Ví dụ điển hình là sự sụp đổ của công ty Word Com – một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ liên quan đến gian lận và cung cấp số liệu không chính xác trong báo cáo tài chín
Trang 1KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN
NHẬN DIỆN GIAN LẬN CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện
LÊ DIỄM MY MSSV: 13D340301109 LỚP: ĐH Kế Toán 8B
Cần Thơ 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN
NHẬN DIỆN GIAN LẬN CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
MSSV: 13D340301109 LỚP: ĐH Kế toán 8B
Cần thơ 2017
Trang 3i
Để hoàn thành khóa luận “Nhận diệngian lận báo cáo tài chính các công ty
xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.” em xin chân thành cảm
ơn đến các thầy cô giáo của trường trường Đại Học Tây Đô Qua quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Tây Đô, nhờ sự giảng dạy, chỉ bảo của các thầy, cô giáo em đã được trang bị những kiến thức cơ bản nhất về chuyên ngành kế toán Đặc biệt các thầy cô Khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng và các thầy cô giáo tham gia giảng dạy Lớp KT8B Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy,
cô giáo khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng và ý kiến đóng góp quan tâm của các bạn để giúp em hoàn thiện luận văn có chất lượng ngày càng cao hơn!
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Minh Nhật
đã giúp đỡ em nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này Và những người thân và bạn bè đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành bản luận văn này
Kính chúc thầy cô giáo khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng trường Đại Học Tây Đô, những người thân và bạn bè sức khỏe và công tác tốt
TP.Cần Thơ, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện
Lê Diễm My
Trang 4ii
Tôi xin cam đoan khóa luận “Nhận diệngian lận báo cáo tài chính các công ty
xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.”.là kết quả của quá trình
học tập, nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của người hướng dẫn khoa học là Th.S Nguyễn Minh Nhật Các số liệu, thông tin sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tincậy
TP.Cần Thơ, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện
Lê Diễm My
Trang 5iii
Báo cáo tài chính là những báo cáo hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Nói cách khác báo cáo tài chính là công cụ để các công ty công bố tình hình sản xuất kinh doanh với những đối tượng quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng) Bởi vậy báo cáo tài chính cẩn đảm bảo tính minh bạch, phản ánh đúng thực trạng doanhnghiệp
Gian lận trong báo cáo tài chính là một trong những vấn đề mang tính thời sự hiện nay Vấn đề này càng được quan tâm hơn sau sự kiện các công ty lớn ở Mỹ bị phá sản mà lý do chính đó là việc chế biến số liệu trong báo cáo tài chính do chính ban quản trị các công ty đó tạo ra Nghiên cứu gian lận trên báo cáo tài chính các công ty xây dựngniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam Với các mục tiêu cụ thểlà Tổng hợp thực trạng về sai sót, gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam niêm yết trong ba năm 2013-
2015 Xây dựng mô hình nghiên cứu về phát hiện gian lận báo cáo tài chính để dự đoán khả năng sai sót, gian lận của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam 2016 Bên cạnh đó đưa ra khuyến nghị nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro gian lận trên báo cáo tài chính, nâng cao tính hữu ích của thông tin báo cáo tài chính
Kết quả nghiên cứu đã phần nào cung cấp được dấu hiệu nhận diện gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khách quan sự tác động của các tỷ số tăng trưởng doanh thu bán hàng và tỷ số biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đến sự trình bày sai sót số liệu trên báo cáo tài chính
Trang 6iv
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2017 Giảng viên hướng dẫn
Nguyễn Minh Nhật
Trang 7v
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2017
Trang 8vi
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN iv
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN v
Chương1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung: 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 2
1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu (sẽ đề cập chi tiết ở chương2) 2
1.4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đốitượng 3
1.4.2 Phạm vi nghiêncứu 3
1.5 Cấu trúc của khóa luận 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận về sai phạm trongBCTC 4
2.2 Những thủ thuật gian lận báo cáo tài chính 7
2.3 Các mô hình nhận dạng gian lận báo cáo tài chính 10
2.3.1 Mô hình logit vàprobit 10
2.3.2 Mô hình đa biến, đa tiêuchuẩn 11
2.3.3 Mô hình theo định luậtBenford 11
2.3.4 Mô hình mạng thần kinh (neutral networkmodel) 12
2.4 Các công trình nghiên cứu quốc tế về gian lận 12
2.5 Các công trình nghiên cứu trong nước về gian lận 19
Trang 9vii
2.7 Phương pháp nghiên cứu sai phạm BCTC ngành Xây dựng 22
2.7.1 Quy trình nghiên cứu 22
2.7.2 Dữ liệu và phương pháp thu thập số liệu 23
2.7.3 Giả thuyết nghiên cứu 24
2.7.4 Mô tả các biến trong mô hình 25
2.7.5 Phương pháp nghiên cứu 28
Chương 3: THỰC TRẠNG GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 32
3.1 Thực trạng về thị trường chứng khoán Việt Nam 32
3.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2015 32
3.1.2 Triển vọng thị trường chứng khoán 2016 trong bối cảnh hội nhập quốc tế 34
3.2 Tổng quan về thị trường xây dựng Việt nam 35
3.2.1 Thị trường xây dựng Việt nam 35
3.2.2 Triển vọng cho thị trường xây dựng Việt nam năm 2016 36
3.3 Tổng quan thực trạng gian lận báo cáo tài chính ở các nước trên thế giới 37
3.4 Thực Trạng chênh lệch số liệu trên BCTC sau kiểm toán 37
3.5 Thực trạng thu thập số liệu ngành xây dựng Việt nam năm 2013-2015 41
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN DIỆN GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 42
4.1 Thống kê mô tả 42
4.1.1 GMI- Tỷ số lãi gộp (Gross Margin Index) 43
4.1.2 SGI- Tỷ số tăng trưởng doanh thu bán hàng (Sales Growth Index) 43
4.1.3 SGAI- Tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (Sales, general and administrative expense Index) 44
4.1.4 DSRI-Tỷ số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần (Days Sales in Receivables Index) 44
Trang 10viii
4.1.6 DA- Tỷ số biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary
Accruals) 45
4.2 Phân tích tương quan 46
4.3 Kết quả phân tích hồi quy 47
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Khuyến nghị từ mô hình nghiên cứu 55
