Đến nay, dịch bệnh Covid-19 trong nước cơ bản được kiểm soát tốt, các doanh nghiệp đang từng bước khôi phục lại hoạt động sản xuất công nghiệp sau thời gian cách ly xã hội, các hợp đồng
Trang 1Sáu tháng đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 đã lây lan tại 215 quốc gia, vùng lãnh thổ (tính đến ngày 15/6/2020), đến nay dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát
và còn diễn biến phức tạp tại Châu Âu, Mỹ và nhiều nước Châu Á; tác động tiêu cực đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội toàn cầu và Việt Nam; trong đó hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế đều chịu tác động tiêu cực
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư
và Chính phủ, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi, vượt qua khó khăn, tiếp tục ổn định, phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2020, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp; tập trung nguồn lực triển khai kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020, Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9/4/2020, Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020, Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 11/03/2020 và Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/03/2020, Chị thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020, Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/4/2020 Nhờ đó, 6 tháng đầu năm 2020 các ngành, lĩnh vực đều đạt mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2019
Trên cơ sở rà soát kết quả thực hiện 5 tháng, Cục Thống kê tỉnh Bình Dương ước tính tháng 6, tổng hợp chung kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 6 tháng đầu năm 2020 như sau:
- Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2019 (kế hoạch năm: 8,6-8,8%)
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 6,4% (kế hoạch năm: 9,55%)
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,3% (kế hoạch năm: 4%)
- Giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng 5,65% (kế hoạch năm: 10,1%)
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,4% (kế hoạch năm: 19,9%), trong đó: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,4% (kế hoạch năm: 15,8%)
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 0,4% (kế hoạch năm: 15%)
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 9,8% (kế hoạch năm: 15,5%)
- Thu hút đầu tư nước ngoài đạt 557 triệu đô la Mỹ (kế hoạch năm: >1.400 triệu đô la Mỹ)
- Tổng thu ngân sách nhà nước 29.300 tỷ đồng (kế hoạch năm: 62.200 tỷ đồng), giảm 6,1% so cùng kỳ Tổng chi ngân sách địa phương 5.170 tỷ đồng (kế hoạch năm: 22.400 tỷ đồng), tăng 7,3% so cùng kỳ
- Tạo việc làm mới cho 17.850 lao động (kế hoạch năm: 45.000 lao động)
Trang 2nay (6 tháng/2016 tăng 7,74%, 6 tháng/2017 tăng 7,65%, 6 tháng/2018 tăng 7,16%,
6 tháng/2019 tăng 8,09%) Mặc dù mức tăng trưởng thấp hơn so với 5 năm qua nhưng đây là mức tăng khá (không phải tăng trưởng âm) trong tình hình thế giới và Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19
Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 3,3% so với cùng kỳ năm
2019 (6 tháng/2019 tăng 3,43%), trong đó: ngành nông nghiệp tăng 3,48% so với
cùng kỳ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung ổn định, trong kỳ có ảnh hưởng dịch tả heo Châu Phi, dịch Cúm gia cầm, tuy nhiên ở mức độ nhẹ, các dịch bệnh này trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được khống chế, các hợp tác xã, trang trại chăn nuôi đã tái đàn để ổn định chăn nuôi
Khu vực II (Công nghiệp và Xây dựng) tăng 7,21% so với cùng kỳ năm
2019 (6 tháng/2019 tăng 7,65%), tính riêng ngành Công nghiệp tăng 7,29%; ngành
công nghiệp chế biến, chế tạo tuy đạt mức tăng không cao là 7,37%, thấp hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn đóng vai trò là động lực chính góp phần tăng trưởng GRDP của tỉnh Trong đó, các ngành sản xuất gia công chủ lực, tạo nhiều việc làm cho lao động trong tỉnh như: dệt may, da giày, gỗ có mức tăng trưởng từ 6,65% - 6,99%, góp phần làm tăng khu vực Công nghiệp và Xây dựng
Khu vực III (Dịch vụ) mức tăng trưởng chỉ đạt 5,65% so với cùng kỳ năm
2019, thấp hơn 3,7% cùng kỳ năm trước (6 tháng/2019 tăng 9,35%), đây là khu vực
chịu ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất (dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống và lữ hành), trong bối cảnh dịch bệnh lan rộng, nhiều quốc gia đã thực hiện các biện pháp phong tỏa, hạn chế đi lại, tăng cường kiểm dịch nên nhu cầu du lịch sụt giảm mạnh Tương tự, các ngành vận tải, kho bãi; bán lẻ; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; bất động sản; y tế; giáo dục cũng chịu ảnh hưởng rất lớn do các lệnh phong tỏa, cách
ly, hạn chế đi lại…
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,86% so với cùng kỳ năm
2019 (6 tháng/2019 tăng 9,6%) Mức tăng trưởng thấp hơn (-2,74%) so với mức
tăng cùng kỳ năm 2019 là do thực hiện chính sách gia hạn nộp thuế của các đơn vị ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP, ngày 08/4/2020 của Chính phủ
Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2020, khu vực I chiếm tỷ trọng 2,81%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 63,64%; khu vực III chiếm 24,79%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,76% Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm
2019 là: 2,73%; 65,97%; 22,24%; 9,06%
2 Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn, dịch Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trên toàn cầu, đến
