e-Sự ảnh hưởng tích cực to lớn của CNTT đối với giáo dục đã được khẳng định qua Chỉ thị số 29 ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng
Trang 1VŨ NGỌC HẢI
PHẦN KIẾN THỨC KIM LOẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN LỚP 12 THPT
Chuyên ngành : Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN NĂM
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS Lê Văn Năm đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Quí Thầy giáo PGS.TS Cao Cự Giác và PGS.TS Võ Quang Mai đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận
văn
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa
Hoá học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học trường ĐH Vinh đã
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu - Quý Thầy
Cô tổ Hóa các trường THPT Thạnh Lộc, Nguyễn Hữu Cầu, Marie Curie, cũng như Quý Thầy Cô của nhiều trường THPT thuộc địa bàn TP Hồ Chí Minh đã có nhiều giúp đỡ trong quá
trình thực nghiệm sư phạm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn Gia đình, các em học sinh đã luôn là
chỗ dựa tinh thần vững chắc, tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Vũ Ngọc Hải
Trang 527
2.1.1 C ấu trúc của chương trình 27
2.1.2 C huẩn kiến thức và kĩ năng 28
2.2 X ây dựng website 38
2.2.1 N guyên tắc thiết kế 38
2.2.2 G iới thiệu cấu trúc website 41
2.2.3 P hương thức hoạt động của trang website 41
2.2.4 S ử dụng chức năng Master của Muse để lập kế hoạch và xây dựng cấu trúc website 41
2.2.5 S ử dụng chức năng Master và các công cụ khác của Muse để tạo danh mục và liên kết cho tất cả các trang website 44
2.2.6 S ử dụng chức năng Master và các công cụ khác của Muse để tạo các thuộc tính phổ biến chung cho tất cả các trang website 49
2.2.7
Thiết kế trang Trang Chủ 55
2.2.8
Thiết kế trang Bài giảng 60
Trang 62.2.9
Thiết kế trang Phương pháp chung 74
2.2.10
Thiết kế trang Bài tập trắc nghiệm 77
2.2.11
Thiết kế trang Kiểm tra 80
2.2.12
Thiết kế trang Phim hóa học 84
2.2.13
Thiết kế trang Tư liệu 87
2.2.14
Thiết kế trang tin hóa học, trang Lịch sử hóa học, Trang hóa học vui 88
2.2.15
Quản lí nội dung trang website 91
2.2.16
Quản trị website 111
2.3 T ổ chức hoạt động dạy học giữa thầy và trò trong giờ học hoá học có sử dụng website 113
2.3.1 T ích hợp Website dạy học hóa học trong các giờ dạy truyền thống 113
2.3.2 G iúp học sinh tự học 115
2.3.3 S ử dụng website trong tổ chức kiểm tra, đánh giá 117
Tiểu kết chương 2 117
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 119
3.1 M ục đích thực nghiệm 119
Trang 82 Đ
ề xuất 142
Tài liệu tham khảo 144
Phụ lục 147
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên 147
Phụ lục 2: Phiếu tham khảo ý kiến 150
Phụ lục 3: Một số grap nội dung 12 về kim loại 154
Phụ lục 4: Một số phương pháp chính giải toán kim loại 160
Phụ lục 5: Một số dạng toán kim loại trong hệ thống các dạng toán kim loại thường gặp 170
Phụ lục 6: Giáo án thực nghiệm 195
Trang 9BGĐT : Bài giảng điện tử
tin và truyền thông
Trang 10HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
WEBSITE DẠY HỌC HÓA HỌC VÔ CƠ
PHẦN KIẾN THỨC KIM LOẠI 12
Trang 11MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhân loại đã phát minh và chứng kiến sự tiến triển thần kì của công nghệ thông tin (CNTT) Những thành tựu của CNTT
đã góp phần rất quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức và
xã hội thông tin mang tính chất toàn cầu
Công nghệ thông tin cũng thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đổi mới trong giáo dục, tạo ra
công nghệ giáo dục (Educational Technology) với nhiều thành tựu rực rỡ: CNTT làm
thay đổi nội dung, hình thức và PPDH một cách phong phú Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy
theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin
Mối giao lưu giữa người và máy đã trở thành tương tác hai chiều với các phương tiện
đa truyền thông (multimedia) như âm thanh, hình ảnh, video, mà đỉnh cao là learning (học trực tuyến qua mạng Internet)
e-Sự ảnh hưởng tích cực to lớn của CNTT đối với giáo dục đã được khẳng định qua Chỉ thị số 29 ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành giáo dục giai
đoạn 2001 – 2005: “… sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi
mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học.” và Bộ giáo dục và Đào tạo
cũng đã có những chủ trương rất cụ thể trong toàn ngành về việc ứng dụng CNTT trong công tác dạy và học Đặc biệt năm học 2008 – 2009 là năm học được đánh dấu là mốc son của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy- “Năm học công nghệ thông tin” trong toàn ngành giáo dục
Trong nhà trường hiện nay, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại, nhất
là máy vi tính là một xu hướng để nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Đó là việc truyền thụ kiến thức, phát huy khả năng tự học, rèn luyện kĩ năng thực hành, ôn tập kiến thức của HS, góp phần thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động của HS trong quá trình học tập Đặc biệt trong quá trình dạy học hóa học, việc áp dụng website vào dạy học sẽ làm phong phú thêm kiến thức cho HS, tạo nên động cơ hứng thú học tập cho
Trang 12HS góp phần vào phát triển khả năng tự học, tự tìm tòi kiến thức cho HS Có được một trang website tích hợp nhiều phần mềm dạy học có hiệu quả; chứa đựng nhiều thông tin đến kiến thức cần truyền đạt, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với khoa học kĩ thuật nói chung và bộ môn nói riêng, không những thế trang website sẽ tạo môi trường cho học sinh có thể học mọi lúc, mọi nơi; đồng thời giúp các em có thể tự kiểm tra kiến thức mà mình lĩnh hội được Nhờ đó mà việc ứng dụng CNTT là một trong những phương tiện hữu hiệu để “Thúc đẩy cuộc cách mạng về đổi mới PPDH và đổi mới nội dung dạy học”- Chỉ thị số 29 ngày 30/ 7/ 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005
Đề tài “XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY VÀ HỌC PHẦN KIẾN
THỨC KIM LOẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN LỚP 12 THPT” là cần
thiết với mục đích ứng dụng CNTT để tạo ra tổ hợp công nghệ dạy học hiện đại góp phần đổi mới PPDH phần kiến thức kim loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT nói riêng và của bộ môn hóa học nói chung
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Ứng dụng CNTT để xây dựng website hỗ trợ dạy và học phần kiến thức kim loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
hóa học ở trường THPT
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn và vai trò của CNTT đối với quá trình dạy
2 Nghiên cứu thực trạng DH phần kiến thức kim loại lớp 12 ở một số trường THPT
3 Áp dụng CNTT để thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học phần kiến thức kim
loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT
4 Nghiên cứu các hình thức sử dụng Website đã xây dựng được trong việc dạy và
học phần kiến thức kim loại lớp 12 cơ bản THPT
5 Thực nghiệm sư phạm ở một số trường phổ thông để chứng minh tính hiệu quả và