5.1.1 Khuyến nghị về vận dụng mô hình Beneish để hỗ trợ cho việc dự đoán khả năng sai sót/gian lận báo cáo tài chính 55
5.1.2 Khuyến nghị về các giải pháp hạn chế sai sót/gian lận báo cáo tài chính 55 5.1.2.1 Đối với công ty 55
5.1.2.2 Đối với kiểm toán viên 55
5.1.2.3 Đối với nhà đầu tư 56
5.1.2.4 Đối với quản lý nhà nước 56
5.1.2.5 Đối với ban quản trị công ty 57
5.2 Kết luận 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO xii
PHỤ LỤC……… ………xiii
Trang 11ix
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố giúp phát hiện sai phạm báo cáo tài chính 21
Bảng 2.2: Danh sách các biến đầu vào được xem xét 26
Bảng 2.3: Phân loại sai lầm loại 1 và sai lầm loại 2 30
Bảng 3.1: Kết quả chọn mẫu 41
Bảng 4.1 Thể hiện kết quả thống kê mô tả, bao gồm các giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình, và độ lệch chuẩn của 6 biến quan sát 42
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 47
Bảng 4.3 Kết quả mô hình hồi quy logistic (1) 49
Bảng 4.4 Kết quả mô hình hồi quy logistic (2) 50
Bảng 4.5 Kiểm định mô hình (2) theo kết quả kiểm toán năm 2016 53
Bảng 4.6 Độ chính xác của mô hình M-score (2) tại ngưỡng 20% với dữ liệu ngành xây dựng 2016 54
Trang 12x
Hình 2.1 – Tam giác gian lận 17
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu 22
Hình 2.2: Sơ đồ mô hình nghiên cứu 1 31
Hình4.1: Thống kê mẫu theo sàn 42
Hình4.2: Đồ thị GMI- Tỷ số lãi gộp 43
Hình4.4: Đồ thị SGAI- Tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 44
Hình4.5: Đồ thị DSRI-Tỷ số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần 44
Hình4.6: Đồ thị TATA- Tỷ số biến dồn tích kế toán so với tổng tài sản 45
Hình4.7: Đồ thị DA- Tỷ số biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh 46
Trang 13xi
ACFE (The Association of Certified Fraud Examiners)
BTC Bộ Tài chính
BCTC Báo cáo tài chính
DSRI Tỷ số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần (Days Sales in Receivables
Index)
DA Tỷ số biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary Accruals)
HOSE Sàn giao dịch TP HỒ CHÍ MINH
HNX Sàn giao dịch HÀ NỘI
GMI Tỷ số lãi gộp (Gross Margin Index)
SGI Tỷ số tăng trưởng doanh thu bán hàng (Sales Growth Index)
SGAI Tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (Sales, general and
administrative expense Index) TATA Tỷ số biến dồn tích kế toán so với tổng tài sản (Total Accruals to Total Assets)
Trang 14GVHD: Nguyễn Minh Nhật 1 SVTH: Lê Diễm My
Chương1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu cho và nhận thông tin, đặc biệt là các thông tin tài chính luôn giữ vai trò quan trọng để đưa ra những quyết định kinh doanh then chốt Tính minh bạch, tính trung thực của thông tin tài chính đóng vai trò lớn trong việc ổn định thị trường chứng khoán và ổn định xã hội Không những vậy nền kinh tế hiện nay đang ngày càng phát triển mạnh, quy mô kinh doanh của các công ty
và sự toàn cầu hóa hoạt động thương mại ngày càng được mở rộng, dẫn tới sự phức
tạp của công tác kế toán , kiểm toán cũng theo đó mà tănglên
Gian lận trong báo cáo tài chính là một trong những vấn đề mang tính thời sự hiện nay Vấn đề này càng được quan tâm hơn sau sự kiện các công ty lớn ở Mỹ bị phá sản mà lý do chính đó là việc chế biến số liệu trong báo cáo tài chính do chính ban quản trị các công ty đó tạo ra Ví dụ điển hình là sự sụp đổ của công ty Word Com – một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ liên quan đến gian lận và cung cấp số liệu không chính xác trong báo cáo tài chính.Rõ ràng, việc phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính nhằm đảm bảo tính trung thực của nó trở thành thách thức lớn đối với nhà quản lý doanh nghiệp cũng như các bên có liên quan Do vậy, gian lận trong báo cáo tài chính luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Chẳng hạn, Beasley (1996) tiến hành phân tích kinh nghiệm mối liên hệ giữa thành phần ban giám đốc và gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy số thành viên độc lập từ bên ngoài công ty trong ban giám đốc càng nhiều thì hành động gian lận báo cáo tài chính càng giảm Nghiên cứu của Rezaee (2002) tập trung nhận diện nguyên nhân, hậu quả và phương pháp ngăn chặn hành vi gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Mỹ Nghiên cứu đã trình bày các giải pháp nhằm phát hiện và phòng ngừa nhằm giảm thiểu hành động gian lận báo cáo tài chính, bao gồm các giải pháp đến phân tích chức năng, vai trò của các bên có liên quan đến quy trình lập và công bố báo cáo tài chính của công ty như ban giám đốc, ban kiểm soát, kiểm soát nội bộ, đội ngũ quản lý cấp cao, kiểm toán độc lập, các cơ quan quản lý nhà nước Rõ ràng, nhận diện gian lận trong báo cáo tài chính đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã xảy ra rất nhiều vụ gian lận trên báo cáo tài chính Việc phát sinh gian lận trên Báo cáo tài chính ở những công ty
có tầm vóc lớn đã làm phát sinh sự quan tâm ngày càng nhiều về tính trung thực, hợp
lý của Báo cáo tài chính Nó cũng là thách thức lớn đối với người quản lý công ty cũng
Trang 15GVHD: Nguyễn Minh Nhật 2 SVTH: Lê Diễm My
như đối với kiểm toán viên trong việc phát hiện các gian lận trên Báo cáo tài chính Do vậy, gian lận luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Nghiên cứu dưới đây đề cập đến “Nhận diệngian lận báo cáo tài chính các
công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.” Đồng thời đưa
ra một số khuyến nghị gia tăng sự minh bạch hoá thông tin kế toán tài chính, cũng như những chú ý cho nhà đầu tư
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Nghiên cứu gian lận trên báo cáo tài chính các công ty xây dựngniêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt nam
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam niêm yết trong ba năm 2013- 2015
đoán khả năng sai sót, gian lận của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam 2016
tài chính, nâng cao tính hữu ích của thông tin báo cáo tài chính
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập và xử lý số liệu là các báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của 40 công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán trong ba năm 2013-
2015
Số liệu được được thu thập từ những website chuyên về đầu tư chứng khoán như vietstock.vn,cafef.vn,
1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu (sẽ đề cập chi tiết ở chương2)
Trang 16GVHD: Nguyễn Minh Nhật 3 SVTH: Lê Diễm My
hồi quy logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân
1.4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đốitượng
Khóa luận nghiên cứu gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty ngành xây dựngniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam
1.4.2 Phạm vi nghiêncứu
Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu được chọn từ các công ty ngành xây
dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam
Phạm vi thời gian:Số liệu nghiên cứu trongkhóa luận gian lận trên báo cáo tài
chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam là số liệu từ năm 2012- 2015 và báo cáo trước và sau kiểm toán của 40 công ty này năm 2016 nhằm kiểm định tính chính xác của mô hình
1.5 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm 5 chương:
o Chương 1: Tổng quan về đề tài “ Nhận diện gian lận Báo cáo tài chính các
công ty xây dựng niêm yết trên trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
o Chương 2:Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
o Chương 3:Thực trạng gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty xây
dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam
o Chương 4: Kết quả nghiên cứu về nhận diện gian lận trong báo cáo tài chính
của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam
o Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị đối với các đối tượng sử dụng báo
cáo tài chính
Trang 17GVHD: Nguyễn Minh Nhật 4 SVTH: Lê Diễm My
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về sai phạm trongBCTC
Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán bao gồm: báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo tài chính; báo cáo khác theo quy định của pháp luật
(Điều 29, Luật Kế toán số: 88/2015/QH13)
Theo từ điển tiếng Việt: gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác
Theo nghĩa rộng: gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp
Các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là nghiên cứu các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Theo Lý thuyết Kiểm toán (GS.TS Nguyễn Quang Quynh, TS Nguyễn Thị Phương Hoa- NXB Tài chính), sai phạm là yếu tố mấu chốt trong việc xác minh tính
trung thực của thông tin kế toán và hoạt động tài chính Sai phạm bao gồm gian lận và sai sót “Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi” “Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn bỏ sót hoặc yếu kém
về năng lực gây ra sai phạm”
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung), “Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để
phân biệt giữa gian lận và sai sót, cần xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý” Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng định nghĩa: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”
Trang 18GVHD: Nguyễn Minh Nhật 5 SVTH: Lê Diễm My
Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau:
- Sửa đổi tài liệu, chứng từ kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính;
- Biển thủ tài sản;
lệch báo cáo tài chính;
chính sách tài chính;
(Theo công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (The Association of Certified Fraud Examiners-ACFE)
Có ba loại gian lận như sau:
+ Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ điển hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương)
+ Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba
+ Gian lận trên báo cáo tài chính: Là trường hợp các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng thông tin (Ví dụ khai khống doanh thu, khai giảm nợ phải trả – hay chi phí)
Như vậy, gian lận và sai sót đều là hành vi sai phạm; trong lĩnh vực tài chính kế toán các hành vi này gây lệch lạc thông tin, phản ánh sai thực tế Tuy nhiên, hai hành
vi này khác nhau về khía cạnh ý thức và mức độ “trong yếu” của sai phạm
Về mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, nguyên nhân của sai sót có thể
là do năng lực hạn chế hoặc do sao nhãng, thiếu thận trong trong công việc; trong khi
đó gian lận là hành vi có chủ ý cố ý gây ra sự sai khác để trục lợi Từ sự khác nhau về ý thức nên gian lận được che giấu rất tinh vi và khó phát hiện, còn sai sót dễ phát hiện hơn
Trang 19GVHD: Nguyễn Minh Nhật 6 SVTH: Lê Diễm My
Một sự khác nhau nữa của gian lận và sai sót là mức độ trong yếu Theo chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam 320 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung), thông tin được coi
là trọng yếu nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó
sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Nếu hành vi gian lận thì luôn được xem là nghiêm trọng, còn hành vi sai sót mức độ trọng yếu được xem xét trên qi mô và tính chất của sai phạm
(Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240(BTC, 2012, Phụ lục 1) thì các động cơ, cơ hội thực hiện gian lận báo cáo tài chính được trình bày dưới đây.)
Sự ổn định tài chính hay khả năng sinh lời bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị
Tình hình tài chính hay mức sinh lời không ổn định của doanh nghiệp vẫn luôn
là nguyên nhân phổ biến nhất khiến doanh nghiệp phải thực hiện các thao túng trên báo cáo tài chính
Áp lực cao đối với ban giám đốc nhằm đáp ứng các yêu cầu hoặc kỳ vọngcủa các bên thứ ba
Thông thường nếu công ty muốn nhận được vốn đầu tư từ các bên thứ ba thì nhất thiết công ty đó phải có báo cáo tài chính hợp lý và thể hiện sức khỏe tài chính tốt của công ty Chính vì lý do trên mà ban giám đốc dù muốn hay không muốn vẫn luôn có
xu hướng tiến hành thao túng báo cáo tài chính để nhận được sự ủng hộ từ các bên thứ
Vì việc ghi nhận thông tin trong báo cáo tài chính mang tính chất thời điểm, vậy nên tùy vào đặc điểm, hoàn cảnh doanh nghiệp mà nhà quản trị có xu hướng
Trang 20GVHD: Nguyễn Minh Nhật 7 SVTH: Lê Diễm My
làm đẹp báo cáo tài chính để phù hợp với mục tiêu đặt ra tại thời điểm công bố báo cáo tài chính
2.2 Những thủ thuật gian lận báo cáo tài chính
Khai cao (hay khai khống) doanhthu
Khai khống doanh thu là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ không có thực Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo, lập chứng từ giả mạo Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, quyền sở hữu và trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hoá – dịch vụ chưa được chuyển qua bên mua hàng
Ví dụ tại Việt Nam:
Công ty Cổ phần Kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Bắc (PVG) công bố Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán năm 2010 Lợi nhuận ròng trên báo cáo hợp nhất sau kiểm toán của PVG đạt 35,83 tỷ đồng, giảm 1,2 tỷ đồng so với báo cáo trước kiểm toán Đáng chú ý là đơn vị kiểm toán có ý kiến loỊ trừ việc ghi nhận cổ tức từ lợi nhuận năm 2010 của Công ty cổ phần Phân phối khí thấp áp (PGD), PVG tạm ghi nhận khoản cổ tức 9,28 tỷ đồng của PGD vào doanh thu hoạt động tài chính năm