Trang 3nay vẫn chưa dự báo được thời điểm kết thúc Việc các nước áp dụng các biện pháp hạn chế đi lại, tụ tập đông người, nhu cầu tiêu dùng giảm tiếp tục gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã thay đổi chiến lược kinh doanh bằng cách đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử, thay đổi mặt hàng sản xuất chủ lực, tích cực tìm kiếm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào, mở rộng thị trường tiêu thụ Bên cạnh đó, các cấp, các ngành chủ động theo dõi, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, tổ chức nhiều đoàn khảo sát nắm tình hình sản xuất kinh doanh Triển khai, hướng dẫn các thủ tục để tiếp cận các chính sách ưu đãi thuế, ngân hàng, hỗ trợ giảm giá điện cho các đối tượng theo quy định; tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và khuyến công; chính sách hỗ trợ cho người lao động
Đến nay, dịch bệnh Covid-19 trong nước cơ bản được kiểm soát tốt, các doanh nghiệp đang từng bước khôi phục lại hoạt động sản xuất công nghiệp sau thời gian cách ly xã hội, các hợp đồng bị hủy trước đây cũng được ký kết lại; tuy nhiên, do tình hình xuất khẩu bị gián đoạn tại các thị trường xuất khẩu chủ lực như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Quốc, đặc biệt là việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất từ thị trường Trung Quốc giảm đã làm cho một số ngành may mặc, da giày, chế biến gỗ,… bị ảnh hưởng nặng, giảm hoặc không có đơn hàng, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm quy mô sản xuất; giảm giờ làm, cho lao động nghỉ phép luân phiên để đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất… Với những
nỗ lực của Chính phủ và sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, các cấp, các ngành trong việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế, ngân hàng, bảo hiểm, cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư, thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp một phần tiền lương ngừng việc phải trả cho người lao động; đồng thời, tích cực triển khai thực hiện chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19, duy trì các nhóm giải pháp bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng
Song song đó, cộng với sự nỗ lực cao của các doanh nghiệp trong việc khôi phục sản xuất sau khi dịch Covid-19 “hạ nhiệt”, nhất là các doanh nghiệp FDI có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường thế giới, bạn hàng truyền thống rất đông, dày vốn; bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam, còn có sự hỗ trợ của chính quốc gia mà họ sinh sống; Mỹ và một số nước Châu Âu khi xảy ra dịch bệnh thì đã có những gói hỗ trợ lớn, trực tiếp trợ lực cho doanh nghiệp FDI để tiếp tục sản xuất Từ đó, góp phần làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp tiếp tục duy trì mức tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2020, đóng góp tích cực vào tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh, nhất là tạo công ăn việc làm và
thu nhập ổn định cho người lao động Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6
tháng đầu năm 2020 ƣớc tăng 6,4% so với cùng kỳ, đây cũng là mức tăng thấp
nhất trong những năm qua (6 tháng/2016 tăng 7,4%, 6 tháng/2017 tăng 7,9%, 6 tháng/2018 tăng 8%, 6 tháng/2019 tăng 8,1%)
Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:
Trang 44
- Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 10,64% so với cùng kỳ, ngành này chiếm tỷ trọng 0,4% tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, giảm chủ yếu của Công ty CP khoáng sản và xây dựng Bình Dương, Công ty CP Đá Núi Nhỏ hết giấy phép khai thác
- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,38% so với cùng kỳ (6 tháng/2020 tăng 8,02%), đây là ngành đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành, chiếm tỷ trọng 98,9% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 6 tháng/2020 tăng so với cùng kỳ năm trước như: chế biến thực phẩm tăng 7,87%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 12,04%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 12,01%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 8,91%; kim loại tăng 9,84%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 7,64%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,98%; thiết bị điện tăng 6,44%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 13,32%
Tuy nhiên, một số ngành có mức tăng thấp hơn cùng kỳ làm ảnh hưởng chỉ
số tăng chung như: ngành dệt tăng 2,31% (cùng kỳ tăng 4,23%); ngành may mặc tăng 4,02% (cùng kỳ tăng 8,59%); ngành da giày tăng 1,58% (cùng kỳ tăng 12,45%), ngành chế biến gỗ tăng 3,82% (cùng kỳ tăng 8,35%), đây là các ngành xuất khẩu chủ lực chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, trong đó: da giày chiếm tỷ trọng 14,92%, dệt may chiếm tỷ trọng 16,73%
- Ngành dệt may, da giày: Tuy tình hình dịch bệnh thị trường Trung Quốc đã
có chuyển biến tích cực, nhưng đa số các doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu vẫn chưa hoạt động trở lại Mặt khác, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và tiếp lan rộng ra các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, một số các nước Châu Âu, Châu Phi và Trung Đông đã làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguồn nguyên liệu cho ngành dệt may,