khả thi của đề tài Từ đó rút ra những biện pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng CNTT vào giảng dạy và thúc đẩy khả năng tự học của học sinh
Trang 13IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được website có chất lượng để hỗ trợ việc dạy và học phần kiến thức kim loại thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn hoá học nói chung và nội dung kiến thức phần kim loại (lớp 12 THPT) nói riêng
V KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng website hỗ trợ dạy học phần kiến thức kim loại
trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành các nhiệm vụ này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3 Phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả thực nghiệm
VII NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
hoá học
kim loại 12
cường sự rèn luyện cho học sinh tự học
cầu nâng cao kiến thức bộ môn cho học sinh
hóa học
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [15]; [28]; [29]
1.1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của việc đổi mới PPDH trên thế giới hiện nay 1.1.1.1 Vai trò của cơ chế thị trường
Do tác động của cơ chế thị trường, vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và được xem như một động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội Dưới sự tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong đó phương pháp là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng đào tạo Để đảm bảo cho sản phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhà trường phải tạo ra được những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm, thích hợp với đối tượng học sinh rất khác nhau về nhu cầu, trình độ và khả năng Vì thế đã xuất hiện những hệ dạy học phù hợp với qúa trình đào tạo phân hóa, cá thể hóa cao độ, như những hệ dạy học theo nguyên lý "tự học có hướng dẫn" (assisted self - learning) đòi hỏi tỷ trọng tự lực cao ở người học, đồng thời cả sự điều khiển sư phạm thông minh, khéo léo của người thày
1.1.1.2 Nguyên nhân hình thành các PPDH hiện đại
Các PPDH hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại, như tiếp cận hệ thống (systemic approach), tiếp cận mođun (modunlar approach), phương pháp grap (graph methods), v.v Đây là những phương pháp giúp điều hành và quản lí kinh
tế - xã hội rất hiệu nghiệm ở qui mô hoạt động rộng lớn và phức tạp Từ những phương pháp đó, đã xuất hiện những tổ hợp PPDH phức hợp, như algorit dạy học, grap dạy học, mođun dạy học, v.v Những tổ hợp phương pháp phức hợp này rất thích hợp với những hệ dạy học mới của nhà trường trong cơ chế thị trường hiện đại, và chỉ có chúng mới cho phép người giáo viên sử dụng phối hợp có hiệu quả với những hệ thống đa kênh (multimedia systems), kể cả kĩ thuật vi tính, điều mà các PPDH cổ truyền không
có khả năng thực hiện
1.1.1.3 Vai trò của tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống đang xâm nhập vào giáo dục như một cụng cụ phương pháp luận hiệu nghiệm Ngày nay, khi mà mục tiêu của nhà trường trong cơ chế thị trường hiện đại đang định hướng rõ rệt cho việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho
Trang 15một nền kinh tế đang phát triển và biến đổi sâu sắc, nội dung trí dục của nhà trường cũng biến đổi cơ bản theo với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Do
đó, việc đổi mới PPDH phải gắn liền và chịu sự chi phối của cả mục tiêu (M) nội dung (N) và phương pháp dạy học (P) theo cấu trúc:
Dạy học ngày nay đã đạt đến trình độ công nghệ, do vậy, không chỉ nêu khẩu hiệu: "Cải tiến phương pháp dạy học" đơn thuần mà cần có sự tiến hành, theo tư tưởng tiếp cận hệ thống, cải cách cả hệ thống giáo dục, xác định mục tiêu đào tạo, nội dung trí dục và từ đó đổi mới PPDH
1.1.2 Một số định hướng đổi mới và phát triển PPDH ở Việt Nam hiện nay
[14];[15];[17]
1.1.2.1 Tính kế thừa và phát triển
Việc đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay là cần thiết
và cấp bách Tuy nhiên sự phát triển phải dựa trên điều kiện thực tế hiện tại của đất nước Tức là trước hết “phải thừa nhận bản chất thực tiễn của dạy học”, cần xác định rõ trình độ của hệ thống dạy học ở nước ta hiện nay Tình trạng phổ biến của dạy học ở Việt Nam hiện nay vẫn là các yếu tố truyền thống Vì vậy, “hướng tìm tòi của chúng ta vẫn phải từ trong lĩnh vực các lí thuyết truyền thống về PPDH” Trong LLDH truyền thống, những ưu điểm, những yếu tố hợp lý của nó vẫn còn giá trị và mang tính phổ quát Tuy nhiên, do vào thời đại phát triển khoa học kĩ thuật và công nghệ, nếu chỉ bằng lòng như vậy là sẽ bị tụt hậu, là không có khả năng tiếp cận các nhân tố mới đang vận động và phát triển Do đó đổi mới ở đây phải bao gồm cả sự lựa chọn những giá trị (PPDH) truyền thống có tác dụng tích cực vào việc góp phần phát triển chất lượng giáo dục trong thời đại mới
Chẳng hạn, “LLDH truyền thống cũng có nêu ra việc đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề “tích cực hoá quá trình nhận thức của HS”, nhưng vẫn đặt nó trong khuôn khổ cứng nhắc của lối truyền thụ một chiều, nặng về vai trò của thày và chưa đánh giá đúng vai trò hoạt động năng động, sáng tạo, tự thích ứng của HS trong xã hội phát triển Vì vậy, đổi mới PPDH phải bổ khuyết mặt yếu kém nói trên, nâng trình độ đa dạng, phức hợp, toàn diện của hoạt động dạy học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển”
Trang 161.1.2.2 Tính khả thi và chất lượng mới
Đây là hai yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng với điều kiện thực tiễn và yêu cầu phát triển PPDH Thông thường, do thời gian và ngại khó, nhà trường chúng ta thường nghiêng về nguyên tắc khả thi và lệ thuộc quá nhiều vào ý tưởng này Tâm lý chung của các giáo viên và cán bộ chỉ đạo là dễ chấp nhận các phương án dễ thực hiện, nhanh chóng phổ biến mà không chú ý đến hậu quả của nó “Như thế, khả thi nhưng thấp hơn trình độ hiện thực thì vô nghĩa, đó là một việc làm thừa và còn tai hại nguy hiểm vì đã cản trở bước tiến bộ” Như vậy, trong nghiên cứu, đổi mới và phát triển PPDH, cần đưa
ra những giải pháp khả thi nhưng quan trọng hơn nữa là giải pháp đó phải đưa ra hiệu
quả và chất lượng cao hơn tình trạng hiện thực
1.1.2.3 Áp dụng những phương tiện kĩ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH
mang tính công nghệ [28];[30]
Đây là xu hướng phù hợp với công cuộc xây dựng công nghệ dạy học hiện đại trên thế giới Nhiều thành tựu của KHKT và công nghệ được ứng dụng vào KHGD Khi nghiên cứu xu hướng này, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã phát hiện ra một quy luật cơ bản chi phối chiến lược đổi mới và hiện đại hoá PPDH, đó là quy luật vệ sự chuyển hoá của phương pháp KHKT thành PPDH, thông qua xử lý sư phạm (cho thích nghi với môi trường dạy học)
Việc phát minh ra quy luật này giúp cho việc xây dựng và chuyển giao những công nghệ tương ứng (KHKT) sang KHGD sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo giáo viên Vì vậy, một trong những xu hướng đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới là hình thành những công nghệ dạy học
1.1.2.4 Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh [14];[15];[17].
