thiện qui chế tài chính đối với BHXH Việt Nam”1999 của tác giả Phạm Thành; “Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính và chế độ kế toán trong hệ thống BHXH Việt Nam”2005 của tác giả Nguyễn P
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ Trong mỗi giai đoạn phát triển khinh tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn
Thực hiện chương trình hành động triển khai Nghị quyết 21-NQ/TW về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế giai đoạn 2012-2020 để phát triển nhanh và bền vững đối tượng, phục vụ tốt quyền lợi của người tham gia cùng với đó, tập trung giảm nợ đọng, đấu tranh với các hành vi vi phạm trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHYT) Tính đến hết năm 2014, cả nước hiện có khoảng 63 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên 90.5 triệu dân, chiếm tỷ lệ 61% Tổng thu BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ước đạt 218.819 tỷ đồng, tổng chi BHXH, BHYT là 191.445 tỷ đồng
Tuy đạt được những thành tựu đáng kể, song trên thực tế hoạt động thu BHXH, BHYT, BHTN ở Việt Nam còn nhiều hạn chế Tình trạng nợ BHXH kéo dài khiến nhiều quyền lợi người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó người lao động không những không được hưởng các quyền lợi trước mắt như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi hưu trí sau này Nguyên nhân xuất phát một phần do sự khó khăn chung của nền kinh tế, nguyên nhân khác là do chế tài xử phạt chưa
Trang 2nghiêm khắc Tính đến hết năm 2014, tổng số nợ BHXH, BHYT, BHTN trên
cả nước xấp xỉ gần 5.580 tỷ đổng
Theo tính toán, đến năm 2023 số thu của Quỹ sẽ bằng số chi Từ năm
2024 trở đi để đảm bảo chi chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số thu trong năm phải trích sử dụng thêm kết dư quỹ của các năm trước Và dự kiến đến năm 2037 thì quỹ mất khả năng thanh toán Do đó, nếu không có chính sách hoặc biện pháp tăng thu hoặc giảm chi thì số thu bảo hiểm xã hội trong năm và số tồn tích bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả Hơn nữa, nếu không có biện pháp cứng rắn để thu nợ thì hệ lụy của nó sẽ ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội và
vi phạm các lợi ích cơ bản về an sinh xã hội của người lao động Hiện nay cũng chưa có văn bản hướng d n việc giải quyết quyền lợi về bảo hiểm của người lao động trong các trường hợp chưa đóng, chậm đóng, ngừng hoạt động hoặc chủ doanh nghiệp b trốn không trả được nợ bảo hiểm xã hội làm ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động
Với tư cách là một cán bộ đang làm việc thực tiễn trong lĩnh vực thu BHXH của thành phố Hải Phòng, để góp phần xây dựng cơ chế thu hợp lý,
hiệu quả, đẩy mạnh công tác thu nợ tác giả chọn vấn đề "Một số biện pháp đẩy mạnh công tác thu nợ BHXH tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015-2020" làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, lĩnh vực BHXH thu hút được sự quan tâm đông đảo của
các nhà nghiên cứu Các công trình có thể kể đến như: “Chiến lược phát triển
bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”(1999) của tác giả Nguyễn Huy Ban; “Lộ trình và giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003”(2004) của tác giả Dương Xuân Triệu; “Cơ sở khoa học để hoàn
Trang 3thiện qui chế tài chính đối với BHXH Việt Nam”(1999) của tác giả Phạm
Thành; “Hoàn thiện quy chế quản lý tài chính và chế độ kế toán trong hệ thống
BHXH Việt Nam”(2005) của tác giả Nguyễn Phước Tường; “Thực trạng quản
lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu”(1996) của tác giả Nguyễn Cao Châu; “Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu chi BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An”(1998) của tác giả
Trần Quốc Toàn; “Mô hình thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới và
những bài học có thể vận dụng vào Việt Nam” (2007) của tác giả Đào Thị Hải
Nguyệt; “Xây dựng chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm
2020”(2006) của tác giả Dương Xuân Triệu; “Hoàn thiện quy chế thu BHXH”(2005) của tác giả Nguyễn Tiến Quyết: “Thực hiện các chế độ BHXH theo Luật BHXH- Thực trạng và giải pháp” (2009) của tác giả Nguyễn Anh
Minh; “Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra trong hệ thống BHXH Việt
Nam”(2010) của tác giả Nguyễn Minh Hải; “Hoàn thiện quy trình quản lý thu, quy trình cấp và quản lý sổ BHXH”(2010) của tác giả Dương Xuân Triệu
Song chưa có công trình nào đề cập đến “Một số biện pháp đẩy mạnh công tác thu nợ BHXH tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015- 2020"
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận giải cơ sở khoa học, đánh giá tổng quát thực trạng nợ BHXH bắt buộc trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014 và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác thu nợ BHXH bắt buộc giai đoạn 2015 đến
2020 tại thành phố Hải Phòng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những quy phạm pháp luật về BHXH liên
quan đến cơ chế thu BHXH, các quy định về việc xử lý các đơn vị chậm đóng,
Trang 4nợ tiền BHXH của BHXH Việt Nam được áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề về thu, nộp BHXH của