2010 Tại ngày 31/12/2010, việc phân phối cổ tức nói trên chưa được đại hội cổ đông của PGD phê duyệt Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14)-Doanh thu và thu nhập khác, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông có quyền nhận cổ tức Nếu công ty áp dụng VAS 14, doanh thu từ hoạt động tài chính và lợi nhuận trước thuế cho năm 2010 sẽ giảm một khoản tương ứng là 9,28 tỷ đồng
Ghi nhận sai niênđộ
Gian lận trong Báo cáo tài chính có thể được thực hiện bởi kỹ thuật ghi nhận sai niên
độ trong đó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát sinh Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại
để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn
Ví dụ tại Việt Nam:
Trong mùa kiểm toán năm 2010, Đơn vị kiểm toán có ý kiến ngoại trừ việc Công ty Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (DLR) ghi nhận 31,15 tỷ đồng doanh thu với giá vốn 27,98 tỷ đồng từ Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà
Trang 21GVHD: Nguyễn Minh Nhật 8 SVTH: Lê Diễm My
Lạt Theo ký kết, công ty sẽ bàn giao từng phần hạng mục công ty của dự án sau khi hoàn thành và đủ điều kiện để bố trí tái định cư UBND sẽ thanh toán cho công ty khi quyết toán dự án và đã được cơ quan độc lập kiểm toán Tuy nhiên, tại Báo cáo tài chính năm 2010, công ty đã ước tính và ghi nhận doanh thu, giá vốn như trên theo số liệu hoàn thành giữa công ty và đội thi công của công ty trong khi UBND tỉnh Lâm Đồng chưa có văn bản chỉ định UBND thành phố Đà Lạt nghiệm thu Đơn vị kiểm toán cho biết, ngày 22/2/2011, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thống nhất giao cho UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị tiếp nhận từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn giá trị công trình hoàn thành để DLR ghi nhận doanh thu
Qua đây cho thấy DRL đã ghi nhận doanh thu và giá vốn Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt sai niên độ, doanh thu và giá vốn này phải được ghi nhận ở niên độ năm 2011, nhưng đã được doanh nghiệp ghi nhận vào năm 2010
Giấu công nợ và chiphí
Che dấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên Báo cáo tài chính với mục đích khai khống lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che dấu Đây là phương pháp
dễ thực hiện so với các phương pháp ngụy tạo các giao dịch bán hàng Mặt khác nó rất khó bị các kiểm toán viên phát hiện vì thường không để lại dấu vết Có ba phương pháp chính thực hiện giấu gian lận và chi phí:
Không ghi nhận công nợ và chi phí;
Vốn hoá chi phí;
Hàng bán trả lại - các khoản giảm trừ và bảo hành;
Ví dụ tại Việt Nam:
Công ty cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) mở màn cho hoang mang của nhiều nhà đầu tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm gần 30% So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm 30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn 58 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ (-29%) so với kết quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng
Trang 22GVHD: Nguyễn Minh Nhật 9 SVTH: Lê Diễm My
Báo cáo tài chính năm 2010 của Công ty cổ phần Basa có mã chứng khoán BAS, công ty đã vốn hóa chi phí đi vay số tiền 1,04 tỷ đồng vào giá trị công trình xây dựng cơ bản, trong khi công trình này đã ngừng xây dựng trong năm 2010 Nếu
áp dụng đúng như VSA, thì chi phí đi vay này phải tạm ngừng vốn hóa và tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ Nếu thực hiện đúng như VSA, công ty sẽ gia tăng thêm khoản lỗ với số tiền tương ứng 1,04 tỷ đồng
Không khai báo đầy đủ thôngtin
Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng Báo cáo tài chính Các thông tin thường không được khai báo đầy
đủ trong thuyết minh như nợ phải trả tiềm tàng, các sự kiện sau ngày kết thúc niên
độ, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán
Ví dụ tại Việt Nam:
Trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối năm của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu “chênh lệch tỷ giá hối đoái” Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc áp dụng TT 201/2009 giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng Nếu áp dụng VSA 10 thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010 không phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng
mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng Qua đó cho người sử dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là do sự thay đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tạo ra
Định giá sai tàisản
Việc áp dụng sai phương pháp đánh giá là một kỹ thuật gian lận khá phổ biến Việc đánh giá sai thường áp dụng cho các khoản mục sau: Hàng tồn kho, khoản phải thu, các tài sản mua qua hợp nhất kinh doanh, tài sản cố định, không vốn hoá đầy đủ các chi phí vô hình, phân loại không đúng tài sản
Ví dụ tại Việt Nam:
Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Mu (HJS) thông báo Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2010 Điều đáng lưu ý trong Báo cáo kiểm toán đó là nguyên giá tài sản cố định và chi phí khấu hao của nhà máy Thủy điện Nậm Ngần có thể thay đổi khi quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản được duyệt Trong bảng thuyết minh Báo
Trang 23GVHD: Nguyễn Minh Nhật 10 SVTH: Lê Diễm My
cáo tài chính hợp nhất: Dự án công trình Thủy điện Nậm Ngần được đầu tư theo Quyết định số 28ACT/HĐQT ngày 01/12/2004 của Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Mu đã hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa được duyệt quyết toán vốn đầu tư Công ty căn cứ vào chi phí đầu tư xây dựng cơ bản thực tế, tạm tính nguyên giá để hạch toán tăng tài sản cố định
2.3 Các mô hình nhận dạng gian lận báo cáo tài chính
2.3.1 Mô hình logit vàprobit
Mô hình Beneish (Mô hìnhProbit)
Mô hình Probit của Beneish (1997) (1999) được xác định như sau:
Mi = βiXi + εi Mi: biến giả, nhận giá trị 1 nếu đó là công ty gian lận và giá trị 0 cho công ty không thực hiện gian lận βi: hệ số tương quan cho mỗi biến độc lập trong mô hình Xi: ma trận gồm các biến giải thích
Theo Dechow, Sloan và Sweeney (1996), mô hình Beneish cung cấp cho người
sử dụng báo cáo tài chính cơ hội đánh giá công ty từ các khía cạnh khác nhau bằng cách chụp lại bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của các công ty khác Ngoài ra, các biến được sử dụng trong mô hình không chỉ liên quan đến việc xác định các giao dịch bị gian lận đã được thực hiện ở công ty, mà còn có thể xác định được các giao dịch có thể gian lận trong tươnglai
Mô hình Spathis (Mô hìnhLogit)
hác với các chỉ mục được sử dụng trong mô hình Beneish năm 1997 và 1999,
Trang 24GVHD: Nguyễn Minh Nhật 11 SVTH: Lê Diễm My