da giày Đối với nguyên phụ liệu mua trong nước, các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt may và da giày cũng nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc để sản xuất Mặc dù các doanh nghiệp này đã dự trữ nguồn nguyên liệu để phục vụ các hợp đồng đã ký kết, nhưng lượng hàng dự trữ không nhiều
- Ngành chế biến gỗ: Cảng biển của một số nước hiện tại vẫn đang đóng cửa, ngừng giao dịch hàng hóa (chủ yếu thị trường Anh, Mỹ) nên ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Các thị trường khác như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc cũng bị suy giảm nhưng không đáng kể Dự báo trong thời gian tới, dịch bệnh
sẽ tiếp tục lan rộng đến các thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành gỗ, các doanh nghiệp ngành này sẽ gặp những khó khăn do thiếu nguyên liệu hoặc giá nguyên liệu tăng cao Đồng thời, tình hình sản xuất, xuất khẩu cũng sẽ bị ảnh hưởng do các nước nhập khẩu áp dụng chính sách hạn chế xuất, nhập khẩu hoặc tăng cường kiểm soát hàng hóa nhằm hạn chế lây lan dịch bệnh, dẫn đến làm gián đoạn tiến độ thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đã ký kết trước đây
- Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,4% so với cùng kỳ (6 tháng/2019 tăng 23,21%)
Trang 5- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,7% (6 tháng/2019 tăng 2,26%) do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 12,33%, chủ yếu tăng của Công ty CP Cấp thoát nước và Môi trường Bình Dương
Các sản phẩm trong 6 tháng đầu năm 2020 có mức tăng khá so cùng kỳ năm
2019 như: Sữa và kem dạng bột các loại tăng 21,8%; cà phê các loại tăng 8%; nước chấm các loại tăng 32,3%; quần áo các loại tăng 4,4%; bao bì giấy các loại tăng 7,4%; sản phẩm hoá chất hỗn hợp tăng 6,6%; thuốc viên tăng 36,9%; bao bì nhựa các loại tăng 7,9%; sắt, thép dạng thô tăng 13,1%; sắt, thép cán tăng 5,3%; thép thanh, thép ống tăng 11,7%; tai nghe tăng 7,3%; máy may dùng cho gia đình tăng 9,7%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 6%; điện thương phẩm tăng 10,4%;
Các sản phẩm khác có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ: Nước có vị hoa quả tăng 1,8%; sợi các loại tăng 1,4%; giày thể thao tăng 0,1%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 0,5% Và một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Gỗ xẻ các loại giảm 17,8%; gỗ dán giảm 0,5%; sơn và véc ni các loại giảm 0,2%; xe có động cơ chở được từ 10 người trở lên giảm 4,1%; xe đạp giảm 5%
Sáu tháng đầu năm 2020, chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong ngành công nghiệp chỉ bằng 97,73% so cùng kỳ Trong đó: lao động ngành chế biến, chế tạo bằng 97,69%; ngành có lao động tương đối ổn định như: ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 1,13%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,16%; ngành khai khoáng tăng 0,26% Riêng ngành dệt may
có 172 ngàn lao động, chiếm 18% tổng số lao động công nghiệp; ngành da giày có
193 ngàn lao động, chiếm 20,2%; ngành chế biến gỗ có 194 ngàn lao động, chiếm 20,3%, nhưng do dịch bệnh kéo dài ảnh hưởng đến việc làm của người lao động, kéo theo số lượng lao động các ngành này giảm mạnh, làm chỉ số lao động chung của toàn ngành công nghiệp giảm
2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trong nước, nước ngoài và tình hình hoạt động của doanh nghiệp
a Đăng ký kinh doanh trong nước
Theo báo cáo của ngành chức năng, từ ngày 15/5/2020 đến ngày 15/6/2020, đã thu hút được 299 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới, với tổng số vốn là 1.895
tỷ đồng và 69 doanh nghiệp điều chỉnh tăng vốn, với tổng số vốn tăng thêm là 949
tỷ đồng
Tính từ đầu năm đến ngày 15/6/2020, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh là 2.709 doanh nghiệp (giảm 7,3% so với cùng kỳ), với tổng vốn đăng ký 16.379 tỷ đồng (giảm 12,1% so với cùng kỳ) Số doanh nghiệp điều chỉnh tăng vốn là 548 doanh nghiệp, với tổng vốn tăng là 10.868 tỷ đồng
Lũy kế đến ngày 16/5/2020, toàn tỉnh có 45.201 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số 390.344 tỷ đồng vốn
Trang 66
b Đầu tư nước ngoài
Từ ngày 15/5/2020 đến 15/6/2020, Tỉnh đã thu hút 64,6 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong đó, số dự án cấp giấy chứng nhận đầu tư mới 7 dự án với tổng số vốn đăng ký là 52,2 triệu USD và 8 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng là 12,4 triệu USD
Từ đầu năm đến ngày 15/6/2020, đã thu hút 557 triệu USD, giảm 43,7% so với cùng kỳ Trong đó, số dự án cấp giấy chứng nhận đầu tư mới là 59 dự án (giảm 44,3% so với cùng kỳ) với tổng số vốn đăng ký là 313,1 triệu USD (tăng 49,4% so với cùng kỳ) và 57 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký là 243,9 USD.Chia theo địa bàn, lĩnh vực và đối tác đầu tư trong 6 tháng đầu năm 2020 như sau:
- Theo địa bàn đầu tư: Các khu công nghiệp thu hút được 511 triệu USD, giảm 32,2% so với cùng kỳ (trong đó: cấp mới 42 dự án với vốn đầu tư đăng ký
là 587,6 triệu USD, 41 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 205,5 triệu USD) Ngoài khu công nghiệp thu hút được 46,6 triệu USD, giảm 80,5% so với cùng kỳ, trong đó: cấp mới 17 dự án với vốn đầu tư đăng
ký là 25,5 triệu USD, 12 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 21,1 triệu USD
- Theo lĩnh vực đầu tư: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với 43 dự án đầu tư đăng ký mới, 54 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn là 476 triệu USD; lĩnh vực dịch vụ với 4 dự án đầu tư đăng
ký mới, với tổng vốn là 39,6 triệu USD
