thì họ là chủ thể của hoạt động và nội dung trí dục là đối tượng để chiếm lĩnh, còn dạy là nhân tố ảnh hưởng

Từ đó, HS vừa là đối tượng của dạy, vừa là chủ thể của sự lĩnh hội, của quá trình chiếm lĩnh nội dung

Vậy : Dạy học là một hoạt động, nó tuân theo những quy luật chung của mọi

hoạt động Nhưng nó là hoạt động đặc thù, trong đó HS vừa là đối tượng của dạy vừa

là chủ thể sáng tạo của việc chiếm lĩnh nội dung dạy học

1.1.1.2 Phương pháp dạy học hoá học

PPDH hoá học có thể hiểu là cách thức hoạt động cộng tác có mục đích giữa thầy và trò, trong đó có sự thống nhất của hai quá trình (điều khiển của thầy và tự điều khiển của trò) nhằm làm cho trò chiếm lĩnh khái niệm hoá học

1.1.1.3 Cấu trúc và chức năng của phương pháp dạy học hoá học

Trang 12

Sơ đồ cấu trúc PPDH hoá học

Như vậy, PPDH hoá học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, với tư cách là hai phân hệ độc lập, nhưng thường xuyên tương tác chặt chẽ với nhau tạo ra hệ toàn vẹn PPDH hoá học

a Chức năng của phương pháp dạy học hoá học

PP dạy có hai chức năng tương tác và thống nhất với nhau là truyền thụ và điều khiển, do đó, nội dung trí dục được truyền đạt tới HS

PP học có hai chức năng tương tác và thống nhất với nhau là lĩnh hội nội dung trí dục do thầy truyền đạt và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm của bản thân, do

đó, nó là sự thống nhất của PP lĩnh hội và PP tự điều khiển sự lĩnh hội của bản thân

b Các tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu nghiệm của phương pháp dạy học

Có các quan điểm khác nhau về đánh giá tính hiệu nghiệm của PP nói chung, PP

DH nói riêng Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, căn cứ vào bốn qui luật cơ bản chi phối

PP có thể tìm được bốn tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm của nó, trong đó phải nhấn mạnh đến hai tiêu chuẩn vô cùng quan trọng, đó là :

+ Tiêu chuẩn số một về tính hiệu nghiệm của PP là tính chân thực và tính đúng đắn: chủ thể phải hiểu, phải có kiến thức chân thực về đối tượng, từ đó mới lựa chọn được các thao tác đúng đắn để tác động lên đối tượng, nhằm tìm hiểu, chiếm lĩnh và cải biến đối tượng

PP truyền thụ

PP điều khiển

PP lĩnh hội

PP tự điều khiển

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC

Trang 13

+ Tiêu chuẩn số hai về tính hiệu nghiệm của PP là : trong mọi trường hợp cần chọn được PP phù hợp với mục đích và nội dung, thống nhất với mục đích và nội dung

Có thể nói về tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu nghiệm của PPDH theo cách khác: PPDH hiệu nghiệm là cách thức tổ chức quá trình dạy học sao cho đảm bảo đồng thời những phép biện chứng sau:

- Giữa dạy và học

- Giữa truyền thụ và điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học

1.1.1.4 Tính chất đặc thù của phương pháp dạy học hoá học

PPDH hoá học là hình chiếu độc đáo của PP nhận thức hoá học trên mặt phẳng tâm lí học của HS Nói cách khác, PP nhận thức hóa học đã được chuyển hoá, xử lí sư phạm thành PPDH hoá học, tức là sử dụng những biện pháp sư phạm làm cho HS dễ tiếp thu và sử dụng

PPDH hoá học là sự kết hợp giữa tư duy lý thuyết với thực nghiệm khoa học

Từ các định luật hoá học, các học thuyết và các tiên đoán khoa học được vận dụng biện

chứng với nhau giải quyết những vấn đề do môn học đặt ra

Từ đặc thù của môn hoá học là môn khoa học thực nghiệm kết hợp với tư duy lý thuyết do đó PP học tập hóa học có lập luận trên cơ sở thí nghiệm - trực quan Nên PPDH hoá học có một số đặc trưng sau:

+ Ở lớp 8 và lớp 9 khi bắt đầu học hoá học, việc dạy học phải xuất phát từ trực quan sinh động tới những khái niệm trừu tượng của hoá học

+ Các lớp 10, 11, 12 khi vốn khái niệm đã phong phú thì HS có thể vận dụng những khái niệm như một công cụ để tư duy

+ Trong PPDH hoá học việc sử dụng mối liên hệ nhân quả giữa cấu tạo và tính chất như một PPDH cơ bản trong môn hoá học

Đối tượng của hoá học là những chất cấu tạo bởi phân tử, nguyên tử, ion… Chúng đều là những hạt vi mô không quan sát được bằng mắt thường Do đó, chúng ta buộc phải dùng đến mô hình mô phỏng, thí nghiệm để lý giải những hiện tượng đó

Trang 14

Tóm lại, PPDH hoá học chính là sự chuyển hoá của PP nhận thức hoá học thông qua lăng kính của các quy luật tâm lý, lý luận dạy học

1.1.2 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [8]; [11]; [18]; [21]

Luật giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới chương trình và SGK phổ thông mà trọng tâm là đổi mới PPDH Chỉ có đổi mới căn bản PP dạy và học thì mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo

Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động,

chống lại thói quen học tập thụ động

Tuy nhiên, đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các PPDH hiện có theo quan điểm DH tích cực kết hợp với PPDH hiện đại Có nhiều xu hướng đổi mới PP dạy học Sau đây là các xu hướng chủ yếu:

1.1.2.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm (hoặc dạy học hướng vào người học)

Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chú trọng đến người học để tìm ra những PPDH có hiệu quả Quan điểm này đã chú trọng đến các vấn đề :

a Về mục tiêu dạy học :

+ Chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội

+ Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS

b Về nội dung : Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng

kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho học sinh hoà nhập với xã hội

c Về phương pháp :

Trang 15

+ Coi trọng rèn luyện cho HS PP tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi, tư duy độc lập sáng tạo của HS thông qua các hoạt động học tập HS chủ động tham gia các hoạt động học tập

+ GV là người tổ chức, điều khiển động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học

+ Giáo án được thiết kế theo nhiều phương án, được GV linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của HS, thực hiện giờ học phân hóa theo trình độ, năng lực của HS, tạo điều kiện cho sự phát triển cá nhân

d Về hình thức tổ chức : Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh

hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học Giáo án bài dạy cấu trúc linh hoạt có sự phân hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển năng khiếu của

cá nhân

e Về kiểm tra đánh giá :