người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, các yếu tố ảnh hưởng đến số thu BHXH, đối tượng nộp BHXH, phương thức thu, quy trình tổ chức quản lý thu, những biện pháp chống thất thu và giảm nợ đọng tiền BHXH
Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế thu BHXH bắt buộc (không nghiên cứu quỹ khám chữa bệnh BHYT; BHXH tự nguyện, BHYT, BHTN; BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang), trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, thống
kê, phân tích số liệu từ năm 2010 đến năm 2015, nhằm phân tích hoạt động quản
lý thu, mở rộng đối tượng thu và đề ra các biện pháp chống thất thu, giảm nợ đọng tiền BHXH, nhằm đẩy mạnh công tác thu nợ BHXH trên địa bàn thành phố Hải Phòng
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề về BHXH, BHXH bắt buộc và hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc
- Phân tích thực trạng và rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về cơ chế thu nợ BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 5- Luận văn đã đề xuất phương hướng và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế thu nợ BHXH, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, góp phần làm tăng số thu, hoàn thiện cơ chế thu BHXH bắt buộc trên địa bàn thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực thực tiễn để hoàn thiện cơ chế thu
- giảm nợ tiền BHXH
Chương 2: Thực trạng nợ đọng tiền BHXH trên địa bàn thành phố Hải
Phòng
Chương 3: Định hướng và biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác thu nợ
BHXH trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn từ 2015 đến 2020
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ HOÀN THIỆN CƠ
CHẾ THU - GIẢM NỢ TIỀN BHXH 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1.1 Lịch sử ra đời, quan niệm về BHXH và BHXH bắt buộc
1.1.1.1 Tính tất yếu khách quan sự ra đời của Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trong quá trình sinh tồn con người phải lao động để làm ra của cải vật chất, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, ở, mặc, đi lại, v.v Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp con người gặp khó khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện khách quan như: ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, không có khả năng lao động, tử vong Vì vậy, từ xa xưa con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang, đùm bọc l n nhau Sự tương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng
và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: việc lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật để trợ giúp l n nhau
Từ thế kỷ 18, khi nền công nghiệp phát triển ở châu Âu thì lực lượng làm công ăn lương (công nhân) ngày càng đông Những người này do bán sức lao động để nhận tiền lương trang trải cho cuộc sống Khi gặp phải những trường hợp ốm đau, tai nạn, già yếu không làm việc được nên không có tiền lương để sinh sống, lâm vào cảnh khốn cùng, phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Đồng thời những hình thức trợ cấp xã hội tự phát không đủ khả năng về kinh phí để trợ cấp ổn định lâu dài
Trang 7Trước sức ép của người lao động và để duy trì lực lượng làm công ăn lương, giới chủ buộc phải từng bước cam kết đảm bảo cho người lao động có một khoản thu nhập nhất định gọi là trợ cấp để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi gặp rủi ro Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, Nhà nước
đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thu n buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng để hỗ trợ một phần khi không có việc làm, ốm đau, tai nạn Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung có sự quản lý giám sát của Nhà nước
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động BHXH ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản Kết quả này đã được các nước trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thể thiếu của người lao động
1.1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của BHXH
Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện
và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm
1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới
Trang 8đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội
Tại Việt Nam, trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm
xã hội Bởi vì đất nước bị thực dân Pháp đô hộ Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nghèo đói Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ l n nhau những khi gặp rủi ro hoạn nạn Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân tộc Cũng có một số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai) Tháng 8 năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Tháng 12 năm 1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân Trong Hiến pháp có xác định quyền được trợ cấp của người tàn tật và người già Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân, sau đó là 2 sắc lệnh 76, 77 quy định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên chức Đặc điểm của chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội ở thời kỳ này là do trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội rất hạn chế Tuy nhiên, đây là thời kỳ đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo hiểm xã hội Đồng thời những quy định về bảo hiểm xã hội của