- Theo đối tác đầu tư: Có 17 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư mới trong 6 tháng đầu năm 2020 Đứng đầu là các doanh nghiệp Hồng Kông với tổng vốn đăng ký là 83,9 triệu USD (chiếm tỷ lệ 26,8%), đứng thứ 2 là Singapore: 61,4 triệu USD (chiếm tỷ lệ 19,6%), thứ 3 là Trung Quốc là 50,2 triệu USD (chiếm tỷ lệ 16%), tiếp theo là Đài Loan: 33,9 triệu USD (chiếm tỷ lệ 10,8%), Seychelles: 30,1 triệu USD (chiếm tỷ lệ 9,6%), Samoa là 20,5 triệu USD (chiếm tỷ lệ 6,6%), Hàn Quốc là 12,9 triệu USD (chiếm tỷ lệ 4,1%)
Lũy kế đến ngày 15/6/2020, toàn tỉnh có 59 dự án đầu tư nước ngoài với tổng
số vốn là 853,3 triệu USD (trong khu công nghiệp là 42 dự án với tổng vốn là 672,6 triệu USD, ngoài khu công nghiệp là 17 dự án với tổng vốn là 180,8 triệu USD)
c Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Theo báo cáo của ngành Thuế, tính đến ngày 31/5/2020 trên địa bàn tỉnh có 2.325 doanh nghiệp mới đi vào hoạt động với tổng số vốn đăng ký là 15.376 tỷ đồng (gồm: 2.270 doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn 13.025 tỷ đồng và 55 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn 2.351 tỷ đồng) So với cùng kỳ năm 2019 số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động giảm 9,3%, vốn đăng ký giảm 16,5% Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài số doanh nghiệp giảm 38,9%, số vốn đăng ký giảm 54,3%
Trang 7Các ngành, lĩnh vực các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động sản xuất trong kỳ như: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (502 doanh nghiệp với 3.863 tỷ đồng vốn, 14.430 lao động, tương ứng giảm 3 chỉ số: 14,8%, 38,4% và 45,5%); ngành xây dựng (231 doanh nghiệp, 1.783 tỷ đồng vốn, 1.316 lao động, tương ứng giảm 17,8% doanh nghiệp, tăng 10,7% vốn và giảm 49,8% lao động); ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe gắn máy và xe có động cơ khác (790 doanh nghiệp, 3.127 tỷ đồng vốn, 4.114 lao động, tương ứng giảm 3 chỉ số: 10%, 8,4% và 33,6%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống (163 doanh nghiệp, 284 tỷ đồng vốn, 714 lao động, tương ứng giảm 3 chỉ số: 10,9%, 45,6% và 50,9%); hoạt động kinh doanh bất động sản (132 doanh nghiệp, 4.223 tỷ đồng vốn, 1.523 lao động, tương ứng giảm 3 chỉ số: 32,7%, 15,8% và tăng 0,7%); hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ (122 doanh nghiệp, 573 tỷ đồng vốn, 818 lao động, tương ứng tăng 3 chỉ số: 25,8%, 49,7% và 50,9%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (113 doanh nghiệp, 435 tỷ đồng vốn, 765 lao động, tương ứng tăng 14,1% doanh nghiệp, 32,9% vốn và giảm 31,6% lao động)
Bên cạnh các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, trong kỳ có 47 doanh nghiệp hoạt động trở lại trước thời hạn (6 tháng/2019 có 29 DN), 493 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (6 tháng/2019 có 286 DN), 211 doanh nghiệp giải thể (6 tháng/2019 có 166 DN) Các doanh nghiệp tạm ngừng, giải thể chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
d Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Qua kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của 462 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, cho thấy: Có 36,34% số DN đánh giá tình hình SXKD quý II/2020 tốt hơn quý trước; 16,96% số DN đánh giá khó khăn và 46,7% số DN cho rằng tình hình SXKD ổn định
Về số lượng đơn đặt hàng mới, có 27,56% số doanh nghiệp đánh giá đơn đặt hàng quý II/2020 cao hơn quý trước; 18,89% số doanh nghiệp đánh giá đơn hàng giảm và 53,56% số doanh nghiệp đánh giá có đơn đặt hàng ổn định
Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới, có 18,48% số doanh nghiệp đánh giá quý II/2020 tăng hơn so với quý trước; 16,71% số doanh nghiệp đánh giá đơn hàng giảm và 64,81% số doanh nghiệp đánh giá ổn định
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2020 so với quý trước, có 34,8% doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; có 33,7% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 32,38% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường quốc tế thấp; có 22,25% doanh nghiệp đánh giá do thiếu nguyên nhiên vật liệu; 18,28% doanh nghiệp cho rằng do không tuyển được lao động theo yêu cầu;
có 13,66% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; có 9,03% doanh nghiệp cho rằng do lãi suất cao; 6,17% doanh nghiệp đánh giá do thiết bị công nghệ lạc hậu
Trang 88
Dự kiến quý III/2020 so với quý II/2020, có 88,55% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn, trong đó có 47,58% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 40,97% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 11,45% dự báo khó khăn hơn Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 86,84% số DN dự báo tình hình SXKD quý III/2020 ổn định và tốt hơn so với quý II/2020
Chia theo hình thức sở hữu:
- Khối doanh nghiệp nhà nước: có 88,88% doanh nghiệp nhà nước đánh giá quý III/2020 tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn quý II/2020
- Khối doanh nghiệp ngoài nhà nước: có 92,2% số doanh nghiệp đánh giá quý III/2020 tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn quý II/2020; 7,8% số doanh nghiệp dự báo khó khăn
- Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: có 86,84% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2020 khả quan hơn quý II/2020; 13,16% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn
Về khối lượng sản xuất, có 43,61% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất quý III/2020 cao hơn quý II/2020; 45,59% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 10,79% số doanh nghiệp dự báo giảm