Spathis tập trung vào các tỷ suất tài chính trong nghiên cứu năm 2002 Thay vì hồi quy xác suất, ông nhấn mạnh hồi quy logic trong phân tích của mình Theo đó, mô hình của Spathis xây dựng năm 2002 có công thức như sau:
E(y) = 1+ exp( b0+b1X1+ b2X2+…+ bnXn
mô hình này sử dụng phân tích hồi quy logic cho công ty thực hiện gian lận
và công ty không thực hiện gian lận theo các biến độclập
E(y): biến phụ thuộc, nhận giá trị 1 nếu đó là công ty gian lận và giá trị 0 cho công ty không thực hiện gian lận
b0: hệ số góc
b1, b2, …, bn: hệ số tương quan của các biến độc lập X1, X2, …, Xn:
các biến độc lập, cụ thể như sau:
FFS = b0 + b1(Nợ/Vốn chủ sở hữu) + b2(Doanh thu/Tổng tài sản) + b3(Lãi gộp/Doanh thu) + b4(Nợ phải thu/Doanh thu) + b5(Lãi gộp/Tổng tài sản) + b6(Vốn lưu động/Tổng tài sản) + b7(Doanh thu/Tổng tài sản) + b8(Hàng tồn kho/Tổng tài sản) + b9(Tổng nợ/Tổng tài sản) + b10(Chi phí tài chính/Chi phí hoạt động) + b11(Thuế/Doanh thu) + b12(Doanh AltmanZ-score)
2.3.2 Mô hình đa biến, đa tiêuchuẩn
Phương pháp UTADIS, thường được sử dụng trong quản trị tài chính, phân tích rủi ro tín dụng, tính toán rủi ro quốc gia, lựa chọn danh mục đầu tư, …, đã được
sử dụng trong việc phát hiện gian lận thông tin tài chính bởi nghiên cứu của Spathis, Doumpos và Zopounidis (2004) Nghiên cứu này đã sử dụng các biến trong mô hình Logit của Spathis (2002) và đã thiết lập một đường cong khác để phân loại các công
ty gian lận hay không thông qua giới hạn trên và giới hạn dưới của đườngcong
2.3.3 Mô hình theo định luậtBenford
Durtschi, Hillison và Pacini (2004) đã nghiên cứu việc vận dụng định luật Benford trong phát hiện gian lận các thông tin tài chính Định luật này dựa trên quan sát đặc trưng rằng có một số con số xuất hiện thường xuyên hơn các con số khác Chẳng hạn, trong một nhóm dữ liệu nào đó, kết quả quan sát chỉ ra rằng có hơn 30% con số bắt đầu bằng số 1 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phân tích các con số dựa trên định luật Benford có thể được kiểm toán viên sử dụng hiệu quả trong việc phát hiện các gian lận
Trang 25GVHD: Nguyễn Minh Nhật 12 SVTH: Lê Diễm My
2.3.4 Mô hình mạng thần kinh (neutral networkmodel)
Mô hình mạng thần kinh gồm có 3 phần: đầu vào là nơi các dây thần kinh kết nối với nhau – đây chính là các biến độc lập trong thống kê, đầu ra – đây chính là biến phụ thuộc trong thống kê và phần ẩn – nằm giữa đầu vào và đầu ra, có chức năng truyền tín hiệu từ đầu vào và chuyển tín hiệu đến đầura
Nghiên cứu của Kucukkocaoglu, Benli và Kucuksozen (2005) đã sử dụng mô hình mạng thần kinh để phát hiện gian lận báo cáo tài chính của 126 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Istanbul trong giai đoạn 1992-2002 Nghiên cứu sử dụng đầu vào bao gồm các biến độc lập của mô hình Beneish (1997), (1999) và các biến: phần trăm tỷ suất hàng tồn kho/doanh thu và phần trăm tỷ suất chi phí tài chính/doanh thu Đầu ra của nghiên cứu chính là phân loại công ty có thực hiện gian lận báo cáo tài chính hay không
2.4 Các công trình nghiên cứu quốc tế về gian lận
Mô hình dồn tích có điều chỉnh của DeAnglo(1986)
Mô hình của DeAngelo (1986) giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) thời kỳ t là ngẫu nhiên và bằng với số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1, do đó tác giả cho rằng sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và t-1 có thể xuất phát từ hành vi điều chỉnh lợinhuận
Theo DeAngelo, phần kế toán có thể điều chỉnh (DA) hay sự thay đổi số biến
kế toán dồn tích chính là phần lợi nhuận do nhà quản trị điều chỉnh Nói cách khác, DA≠0 tương đương với có hiện tượng gian lận Tuy nhiên mô hình của DeAngele chỉ đúng trong trường hợp giả định, tức biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) của năm t ngẫu nhiên và bằng với số biến kế toán dồn tích (TA) của năm t-1 Trường hợp công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng, biến kế toán không thể điều chỉnh sẽ thay đổi liên tục từ năm này qua năm khác không thể áp dụng mô hình
Trang 26GVHD: Nguyễn Minh Nhật 13 SVTH: Lê Diễm My
DeAngele(1986)
Mô hình dồn tích có điều chỉnh của Friedlan (1994)
Mô hình Friedlan (1994) ra đời đã khắc phục được nhược điểm của mô hình DeAngele Friedlan giả định sự thay đổi trong tổng số trích trước giữa hai kỳ kế toán
là do sự ảnh hưởng của hai nhân tố: (1) sự thay đổi do tăng trưởng và (2) sự thay đổi
do lựa chọn kế toán của tổ chức phát triển Mô hình như sau:
Theo Friedlan (1994), phần biến kế toán có thể điều chỉnh (DA) chính là lợi nhuận được điều chỉnh Tùy thuộc vào kết quả tính toán DA nhỏ hơn, lớn hơn hoặc bằng 0 để đưa ra kết luận về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty
Mô hình phát hiện thao túng thu nhập M-score của Beneish (1999)
Nghiên cứu của Beneish (1999) đã xây dựng mô hình M-score (M viết tắt của
“manipulation”- thao túng) để xác định để xác định các công ty có thực hiện thao túng thu nhập hay không Trong nghiên cứu của mình, Beneish chỉ ra rằng sự thao túng thường bao gồm tăng doanh thu hay giảm chi phí có chủ đích Đồng thời ông cũng nhận định xác suất các công ty thao túng thu nhập tăng khi có: (i) sự tăng bất thường các khoản phải thu, (ii) suy giảm lợi nhuận gộp, (iii) giảm chất lượng tài sản, (iv) tăng trưởng doanh thu, và (v) tăng dồntích
Mô hình M-score được viết dưới dạng như sau:
𝑀𝑀𝑖𝑖=𝛽𝛽′𝑋𝑋𝑖𝑖+𝜀𝜀𝑖𝑖̃
Trong đó M là một biến nhị phân, M nhận giá trị 1 khi công ty có thực hiện thao túng thu nhập, M nhận giá trị 0 khi không có thao túng; X là ma trân biến giải thích và
𝜀𝜀̃ là ma trận vectơ phần dư
Tám biến được Beneish sử dụng: (1)DSRI (Days Sales in Receivables Index)- Tỷ
số phải thu khách hàng trên doanh thu thuần, (2)GMI (Gross Margin Index)- Tỷ số lãi gộp, (3)SGI (Sales Growth Index)- Tỷ số tăng trưởng doanh thu bán hàng, (4)AQI
Trang 27GVHD: Nguyễn Minh Nhật 14 SVTH: Lê Diễm My
(Asset Quality Index)- Tỷ số chất lượng tài sản, (5)DEPI (Depreciation Index)- Tỷ số khấu hao tài sản cố định hữu hình, (6)SGAI (Sales, general and administrative expense Index)- Tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, (7)LVGI (Leverage Index)-
Tỷ số đòn bẩy tài chính, (8)TATA (Total Accruals to Total Assets)- Tỷ số biến dồn tích kế toán so với tổng tàisản
Beneish sử dụng mẫu báo cáo của 74 công ty bị thao túng thu nhập so sánh với các công ty khác cho ra kết quả mô hình:
+0,892(SGI) +0,115(DEPI) –0,172(SGAI) +4,679(TATA) –0,327(LVGI)
Tác giả cũng tính ra ngưỡng giá trị của mô hình là -1.78 Tức công ty nào có M – score cao hơn -1,78 được nhận định là có dấu hiệu thao túng thu nhập, và ngược lại
Mô hình trở lên nổi tiếng khi xác định đúng trường hợp bê bối của enron 2011
Mô hình M-score của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu (2005)