Nhà nước ở thời kỳ này là cơ sở cho sự phát triển bảo hiểm xã hội sau này Từ năm 1954 đến nay, pháp luật về BHXH được phát triển mở rộng nhanh, Điều
lệ BHXH ban hành ngày 27/12/1961 có thể coi là văn bản gốc về BHXH quy định đối tượng là CNVC Nhà nước, hệ thống 6 chế độ BHXH, quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước do các cơ quan đơn vị đóng góp Trải qua nhiều lần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế xã hội
Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn
có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất Bởi lẽ, BHXH là
Trang 9đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý
1.1.1.3 Quan niệm về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [1]
Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về
BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên
của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là
mặt kinh tế và mặt xã hội
Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã
hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết.” [2]
Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: BHXH là sự bảo đảm
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm
Trang 10hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH
Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức kh e, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Có 2 loại BHXH: bắt buộc và tự nguyện
BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện đóng góp mức phí và thụ hưởng theo quy định
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là gì? Theo quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm
xã hội: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao
động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia
1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.2.1 Đặc điểm của BHXH bắt buộc
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH bắt buộc được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội Với tư cách là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu
về tiền lương, về chăm sóc y tế, về chăm sóc khi bị ốm đau, tai nạn, trả lương
Trang 11khi người lao động đến tuổi hưu Đồng thời bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm giành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có những rủi ro xảy ra Mặt khác, nhà nước được coi như là một người chủ sử dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người sử dụng lao động không
đủ để trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phần ngân sách để bảo đảm đời sống cơ bản cho người lao động Như vậy, có thể rút ra đặc điểm cơ bản của BHXH bắt buộc khác với loại hình BHXH tự nguyện ở những điểm như sau:
Một là, BHXH bắt buộc được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động,
giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH Chủ sử dụng và người lao động
có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH bắt buộc Người lao động (bên được BHXH) và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH bắt buộc khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH Đây là điểm khác biệt căn bản của BHXH bắt buộc so với các loại hình BHXH tự nguyện khác
Hai là, phân phối trong BHXH bắt buộc là phân phối không đều, nghĩa là
không phải ai tham gia BHXH bắt buộc cũng được phân phối với số tiền giống nhau Phân phối trong BHXH bắt buộc vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH bắt buộc phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là
sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao
Trang 12động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó
Ba là, BHXH bắt buộc hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số
đông bù cho số ít" tức là dùng số tiền đóng góp nh của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất
Bốn là, hoạt động BHXH bắt buộc là một loại hoạt động dịch vụ công,
mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Đây là điểm khác biệt rõ rệt của BHXH bắt buộc so với các loại hình BH mang tính kinh doanh khác Vì, với các loại hình dịch vụ BH khác, hoạt động của nó là tối đa hóa lợi nhuận, các công ty BH, các tập đoàn BH cả trong nước và nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận Hoạt động BHXH bắt buộc là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH bắt buộc đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH
1.1.2.2 Nguyên tắc của BHXH bắt buộc
BHXH bắt buộc có những nguyên tắc hoạt động mang tính phổ biến
và nhất quán đó là:
Thứ nhất, BHXH bắt buộc là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi
ro, hỗ trợ l n nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít" Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông người tham gia mới đạt được mục đích phân tán rủi
Trang 13ro, tổn thất Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức độ gánh chịu tổn thất của từng thành viên càng ít hơn Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức độ an toàn quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi trả càng kịp thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng
Thứ hai, quỹ BHXH bắt buộc được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp
của những bên tham gia bảo hiểm Quỹ phải được tính toán cân đối thu - chi một cách khoa học dựa trên quy luật số lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi trả; sao cho quỹ phải được
ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào v n phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường, trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng
Thứ ba, quỹ BHXH bắt buộc được quản lý và sử dụng theo chế độ tài
chính và luật pháp của nhà nước quy định Quỹ tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển kinh
tế - xã hội; vừa để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro, thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo khả năng thanh toán linh hoạt
1.1.3 Vai trò của BHXH bắt buộc
1.1.3.1 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với người lao động và gia đình
họ
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe dọa cuộc
sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ng u nhiên, bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên phương diện xã hội, rủi ro là một tất yếu Phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của
Trang 14BHXH bắt buộc, có thể thấy một số vai trò của BHXH bắt buộc đối với cá nhân:
Thứ nhất, BHXH bắt buộc có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động
và gia đình họ Khi tham gia BHXH bắt buộc, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời
Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế rơi vào tình cảnh khó khăn, túng qu n Nhờ có chính sách BHXH bắt buộc mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đó bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo
ổn định thu nhập, ổn định đời sống, tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc
Thứ hai, ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH bắt buộc tạo được
tâm lý an tâm, tin tưởng Khi đó tham gia BHXH bắt buộc góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân
1.1.3.2 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với xã hội
Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao
động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH bắt buộc Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH bắt buộc với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình, đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH bắt buộc
Trang 15Thứ hai, BHXH bắt buộc thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tạo cho
những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của
“Chân - Thiện - Mỹ” nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH bắt buộc là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên
Thứ ba, BHXH bắt buộc thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ l n
nhau tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ l n nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
Thứ tư, BHXH bắt buộc giúp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác
độ xã hội, BHXH bắt buộc là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, BHXH bắt buộc là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong
xã hội
1.1.3.3 Vai trò BHXH bắt buộc đối với nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp
trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng qu n BHXH bắt buộc đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ
Trang 16Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may
gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH bắt buộc chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn Hệ thống BHXH bắt buộc đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường
Thứ ba, khi tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động sẽ phát huy tinh
thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường
Thứ tư, quỹ BHXH bắt buộc do các bên tham gia đóng góp được tích tụ
tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, ph¸t triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động
Thứ năm, BHXH bắt buộc vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế
phát triển, nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động Các bên tham gia BHXH bắt buộc đều phải đóng góp vào quỹ Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia BHXH bắt buộc khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập Theo quy luật “số đông bù số ít” BHXH bắt buộc
thực hiện phân phối lại thu nhập cả theo chiều dọc và chiều ngang Thực hiện chức năng này BHXH bắt buộc góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.2 KHÁI NIỆM VỀ CƠ CHẾ,CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH, NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CHẾ THU BHXH BẮT BUỘC
1.2.1 Khái niệm cơ chế
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học năm 1998)
"cơ chế” là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Tương tự như vậy, các
Trang 17tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện
Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm "cơ chế” Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên
sự hoạt động của sự vật, hiện tượng