Về số lượng đơn đặt hàng mới, có 36,36% số doanh nghiệp dự báo có số đơn đặt hàng quý III/2020 cao hơn quý II/2020; 53,66% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 9,98% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm Trong đó, đối với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới có 27,05% số doanh nghiệp nhận định quý III/2020 tăng hơn so với quý II/2020 và 63,28% số doanh nghiệp dự kiến ổn định
Về chi phí sản xuất, có 16,52% số doanh nghiệp đánh giá chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm chính quý III/2020 tăng so với quý II/2020; 78,85% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định và 4,63% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm
Về giá bán sản phẩm, dự kiến quý III/2020 so với quý II/2020, có 13,22%; số doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm tăng; 84,36% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định và 2,42% số doanh nghiệp giảm giá bán sản phẩm
Về tình hình tồn kho thành phẩm, có 12,33% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng thành phẩm tồn kho quý III/2020 tăng so với quý II/2020 và 13,44% số doanh nghiệp có lượng thành phẩm tồn kho giảm
Về tồn kho nguyên vật liệu, có 9,25% số doanh nghiệp cho biết khối lượng tồn kho nguyên vật liệu quý III/2020 tăng so với quý II/2020; 14,54% số doanh nghiệp có lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm
Về sử dụng lao động, có 92,51% số doanh nghiệp dự kiến quý III/2020 sẽ tăng
và giữ ổn định quy mô lao động so với quý II/2020; 7,49% số doanh nghiệp dự báo giảm quy mô lao động
Trang 93 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2020, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở ngành và UBND huyện, thị xã, thành phố khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, giao hết kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước năm 2020 Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công còn lại của năm
2019 và năm 2020 (bao gồm vốn ODA); tập trung chỉ đạo, sớm hoàn thành đưa vào
sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng lớn, quan trọng, phát huy tối đa công suất thiết kế, hiệu quả; đồng thời kiểm tra, có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
để bảo đảm tiến độ, khối lượng và chất lượng công trình
Sáu tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 51.974,3 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ (6 tháng/2016 tăng 12,5%, 6
tháng/2017 tăng 15,5%, 6 tháng/2018 tăng 14,9%, 6 tháng/2019 tăng 12%) Trong đó:
- Nguồn vốn nhà nước chiếm tỷ trọng 9,61% tổng vốn đầu tư, 6 tháng đầu
năm 2020 thực hiện 4.994,8 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ
Theo báo cáo của ngành chức năng, tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công 2020 các công trình quan trọng, trọng điểm: Tỉnh có 41 danh mục công trình quan trọng, trọng điểm được bố trí tổng vốn 6.047 tỷ đồng, chiếm 44,9% kế hoạch vốn của tỉnh Ước tính giải ngân đến 30/6/2020 là 2.195,8 tỷ đồng, đạt 36,5% kế hoạch Trong 6 tháng đầu năm 2020, tiếp tục thanh toán cho dự án chuyển tiếp, dự kiến quý III/2020 sẽ mời thầu và khởi công một số công trình mới như: Xây dựng đường Bắc Nam 3 (đã mời thầu quý II/2020), dự án cải thiện môi trường nước Nam Bình Dương giai đoạn 2 (phần sử dụng vốn dư), đường từ Tân Thành đến cầu Tam Lập (xã Tân Định) thuộc tuyến tạo lực Bắc Tân Uyên - Phú Giáo - Bàu Bàng, Cầu Bạch Đằng 2 qua sông Đồng Nai, đường và cầu kết nối tỉnh Bình Dương và tỉnh Tây Ninh…
- Nguồn vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng 41,61% tổng vốn, 6 tháng đầu
năm 2020 thực hiện 21.627,4 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ Nguồn vốn khu vực này tập trung chủ yếu đầu tư hạ tầng Khu, Cụm công nghiệp, Khu đô thị, nhà ở như: Công ty CP phát triển Đô thị đầu tư dự án nhà ở An sinh thành phố Thủ Dầu Một (giai đoạn 3), khu dân cư (ấp 5D, 5E, 5F) huyện Bàu Bàng với tổng trị giá 23,7
tỷ đồng; Tổng Công ty Đầu tư và phát triển CTCP (Becamex) đầu tư Khu dân cư (ấp 5A, 5B, 5C, 5D, 5E, 5F Lai Uyên) trị giá 23,5 tỷ đồng, Khu dân cư (ấp 3, ấp 4, 5A, 5B, 5C) trị giá 15,7 tỷ đồng; Tiếp tục đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng
kỹ thuật các Khu công nghiệp (KCN Bàu Bàng mở rộng trị giá 57,4 tỷ đồng, KCN Cây Trường trị giá 27,6 tỷ đồng, KCN Bàu Bàng trị giá 67,1 tỷ đồng), Khu đô thị mới trị giá 62,1 tỷ đồng…
- Nguốn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
vốn (48,78%), 6 tháng đầu năm 2020 thực hiện 25.352,1 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là đầu tư nhà xưởng sản xuất, máy móc thiết bị, như: Công ty Tnhh Paihong đầu tư nhà máy sản xuất vải (trị giá 348,3 tỷ đồng); Công ty Tnhh Công Nghiệp Dệt Huge Bamboo đầu tư máy dệt nhuộm (32,6 tỷ đồng); Công ty Tnhh Điện tử Foster đầu tư máy sản xuất
Trang 1010
linh kiện điện tử (150 tỷ đồng); Công ty Tnhh Esquel Germent Manufacturing đầu
tư máy sản xuất hàng may mặc (58 tỷ đồng); Công ty Tnhh Lốp Kumho đầu tư máy sản xuất lốp xe ô tô (47 tỷ đồng); Công ty Tnhh MTV Công Nghiệp Masan đầu tư máy sản xuất chế biến thực phẩm (96 tỷ đồng); Công ty TNHH Kim Phong đầu tư máy sản xuất đồ gỗ (69 tỷ đồng); Công ty LD TNHH Khu Công Nghiệp Việt Nam