+ GV đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau

+ Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo, chú ý mức độ đạt được các mục tiêu của từng giai đoạn học tập, chú trọng mặt chưa đạt được so với mục tiêu

Dạy học lấy HS làm trung tâm đặt vị trí của người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của người học Do vậy, vai trò tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của người học được phát huy Người

GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thức các tiềm năng của mỗi HS, giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống

Như vậy, bản chất của việc dạy học lấy HS làm trung tâm là đặt người học vào

vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học

1.1.2.2 Dạy học theo hướng hoạt động hoá người học

a Bản chất

Trang 16

Là tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác tích cực sáng tạo, trong đó việc xây dựng phong cách học tập sáng tạo là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng

Vì vậy, phải chuẩn bị rèn luyện một cách có hệ thống cho HS từ khi còn nhỏ để mỗi cá nhân phải tìm được con đường riêng, sáng tạo ra một phương pháp mới phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình Do đó, việc xây dựng phong cách "học tập sáng tạo" là cốt lõi của việc đổi mới PPDH

b Học tập và sáng tạo

Ngày nay, học tập và sáng tạo không phải là hai hoạt động tách biệt mà là hai mặt của một quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau Học không phải chỉ là tiếp thu thụ động kinh nghiệm đã có sẵn của nhân loại mà chính là “sáng tạo lại” cho bản thân mình Ngay trong bài học đầu tiên của một môn khoa học đã phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu, khám phá Ngược lại chính nhờ cách học nghiên cứu khám phá đó

mà HS nắm vững kiến thức, biết sử dụng kiến thức một cách linh hoạt rồi lại tiếp tục sáng tạo ra cái mới Hầu như mọi người đều thấy sự cần thiết phải chấm dứt tình trạng học tập thụ động máy móc hiện nay và thay thế vào đó một cách học thông minh sáng tạo, bởi vậy, chỉ nên để một kiểu học tập tồn tại trong nhà trường, đó là “học tập sáng tạo” và coi xây dựng phong cách “học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH

Tâm lí học và Lí luận dạy học hiện đại khẳng định: Con đường có hiệu quả nhất

để làm cho HS nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo là phải đưa

HS vào vị trí của chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo và hình thành quan điểm đạo đức

c Vai trò mới của giáo viên

Sự xác lập vị trí chủ thể của người học không hề làm suy giảm mà ngược lại còn nâng cao vai trò, trách nhiệm của người thầy Trong khi khẳng định vai trò của người

GV không suy giảm, cần phải thấy tính chất của vai trò này đã thay đổi: người GV không phải là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là người làm mọi việc cụ thể

ở trên lớp Trách nhiệm của GV bây giờ là ở chổ khác, làm chủ yếu các việc sau:

Trang 17

- Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học cả về các mặt: mục đích,

nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức

- Ủy thác, tạo động cơ : Biến ý đồ dạy học của GV thành nhiệm vụ học tập tự

nguyện tự giác của HS, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thích nghi

- Điều khiển : Điều khiển và tổ chức cho HS hoạt động theo cá nhân hay nhóm,

kể cả điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp và đánh giá

- Thể chế hóa : Xác nhận những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất hoá những

kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá thể, phụ thuộc hoàn cảnh và thời gian của từng học sinh thành tri thức khoa học của xã hội, tuân thủ chương trình và định vị tri thức mới trong hệ thống tri thức đã có, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không còn cần thiết

Người GV phải tạo ra những điều kiện tốt nhất cho HS hoạt động sáng tạo có kết quả HS phải tự lực hoạt động để tái tạo ra những kiến thức và năng lực mà loài người đã tích luỹ được để biến chúng thành của mình Tuy nhiên HS không đủ thời gian và không có khả năng hoàn toàn tự lực thực hiện điều đó như một nhà khoa học Cần phải có sự giúp đỡ, hướng dẫn của GV để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất trong một thời gian ngắn nhất Vai trò của người GV lại càng nặng nề, quan trọng và phức tạp hơn Trước kia, người GV chỉ cần nắm vững nội dung môn học để giảng dạy, minh họa rõ ràng mạch lạc là đủ, vì vậy, hễ có kiến thức là dạy học được Còn bây giờ, theo kiểu dạy học mới, người GV không những phải nắm vững nội dung môn học, mà còn phải am hiểu sâu sắc HS; GV không trình bày những điều mình đã biết, đã chuẩn bị mà là tổ chức hướng dẫn cho HS hoạt động sáng tạo để họ đạt được những điều mà GV định đem lại cho họ hoặc là họ tự phát hiện thấy là cần thiết và tin tưởng có thể đạt được

1.1.2.3 Dạy học tích cực [4]; [19]; [22]; [24]; [25]

a Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

PPDH tích cực là khái niệm nói tới những PP giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Vì vậy, PPDH tích cực thực chất là

Trang 18

các PPDH hướng tới việc giúp HS học tập chủ động, tích cực sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động

PPDH tích cực chú trọng đến hoạt động học, vai trò của người học theo các quan điểm tiếp cận mới về hoạt động dạy học như : "lấy người học làm trung tâm",

"hoạt động hoá người học", "kiến tạo theo mô hình tương tác"

b Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

- Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết Trong giờ học HS được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động học tập qua đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới vừa nắm được phương pháp nhận thức, học tập Trong PPDH tích cực việc tổ chức để HS học được tri thức, kĩ năng, PP học tập luôn gắn quyện vào nhau theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn hoạt động qua đó

mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo

- Những PPDH có chú trọng rèn luyện kĩ năng, PP và thói quen tự học, từ đó mà tạo cho HS sự hứng thú, lòng ham muốn, khao khát học tập, khơi dậy những tiềm năng vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển

- Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập của từng

HS, hoạt động học tập hợp tác trong tập thể nhóm, lớp học, thông qua tương tác giữa

GV với HS, giữa HS với HS Bằng sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan điểm của từng

cá nhân, sự đánh giá nhận xét những quan điểm của bạn mà HS nắm được kiến thức, cách tư duy, sự phối hợp hoạt động trong một tập thể

- Những PPDH có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan nhất

là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn, máy vi tính, phần mềm dạy học đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo năng lực và nhu cầu của mỗi HS, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện hiện đại trong xã hội phát triển

- Những PPDH có sử dụng các PP kiểm tra, đánh giá đa dạng, khách quan, tạo điều kiện để HS được tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Nội dung, PP, hình thức kiểm tra đánh giá phải đa dạng, phong phú với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, máy tính và phần mềm kiểm tra để đảm bảo tính khách

Trang 19

quan, phản ánh trung thực tình trạng kiến thức của HS và quá trình đào tạo Sự thay đổi khâu đánh giá sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến việc đổi mới PPDH theo hướng dạy học tích cực