1.2.2 Khái niệm thu BHXH và cơ chế thu BHXH bắt buộc
Thu BHXH là một thuật ngữ thuộc phạm trù tài chính, một khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài chính BHXH Công tác thu BHXH tham gia vào quá trình tạo lập quỹ BHXH, quỹ tài chính này nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro, từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Từ những khái niệm cơ chế ở trên có thể hiểu: Cơ chế thu BHXH bắt buộc là mối quan hệ tổng thể giữa các biện pháp, hình thức có phương pháp thu BHXH bắt buộc theo chính sách hiện hành nhằm mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời BHXH của các đối tượng bắt buộc phải tham gia
Một cơ chế thu BHXH bắt buộc được coi là hợp lý khi các bộ phận trong
cơ chế mang tính hệ thống, đồng bộ ăn ý, không mâu thu n, không làm hạn chế tác động tích cực của nhau Cơ chế thu BHXH bắt buộc giữ vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công của quá trình thu BHXH bắt buộc, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH bắt buộc đảm bảo cho việc chi trả cho các chế độ
trợ cấp hiệu quả nhất
Trang 181.2.3 Những yếu tố cấu thành cơ chế thu BHXH bắt buộc
1.2.3.1 Xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh cơ chế thu BHXH bắt buộc
Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách
là chủ thể quản lý phải sử dụng các công cụ quản lý tác động lên các chủ thể quản
lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình Trong hệ thống các công cụ quản lý
và điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước thì luật pháp là công cụ đặc biệt quan trọng
Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là công cụ quan trọng để cơ quan BHXH thực hiện việc thu BHXH, đồng thời
cơ quan BHXH dùng công cụ này để tác động lên các đối tượng thu và thụ hưởng BHXH nhằm đạt mục tiêu quản lý của mình Chính vì vậy, bộ phận cấu thành đầu tiên của cơ chế thu BHXH phải nói đến chính là hệ thống luật pháp, chính sách trong lĩnh vực thu BHXH
Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là sự thể chế hóa thành quyền và nghĩa vụ đối với các đối tượng liên quan đến thu và thụ hưởng BHXH Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế thu BHXH, ngoài vai trò của luật pháp nói chung cần phải đạt được hai mục đích: Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động thu BHXH, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người được thụ hưởng BHXH
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc
Thứ nhất, quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Bao gồm người lao động là công dân Việt Nam và người sử dụng lao
động: Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:
Trang 19- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên
- Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng ( hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài, hợp đồng cá nhân)
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác
- Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật
- Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác
xã
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho người lao động
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam
Thứ hai, xác định căn cứ và phương thức thu BHXH bắt buộc
* Căn cứ thu BHXH bắt buộc
Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như: Điều 149 - Bộ Luật Lao động, Luật BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ và các
Trang 20Thông tư, Văn bản quy định, hướng d n cụ thể hoá, hoặc giải thích rõ các vấn
đề liên quan đến tiền lương làm căn cứ thu BHXH của người lao động, được quy định cụ thể như sau:
- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH là tiền lương, tiền công theo ngạch, bậc hoặc lương theo cấp bậc, chức vụ, lương hợp đồng; các khoản chức vụ, thâm niên chức vụ bầu cử, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)
- Người lao động hưởng lương theo chế độ tiền lương thuộc hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định, được tính theo mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm thu BHXH
- Tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH của người lao động làm việc trong các đơn vị liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo mức lương ghi trong hợp đồng lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng
* Phương thức và mức thu BHXH bắt buộc
Mức thu không thấp hơn mức lương tối thiểu chung và không cao hơn 20 lần mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng;
Hàng tháng, người sử dụng lao động trích nộp trên quỹ tiền lương, tiền công của người lao động theo mức quy định chậm nhất vào ngày cuối tháng; Trong thời gian phải truy đóng, nếu người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và có khám, chữa bệnh thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi hoàn chi phí cho người lao động; mức truy đóng tính theo mức lương tối thiểu tại thời điểm đóng;
Người sử dụng lao động đăng ký tham gia BHXH tại nơi đóng trụ sở chính; người lao động tự đóng BHXH tại BHXH quận, huyện nơi cư trú
Thứ ba, xây dựng quy trình thu BHXH bắt buộc
Trang 21*Người sử dụng lao động và người lao động kê khai hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc
Người lao động: Căn cứ hồ sơ gốc kê khai 03 bản “Tờ khai tham gia BHXH bắt buộc” (M u số 01-TBH) nộp cho người sử dụng lao động; Trường hợp đã được cấp sổ BHXH thì không phải kê khai mà chỉ nộp sổ BHXH Người sử dụng lao động: Kiểm tra, đối chiếu Tờ khai tham gia BHXH bắt buộc với hồ sơ gốc của từng người lao động; ký xác nhận và phải chịu trách nhiệm về những nội dung trên Tờ khai của người lao động
Lập 02 bản “Danh sách lao động tham gia BHXH bắt buộc” (M u số TBH) và bản sao quyết định thành lập hoặc chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì nộp bản hợp đồng lao động
02a-Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ
sơ theo quy định đã nêu ở trên và sổ BHXH bắt buộc của người lao động (nếu có) cho cơ quan BHXH
Cơ quan BHXH: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp của các loại giấy tờ và hoàn thiện các thủ tục rồi chuyển trả người lao động Trường hợp hồ sơ chưa đủ, cơ quan BHXH phải hướng d n cụ thể để đơn vị hoàn thiện
Cơ quan BHXH: Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ; ký, đóng dấu vào danh sách lao động tham gia BHXH; các Tờ khai (nếu có), thông báo cho đơn
vị đóng BHXH cho người lao động
* Lập và giao kế hoạch thu BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội huyện: Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng mở rộng trong năm tới lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau, gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 05/11 hàng năm
Trang 22- Bảo hiểm xã hội tỉnh: Lập 02 bản "Kế hoạch thu BHXH bắt buộc" năm sau (M u số 13-TBH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/11 hàng năm
1.2.3.3 Quản lý thu BHXH bắt buộc
- BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc
BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản)
- Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch-Tài chính) và BHXH huyện gửi thông báo quyết toán cho phòng Thu hoặc bộ phận Thu;
- BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH bắt buộc theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh
* Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ; Hướng d n, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH bắt buộc ; Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH bắt
buộc, cấp sổ BHXH và thẩm định số thu BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh)
+ Bảo hiểm xã hội tỉnh (phòng Thu BHXH) trực tiếp thu: Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố; Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh quản lý; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế; Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang; Các đơn
vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu
Trang 23+ Phòng Thu BHXH có trách nhiệm: Tổ chức, hướng d n thu BHXH bắt buộc; Định kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH bắt buộc đối với BHXH huyện; Phối hợp với phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lý tiền thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh quản lý
- Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện) trực tiếp thu BHXH bắt buộc: Các đơn vị trên địa bàn do huyện quản lý; Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu; Hướng d n, tổ chức thực hiện quản lý thu, nộp BHXH bắt buộc;
* Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc
- Thu BHXH bắt buộc bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào ngân hàng ngay trong ngày
- Không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc để chi cho bất cứ việc gì; Không được áp dụng hình thức gán thu bù chi tiền BHXH bắt buộc đối với các đơn vị Mọi trường hợp thoái thu, truy thu BHXH bắt buộc để cộng nối thời gian công tác chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của BHXH Việt Nam
- Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp đủ số tiền đã được xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH bắt buộc Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với
kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính về BHXH, cơ quan, đơn vị còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất tiền vay quá hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm truy nộp
- Bảo hiểm xã hội huyện chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng Riêng tháng cuối năm
Trang 24chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH bắt buộc của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12
- Hàng tháng BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng Nếu
số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH tỉnh phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam Riêng tháng cuối năm chuyển hết số tiền thu BHXH bắt buộc về BHXH Việt Nam trước 24 giờ ngày 31/12 Quy trình thu-nộp BHXH bắt buộc được tổng quát qua hình sau:
Trang 25
Hình 1.1: Quy trình thu
Thu
Danh sách lao động, quỹ lương
Tài chính chớnh
Thanh toán ốm đau, thai sản
Chứng từ chuyển tiền Theo thời gian và nội dung chứng từ
Hạch toán kế toán Theo thời gian và nội dung chứng từ
Sổ chi tiết số phải thu BHXH, BHYT, BHTN
Sổ chi tiết tiền đóng
Xác định nợ tính lãi
Xác định nợ tính lãi
Sổ chi tiết tiền lãi
gia BHXH