- Singgapore đầu tư máy móc thiết bị vào các cơ sở hạ tầng kỹ thuật (92 tỷ đồng) Theo khoản mục đầu tư, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt 25.669 tỷ đồng, chiếm 43,4% tổng vốn đầu tư, tăng 9,7% so với cùng kỳ (trong đó: vốn xây dựng và lắp đặt: 17.875,3 tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ; mua sắm máy móc thiết bị: 6.885 tỷ đồng, tăng 9,4%); mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất: 21.962,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 42,3%; còn lại đầu tư cho sửa chữa lớn nâng cấp tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động, chi khác chiếm tỷ trọng 8%
4 Hoạt động thương mại, dịch vụ
a Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Những tháng đầu năm 2020, ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 trên toàn cầu đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực sụt giảm nghiêm trọng về nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện lệnh giãn cách xã hội, một số ngành dịch vụ (ăn uống, lưu trú, du lịch, giáo dục và đào tạo, vũ trường, karaoke…) phải tạm ngưng hoạt động và chịu áp lực rất lớn do phát sinh chi phí để duy trì hoạt động
Sau khi lệnh cách ly được nới lỏng, trong quý II năm 2020 sức mua trên thị trường có những tín hiệu khởi sắc Hầu hết các đơn vị kinh doanh thương mại, dịch
vụ đã trở lại bình thường Hoạt động mua sắm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, du lịch của người dân có dấu hiệu tăng trở lại Các chợ, cửa hàng tiện ích, siêu thị, trung tâm thương mại bảo đảm cung ứng đầy đủ hàng hóa thiết yếu, không có biến động
về giá, đồng thời người dân có xu hướng thay đổi hành vi tiêu dùng theo hình thức mua sắm trực tuyến Các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống đã mở cửa trở lại, tâm lý người dân đã bớt lo ngại, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước vẫn giảm mạnh
Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm an sinh xã hội theo Chỉ thị 11/CT-TTg, ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ; Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Kế hoạch số 690/KH-UBND, ngày 20/02/2020 của UBND tỉnh về việc dự trữ hàng hóa thiết yếu ứng phó dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 trên địa bàn tỉnh và Kế hoạch số 1750/KH-UBND, ngày 13/4/2020 về việc vay vốn ưu đãi dự trữ hàng hóa thiết yếu ứng phó với dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn mới; không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia bình ổn, bán hàng lưu động tại các điểm đã đăng
ký và bố trí thêm các điểm khi có nhu cầu; tổ chức điều phối cung cầu thị trường; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi về tiếp cận vốn, tín dụng, thuế, thanh toán điện tử,…; tiếp tục theo dõi, dự báo nhu cầu thị trường trong nước, có phương án tổ
Trang 11chức phân phối, lưu thông, cung ứng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân,… góp phần ổn định hoạt động mua bán hàng hóa và kinh doanh dịch vụ trên địa bàn
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm
2020 đạt 122.390,7 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ, mức tăng trưởng thấp
nhất trong 4 năm gần đây (năm 2016 tăng 18,1%, năm 2017 tăng 19,3%, năm 2018 tăng 17%, 2019 tăng 16,3%) Trong đó, kinh tế nhà nước tăng 11,25%; kinh tế cá thể tăng 9,27%; kinh tế tư nhân tăng 8%; kinh tế đầu tư nước ngoài tăng 14,3% Doanh thu chia theo ngành kinh doanh như sau:
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 70.652,1 tỷ
đồng, chiếm 57,7%, tăng 12,4% so với cùng kỳ (6 tháng/2019 tăng 17%), trong
đó các nhóm hàng tăng so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm tăng 18,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 17,8%, xăng dầu các loại tăng 12,2%, hàng hóa khác tăng 8,2% ;
Trong giai đoạn thực hiện Chỉ thị 16/CP-TTg, ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động thương mại mua sắm hàng hóa, chi tiêu của người tiêu dùng giảm mạnh, nhiều cửa hàng bán lẻ phải tạm ngừng kinh doanh do tổng cầu giảm Tuy vậy, thay vì tăng trưởng âm, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 vẫn đảm bảo tốc độ tăng so với cùng kỳ, là do các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử trong thời gian hạn chế tiếp xúc trực tiếp Người tiêu dùng không cần đến các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng mà vẫn có thể lực chọn
và mua sắm nhờ các trang thương mại điện tử, mua hàng online, hàng hóa được giao ngay một cách nhanh chóng, tiện lợi
- Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành 6 tháng
đầu năm 2020 ước đạt 15.501,8 tỷ đồng, giảm 2,2% so với cùng kỳ (6
tháng/2019 tăng 4,6%), trong đó: dịch vụ ăn uống giảm 1,1%, dịch vụ lưu trú giảm 22,3%, dịch vụ du lịch lữ hành giảm 48,7% Tương tự, các đơn vị kinh doanh khách sạn và du lịch gặp nhiều khó khăn nhất là nguồn khách lưu trú do thực hiện nghiêm lệnh cách ly xã hội Tình trạng hủy tour, hủy phòng diễn ra khiến nhiều doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, du lịch bị suy giảm doanh thu Các đơn vị kinh doanh ăn uống, ngoài việc chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh thì việc áp dụng Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu, đặc biệt là doanh thu hàng chuyển bán của các nhà hàng, quán
ăn giảm 86,9% so cùng kỳ
- Doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 36.236,9 tỷ đồng, tăng
9,2% so cùng kỳ (6 tháng/2019 tăng 25,4%) Trong đó: ngành dịch vụ y tế và hoạt
động trợ giúp xã hội ước đạt 2.584,7 tỷ đồng tăng 17,4% so với cùng kỳ, chủ yếu