Những nét đặc trưng của PPDH tích cực đã thể hiện được quan điểm, xu hướng đổi mới PPDH hóa học Như vậy, khi sử dụng các PPDH trong DH hóa học chúng ta cần khai thác những yếu tố tích cực của từng PPDH đồng thời cũng cần phối hợp các PPDH với phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật, tính đặc thù của PPDH hóa học

để nâng cao tính hiệu quả của quá trình đổi mới PPDH hóa học

c Một số phương pháp dạy học tích cực

• Vấn đáp tìm tòi :

Là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể

tranh luận với nhau Có 3 phương pháp vấn đáp :

+ Vấn đáp tái hiện

+ Vấn đáp giải thích- minh họa

+ Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic)

• Dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

Khi dạy học theo phương pháp này, mỗi GV cần chú ý thực hiện bài giảng theo cấu trúc sau :

Bước 1 Nêu vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

+ Tạo tình huống có vấn đề

+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

+ Phát biểu vấn đề cần giải thích

Bước 2 Giải quyết vấn đề

+ Đề xuất cách giải quyết

+ Lập kế hoạch giải quyết

+ Thực hiện kế hoạch

Bước 3 Kết luận

+ Thảo luận kết quả và đánh giá

+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

Trang 20

+ Phát biểu kết luận

+ Đề xuất vấn đề mới

Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề gồm có 4 mức độ:

Mức độ 1 : HS giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đánh giá

Mức độ 2 : HS giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV cùng HS

đánh giá

Mức độ 3 : HS phát hiện vấn đề nảy sinh, lựa chọn vấn đề và giải quyết GV

cùng HS đánh giá

Mức độ 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc

cộng đồng, lựa chọn vấn đề và giải quyết HS tự đánh giá, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc

• Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ : Nhóm từ 4 đến 6 người

Cấu tạo của một tiết học theo nhóm có thể như sau :

- Phân công trong nhóm ;

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm ;

- Cử đại diện (hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm

+ Tổng kết trước lớp :

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả ;

- Thảo luận chung ;

- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

• Dạy học theo dự án :

DH theo dự án là một hình thức DH, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, tự thực hiện và đánh giá kết quả

Trang 21

Dạy học dự án có một số đặc điểm sau:

+ Định hướng vào HS :

- Chú ý đến hứng thú người học, tính tự lực cao ;

- Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp ;

+ Định hướng vào thực tiễn :

- Gắn liền với hoàn cảnh ;

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội ;

- Kết hợp giữa lí thuyết và thực hành ;

- Dự án mang nội dung tích hợp

+ Định hướng vào sản phẩm : Các sản phẩm được tạo ra không giới hạn trong

những thu hoạch lí thuyết mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành

Trong DH hóa học ở trường THPT, tuỳ vào điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, khả năng của GV và đối tượng HS mà áp dụng PPDH cho phù hợp để đạt được chất lượng và hiệu quả

1.1.2.4 Sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học hóa học

a Tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học vào dạy học hóa học

Hóa học là môn khoa học tự nhiên Lý thuyết của nó tương đối trừu tượng, vì vậy việc sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học là hết sức cần thiết

- Phương tiện kỹ thuật dạy học là công cụ giúp người GV đạt được mục đích giờ dạy

- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp thực hiện tính đặc thù bộ môn, phát triển kỹ năng quan sát, vận dụng kỹ năng thực hành, phát triển năng lực nhận thức, tư duy, năng lực so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá của học sinh

- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp GV giới thiệu những phản ứng độc hại, nguy hiểm; hỗ trợ GV trong việc hướng dẫn sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, những thao tác thực hành mẫu để học sinh có thể tự làm thí nghiệm

Trang 22

- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp GV có thể kiểm tra, đánh giá với nhiều hình thức, độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian

- Phương tiện kỹ thuật dạy học giúp cho giờ dạy sinh động hơn, tăng tính tò mò, ham hiểu biết của HS, giúp HS hứng thú hơn đối với môn học và kết quả cao hơn trong học tập

Trong thực tế người ta khảo sát kết quả học tập của HS với nhiều PP khác nhau

đã cho thấy: nếu HS chỉ đọc thì kết quả nhớ 10%, nghe thì nhớ 20% , nhìn thì nhớ 30% , được làm thì nhớ 50% và sử dụng đa phương tiện sẽ đạt 90%

b Một số phương tiện dạy học hiện đại dùng trong dạy học hoá học

Có rất nhiều phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng trong dạy học hoá học Xét dưới góc độ “tính chất” có thể chia các phương tiện dạy học làm 2 nhóm :

• Nhóm truyền tin : gồm máy chiếu qua đầu, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy

vi tính… Trong dạy học hoá học, các phương tiện thuộc nhóm truyền tin đã và đang được sử dụng khá thông dụng, đó là :

+ Máy chiếu hắt và bản trong Bản trong được sử dụng để mang thông tin gồm những hình vẽ, sơ đồ các thiết bị sản xuất hoá chất, các tranh vẽ minh hoạ, các sơ đồ tổng kết chương, mô tả quy trình tiến hành một thí nghiệm hoặc những bài tập để củng

cố cuối bài hay cuối chương

+ Máy chiếu đa năng cùng với máy vi tính có dùng các đĩa CD, VCD Giáo viên có thể soạn bài trên powerpoint trong đó có kết hợp nhiều hình ảnh sinh động các thí nghiệm độc hại, nguy hiểm; các quy trình sản xuất, các mô hình sau đó ghi vào đĩa CD, VCD rồi dùng máy chiếu để truyền tải thông tin

+ Các phần mềm dạy học: Hiện nay, môn hoá học đã có những phần mềm dạy học hỗ trợ người GV trong việc dạy học nhất là những phần lí thuyết khô khan, trừu tượng

Ví dụ : Để mô phỏng hình dạng phân tử các hợp chất hữu cơ ta có thể dùng phần

mềm ChemOffice để vẽ rồi dùng máy tính chiếu lên cho HS quan sát

• Nhóm mang tin : gồm băng đĩa âm thanh, tranh bản đồ, mô hình, phương tiện

đa chức năng

Trang 23

Trên đây là một số phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại dùng trong dạy học hoá học Tuy nhiên, muốn bài giảng thành công ngoài việc sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại còn phải biết kết hợp các phương tiện dạy học và phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc: đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ

1.1.2.5 Phương pháp học tập hóa học của học sinh [7]; [10]; [36]

a Tầm quan trọng của phương pháp học tập

Con người muốn tồn tại đều phải học, học suốt đời dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người Việc học ở nước ta đang có những chuyển động mạnh mẽ, vừa phản ánh sự phù hợp với triết lí giáo dục thế kỷ XXI, vừa phù hợp với những mục tiêu phát triển của đất nước mà một trong những yếu tố mới được đề ra ở Đại hội IX của Đảng (4/2001) và chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, là phải thực hiện "mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời, cả nước trở thành một xã hội học tập" Vì thế, năng lực của con người phải được nâng lên mạnh mẽ nhờ vào trước hết người học "biết cách học" và người dạy biết "dạy cách học" Ý nghĩa của việc đổi mới PPDH ở nước ta rất to lớn, không chỉ cho giáo dục nhà trường mà còn cho giáo dục xã hội Điều cốt lõi là mọi người phải biết cách tự học

b Vấn đề dạy cho học sinh phương pháp học tập

- Thảo luận nhiều hơn ;

- Suy nghĩ nhiều hơn

Đối với môn hóa học- môn khoa học thực nghiệm có rất nhiều thực hành và thí nghiệm, đó là một lợi thế lớn để thực hiện phương pháp tích cực

• Hướng thực hiện

+ Trên cơ sở hướng dẫn HS xác định mục tiêu học tập của mình là :

Trang 24

Học để biết - Học để làm - Học để cùng sống với nhau - Học để làm người

+ Muốn thế, mỗi GV cũng phải hiểu mà tìm cách xác định được mục tiêu của các hoạt động, đó là :

- Hình thành kiến thức kĩ năng ;

- Xây dựng thái độ, niềm tin ;

- Rèn kĩ năng tư duy, năng lực ;

- Xử lí tình huống, giải quyết vấn đề

+ Thông qua các dạng hoạt động :

- Trả lời câu hỏi, điền từ, điền bảng, điền tranh, lập bảng biểu ;

- Làm thí nghiệm, lí giải và thông báo kết quả, thảo luận, tranh cãi ;

- Giải bài toán nhận thức, bài toán tính huống, bài toán các hiện tượng thí nghiệm, bài toán nhận biết , nghiên cứu các điển hình

+ Bằng những hình thức tổ chức hoạt động :

Cá nhân - Cặp hai người - Nhóm 4 đến 6 người - Xây dựng kim tự tháp - Bể cá - Làm việc cả lớp - Trò chơi - Sắm vai - Mô phỏng

+ Học cách thu thập thông tin :

GV cần phải dạy cho HS cách thu thập thông tin và coi đây như là một hình thức dạy PP tự học cho HS Muốn thu thập tốt các thông tin, mỗi HS cần :

* Học cách nghe giảng, ghi bài trên lớp

- Tận dụng SGK, sách bài tập, đồng thời phải có vở ghi và vở làm bài Kết hợp cao nhất đồng thời thính giác, thị giác Cố gắng để hiểu rõ vấn đề mấu chốt, trọng tâm chi phối các vấn đề khác

- Nhanh chóng xác định được thủ thuật nghe và ghi bài, phù hợp với mỗi môn học, thậm chí đối với mỗi thầy cô giáo

* Học cách học bài

- Học cách tự học : Chú ý cách học theo hướng thao tác tư duy từ thấp lên cao

theo sáu nấc thang nhận thức hoặc tư duy theo Bloom: nhận biết, thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Chú ý học ứng dụng, học phân tích, học bình luận đánh

Trang 25

giá từng kiến thức, học tư duy trừu tượng, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo trong quan

- Trước hết phải rèn luyện lòng ham thích đọc sách ;

- Cần học cách chọn sách đọc: phù hợp với mục tiêu môn học, phù hợp với trình

độ người đọc, biết chọn sách để đào sâu và mở rộng một vấn đề ;

- Học cách đọc sách và ghi chép để lưu giữ thông tin, để bổ sung bài giảng và để

tự học nâng cao tri thức và năng lực

- Hỏi để hiểu rõ và hiểu sâu ;

- Cần rèn luyện thường xuyên thói quen nêu thắc mắc, nêu vấn đề thảo luận

- Cần học cách tóm tắt tài liệu đọc được, làm tổng kết hệ thống hóa kiến thức của một chương, một số chương hoặc cả học kì, cả năm học Chú ý so sánh, khái quát hóa Tập phân tích, tổng hợp, bình luận, nêu chính kiến của bản thân

+ Học cách lập kế hoạch cá nhân

Muốn đạt được những kết quả ngắn hạn, dài hạn, muốn có được mục tiêu phấn đấu thì mỗi HS ngay từ khi trong ghế nhà trường cũng cần giúp đỡ để các em có thể tự hoạch định kế hoạch riêng của mình và cố gắng thực hiện tốt các kế hoạch đó

Nói tóm lại :

Trang 26

- Quyết định hiệu quả học là những gì HS làm chứ không phải những gì GV làm;

- Hoạt động phải nhằm vào kĩ năng, năng lực bộ phận của mục tiêu hơn là chỉ nhằm vào nội dung kiến thức ;

- Hoạt động trên lớp phải chuẩn bị cho hoạt động tự học sau bài học trên lớp

c Vai trò của GV trong bồi dưỡng năng lực tự học cho HS THPT

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn : "Muốn học cái gì cho tốt thì sớm muộn cũng phải

đạt tới sự tự giác học tập, say sưa học tập Đó là điều cơ bản đầu tiên Nhưng tất cả vấn đề là ở chỗ làm sao có được sự tự giác, sự say sưa" [35]

Vì vậy, người GV với PPDH khuyến khích sự phát triển nội lực của HS sẽ kích thích quá trình lĩnh hội tri thức và phát triển trí tuệ GV là nguồn khơi dậy thái độ say

sưa, hứng thú học tập để từ đó kích thích HS tự tìm tòi, tự chiếm lĩnh tri thức

Với HS THPT, những năm đầu chưa có được khả năng để tổ chức tự học mà chỉ

tự học khi GV giao các bài tập, nhiệm vụ học tập Do đó, GV cần thường xuyên giao nhiệm vụ học tập cho HS và có biện pháp kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập Các nhiệm vụ học tập phù hợp cho các em là trả lời câu hỏi theo nội dung bài học, làm bài tập trong sách giáo khoa, vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng trong đời sống, xây dựng những bài toán từ những dữ kiện cho trước Nhiệm vụ học tập phải đa dạng, có độ phức tạp và khó khăn tăng dần Bên cạnh đó,

GV cần phải dạy cho HS PP để học tập có hiệu quả như biết phán đoán theo ý nghĩa, lập dàn bài để ôn tập và ghi nhớ hay dạy các dạng bài tổng quát, sau đó, đặt ra các trường hợp cụ thể để HS tự giải Ở mức độ cao hơn, GV có thể tập dượt cho HS PP nghiên cứu khoa học

Để hình thành năng lực tự học cho HS, bên cạnh vai trò quan trọng của người

GV, thì việc tạo môi trường thuận lợi để các em tự học cũng có ảnh hưởng quan trọng