Dựa trên M-score, Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu (2005) phát triển một
mô hình nhằm phát hiện sự sai phạm báo cáo tài chính của các công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ Trong nghiên cứu này, Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của 126 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Mô hình được đưa
ra gồm 10 biến như sau: Chỉ số đòn bẩy (LVGI), chỉ số hàng tồn kho (DINV), chỉ số chi phí tài chính (FEI), chỉ số kì thu tiền (DSRI), chỉ số lợi nhuận gộp (GMI), chỉ số chất lượng tài sản (AQI), chỉ số tăng trưởng doanh thu (SGI), chỉ số khấu hao (DEPI), chỉ số chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp (SGAI), chỉ số tổng tài sản và tổng kế toán dồn tích (TATA) Tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả không sử dụng
mô hình logistic để ước lượng mà sự dụng 3 bước phân tích phân lớp để tính toán hệ số các biến trong mô hình:
Mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu:
M= 16,4952 DSRI – 13,1584 GMI + 8,3547 TATA + 8,1473 DINV - 2,5999 LVGI+ 1,8112 DEPI + 1,6927 SGAI – 1,559 SGI + 1,2698 AQI + 0,6528 FEI
Mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu mở rộng thêm hai biến là DINV và FEI so với mô hình gốc Về độ chính xác của mô hình, so sánh với kết quả được công bố bởi Ủy ban Chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ (Capital Markets Board of
Trang 28GVHD: Nguyễn Minh Nhật 15 SVTH: Lê Diễm My
Turkey) mô hình của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu dự báo đúng 81% công
ty bị thao túng thu nhập và 65% công ty không bị thao túng, kết quả chung là đúng 67%
Mô hình M-score của Marinakis (2011)
Marinakis (2011) cũng xây dựng mô hình M – score cho nước Anh Mô hình của Marinakis gồm 11 biến số, trong đó có 8 biến số tương tự mô hình Beneish Ngoài ra, ông còn thêm vào 3 biến số khác gồm: EFTAXI – Chỉ số tỷ lệ thuế suất hiệu quả, DIRAI – chỉ số đãi ngộ cho các giám đóc trên tổng tài sản, AUDI – Chỉ số thù lao kiểm toán đối với tổng tàisản
+0,421SGI + 0,317(DEPI) – 0,152(SGAI) + 3,21(TATA) +0,624(LVGI)+ 0,421(AUDI) – 0,391(EFTAXI) +0,317(DIRAI) Marinakis đặt ngưỡng giá trị cho mô hình của mình là -1.31 Theo kiểm định của tác giả, mô hình có xác suất xác định chính xác các công ty có hành vi sai phạm cao hơn mô hình gốc của Beneish là 10%
Mô hình F-score của Dechow và các cộng sự(2011)
Nghiên cứu về nguyên nhân và hậu quả của thao túng thu nhập của Dechow và các cộng sự đã xem xét 2190 công ty niêm yết trong giai đoạn 1982 – 2005 và thu được mô hình F-score với 3 cấp độ
Mô hình 1: Sử dụng các biến số thu thập từ báo cáo tài chính, bao gồm biến kế toán dồn tích (rsst), sự thay đổi khoản phải thu khách hàng (∆recv), thay đổi hàng tồn kho (∆inv), tài sản ngắn hạn (softassets), sự thay đổi tiền trong doanh thu (∆cs), sự thay đổi tỷ suất sinh lợi tài sản (∆roa) và biến giả issue bằng 1 nếu năm đó công ty phát hành cổ phiếu bằng 0 nếu không phát hành(issue):
+0,171∆cs ± 0,932∆roa + 1,029issue
Mô hình 2: Sử dụng các biến từ mô hình 1 đồng thời thêm các biến phi tài chính
và ngoài bảng cân đối là ∆emp sự thay đổi số lượng nhân viên và biến giả leasedum bằng 1 khi có cho thuê hoạt động, bằng 0 khi không cho thuê hoạtđộng
+ 0,159∆cs – 1,029∆roa + 0,983issue – 0,150∆emp + 0,419leasedum
Trang 29GVHD: Nguyễn Minh Nhật 16 SVTH: Lê Diễm My
Mô hình 3: Gồm các biến ở mô hình 2 và thêm các biến đo lường thị trường: tỷ suất sinh lợi điều chỉnh theo thị trường trong hiện tại rett và độ trễ của chính biến này rett-1
+ 0,160∆cs – 1,455∆roa + 0,653issue – 0,121∆emp + 0,345leasedum + 0,082 rett + 0,098 rett-1
Dechow và các cộng sự (2009) kết luận rằng F – score lớn hơn 1 đồng nghĩa với khả năng cao các công ty trình sai phạm báo cáo tài chính vàbóp méo thunhập Hậu kiểm, mô hình F-score 1 dự báo đúng 65,9% Các con số này lần lượt là 65.78% và 63.36% đối với F–score2 và F– score3
Có thể thấy F-score mở rộng hơn M-score của Beneish khi có thêm các biến phi tài chính, biến ngoài bảng cân đối cà các biến thị trường nhằm xác định mối tương quan của các yếu tố khác đến hành vi sai phạm báo cáo tài chính Tuy nhiên về xác suất dự báo đúng cả 3 mô hình được Dechow và các cộng sự đưa ra đều có xác suất
thấp hơn M-score ban đầu
Edwin H Sutherland (1883-1950)
Edwin H Sutherland là nhà nghiên cứu về tội phạm học của Đại học Indiana (Hoa Kỳ) Ông quan tâm đặc biệt đến hành vi gian lận được thực hiện bởi những nhà quản lý đối với chủ sở hữu Sutherland gọi những đối tượng này là những tội phạm cổ cồn (White collar – một thuật ngữ mà ngày nay đã trở thành rất thông dụng khi người
ta muốn ám chỉ tới những gian lận do tầng lớp lãnh đạo của công ty gây ra
Donald R Cressey (1919 - 1987)
Donald R Cressey là học trò xuất sắc của Sutherland và cũng là nhà nghiên cứu
về tội phạm tại Đại học Indiana vào những năm 40 của thế kỷ 20 Cressey đã chọn vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình Trong khi Sutherland tập trung vào nghiên cứu tội phạm trong giới cổ cồn, Cressey lại tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ, thông qua khảo sát khoảng 200 tội phạm kinh tế, nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật Ông đã đưa
ra mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày các nhân tố dẫn đến các hành vi gian lận và ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống được
sử dụng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau để nghiên cứu về gian lận
Trang 30GVHD: Nguyễn Minh Nhật 17 SVTH: Lê Diễm My
Theo Donald R Cressey sinh khi hội đủ ba nhân tố áp lực, cơ hội và thái độ,
về tình trạng nhân viên biển thủ tài sản của côngty
Bên cạnh đó, hai ông còn tìm ra một loạt những mối liên hệ giữa tuổi tác, vị trí
và mức độ hài lòng trong công việc với tình trạng biển thủ
Công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ(ACFE)
Vào năm 1993, một tổ chức nghiên cứu gian lận ra đời bên cạnh Uỷ ban Quốc gia về chống gian lận Hoa kỳ đó là Hiệp hội của các nhà điều tra gian lận (ACFE) Bằng cách phân loại và xác lập nhóm, các nhà nghiên cứu đã xem xét những hành vi này một cách cụ thể Thay vì xếp tất cả vào một tên gọi duy nhất “gian lận” thì họ đã phân nhóm tuỳ thuộc vào độ tương đồng của từng loại gian lận qua đó nghiên cứu những phương pháp hay được sử dụng nhất và cùng các kế hoạch thực hiện gian lận được xem là tinh vi và có mức tổn thất tới nền kinh tế cao nhất Theo