Cần phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và học chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của thực tiễn là do công tác kiểm tra và đánh giá chưa được hoàn chỉnh Vì vậy, “việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn là một trong những vấn đề quan trọng nhất” Có thể xem đây cũng là một khâu đột phá khởi động
Trang 17cho việc đổi mới PPDH Dạy tốt chỉ có thể có ý nghĩa khi kết quả của nó dẫn đến đích
là học tốt Do đó, muốn đánh giá “dạy tốt” thì trước hết phải kiểm tra đánh giá xem có
“học tốt” không đã “Chính nội dung và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học sẽ chi phối mạnh mẽ, điều chỉnh ngay lập tức cách học của HS và cách dạy của thày”
Kiểm tra, đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm Vì vậy đổi mới PPDH thì nhất định phải đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá, sử dụng kĩ thuật ngày càng tiên tiến, có tính khách quan và độ tin cậy cao
Trên đây, chúng tôi đã trình bày các xu hướng đổi mới PPDH trên thế giới và những định hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam Đó là những cơ sở để đề xuất các mô hình đổi mới PPDH mà chúng ta sẽ nghiên cứu tiếp sau đây
1.2 Công nghệ giáo dục [18]
1.2.1 Công nghệ giáo dục trong kỉ nguyên thông tin
Công nghệ giáo dục thường được mô tả là một thành phần của giáo dục nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến mọi phương diện học tập của con người thông qua những quá trình phức tạp và tương hỗ Định nghĩa chính thức được AECT (Hiệp hội Thông tin và công nghệ giáo dục : Asssociation for Educational Communications and Technology) thông qua năm 1977 và được tóm tắt như sau:
Công nghệ giáo dục (CNGD) là một qui trình phức tạp, tích hợp bao gồm con người, thủ tục, ý tưởng, phương tiện và tổ chức để phân tích các vấn đề và đề xuất, thực hiện, đánh giá và điều hành cách giải quyết các vấn đề gồm mọi phương diện của
sự học
1.2.2 Công nghệ dạy học
Hiện nay, không còn tranh cãi gì về liệu có nên hay không nên ứng dụng CNGD mới vào trường học vì ngày càng nhiều nghiên cứu đều khẳng định tiềm năng của công nghệ đối với những thành quả tốt hơn có thể đạt được của HS Như vậy, việc dạy học ngày nay phải trở thành công nghệ mới đáp ứng được xu hướng phát triển của xã hội
CNDH học được định nghĩa là những lí thuyết và thực hành về thiết kế, phát
triển, ứng dụng, điều hành và lượng giá các quá trình và tài nguyên cho việc học
Trang 18Cụm từ “Công nghệ dạy học” trong định nghĩa để chỉ một ngành học tập trung vào những kĩ thuật hoặc phương án giúp cho việc học tập có hiệu quả hơn dựa trên lí thuyết theo nghĩa rộng nhất của nó, không chỉ là những lí thuyết khoa học thuần thúy
1.3 Công nghệ thông tin đối với giáo dục
1.3.1 Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú
và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá [1]
Trang 191.3.2 Chức năng giáo dục của CNTT [33]
CNTT có khả năng làm thay đổi (hoặc thậm chí cải thiện) các khoá đào tạo Lúc này, CNTT biểu hiện chức năng giáo dục
Không giống như những phương tiện truyền thông khác đã tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục (ví như vô tuyến hay đài phát thanh), máy tính (PC) đem đến đặc chưng đa tác dụng của mình trong những ứng dụng khác nhau Tuy nhiên, việc trang bị
PC cho các lớp học không có nghĩa là chất lượng giảng dạy sẽ được tự động hoá nâng cao Tất nhiên, chất lượng giảng dạy có thể được cải thiện nhưng không phải chính do bản thân PC đem lại Lúc này, PC sẽ được sử dụng trong lớp học để thực hiện những công việc như trước đây nhưng được tổ chức dưới một hình thức khác Hãy cùng suy ngẫm tới việc phổ biến rộng rãi những thiết bị ứng dụng giáo dục để cung cấp một số
kĩ năng nhất định ở mức độ nhận thức thấp, ví dụ như các kĩ năng đánh vần và tính toán Tất cả những thiết bị ứng dụng này đều chỉ đem lại một giá trị bổ trợ it ỏi đối với các bài tập trên giấy và bút một cách truyền thống Với quan điểm này, nếu sử dụng máy vi tính như là một công cụ học tập thì cũng sẽ không đem đến một “loại hình giáo dục khác”, một loại hình giáo dục đòi hỏi HS phải nắm được các kĩ năng đánh vần và tính toán trôi chảy hơn và nhanh hơn Như vậy, PC chỉ có thể đem đến một giá trị mang tính thúc đẩy: việc thay đổi khi lựa chọn các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị có thể khuyến khích HS tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập
PC với chức năng là một công cụ học tập sẽ được đưa vào phục vụ giảng dạy các môn học một cách có trách nhiệm PC được đưa vào sử dụng trong các hoạt động thực hành hàng ngày trên lớp, đồng thời khi đó HS sẽ nắm được những kĩ năng kĩ thuật cơ bản của PC Ngoài ra HS còn có khả năng vận hành những chức năng của một thiết bị ứng dụng chuyên biệt Lúc này bản thân PC cũng mang đến giá trị giáo dục, giống như khi người GV sử dụng những bài tập viết trên giấy, bút truyền thống để phát triển những kĩ năng viết, kĩ năng kĩ thuật và kĩ năng hướng dẫn Hơn thế nữa, PC còn có thể đơn giản hoá một số công việc, ví dụ như sửa lỗi hay lưu giữ các kết quả của HS hoặc điều chỉnh mức độ khó của những bài tập
1.3.3 Những lý do sử dụng CNTT [18]; [25]; [33]
Đưa CNTT vào trong giáo dục không phải là một hình thức đổi mới riêng rẽ mà chính là một phần trong sự phát triển của xã hội hiện nay Do vậy, việc ứng dụng CNTT
Trang 20trong giáo dục luôn được chú trọng Những lí do cơ bản, phổ biến nhất trong việc ứng dụng CNTT đó là những lí do mang tính hướng dẫn, tính xã hội, tính kinh tế và tính xúc tác