ở trường học GV có thể thành lập các nhóm nhỏ học tập dựa trên các nhóm bạn bè của các em Việc trao đổi, tranh luận, giúp đỡ nhau trong học tập nhằm vượt qua những khó khăn làm nảy nở các sáng kiến, phát triển lòng yêu thích học tập và củng cố niềm tin vào bản thân các em

Trang 27

Tóm lại, hình thành khả năng tự học cho HS THPT là phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và cần thiết cho việc dạy học Người GV giữ vai trò quyết định trong hoạt động học tập của HS ở lứa tuổi này, vì vậy cần phải có những biện pháp dạy học thích hợp hình thành năng lực tự học cho các em

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm

Ở nước ta, trong sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này

b Phân loại bài tập

Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác nhau :

+ Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao)

+ Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng)

+ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh (lý thuyết, thực nghiệm)

+ Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)

+ Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận)

+ Dựa vào kỹ năng, PP giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc )

+ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng oxi hoá - khử )

+ Dựa vào đặc điểm bài tập :

Trang 28

 Bài tập định tính (giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp )  Bài tập định lượng (có lượng dư, giải bằng trị số trung bình, giải bằng đồ thị ) Tuy nhiên giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, người ta phân loại

để nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định

c Tác dụng của bài tập hoá học

+ Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức sẽ được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên

+ Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc

Ví dụ : Khi học về tính khử của kim loại, GV có thể cho HS làm bài tập: “Có

hiện tượng gì xảy ra khi thả chiếc đinh sắt vào dung dịch CuSO4 và khi thả sợi dây đồng vào dung dịch FeCl3, giải thích và viết PTPƯ”

Khi giải, HS nắm được tính chất hoá học cơ bản của kim loại (kim loại có tính khử mạnh hơn sẽ khử ion của kim loại có tính khử yếu hơn), đồng thời hiểu sâu sắc hơn khả năng oxi hoá của ion kim loại

+ Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất

Ví dụ: Sau khi học xong chương Nitơ có thể hệ thống hoá các tính chất hoá học

và cách điều chế Nitơ cùng các hợp chất bằng sơ đồ sau:

(1) (2) (3)

(12)

(13) (14)

(15)

+ Rèn luyện kỹ năng hoá học cho HS như kỹ năng viết và cân bằng PTPƯ, kỹ năng tính toán theo công thức và phương trình hóa học, kỹ năng thực hành như cân, đo, đun nóng, nung sấy, lọc, nhận biết hoá chất

+ Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có

Trang 29

tầm nhìn sắc sảo

Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với một HS giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn

+ Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng

+ Bài tập hoá học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành PP học tập hợp lý

+ Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác

+ Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học, nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm

Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả, không phải một bài tập hoá học “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là người sử dụng nó Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoá học thật sự có ý nghĩa

1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh, những biểu hiện về năng lực sáng tạo và cách kiểm tra đánh giá [10]; [13]; [32]; [33]; [34]; [35]

Xã hội mới phồn vinh của thế kỷ XXI phải là xã hội dựa vào tri thức, dựa vào tư duy sáng tạo, tài năng sáng chế của con người Các PP tích cực, sáng tạo đã và đang được áp dụng vào trong hoạt động dạy học mức độ khác nhau nhưng chưa thực sự hiệu quả Vì vậy, việc đổi mới giáo dục là một trong những yêu cầu cấp bách của thời đại

Để giải quyết vấn đề này, người GV không chỉ là người đơn thuần cung cấp kiến thức

mà còn phải rèn luyện, bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo ra kiến thức mới, phương

Trang 30

tiện mới mà trước đây chưa từng có thông qua bài giảng của GV Vậy năng lực sáng tạo là gì ?

1.2.1 Năng lực sáng tạo của học sinh

1.2.1.1 Khái niệm về năng lực

“Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [35]

Hiện nay, người ta quan tâm nhiều đến phát triển năng lực hành động Vậy năng lực hành động là gì và có cấu trúc như thế nào ?

Năng lực hành động : Là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các

hành động để giải quyết các nhiệm vụ, lĩnh vực nghề nghiệp xã hội hay cá nhân trên cơ

sở của những hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Cấu trúc của năng lực hành động : Là kết quả của sự phối hợp bốn năng lực:

năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân

+ Năng lực chuyên môn : Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn

cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có PP và đảm bảo chính xác về mặt chuyên môn

+ Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch,

định hướng mục đích trong công việc, giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt ra

+ Năng lực xã hội : Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã

hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác

Trọng tâm của năng lực xã hội là ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức; có khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột

+ Năng lực cá nhân : Là khả năng suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội

phát triển cũng như những giới hạn của mình; phát triển được năng khiếu cá nhân cũng

Trang 31

như xây dựng và thực hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử

Các thành phần năng lực “gặp nhau” tạo thành năng lực hành động

NLHD

NLCN : Năng lực cá nhân NLCM : Năng lực chuyên môn

NLXH : Năng lực xã hội NLPP : Năng lực phương pháp

NLHD : Năng lực hành động

1.2.1.2 Khái niệm về sáng tạo

Có rất nhiều quan điểm về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Ars inveniendi): Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ) tập 42 : "Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân,

có ý nghĩa xã hội, có giá trị"

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: "Sáng tạo là tạo ra giá trị mới, giá trị đó có ích hay có hại tùy theo quan điểm của người sử dụng và đối tượng nhận hiệu quả dùng"

Có tác giả cho rằng : "Sáng tạo là quá trình trở nên nhạy cảm đối với những khó khăn, khiếm khuyết, những lỗ hổng kiến thức, những yếu tố còn thiếu, những bất ổn ,

là quá trình xác định khó khăn, tìm kiếm giải pháp, đưa ra những phỏng đoán, nêu lên những giả thuyết về sự khiếm khuyết, kiểm tra và tái kiểm tra những giả thuyết đó, có thể là cả điều chỉnh và kiểm tra lại những điều chỉnh đó và cuối cùng là truyền đạt kết quả” [47]

Trang 32

Sáng tạo, nói một cách đơn giản là dám thách thức những ý kiến và phương cách

đã được mọi người chấp nhận để tìm ra những giải pháp hoặc khái niệm mới

1.2.1.3 Những quan niệm về năng lực sáng tạo ở học sinh

Từ các cơ sở trên chúng ta có thể có những quan niệm về năng lực sáng tạo của

- Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu Thực chất là bao quát nhanh chóng, đôi khi ngay tức khắc, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng trong mối tương quan giữa chúng

- Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống Khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra giả thuyết hay các dự đoán khác nhau khi phải lí giải một hiện tượng