do thời tiết thay đổi, nắng nóng kéo dài, tình hình dịch bệnh gia tăng đã làm cho doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng Bên cạnh đó, một số ngành khác có mức tăng so với cùng kỳ như: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 20.283,1 tỷ đồng, tăng 15,2%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 2.379,2 tỷ
Trang 12b Kim ngạch xuất nhập khẩu
Tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang hết sức phức tạp và chưa được kiểm soát, đặc biệt tại các thị trường xuất nhập khẩu như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc , đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Nhiều nước trên thế giới đã đưa ra chính sách giãn cách xã hội, hạn chế đi lại đã làm mức tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng tại hầu hết các thị trường xuất khẩu hàng hóa bị giảm mạnh, các thị trường xuất khẩu truyền thống như: EU giảm 6,89% kim ngạch xuất khẩu, Mỹ giảm 12,82% kim ngạch xuất khẩu, Nhật Bản giảm 9,25% kim ngạch xuất khẩu, ASEAN giảm 5,73% kim ngạch xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 ƣớc đạt 11.934,9 triệu USD, tăng 0,4% so cùng kỳ Trong đó: khu vực kinh tế trong nước 2.005 triệu USD,
tăng 0,3%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 9.929,8 triệu USD, tăng 0,4%
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như:
Sản phẩm gỗ: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 1.838,7 triệu USD, tăng 0,7% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 15,4% tổng số Kim ngạch xuất khẩu ngành chế biến gỗ tiếp tục là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, ngành gỗ đã chịu tác động về nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nhiều đơn hàng xuất khẩu bị trì hoãn giao hàng do chính sách đóng cửa biên giới và tạm ngưng các hoạt động kinh doanh - thương mại (ngoại trừ các hàng hóa thiết yếu) Nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm quy mô sản xuất, hoạt động cầm chừng do không có đơn hàng xuất khẩu mới Các thị trường xuất khẩu truyền thống của ngành chế biến gỗ đều giảm: Mỹ giảm 11,46%, Châu Âu giảm 8,68%, Nhật Bản giảm 6,23%, Trung Quốc giảm 9,29% Với việc triển khai thực thi Hiệp định Thương mại CPTPP và EVFTA
kỳ vọng 6 tháng cuối năm 2020 kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng khá hơn
Hàng dệt may: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 1.296,1 triệu USD, tăng 1% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 10,9% tổng số Tình hình sản xuất, xuất khẩu ngành dệt may cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt nguồn nguyên liệu
và lượng hợp đồng xuất khẩu mới giảm mạnh so với cùng kỳ Nhiều doanh nghiệp ngành dệt may đã chuyển sang sản xuất khẩu trang (tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) Đến nay, các thị trường xuất khẩu chính như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu đã nới lỏng chính sách giãn cách xã hội, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của
Trang 13người dân đã tăng dần Các doanh nghiệp đã bắt đầu xuất khẩu được hàng hóa theo các đơn hàng xuất khẩu đã ký trước đây và ký kết được các đơn hàng xuất khẩu mới trong quý III/2020 Theo chu kỳ hàng năm, kim ngạch xuất khẩu dệt may sẽ tăng mạnh nhất vào những tháng cuối năm do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dệt may tại các dịp Lễ, Giáng sinh tăng cao
Hàng giày dép: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 1.012 triệu USD, giảm 14,8% so cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 8,5% tổng số Ngành sản xuất, xuất khẩu giày dép là ngành chịu nhiều tác động tiêu cực Các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn kép từ cả hai phía: thiếu hụt nguồn nguyên liệu nhập khẩu và xuất khẩu bị gián đoạn tại các thị trường xuất khẩu chính, nhất là thị trường Mỹ, Châu Âu dẫn đến kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2020 giảm sâu so với cùng
kỳ Đến nay, trước những thành công đạt được từ công tác phòng, chống dịch bệnh của Việt Nam, cộng thêm các cam kết cắt giảm thuế quan ngay khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, dự kiến trong giữa quý III/2020 sẽ là đòn bẩy quan trọng để thu hút đơn hàng xuất khẩu giày dép từ thị trường Châu Âu
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2020 ƣớc đạt 9.378,5 triệu USD, tăng 4,2% so cùng kỳ, trong đó: khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng
4,2% và khu vực kinh tế trong nước tăng 4,3% Các nhóm mặt hàng nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2020 góp phần làm tăng kim ngạch nhập khẩu chung (+4,2%), như: Nhóm hàng điện tử và linh kiện điện tử 1.307 triệu USD, tăng 18,6%
so với cùng kỳ; nhóm hàng hoá chất 1.785 triệu USD, tăng 10,2%; nhóm hàng kim loại, sắt thép 1.157 triệu USD, tăng 1,5%; nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 1.159 triệu USD, tăng 11,6% Riêng nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ 366 triệu USD, giảm 16,7% so với cùng kỳ; nhóm hàng nguyên liệu dệt may, da giày 1.467 triệu USD, giảm 3,2%
c Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 10,46% (trong đó: lương thực tăng 3,88%, thực phẩm tăng 10,31%, ăn uống ngoài gia đình tăng 14,84%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,5%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,67%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,94%; bưu chính, viễn thông tăng 0,32%; giáo dục tăng 6,69%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,83% Riêng chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,95%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,89%; giao thông giảm 5,12%