đó, kết quả cuộc nghiên cứu từ năm 2002-2008 cho thấy: Gian lận liên quan tới biển thủ, lạm dụng tài sản chiếm tới trên 85% các trường hợp được nghiên cứu nhưng mức thiệt hại cho nền kinh tế lại thấp hơn cả Trong khi đó, các gian lận trong Báo cáo tài chính lại chiếm một tỷ lệ thấp nhất trong ba loại trên (khoảng 10% cho nghiên cứu năm 2006 và năm 2008, 8% cho nghiên cứu năm 2004 và 5% cho các nghiên cứu năm 2002) nhưng những gì nó gây thiệt hại cho nền kinh tế thì lại lớn hơn cả Tham ô được xếp hạng thứ hai, tức là sau gian lận trong Báo cáo tài chính và trước gian lận liên quan đến biển thủ, lạm dụng tài sản
Trang 31GVHD: Nguyễn Minh Nhật 18 SVTH: Lê Diễm My
Một trong những con số thống kê đưa ra rất ấn tượng là: Gian lận gây ra thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ là khoảng 6% trên tổng thu nhập quốc nội vào năm 2004 (tương đương với 10,000 tỷ USD), tức là mỗi năm nền kinh tế bị thiệt hại trên 600 tỷ USD do gian lận Đây là con số rất lớn vì nó gần gấp đôi số ngân sách mà Chính phủ
Mỹ dành cho các hoạt động quân sự trong năm 2003 Và tất nhiên là nhiều hơn cả nguồn tiền Chính phủ đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng và giáo dục, vượt quá 28 lần
số ngân sách Chính phủ ưu tiên dùng để phòng chống tội phạm năm 2003
Dù công trình nghiên cứu về gian lận ACFE đã đưa ra những số liệu thống kê về những thiệt hại của việc gian lận trên báo cáo tài chính bị phát hiện, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khó mà xác định được thiệt hại thực sự bởi lẽ không phải tất
cả những gian lận đều bị phát hiện và không phải tất cả các gian lận được phát hiện đều được báo cáo và không phải tất cả gian lận đã báo cáo đều bị khởi tố theo đúng pháp luật Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu trên chỉ thống kê thiệt hại về kinh tế trực tiếp do gian lận trên báo cáo tài chính, trong khi còn rất nhiều thiệt hại vô hình không thể biểu hiện bằng con số cụ thể ví dụ như chi phí kiện tụng, phí bảo hiểm, sự sụt giảm niềm tin và tác động xấu đến thị trường chứng khoán
Để xem xét tính hữu hiệu của mỗi biện pháp kiểm soát, ACFE đã tiến hành so sánh loại thiệt hại trung bình của các công ty có biện pháp kiểm soát và các công ty không có các biện pháp kiểm soát Dù không thể có các chỉ dẫn rõ ràng cho giá trị của mỗi biện pháp kiểm soát, bởi lẽ thường nhiều biện pháp kết hợp mới đem lại hiệu quả nhưng kết quả nghiên cứu vẫn giúp hình dung tác động của từng biện pháp đối với việc giảm thiểu gian lận
Trong số hơn 1.000 tổ chức được điều tra, có khoản 479 tổ chức có đường dây nóng hay các phương tiện tương tự nhằm phát hiện gian lận so với 581 tổ chức không
có đường dây nóng Các đơn vị có đường dây nóng sẽ chịu thiệt hại khoản 100.000 USD và phát hiện gian lận trong vòng khoản 15 tháng kể từ khi phát sinh Ngược lại, các đơn vị không có đường dây nóng chịu khoản thiệt hại lên đến 200.000 USD và chỉ phát hiện gian lận sau 24 tháng gian lận phát sinh
Các tổ chức có bộ phận kiểm toán nội bộ chịu thiệt hại khoảng 120.000 USD so với các tổ chức không có kiểm toán nội bộ là 218.000 USD Tương tự như vậy, thời gian phát hiện gian lận tại các công ty có bộ phận kiểm toán nội bộ là 18 tháng so với
Trang 32GVHD: Nguyễn Minh Nhật 19 SVTH: Lê Diễm My
không có bộ phận này là 24 tháng
Kết quả nghiên cứu về rất đáng ngạc nhiên vì không tìm thấy mối liên hệ giữa kiểm toán độc lập và phát hiện gian lận
2.5 Các công trình nghiên cứu trong nước về gian lận
Nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Nguyễn Thị Uyên Phương (2014)
Trong nghiên cứu tác giả áp dụng mô hình Friedlan (1994) đánh giá khả năng điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA
Với mẫu là 75 công ty niêm yết, kết quả nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công
ty cổ phần niêm yết có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận tăng trong kỳ báo cáo trước đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng nhằm mục tiêu thu hút nhà đầu tư để đợt chào bán được thành công Cụ thể hơn, tác giả chỉ ra rằng các công ty có quy mô càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao, nhằm đạt được mức kỳ vọng của thị trường Hạn chế của nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở mức độ ứng dụng mô hình có sẵn,
chưa có những thay đổi phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam
Nghiên cứu về sai sót báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam – Nguyễn Trần Nguyên Trân(2014.)
Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) sử dụng mô hình Beneish để dự đoán khả năng sai sót trọng yếu do gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả của nghiên cứu đưa ra sau khi áp dụng mô hình Beneish tỷ lệ phát hiện gian lận là 63,33% trên mẫu 30 công ty được chọn tác giả cũng nhận định mô hình M-score của Beneish có thể được sử dụng nhằm phát hiện sớm một số công ty có khả năng thực hiện các hành vi thao túng trên báo cáo tài chính tại thị trường Việt Nam
Hạn chế của mô hình chỉ dừng lại ở áp dụng trực tiếp mô hình gốc Beneish Tuy nhiên đây là nghiên cứu sớm về sử dụng kỹ thuật thống kê, cụ thể là mô hình dự báo gian lận M-score, vậy nên đóng góp lớn nhất của nghiên cứu chính là mở đường cho việc xây dựng M-score ở Việt Nam
Phát hiện sai phạm báo cáo tài chính của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết
Trang 33GVHD: Nguyễn Minh Nhật 20 SVTH: Lê Diễm My
- Hoàng Khánh, Trần Thị Thu Hiền(2015)
Nghiên cứu ứng dụng các nghiên cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994) và Beneish (1999), nhằm xây dựng mô hình nhận diện khả năng sai phạm báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai mô hình: mô hình gốc 8 biến của Beneish
và mô hình 10 biến được pháp triển thêm hai biến dồn tích (DA) và biến quy mô doanh nghiệp Size Từ kết quả ước lượng hồi quy, tác giả kết luận về 2 mô hình hồi quy như sau:
Mt = 0,67872 – 0,669SGIt + 0,684AQIt – 0,477DEPIt + εt(1)
Độ chính xác hai mô hình lần lượt là 63.41% và 68.29% tính theo kết quả kiểm toán độc lập
Với mô hình (2), sau khi thêm biến DA, ta cũng thấy được một kết quả cao hơn về dự đoán sai phạm báo cáo tài chính cao hơn kết quả của nghiên cứu gốc
2.6 Các nhân tố giúp phát hiện sai phạm báo cáo tài chính
Qua các nghiên cứu nói trên ta có bảng tổng hợp các nhân tố có tác động đến khả năng gian lận BCTC đây cũng đồng thời là cơ sở đểu xác định các biến đưa vào
mô hình sau này:
Trang 34GVHD: Nguyễn Minh Nhật 21 SVTH: Lê Diễm My
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố giúp phát hiện sai phạm báo cáo tài chính
BCTC
1 Biến kế toán có thể
điều chỉnh DA
Mô hình dồn tích có điều chỉnh của DeAnglo (1986),Friedlan (1994)
và Healy (1985)
2 tác giả kết luận kế toán có thể điều chỉnh (DA) chính là phần lợi nhuận do nhà quản trị điều chỉnh Nói cách khác khi DA
#0 đồng nghĩa với có khả năng sai phạm báo cáo tài chính.