- Năng lực xác nhận bằng lí thuyết và thực hành các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó) Năng lực biết đề xuất các phương án thí nghiệm, hoặc thiết kế sơ đồ thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết, hoặc để đo một đại lượng nào đó với hiệu quả cao nhất có thể được trong những điều kiện đã cho

- Năng lực nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau Năng lực tìm ra các giải pháp lạ, chẳng hạn đối với bài toán hóa học, có nhiều cách nhìn đối với việc tìm kiếm lời giải, năng lực kết hợp nhiều PP giải bài tập để tìm ra một PP mới, độc đáo

Như vậy, năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luôn phù hợp với thực tế Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, nghe giảng hay đọc tài liệu hay tham quan về việc đó nhưng vẫn đạt kết quả cao [20]

Trang 33

Đối với HS phổ thông, tất cả những gì mà họ „tự nghĩ ra‟ khi GV chưa dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được nhờ trao đổi với bạn đều coi như có mang tính sáng tạo Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của học sinh là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức Như vậy, trách nhiệm chủ yếu của người giáo viên là tìm ra biện pháp hữu hiệu để rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh từ khi cắp sách đến trường

1.2.2 Những biểu hiện về năng lực sáng tạo của học sinh

Trong quá trình học tập của HS, sáng tạo là yêu cầu cao nhất trong bốn cấp độ nhận thức: biết, hiểu, vận dụng, sáng tạo Tuy nhiên, ngay từ những buổi đầu lên lớp hoặc làm việc mỗi HS đã có thể có những biểu hiện tích cực thể hiện năng lực sáng tạo của mình Những biểu hiện đó cụ thể là :

- Biết trả lời nhanh chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện những vấn đề mấu chốt, tìm ra ẩn ý (vấn đề) trong những câu hỏi hoặc vấn đề mở nào đó

Ví dụ : Với các bài tập dễ gây sự nhầm lẫn nhưng nếu HS nắm chắc kiến thức thì

vẫn phát hiện ra câu trả lời nhanh chóng và chính xác :

Điều chế muối Fe(II) ta dùng phản ứng hóa học nào trong các phản ứng sau: (1) Fe + HCl (2) Fe(OH)2 + HNO3

(3) Fe + HNO3 (4) FeCl2 + AgNO3

Nếu nắm chắc kiến thức thì HS sẽ chọn được ngay phản ứng 1 và 4

- Dám mạnh dạn đề xuất những cái mới không theo đường mòn, không theo những quy tắc đã có và biết cách biện hộ và phản bác vấn đề đó

Ví dụ : Đối với một bài toán HS có thể đưa ra một cách giải nào đó khác những

cách đã biết và biết cách lập luận để bảo vệ cách giải đó

- Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, tự giải quyết đúng với những bài tập mới, vấn đề mới

Ví dụ : Khi GV cho một dạng bài tập mới chưa từng gặp, HS có thể tự phân tích,

phát hiện ra vấn đề cốt lõi và giải quyết đúng Như bài tập sau: Giải thích tại sao Clo có

Trang 34

các số oxi hóa -1; 0; +1; +3; +5; +7 ? Khi đó HS có thể phát hiện ra vấn đề cốt lõi là có thể giải thích dựa vào cấu hình electron ở trạng thái cơ bản và trạng thái kích thích

- Biết vận dụng tri thức thực tế để giải quyết vấn đề khoa học và ngược lại biết vận dụng tri thức khoa học để đưa ra những sáng kiến, những giải thích, áp dụng phù hợp

Ví dụ : Khi điều chế một chất nào đó nhưng hóa chất cần thiết không có, học

sinh có thể thay bằng hóa chất khác nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu HS dựa vào kiến thức

đã học để giải thích những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, những hiện tượng tự nhiên như: hiện tượng ma trơi, mưa axit, thạch nhũ trong hang động

- Biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phán đoán, đưa ra kết luận chính xác ngắn gọn nhất

Ví dụ : Khi học xong một bài học hay một chương HS biết tự phân tích, so sánh

với các bài học trước để khái quát hóa và đưa ra mối liên hệ giữa các bài, các chương

đã được học

- Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phương án giải quyết

Ví dụ : Đối với một bài toán HS có thể đưa ra rất nhiều cách giải khác nhau hoặc

với một câu hỏi mở có thể đưa ra nhiều phương án trả lời

- Luôn biết đánh giá và tự đánh giá công việc, bản thân và đề xuất biện pháp hoàn thiện

Ví dụ : Qua những bài tập của GV, HS tự thấy được những ưu, nhược điểm của

bản thân từ đó tìm ra cách khắc phục những nhược điểm và phát huy ưu điểm của bản thân mình

- Biết cách học thầy, học bạn, biết kết hợp các phương tiện thông tin, khoa học

kĩ thuật hiện đại trong khi tự học Biết vận dụng và cải tiến những điều học được

Ví dụ : HS có thể tự học trên các phương tiện thông tin đại chúng: trên mạng

internet, trên báo, tivi, radio để nâng cao năng lực của bản thân Đến lớp, HS có thể trao đổi cùng bạn bè những điều học được, hỏi thầy cô giáo những điều còn băn khoăn

- Biết thường xuyên liên tưởng

Trang 35

Ví dụ : HS có thể nhìn các sự vật, các khái niệm, các định nghĩa dưới nhiều góc

độ khác nhau như khi làm bài tập về chương Cấu tạo nguyên tử có những bài tập hay, học sinh ghi nhớ, rồi đến chương Oxi, lưu huỳnh có những bài tập ta cần phải sử dụng, liên tưởng đến chương Cấu tạo nguyên tử để giải thích

Trên đây, tôi đã đề cập đến một số những biểu hiện thường thấy của những học sinh thông minh, sáng tạo trong học tập Tuy nhiên, những biểu hiện của năng lực sáng tạo có được thể hiện hay không, thể hiện nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào cách kiểm tra, đánh giá của GV

1.2.3 Cách kiểm tra đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh

Năng lực sáng tạo cũng như bất kì một loại tư duy nào cũng cần rèn luyện mới có được Vì vậy, trách nhiệm của GV là tìm ra các biện pháp để rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS ngay từ khi cắp sách tới trường

Để kiểm tra, đánh giá năng lực sáng tạo của HS, GV cần dựa vào những biểu hiện của năng lực sáng tạo Các PP cụ thể như sau :

+ Sử dụng phối hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau như viết, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, thí nghiệm,…

+ Sử dụng các câu hỏi đòi hỏi HS phải suy luận, bài tập có yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn

+ Chú ý kiểm tra tính linh hoạt, tháo vát trong thực hành, thí nghiệm (thí nghiệm hóa học, sử dụng các phương tiện trực quan)

+ Tăng cường sử dụng các bài tập nhận thức, các câu hỏi mở (bài tập sáng tạo) và tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất

1.3 Thực trạng dạy học hoá học ở các trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An

1.3.1 Nội dung, phương pháp điều tra thực trạng rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong dạy học hóa học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An 1.3.1.1 Nội dung và phương pháp điều tra

Chúng tôi đã tiến hành điều tra việc dạy và học hóa học trong năm học

2011-2012 ở 3 trường : trường THPT DTNT Con Cuông, trường THPT DTNT Mường Quạ,

trường THPT Anh Sơn 1 bằng những PP sau :

Trang 36

- Tìm hiểu qua Hiệu trưởng nhà trường để nắm được tình hình chung, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và các phương tiện dùng cho giảng dạy và học tập của nhà trường Tham khảo chất lượng HS năm học trước thông qua sổ sách và các bài kiểm tra học kì trước ;

- Tìm hiểu và đàm thoại với các GV bộ môn dạy hóa học để nắm được thực trạng học tập của HS và phương pháp dạy học của GV hóa học, nắm được thuận lợi và khó khăn của GV và HS trong quá trình xây dựng kiến thức, kỹ năng của bài ;

- Tiếp xúc và trò chuyện với HS các lớp 10, 11, 12, nghiên cứu vở ghi chép và các bài làm của HS để nắm được điều kiện học tập, tâm tư tình cảm, nhu cầu học tập

bộ môn của HS, đặc điểm tư duy và PP học tập hóa học của HS ;

- Ra một số bài kiểm tra nhằm phát hiện điểm yếu, điểm mạnh trong tư duy hóa học của HS, đồng thời đánh giá sơ bộ đầu vào của HS

Chúng tôi cũng đã điều tra với 14 GV dạy hóa học ở các trường THPT của tỉnh Nghệ An trong thời gian 2 tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2012) để lấy ý kiến về việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS trong DH hóa học với các nội dung như sau :

- Những biểu hiện của năng lực độc lập, sáng tạo của HS trong DH môn hóa học;

- Các biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong DH môn hóa học ;

- Thực trạng rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS trong DH môn hóa học ở trường THPT

1.3.1.2 Kết quả điều tra

a Đối với học sinh

Qua việc điều tra cho thấy tuy có rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập môn hóa học nhưng đa số các em HS thường xuyên nỗ lực trong học tập, chịu khó hỏi các bạn và các thầy cô Tuy nhiên, vẫn còn một lượng không nhỏ HS học thụ động, đối

phó, không chịu khó nghe giảng và tìm các PP học tập phù hợp với mình

b Đối với giáo viên

Trang 37

Qua việc điều tra cũng cho thấy có tới 21,43%

14

3

 GV đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy học, các GV này thường xuyên chú ý đến yêu cầu bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS, soạn giảng theo hướng đổi mới PP dạy học, PP giải bài tập tổng hợp dựa trên những kiến thức của các bài toán đơn giản qua việc hình thành một sơ đồ, PP dạy một bài lý thuyết có thí nghiệm, có chú ý đến việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở cấp THPT

Tuy nhiên, qua các tiết dạy chúng tôi nhận thấy vẫn còn một lượng không nhỏ các GV còn dạy theo thói quen cũ, đơn thuần chỉ là truyền thụ kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực học tập đặc biệt là rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS, cụ thể là có tới 50%

4  GV hoàn toàn không chú ý tới vấn đề này Trong giờ học bài mới các

GV thường chỉ đặt những câu hỏi có tính chất dẫn dắt, gợi mở kiến thức chứ ít khi đặt những câu hỏi liên hệ giữa chất này với chất khác hoặc mối liên hệ giữa kiến thức đang học với thực tế đời sống làm cho môn hoá học xa với điều kiện thực tế của HS Trong giờ luyện tập hay ôn tập tổng kết nhiều GV chỉ ôn lại kiến thức cũ theo SGK không có những câu hỏi mở hay cho những bài tập có nhiều phương án trả lời, chỉ giải bài tập theo phương án đã định sẵn, ít khi khuyến khích HS nêu nhiều cách giải, thậm chí một

số GV còn áp đặt cách giải đối với HS của mình Vì vậy, HS thường chỉ xem xét vấn

đề theo một con đường nhất định không chịu đào sâu suy nghĩ

Nghiệp vụ sư phạm đặc biệt là kỹ năng thí nghiệm và hướng dẫn thí nghiệm, kỹ năng sử dụng các phương tiện DH hiện đại như máy chiếu, máy vi tính còn lúng túng chưa thành thạo Việc phối hợp hài hòa các PP DH tích cực còn hạn chế

Việc dạy của GV còn nhiều tồn tại nên tạo cho HS PP học tập thụ động, chỉ cần học thuộc những gì thầy cô cho ghi chép, không chịu suy luận, động não Do vậy, khi gặp phải những tình huống mới, những bài tập đòi hỏi phải có sự tư duy sáng tạo thì

HS lúng túng không trả lời được

Trang 38

Để khắc phục được tình trạng trên thì ngay từ bây giờ người GV phải điều chỉnh lại PP DH của mình sao cho có hiệu quả nhằm bồi dưỡng và phát huy được tính tích cực độc lập sáng tạo và hình thành cho HS PP học tập để nhằm mục tiêu đào tạo ra

những người chủ tương lai của đất nước

1.3.2 Nguyên nhân yếu kém về năng lực độc lập, sáng tạo của HS trong học tập hoá học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An :

- GV, nhà trường rất ít chú ý kiểm tra, đánh giá năng lực độc lập, sáng tạo của

3 Thực trạng dạy học hóa học ở một số trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An

Những vấn đề trên là cơ sở để tôi nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho HS khi dạy hóa học ở các trường THPT thuộc tỉnh Nghệ An

Trang 39

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC ĐỘC LẬP, SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN PHI KIM TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Một số biện pháp rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học sinh THPT [7]; [13]; [31]; [33]

Một trong những mục tiêu của giáo dục hiện đại là tập trung hơn nữa vào việc hình thành các năng lực: năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực thích ứng cho HS Do đó ngoài những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà HS cần đạt được, cần chú ý nhiều tới việc hình thành các kỹ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu trong học tập hóa học như: quan sát, phân loại, ghi chép thông tin, đề ra giả thuyết khoa học, giải quyết vấn đề, tiến hành thí nghiệm hóa học từ đơn giản đến phức tạp , để HS tự phát hiện và giải quyết một cách độc lập, sáng tạo các vấn đề có liên quan tới hóa học Quá trình DH không chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là giúp HS nhận thức được một số kiến thức kỹ năng cụ thể mà bằng cách dạy nào để các em phát huy tích cực độc lập, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và dần dần hình thành nhân cách của người lao động mới nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội Như vậy, nhiệm vụ của người GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức cho HS mà còn phải bồi dưỡng, rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo ngay từ khi còn học ở phổ thông để đào tạo ra một thế

hệ tương lai có đầy đủ phẩm chất, trí tuệ sáng tạo, có khả năng thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh gặp phải trong cuộc sống