1.3.3.1 CNTT là một công cụ hướng dẫn
CNTT - như một phương tiện trợ giảng - thường được yêu chuộng hơn những phương tiện trợ giảng khác CNTT khuyến khích sự tham gia học tập của học sinh và góp phần nâng cao thành tích học tập Hơn thế nữa CNTT còn tạo ra một chiều hướng mới, bổ sung vào quá trình học tập suốt đời: con người có thể tự học với sự trợ giúp của một chiếc máy vi tính
1.3.3.2 Lí do mang tính xã hội
Tri thức đã và đang trở thành một cơ sở nền tảng quan trọng nhất trong thế kỷ 21
Ai có khả năng truy cập kiến thức và thông tin, người đó sẽ trở thành những „người giàu kiểu mới‟ Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo sẽ càng lớn Sự loại trừ
xã hội sẽ trở thành một mối đe doạ thực sự CNTT có thể trở thành một hình thái mới của sự bất công Do vậy, cần phải tránh tạo ra một khoảng cách lớn giữa người biết truy cập những thông tin truyền thông mới và những người không biết truy cập Trẻ em cần phải có những cơ hội bình đẳng Mọi đứa trẻ đều có quyền được tham gia giáo dục và đều có quyền được truy cập thông tin truyền thông mới, CNTT Tuy nhiên, không phải bậc phụ huynh nào cũng có đủ khả năng để mua một chiếc PC hoặc đầu tư cho con cái những phương tiện truyền thông mới Phải chăng trường học là một nơi tốt nhất có thể cung cấp cho tất cả trẻ em những cơ hội bình đẳng?
để tiến lên
Trang 211.3.3.4 Lí do mang tính xúc tác
Trường học sẽ thay đổi do sự có mặt của CNTT Giáo dục sẽ trở nên hiệu quả hơn, không chỉ có vậy, các công tác quản lí hành chính, quản lí nhà trường cũng sẽ có tác dụng và hiệu quả hơn Trường học sẽ trở thành những cơ quan đổi mới
1.3.4 Những cách thức ứng dụng các phương tiện truyền thông giáo dục mới
CNTT có thể được đưa vào sử dụng để thực hiện những công việc mà trước đây chúng vẫn làm, tuy nhiên theo một cách thức khác Ngày nay có nhiều tiện ích của PC vẫn đang tiếp tục không được tận dụng triệt để Dưới đây là những quan điểm về những cách thức khác nhau để ứng dụng các phương tiện truyền thông giáo dục mới
1.3.4.3 CNTT là một người hướng dẫn
Những chương trình mô phỏng, những tài liệu số hoá, các loại bài tập do chính giáo viên thiết kế trên các chương trình tiện ích và một số lượng lớn những tiện ích đa dạng của PC trở thành những hệ thống trợ giúp học tập cho người sử dụng, chính chúng sẽ thay thế một phần nào quá trình hướng dẫn của người thày giáo
1.3.4.4 CNTT là một phương tiện mở
Với các bộ chương trình mở, học sinh có thể tạo ra sản phẩm theo ý muốn của mình như lấy thông tin minh họa cho bài học từ internet, làm thí nghiệm từ phần mềm Crocodile Chemistry, thiết kế trang website… PC chỉ là một phương tiện giúp các em HS thực hiện các hoạt động mà không cần có sự gắn kết CNTT
Trang 221.3.4.5 CNTT là phương tiện truyền thông
Với sự phát triển của mạng lưới internet, thông qua máy vi tính HS có thể giao tiếp với người khác và thu thập nhiều thông tin từ nhiều trang website khác nhau để học tập và giải trí Thử thách đặt ra ở đây không chỉ là việc dạy HS tìm kiếm những chiến lược mà còn dạy việc xử lí những thông tin số đó một cách cẩn trọng Việc này đòi hỏi phải có sự phát triển về khả năng nhận định và khả năng đưa ra những quyết định mang tính chiến lược Đây là những kĩ năng thuộc tầng nhận thức cao hơn việc nắm bắt những kĩ năng kĩ thuật
1.3.5 Vai trò CNTT đối với giáo dục [12] ;[18]
1.3.5.1 CNTT tạo thuận lợi cho quá trình dạy học
CNTT có vai trò thúc đẩy, điều phối tư duy và xây dựng kiến thức, thông qua các nội dung:
Công cụ để hỗ trợ việc xây dựng kiến thức:
Giúp biểu thị các ý tưởng, sự hiểu biết của người học
Giúp người học tạo ra những kiến thức có hệ thống và đa môi trường
xây dựng kiến thức:
Giúp truy cập các thông tin cần thiết
Giúp so sánh các điểm dị biệt
Môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành:
Giúp biểu diễn và mô phỏng các vấn đề, tình huống và hoàn cảnh thế giới thực
Giúp xác định một không gian an toàn, kiểm tra được các vấn đề của tư duy người học
Môi trường xã hội để hỗ trợ học tập qua trao đổi trong cộng đồng:
Giúp cộng tác với nhau
Tạo tranh luận, bàn bạc, và đạt đến nhất trí của các thành viên trong cộng đồng
Người đồng hành tri thức để hỗ trợ học tập qua phản ánh:
Hỗ trợ người học trình bày, biểu thị điều mình biết
Phản ánh những điều đã học và bằng cách nào đã học được như thế
Giúp kiến tạo cách biểu diễn ý nghĩa hiểu biết được theo cách riêng
1.3.5.2 Đánh giá và lượng giá học tập
Trang 23Nếu học tập cần thiết phải là một quá trình chủ động, có tính xây dựng, xác thực
và công nghệ được dùng như một công cụ thì cũng cần phải có cách đánh giá và lượng giá quá trình học tập của người học
Theo truyền thống, chúng ta đánh giá HS theo lượng kiến thức đã thu nhận được
từ thày cô và sách vở Hiện nay, yêu cầu đánh giá được mở rộng và tăng cường tính toàn diện, khách quan, nhờ:
trình học tập; đánh giá việc học ngay cả khi đang diễn ra chứ không phải là một quá trình tách biệt, diễn ra sau khi việc học kết thúc
Không chỉ đánh giá những điều học được (kiến thức) mà còn đánh giá cả cách học
giáo dục cũng như xã hội
Yêu cầu đánh giá này là phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn so với các dạng đánh giá và lượng giá cổ điển truyền thống nhưng sẽ cung cấp một hình ảnh toàn diện và chính xác hơn về kết quả và hiệu quả giáo dục
1.3.6 Mục đích việc sử dụng CNTT vào giảng dạy [15]; [25]
Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PTDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó
Phát huy vai trò của người thày trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH, TBDH: Không thủ tiêu vai trò của người thày mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thày giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT
CNTT mà còn góp phần dạy học về CNTT
trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay
cả trong điều kiện không có máy
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học hoá học [12];[16];[28]
1.4.1 Bài giảng điện tử
1.4.1.1 Khái niệm
Trang 24Theo PGS.TS Cao Cự Giác [12] Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra
Đặc trưng cơ bản nhất của BGĐT là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của GV đều được multimedia hóa
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động của GV trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy và học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được qui định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy học được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành
Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của BGĐT Chính vì vậy, việc xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế BGĐT là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể
để có được BGĐT
1.4.1.2 Các nguyên tắc soạn thảo bài trình diễn
1 Tính hiệu quả trong giờ học
Nội dung quá nghèo nàn, không hơn viết bảng
Quá nhiều thông tin làm HS “nhiễu”
Sai sót về kiến thức, nội dung khoa học
Sai sót các lỗi chính tả, lỗi văn bản
Cần:
Bố cục các slide trình chiếu sao cho HS dễ theo dõi, ghi được bài
Các slide trình chiếu phải mang tính thẩm mĩ để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, có tính giáo dục
Cỡ chữ phù hợp với đối tượng HS, quá lớn thì loãng thông tin, quá nhỏ thì HS
Trang 25ở cuối lớp khó nhìn thấy; phù hợp với lứa tuổi HS
Tận dụng các kĩ thuật máy tính để thể hiện được các PPDH tích cực
Tránh:
Lạm dụng các hiệu ứng tới mức không cần thiết
2 Tập trung được sự chú ý của học sinh
Trong mỗi BGĐT, thậm chí mỗi slide trình chiếu đều có sự hướng đích khác nhau, thể hiện ở sự bố trí thông tin, bố cục, màu sắc,…Tuy nhiên, mọi hướng đích đều
có một mục đích chung, đó là truyền tải thông tin một cách có hiệu quả và thuyết phục người nghe Vì vậy, thu hút sự chú ý là làm cho HS phải theo dõi bài giảng một cách tự nguyện Đây là một nghệ thuật sư phạm của GV khi giảng bài và khi thiết kế các slide trình chiếu
Để làm được điều đó, người GV phải có một số kinh nghiệm cần thiết cho việc thiết kế bài giảng, chẳng hạn:
hình ảnh hoặc một đoạn phim ngắn…
nên giới thiệu sơ qua phần đó đề cập đến vấn đề gì để HS dễ dàng có một tổng quan về bài giảng, gây tâm lí chờ đợi những thông tin thú vị phía sau
Cần có một slide giới thiệu tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí, website,…) để
HS khá giỏi nâng cao kiến thức
Mỗi nội dung nhỏ (mục) cần có “điểm nhấn” hấp dẫn như một câu chuyện để chuyển tiếp giữa các mục, hình ảnh hay một đoạn phim để lôi kéo học sinh trở về bài giảng, đôi khi có HS nào đó bị mất tập trung
Hãy giữ liên tục nội dung bài giảng (phần dành cho HS ghi) từ slide này sang slide khác như một tấm “bảng kéo” nhiều lớp Muốn vậy, cần phải sử dụng cỡ chữ, kiểu chữ, màu chữ thống nhất theo từng loại đề mục của bài học; cố gắng sắp xếp nội dung của một hoặc một số đề mục nằm gọn trong một slide; các nội dung khác không nhằm cho HS ghi hoặc vẽ theo (như chuyển tiếp giữa các mục, minh họa hình ảnh, mô phỏng thí nghiệm,…) đều phải dùng các ô cửa sổ (xuất hiện rồi thoát) hoặc dùng liên kết (Hyper Link trong Insert), sao cho tồn tại từ
Trang 26slide đầu đến slide cuối vẫn là một nội dung chính của bài
Mỗi slide sau cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc quay về các slide trước để nội dung bài được liên tục, muốn vậy cần lập file riêng rồi dùng Hyper Link Một nghịch lí về sự “chú ý” là sự lạm dụng màu sắc (colour) hoặc các hiệu ứng (effect) có thể tập trung được sự chú ý của HS; xong sự chú ý đó lại không hướng vào nội dung bài học mà là sự tò mò về “sặc sỡ” của màn hình và “nhảy múa” của chữ Kết
quả thường nhận được là khi kết thúc giờ học thì bài học cũng thăng hoa
3 Tính sư phạm trong việc thiết kế các slide trình diễn
Màu sắc phản ánh nội dung Để có những slide trình chiếu thu hút và ấn tượng, ngoài nội dung khoa học, cần biết sử dụng màu sắc hợp lí: chọn màu, phối màu giữa nền và chữ, phối hợp giữa các dòng văn bản Theo các công trình nghiên cứu, mỗi màu nền có mang ý nghĩa riêng của nội dung và đối tượng nghe Thí dụ, những màu trung
tính như màu xám và những màu tối sẽ tạo một không khí nghề nghiệp; màu cam và những màu cam và những màu lân cận như vàng, hồng nhạt, nâu nhạt sẽ tạo không khí
thân thiện; màu tím nhạt và màu hồng có thể dùng cho lứa tuổi tiểu học; màu vàng và
màu hổ phách tạo bầu không khí vui tươi, chào đón; màu xanh nước biển và màu xanh
lá cây thì nhã nhặn; màu trắng rất nghiêm túc song nếu màu chữ không được chuẩn bị
kĩ trên nền trắng sẽ tạo cảm giác bài giảng sơ sài
Sử dụng nhiều nhất là 5 màu trong một bài giảng Nếu chữ viết trong mỗi slide chỉ có một màu, người đọc sẽ nhàm chán; ngược lại, sử dụng quá nhiều màu trong một slide hoặc trong bài giảng sẽ làm cho HS thích thú với màu sắc mà không tập trung vào nội dung bài học, hoặc có cảm giác khó chịu dẫn đến phản tác dụng Theo Marcus, nên dùng từ 2 đến tối đa 5 màu, bố trí hợp lí thì slide trình chiêu sẽ trở nên hấp dẫn hơn Thí dụ, dùng một màu chính xuyên suốt cho nội dung khoa học của bài, một vài màu nổi hơn cho các đề mục và một màu nổi bật các ý quan trọng