2 Biến kế toán không
thể điền chính NDA
Mô hình dồn tích của Healy (1985) và Jones
(1991)
NDA thay đổi qua các năm đồng nghĩa với có nghi ngờ sai phạm báo cáo tài chính.
4 Tỷ số lãi gộp GMI Mô hình M-score
Beneish (1999)
GMI có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính.
5 Tỷ số tăng trưởng
doanh thu bán hàng SGI
Mô hình M-score Beneish (1999)
SGI có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
6 Tỷ số chất lượng tài
Mô hình M-score Beneish (1999)
AQI có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
7 Tỷ số khấu hao tài
sản cố định hữu hình DEPI Mô hình M-score Beneish (1999)
DEPI có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
SGAI có mối quan hệ ngược chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
9 Tỷ số đòn bẩy tài
chính LVGI
Mô hình M-score Beneish (1999)
LVGI có mối quan hệ ngược chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
12 Chi phí tài chính FEI
M-score của Burcu Dikmen và Güray Küçükkocaoğlu (2005)
FEI có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
13 Quy mô doanh nghiệp Size
Rhee và các cộng sự (2013)
Xu hướng thao túng thu nhập phụ thuộc vào quy mô công ty, tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa
ra mô hình định lượng cụ thể.
Nguồn: Thống kê của tác giả
Trang 35GVHD: Nguyễn Minh Nhật 22 SVTH: Lê Diễm My
2.7 Phương pháp nghiên cứu sai phạm BCTC ngành Xây dựng
2.7.1 Quy trình nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định lý thuyết khoa học đề ra Quy trình định lượng kiểm định tính lý thuyết khoa học của bài nghiên cứu được xây dựng như sau:
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Tham khảo các nghiên cứu trước, từ đó xác định vấn đề nghiên cứu,
Có được vấn đề nghiên cứu tác giả xây dựng mục tiêu cựu thể và câu hỏi nghiên cứu, phần này được trình bài ở chương 1
Bước 2: Tổng hợp lý thuyết => Xây dựng mô hình giả thuyết nghiên cứu Dựa vào phần tổng quan các nghiên cứu trước, xây dựng mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố tài chính đến gian lận BCTC
Bước 3: Thu nhập các chỉ tiêu tài chính trên BCTC của các công ty xây dựng niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX
Bước 4: Kiểm định mô hình, giả thuyết bằng phân tích tương quan ( correlation analysis ), phân tích hồi quy Logistic Đồng thời xác định tính dự báo của
mô hình qua dữ liệu ngành xây dựng năm 2016
Bước 5: Kết quả mô hình được trình bài thông qua chạy mô hình logistic, đồng thời kiến nghị với các bên sử dụng BCTC
Lý thuyết => Mô hình, giả thuyết
Thu thập số liệu
Kết quả, kiến nghị Kiểmđịnh mô hình, giả thuyết
Trang 36GVHD: Nguyễn Minh Nhật 23 SVTH: Lê Diễm My
2.7.2 Dữ liệu và phương pháp thu thập số liệu
Để chọn được mẫu nghiên cứu, tác giả thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Đầu tiên tác giả xác định mẫu nghiên cứu là 44 công ty ngành xây
dựng có cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội
Bước 2: Thu thập dữ liệu về lợi nhuận trước kiểm toán từ năm 2013- 2015 và
lợi nhuận sau kiểm toán từ năm 2012 – 2014
Dữ liệu được thu thập từ trang web tài chính: www.cafef.vn Đây một trong những trang website lớn và có danh tiếng về cung cấp thông tin các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nên báo cáo tài chính thu thấp từ trang này có độ tin cậy cao
Bước 3: Tính toán chênh lệch tiêu chí trước và sau kiểm toán theo công thức:
Chênh lệch lợi nhuận =
Bước 4: Các khoản mục trên báo cáo tài chính cần thu thập: Lợi nhuận sau thuế,
Tổng tài sản, Các khoản phải thu khách hàng, Doanh thu thuần, Giá vốn hàng bán, Chi phí bán hàng, Chi phí quản lý doanh nghiệp, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Dữ liệu bao gồm báo cáo trước và sau kiểm toán của 44 công ty ngành xây dựng niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX Báo cáo tài chính trước kiểm toán 2013-
2015 và báo cáo sau kiểm toán năm 2012-2014
Bước 5: Loại bỏ các doanh nghiệp không đủ dữ liệu để thực hiện bước phân
tích tiếp theo và chốt lại mẫu
Những quan sát bị lọc bỏ là những quan sát gặp phải một trong các vấn đề như sau:
- Những quan sát không đủ dữ liệu: Cụ thể những quan sát bị lọc bỏ là những quan sát thiếu một trong những khoản mục cần thu thập như đã nêu ởtrên
- Những doanh nghiệp đã bị hủy niêm yết hoặc không công bố báo cáo tàichính
- Những giá trị của quan sát có sai lệch quá lớn (phương sai, độ lệch chuẩn quá lớn), những quan sát này làm tăng giá trị trung bình (mean) của dữ liệu biến, gây nhiễu và ảnh hưởng đến độ chính xác của môhình
Trang 37GVHD: Nguyễn Minh Nhật 24 SVTH: Lê Diễm My
Trình tự nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận báo cáo tài chính được thực hiện qua các bước sau đây:
Bước 1: Thống kê miêu tả
Bước 2: Phân tích tương quan (correlation analysis) Phân tích tương quan sớm nhận diện được các biến có quan hệ có ý nghĩ thống kê với M-score, củng như nhận biết dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập
Bước 3: Phân tích hồi quy Logistic
Hồi quy logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân( hai biểu hiện 0 và 1) để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà ta
có được
2.7.3 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết khoa học hay giả thuyết nghiên cứu (/research hypothesis) hypothesis) là một nhận định sơ bộ, kết luận giả định về bản chất sự vật do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ Giả thuyết là khởi điểm của mọi nghiên cứu khoa học, và phải dựa trên cơ sở quan sát, không trái với lý thuyết và có thể kiểm chứng
Sau khi xác định mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở tổng quan tài liệu nghiên cứu và lấy ý kiến chuyên gia để đưa ra sáu giả thuyết nghiên cứu như sau:
chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tàichính
- Giả thuyết H2 : SGI – tốc độ tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tàichính
- Giả thuyết H3 : SGAI – tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp có mối quan hệ nghịch chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính
- Giả thuyết H4 : DSRI – tỷ lệ phải thu của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tàichính
- Giả thuyết H5 : TATA – Tỷ số biến dồn tích kế toán so với tổng tài sản có mối quan hệ thuận chiều với xác suất xảy ra sai phạm báo cáo tài chính