2.1.1 Biện pháp 1 : Lựa chọn một logic nội dung thích hợp và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức HS, phù hợp với trình độ HS

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm dựa trên cơ sở của lý thuyết Lý thuyết và thực nghiệm bổ sung, hoàn thiện cho nhau nhưng trong đó lý thuyết có vai trò chủ đạo, lý thuyết giúp cho HS có một cơ sở lý luận để vận dụng vào nghiên cứu thực nghiệm, dùng thực nghiệm kiểm chứng lý thuyết Việc nghiên cứu các vấn đề lý thuyết cơ bản của chương trình là một khó khăn rất lớn, khi hình thành những khái

Trang 40

niệm mới và khó, cần lựa chọn logic nội dung hợp lý, lập luận chặt chẽ, tập trung vào nội dung cốt lõi Để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức của HS, GV còn cần phải thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động của HS để đạt được mục tiêu cụ thể ở mỗi bài, mỗi chương, mỗi phần học cụ thể

Để có thể chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức HS, phù hợp với HS, GV cần:

+ Thiết kế giáo án cẩn thận, chu đáo

+ Tổ chức các hoạt động trên lớp để HS hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm

+ Định hướng, điều chỉnh các hoạt động của HS: chính xác hóa các khái niệm hóa học, các kết luận về các hiện tượng, bản chất hóa học mà HS tự tìm tòi được GV cung cấp thêm thông tin mà HS không thể tự tìm tòi được thông qua các hoạt động ở trên lớp

+ Tạo điều kiện để cho mọi HS ở những trình độ khác nhau đều được phát huy tính tích cực sáng tạo của mình Quan tâm, hướng dẫn PP học tập môn hóa học, đặc biệt là PP tự học

+ Thường xuyên sử dụng các phương tiện trực quan, các hiện tượng thực tế, thí nghiệm hóa học

+ Tạo điều kiện cho HS được vận dụng những tri thức của mình để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời sống, sản xuất

+ Tạo điều kiện để HS tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong quá trình

học tập Ví dụ : Khi dạy về Photpho, để có thể khắc sâu về cấu tạo và tính chất của

Photpho, GV có thể hỏi HS :

- Tại sao Nitơ thì tồn tại dạng khí, còn Photpho tồn tại ở dạng rắn ở điều kiện thường ?

- Tại sao Photpho hoạt động mạnh hơn Nitơ ở nhiệt độ dưới 30000C ?

Từ đó hình thành bài tập nhằm yêu cầu HS vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào bài học để giải quyết các câu hỏi trên

Ngày đăng: 16/09/2021, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Ái - Nguyễn Tinh Dung - Trần Thành Huế - Trần Quốc Sơn - Nguyễn Văn Tòng (2005), Một số vấn đề chọn lọc của hoá học - Tập 1,2,3. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chọn lọc của hoá học - Tập 1,2,3
Tác giả: Nguyễn Duy Ái - Nguyễn Tinh Dung - Trần Thành Huế - Trần Quốc Sơn - Nguyễn Văn Tòng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Ngô Ngọc An (2005), 500 câu hỏi lí thuyết hoá học luyện thi đại học - Tập 1. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 500 câu hỏi lí thuyết hoá học luyện thi đại học - Tập 1
Tác giả: Ngô Ngọc An
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
3. Ngô Ngọc An (2005), Bài tập nâng cao hoá vô cơ. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập nâng cao hoá vô cơ
Tác giả: Ngô Ngọc An
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình DH. Vụ GV - Bộ GD và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình DH
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
6. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
7. Nguyễn Cương (1999), Phương pháp dạy học và thí nghiệm Hóa học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học và thí nghiệm Hóa học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Nguyễn Cương (2008), PP dạy hoá học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản…. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Nghĩa Dân (1998), Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Năm: 1998
11. Lê Văn Dũng (2001), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh THPT thông qua bài tập hoá học. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh THPT thông qua bài tập hoá học
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Hồng Gấm (2005), Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần hóa học vô cơ ở trường THCS. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục. Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần hóa học vô cơ ở trường THCS
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Gấm
Năm: 2005
14. Cao Cự Giác (2002), Hướng dẫn giải nhanh bài tập hoá học tập I. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải nhanh bài tập hoá học tập I
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
15- Cao Cƣ Giác (2007), PP giải BT HH 10 tự luận và trắc nghiệm – Nxb Đại Học Quốc Gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: PP giải BT HH 10 tự luận và trắc nghiệm
Tác giả: Cao Cƣ Giác
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia TPHCM
Năm: 2007
16. Cao Cự Giác (2011), Những viên kim cương về HH (Từ lý thuyết đến ứng dụng). Nxb Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những viên kim cương về HH
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
18. Trần Bá Hoành (1999), Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1999
19. Đào Thị Việt Hồng (2005), Nghiên cứu sử dụng bài tập hoá học phần vô cơ lớp 11- ban KHTN theo hướng dạy học tích cực. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng bài tập hoá học phần vô cơ lớp 11- ban KHTN theo hướng dạy học tích cực
Tác giả: Đào Thị Việt Hồng
Năm: 2005
20. Vương Cẩm Hương (2006), Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THCS. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực chủ động sáng tạo cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THCS
Tác giả: Vương Cẩm Hương
Năm: 2006
21. Phạm Thị Lan Hương (2005), Vai trò của người giáo viên trong việc hình thành năng lực tự học cho học sinh. Tạp chí dạy và học ngày nay số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người giáo viên trong việc hình thành năng lực tự học cho học sinh
Tác giả: Phạm Thị Lan Hương
Năm: 2005
22. Trần Duy Hƣng (1999), Qúa trình dạy học cho học sinh theo các nhóm nhỏ. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qúa trình dạy học cho học sinh theo các nhóm nhỏ
Tác giả: Trần Duy Hƣng
Năm: 1999
23. Bernhard Muszynski - Nguyễn Thị Phương Hoa (2004), Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên. Cơ sở lí luận và giải pháp. Nxb Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên. Cơ sở lí luận và giải pháp
Tác giả: Bernhard Muszynski - Nguyễn Thị Phương Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2004
24. Lê Văn Năm (2003), Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy phần kim loại trong chương trình hoá học phổ thông, Tuyển tập báo cáo Hội nghị Hoá học toàn quốc lần thứ IV, Tập III, 11/2003, 91 - 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy phần kim loại trong chương trình hoá học phổ thông
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w