Màu đỏ được mắt tiếp cận tốt trong số các màu cơ bản: con người thấy được màu
là do các tế bào thần kinh ở võng mạc của mắt Khoa học đã chứng minh rằng trong 3 màu cơ bản thì số tế bào thần kinh cảm nhận màu đỏ chiếm khoảng 64%, số tế bào thần kinh cảm nhận màu lục 34% và màu xanh đậm là 2% Vì vậy, dùng các màu lân cận vạch đỏ trong quang phổ làm nổi bật các điểm nhấn sẽ gây ấn tượng mạnh đối với mắt
Trang 27 Chữ viết trong các slide trình chiếu
Kiểu chữ: việc dùng font nào là tùy sở thích của người thiết kế Font chữ thường dùng là Times New Roman
dùng cỡ 20 đến 28
Số chữ trên một slide: Quá nhiều chữ thì người đọc sẽ ít tập trung hoặc đọc không hết Thường trên mỗi slide khoảng từ 10 đến 15 dòng
Sử dụng WortArt: Trang trí chữ, làm đẹp Không nên lạm dụng nhiều
Đặc sắc của các phần mềm trình chiếu là sự phong phú các hiệu ứng, song việc sử dụng các effect vừa phải, đảm bảo ở mức đủ sinh động Các effect vui mắt không đúng lúc sẽ gây thích thú cho HS với các kĩ thuật mà không chú ý đến nội dung bài học
Đây là ưu thế tuyệt đối của các phần mềm trình chiếu Nhờ liên kết GV mở rộng nội dung, cập nhật thông tin, hình ảnh, đoạn phim,…trong khi vẫn để nội dung bài giảng được phát triển liên tục, HS dễ theo dõi và ghi được bài
Đây là yêu cầu quan trọng vừa làm tăng thêm ý nghĩa về tiện lợi của bài giảng cũng vừa khắc phục những hạn chế trong việc sử dụng các effect
1.4.1.3 Quy trình thiết kế một giáo án điện tử
Mục tiêu (objective) là mục đích ngắn hạn, cụ thể Như, mục tiêu của bài dạy học
Như vậy mục đích qui định mục tiêu Mục đích chung của chương trình qui định mục tiêu cụ thể của các chương, bài cụ thể ở lớp học
Trang 28Mục tiêu là cái đích của bài học cần đạt tới, phải xác định rõ, có thể đo được mức
độ hoàn thành của học sinh, không phải là chủ đề, thiếu cụ thể, viết chung chung Mục tiêu được đề ra nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bài dạy Nhiệm vụ cơ bản của LLDH, bài học thường có mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ Để xác định mục tiêu cần đọc kĩ SGK, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng và thái độ
Bước 2 Xây dựng kế hoạch bài dạy
Xác định đung mục tiêu của bài dạy học, nội dung trọng tâm, lựa chọn kiến thức
cơ bản, đề xuất phương pháp dạy học phù hợp và hấp dẫn là khâu then chốt trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy học
Dựa vào kiến thức trình bày trong SGK, giáo viên cần xác định kiến thức cơ bản trên cơ sở bám sát chương trình, nhiệm vụ bộ môn, trình độ HS để đảm bảo được thời gian, tính khoa học, vừa sức và phát triển toàn diện năng lực nhận thức của HS Cần tránh hai khuynh hướng: tham lam, ôm đồm kiến thức; làm cho tiết học nặng nề đối với HS; ngược lại quá tóm lược SGK, không đảm bảo truyền thụ đầy đủ kiến thức cho HS Xác định kiến thức cơ bản là bước đầu tiên trong khâu chuẩn bị bài của GV và chỉ mới giải quyết được câu hỏi “Dạy cái gì?” Còn việc vận dụng PPDH, tổ chức, chỉ đạo cho HS nhận thức các kiến thức cơ bản, tức là phải trả lời “Dạy như thế nào?”
Bước 3 Phân loại từng đơn vị kiến thức cần khai thác để tìm nguồn tư liệu phù hợp
Đây là bước quan trọng nhất cho việc thiết kế bài giảng điện tử, là nét đặc trưng
cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các bài giảng truyền thống, được thực hiện qua các bước:
Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, đồ họa, ảnh tĩnh, phim, âm thanh…Kiến thức cho một bài lên lớp thường rất nhiều, hình thức tổ chức hoạt động dạy học rất phong phú và đa dạng GV cần lựa chọn nội dung kiến thức nào được trình bày dưới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, video clip… Những hình ảnh này được trình bày dưới dạng nguồn tri thức hỗ trợ cho HS hoạt động học tập chứ không chỉ minh họa đơn thuần
Tiến hành sưu tầm hoặc xây dựng nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Đó là nguồn tư liệu thường được lấy từ một phần mềm dạy học hoặc từ internet, Encarta…hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp…
Trang 29 Xử lí các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mĩ và ý
đồ sư phạm
Bước 4 Xây dựng các thư viện tư liệu
Các tư liệu cần dùng cho BGĐT phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện
tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lí Cây thư mục giúp tìm kiếm thông tin nhanh, giữ được các liên kết trong bài giảng, sao chép dễ dàng
Bước 5 Xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Sau khi đã có thư viện tư liệu, cần lựa chọn ngôn ngữ và các phần mềm trình chiếu thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử
Trước hết cần chia các nội dung dạy học trên lớp thành các hoạt động nhận thức
cụ thể Từ các hoạt động đó mà định ra các slide và nội dung cho các slide Tùy theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi slide có thể là văn bản, tranh ảnh, âm thanh… Văn bản trình bày ngắn gọn, cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một font chữ phổ biến, đơn giản; màu chữ được dùng thống nhất tùy theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi mở, giải thích, câu trả lời…
Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (background) thống nhất cho các slide, hạn chế sử dụng màu quá chói, tương phản nhau
Không nên lạm dụng nhiều hiệu ứng trình diễn theo kiểu “bay nhảy” thu hút sự tò
mò, phân tán chú ý học tập của HS Chú ý làm nổi bật các nội dung trọng tâm, quá trình diễn để nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư
duy của HS Như vậy kĩ thuật trình diễn trên máy tính chỉ nhằm hỗ trợ một cách có
hiệu quả sự tương tác giữa thầy với trò, trò với trò và hoàn toàn không thay thế được nội dung và phương pháp dạy học
Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyper link) cho hợp lí, logic lên các đối tượng trong bài giảng Đây chính là ưu điểm nổi bật có được trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng này Chính sự liên kết này mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời; HS tiếp thu bài dễ dàng, kiến thức được khắc sâu, nhớ lâu và vận dụng tốt
Bước 6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Khi quá trình thiết kế hoàn chỉnh, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra
Trang 30các thiếu sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa khắc phục và hoàn thiện
Sau mỗi lần dạy học (lên lớp) phải thay đổi những bất cập và bổ sung những thiếu sót về nội dung cũng như kịch bản để chất lượng bài giảng ngày càng được nâng
Trong đào tạo gắn với nhà trường, mục đích chủ yếu của website dạy học là tạo ra môi trường học tập ảo với sự hỗ trợ của IT (Infomatic Technology) cho HS hơn là chú trọng cung cấp các giao tiếp điện tử giữa HS và tổ chức hướng dẫn người học
1.4.2.2 Ưu điểm của website dạy học
Chuyển tải được thông tin kiến thức bằng đầy đủ các media: văn bản, hình ảnh, âm thanh và tiếng nói, hình ảnh động (video)
cầu cụ thể của từng người học
có một PC với cấu hình vừa phải
Dễ dàng đưa vào các thư viện điện tử hiện đang rất phát triển
1.4.2.3 Những hạn chế của website dạy học
giảng trực tiếp, đặc biệt là đối với những phần thao tác thực hành cần được nhìn
kỹ cách làm mẫu của GV
Người tự học trong điều kiện đơn độc không phải bao giờ cũng có thể hiểu hết những gì có trong website, không phải lúc nào người học cũng có thể truy cập mạng internet, có PC để sử dụng
Trang 311.4.2.4 Các yêu cầu khi thiết kế website dạy học
Phải đầy đủ, chi tiết ít nhất như giáo trình dạng ấn phẩm
nêu mục đích, yêu cầu môn học và hướng dẫn về phương pháp học tập cho HS
những nội dung chủ yếu cần nắm vững trong chương và nêu cách làm các loại bài tập, bài thực hành trong chương Kết thúc môn học có phần tóm tắt kết thúc môn học và có thể nêu những lời khuyên của GV đối với học viên khi xong môn học
Cần phối hợp các media: văn bản, tiếng nói (giảng bài), trình diễn bằng video những phần cần thiết (đặc biệt những phần hướng dẫn thực hành), sao cho người học viên cảm nhận và tiếp thu gần như được trực tiếp dự buổi thuyết giảng của Thầy nhưng lại có thể chủ động trở lại nhiều lần đối với những phần khó mà mình chưa nắm vững (đây là một ưu việt hơn cả việc được nghe lớp trực tiếp)
Tạo ngân hàng các bài tập, bài kiểm tra, bài trắc nghiệm nên bố trí theo từng chương, từng chủ đề hoặc bài tổng hợp, theo độ khó khác nhau
Bố trí nhiều bài kiểm tra có chấm điểm tự động và sử dụng kĩ xảo để tạo ra những nhận xét, động viên khích lệ học viên khi xuất hiện các kết quả chấm bài
Phải có phần hướng dẫn cách sử dụng học liệu một cách chi tiết kèm theo sẵn những phần mềm hỗ trợ những tiện ích cần thiết để đọc chương trình (Internet Explorer, Windows Media Player, Acrobat Reader nếu cần thiết)
3 Trách nhiệm trong việc xây dựng của website dạy học
cũng như kịch bản trình bày website dạy học đều phải do một GV hoặc một tập thể GV chuyên ngành đảm nhiệm, kể cả việc xuất hiện giảng bài, hướng dẫn thực hành trên các đoạn video
Người lập trình chịu trách nhiệm sử dụng kĩ năng lập trình và các kĩ xảo thiết kế
đồ họa để thể hiện kịch bản được giáo viên chuyên ngành bàn giao
Việc biên tập các văn bản có thể giao cho một lực lượng lao động tin học chỉ cần
kĩ năng soạn thảo văn bản, đồ họa không yêu cầu kĩ năng lập trình cao
Trang 321.4.3 Các phần mềm hỗ trợ để thiết kế một website dạy học [12]; [27]; [35] ; [36] 1.4.3.1 Microsoft Powerpoint
Microsoft Power Point là một trong những chương trình của bộ Office do công ty Microsoft sản xuất nhằm hỗ trợ cho thông tin quảng cáo Phần mềm này đã được khoa học giáo dục nhanh chóng đón nhận và đưa vào giảng dạy Với những ưu thế của mình, Powerpoint đã góp phần đáng kể vào việc cải tiến phương pháp dạy và học trong các trường học trên thế giới
Microsoft Powerpoint có các chức năng :
Cho phép người sử dụng chọn các kiểu mẫu trình diễn đã được thiết kế sẵn hoặc
tự thiết kế cho mình một kiểu trình diễn riêng tuỳ theo mục đích yêu cầu của bài giảng Dùng để soạn thảo các văn bản, đưa các hình ảnh tĩnh hoặc động, các đồ thị hoặc các link tới các văn bản,các flie ảnh, file audio, video và các phần mềm khác một cách nhanh chóng và hiệu quả
Giao diện thiết kế bài giảng điện tử của Microsot Powerpoint
Khi dùng Microsoft Powerpoint trong giảng dạy, để làm tăng hiệu quả của bài giảng, có thể in ấn các trình diễn để sử dụng phát trước cho HS hoặc dùng các hiệu ứng
Trang 33trong Custom Animation để nhấn mạnh các vấn đề cần thiết Tuy nhiên không nên lạm dụng các hiệu ứng này vì chúng có thể làm rối bài giảng không gây được sự tập trung vào bài giảng của HS
Dùng Microsoft Powerpoint để thiết kế WEB, GTĐT đưa vào giảng dạy
Dùng Microsoft Powerpoint soạn bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp
án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai, v.v , bài tập ô chữ: HS phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
1.4.3.2 Violet
Violet là phần mềm công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh từ tiểu học đến THPT
Giao diện thiết kế hệ thống câu hỏi trắc nghiệm của Violet
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lesson Editor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho GV)
Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các file
Trang 34dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash ), sau đó lắp ghép các
dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với người dùng Riêng đối với việc xử lí những dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn so với Powerpoint, ví dụ như cho phép thể hiện và điều khiển các file Flash hoặc cho phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim v.v Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định dạng (Rich Text Format) Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và SBT như:
đôi, chọn đúng sai, v.v
Bài tập ô chữ: HS phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc
Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
1.4.3.3 Muse 2011
Muse là phần mềm thiết kế web của hãng Adobe được tung ra thị trường và miễn phí cho người sử dụng năm 2011
Trang 35Với nhiều tính năng vượt trội so với các phần mềm thiết kế website khác, Muse cho phép:
Thiết kế trang website bằng cách kéo thả mà không cần viết mã
khác mà người thiết kế cần thêm vào
Có thể xem trước trình duyệt mà mình đang thiết kế
Với những tính năng vượt trội giúp người thiết kế tiết kiệm rất nhiều được thời gian và phù hợp với những đối tượng không chuyên nghiệp
1.5 Thực trạng việc áp dụng CNTT vào giảng dạy
Chúng tôi tiến hành khảo sát 11 GV ở 11 trường THCS và THPT khác nhau và tiến hành khảo sát tập trung 18 GV tại 02 trường THPT Marie Curie và THPT Thạnh Lộc
Kết quả khảo sát như sau:
Nhận xét: Tình hình chung các trường đủ điều kiện cơ bản để áp dụng CNTT vào
giảng dạy bộ môn hóa học
Về tình hình giáo viên sử dụng trang thiết bị trên vào giảng dạy: (tổng số GV 29)
Trang 36Nhận xét: Tình hình chung đa số GV các trường đã áp dụng CNTT vào giảng dạy
bộ môn hóa học
Về tình hình sử dụng website riêng để giảng dạy
Có 26/29 chiếm tỉ lệ 89,66% GV cho rằng cần thiết và rất cần thiết xây dựng trang website riêng cho bản thân
Và trong số 26 giáo viên trên không thể tự mình thiết kế được trang website
Nhận xét: Hầu hết các GV chưa thiết kế được trang website vì rất nhiều nguyên
nhân trong đó nguyên nhân chính vẫn là trình độ tin học hiện nay của GV chưa bắt kịp được tình hình phát triển CNTT Điều đó một phần nào khẳng định việc tích hợp các PTDH theo hướng tổ hợp công nghệ dạy học có áp dụng CNTT còn rất hạn chế
Qua việc khảo sát trên, việc thiết kế trang Website hóa học tích hợp các PTDH để tạo thuận lợi cho quá trình dạy và học bộ môn hóa học nói chung và phần kim loại nói riêng là cần thiết hiện nay
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận của
đề tài nghiên cứu:
lại hiệu quả cao cho giáo dục
lµ mét ng−êi h−íng dÉn, mét ph−¬ng tiÖn më và nh− lµ mét ph−¬ng tiÖn truyÒn th«ng
kiểm tra đánh giá hiện nay ở các trường phổ thông
học
Tất cả những vấn đề trên là cơ sở lí luận giúp cho chúng tôi nghiên cứu và xây dựng website hỗ trợ việc dạy học phần kim loại trong chương trình cơ bản lớp 12 THPT
Trang 37Chương 2 XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN KIẾN THỨC
KIM LOẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN LỚP 12 THPT
2.1 Mục tiêu và kiến thức kim loại trong chương trình hóa học cơ bản lớp 12 THPT
2.1.1 Cấu trúc của chương trình (gồm 3 chương – 22 bài)
Trang 382.1.2 Chuẩn kiến thức và kĩ năng [4]
CHƯƠNG 5: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI
Bài 17: VỊ TRÍ CỦA KIM LOẠI TRONG BẢNG TUẦN HOÀN
VÀ CẤU TẠO CỦA KIM LOẠI
A Chuẩn kiến thức và kĩ năng
So sánh bản chất của liên kết kim loại với liên kết ion và cộng hoá trị
Quan sát mô hình cấu tạo mạng tinh thể kim loại, rút ra được nhận xét
B Trọng tâm
Đặc điểm cấu tạo nguyên tử kim loại và cấu tạo mạng tinh thể kim loại
Bài 18: TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI DÃY ĐIỆN HÓA CỦA KIM LOẠI
A Chuẩn kiến thức và kĩ năng
Kiến thức
Hiểu được:
Tính chất vật lí chung: ánh kim, dẻo, dẫn điện và dẫn nhiệt tốt
Tính chất hoá học chung là tính khử (khử phi kim, ion H+ trong nước, dung dịch axit , ion kim loại trong dung dịch muối)
theo chiểu giảm dần tính khử, các ion kim loại được sắp xếp theo chiểu tăng dần tính oxi hoá) và ý nghĩa của nó
Kĩ năng
B Trọng tâm
Tính chất vật lí chung của kim loại và các phản ứng đặc trưng của kim loại
Trang 39 Dãy điện hóa của kim loại và ý nghĩa của nó
Bài 20: SỰ ĂN MÕN KIM LOẠI
A Chuẩn kiến thức và kĩ năng
Kiến thức
Hiểu đƣợc:
Điều kiện xảy ra sự ăn mòn kim loại
Biết các biện pháp bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn
Kĩ năng
những đặc tính của chúng
B Trọng tâm
Bài 21: ĐIỀU CHẾ KIM LOẠI
A Chuẩn kiến thức và kĩ năng
Kiến thức
nhiệt luyện, dùng kim loại mạnh khử ion kim loại yếu hơn)
Trang 40Kĩ năng
chế kim loại
Tính khối lượng nguyên liệu sản xuất được một lượng kim loại xác định theo hiệu suất hoặc ngược lại
B Trọng tâm
Bài 24: THỰC HÀNH TÍNH CHẤT, ĐIỀU CHẾ KIM LOẠI, ĂN MÕN KIM LOẠI
A Chuẩn kiến thức và kĩ năng
Kiến thức
Biết được :
Mục đích, cách tiến hành, kĩ thuật thực hiện các thí nghiệm :
So sánh mức độ phản ứng của Al, Fe và Cu với ion H+ trong dung dịch HCl
Fe phản ứng với Cu2+ trong dung dịch CuSO4
Zn phản ứng với :
a) dung dịch H2SO4 ;
b) dung dịch H2SO4 có thêm vài giọt dung dịch CuSO4
Dùng dung dịch KI kìm hãm phản ứng của đinh sắt với dung dịch H2SO4
Kĩ năng
Sử dụng dụng cụ hoá chất để tiến hành an toàn, thành công các thí nghiệm trên
Quan sát thí nghiệm, nêu hiện tượng, giải thích và viết các phương trình hoá học Rút ra nhận xét
Viết tường trình thí nghiệm
B Trọng tâm
Dãy điện hóa kim loại