Các nguyên nhân chủ yếu làm tăng chỉ số CPI trong 6 tháng đầu năm 2020, tập trung ở một số nhóm mặt hàng như sau:
Tiếp tục thực hiện Quyết định số: 04/2018/QĐ-UBND, ngày 22/02/2018 về việc quy định giá nước cho sinh hoạt đô thị và sản xuất kinh doanh trên địa bàn Bình Dương từ năm 2018 đến năm 2022, bình quân giá nước sinh hoạt 6 tháng đầu
Trang 1414
năm 2020 tăng 6% so với cùng kỳ
Thực hiện Nghị định số 90/2019/NĐ-CP, ngày 15/11/2019 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, một số nhóm dịch vụ bình quân tăng so cùng kỳ như: dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 10,95%; dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 5,79%; dịch vụ trong gia đình tăng 12,89%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 10,1%
Chỉ số giá thịt lợn trên thị trường bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 65,5%, giá thịt lợn tăng kéo theo giá nội tạng động vật tăng 25,27%; thịt quay, giò, chả tăng 31,68% và mỡ ăn tăng 75,31%, do ảnh hưởng của dịch tả heo Châu Phi nên nguồn thịt heo hơi trong dân không còn nhiều, lượng heo cung cấp ra thị trường của các doanh nghiệp chăn nuôi còn hạn chế dẫn tới cung không đủ cầu, việc tái đàn cũng cần phải có thời gian
Chỉ số giá nhóm xăng dầu bình quân 6 tháng đầu năm 2020 giảm 19,31% so với cùng kỳ; dầu hỏa giảm 27,32%, giảm theo giá thế giới, do người dân thực hiện chính sách giãn cách xã hội, hạn chế đi lại, các phương tiện vận tải công cộng tạm ngừng hoạt động nên nhu cầu tiêu dùng về xăng, dầu giảm
Giá vàng bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 23,47% so với cùng kỳ, tăng theo giá vàng thế giới, do tác động bởi dịch bệnh Covid-19 trên thế giới diễn biến phức tạp, dấy lên lo ngại ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thế toàn cầu Chính phủ
Mỹ cũng như các ngân hàng trung ương trên thế giới hạ lãi suất, đã đưa ra nhiều gói cứu trợ nền kinh tế theo đó khiến các đồng tiền mất giá và giúp vàng trở nên hấp dẫn hơn nên giá tăng Giá đô la Mỹ trên địa bàn bình quân 6 tháng đầu năm
2020 tăng 0,41% so với cùng kỳ
d Vận tải
Ngành chức năng đã triển khai thực hiện nghiêm Nghị định 100/2019/NĐ-CP,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 quy định về mức xử phạt đối với người điều khiển phương tiện giao thông có sử dụng rượu bia Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, tình hình vận tải hành khách, hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 không được thuận lợi Người dân hạn chế đi lại, xe đưa rước học sinh không hoạt động nhiều tháng, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách tạm dừng hoạt động
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 6 tháng đầu năm 2020 ƣớc thực hiện 11.537,7 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ (6 tháng/2019 tăng 10,6%)
Trong đó: kinh tế Nhà nước đạt 632,2 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân đạt 5.672 tỷ đồng, tăng 3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.840,8 tỷ đồng, tăng 8%
- Vận tải hành khách: Các doanh nghiệp vận tải khách bằng taxi hoạt động
theo hình thức cung cấp APP và thu phí quản lý với các cá nhân, vì vậy số lượng xe
cá nhân đăng ký giảm, ngừng hoạt động cũng làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động
Trang 15vận tải hành khách trên địa bàn Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 288,4 tỷ đồng, giảm 1,2% (cùng kỳ tăng 13,7%)
+ Vận chuyển hành khách đạt 40,95 triệu HK, giảm 1,8% so với cùng kỳ Trong đó: Kinh tế tư nhân đạt 34,5 triệu HK, giảm 1,4%; kinh tế cá thể đạt 4,4 triệu
HK giảm 3,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,1 triệu HK, giảm 4,2% + Luân chuyển hành khách đạt 1.684,04 triệu HK.km, giảm 0,9% so với cùng
kỳ Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 1.495,52 triệu HK.km, giảm 0,9%; kinh tế cá thể đạt 143,54 triệu HK.km, giảm 1,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 44,97 triệu HK.km, giảm 2,6%
- Vận tải hàng hoá: Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.482,3 tỷ đồng,
giảm 0,4% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 16%)
+ Vận chuyển hàng hóa đạt 110,68 triệu tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ Trong đó: kinh tế tư nhân đạt 102,13 triệu tấn, giảm 0,6%; kinh tế cá thể đạt 4,55 triệu tấn, giảm 1,7%
+ Luân chuyển hàng hóa đạt 3.753,66 triệu tấn.km, giảm 0,8% so với cùng kỳ Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 159,03 triệu tấn.km, tăng 0,5% so với cùng kỳ; kinh
tế tư nhân đạt 3.423,43 triệu tấn.km, giảm 0,9%; kinh tế cá thể đạt 158,95 triệu tấn.km, giảm 0,9%
- Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: Tuy tình hình dịch bệnh
Covid-19 ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải (thu phí cầu đường, bãi xe, bán
vé máy bay…) nhưng doanh thu hoạt động kho bãi là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số (khoảng 70%) vẫn hoạt động ổn định, nên không làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nhóm ngành này Doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 7.767,1 tỷ đồng, tăng 8% so cùng kỳ
e Bưu chính, Viễn thông
- Lĩnh vực bưu chính: Hiện có 23 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh
vực bưu chính, với 231 điểm phục vụ bưu chính, thuộc Bưu điện tỉnh (trong đó, có
38 điểm Bưu điện Văn hóa xã) và 125 điểm phục vụ bưu chính, giao dịch thuộc các
doanh nghiệp bưu chính khác
Hạ tầng bưu chính phát triển rộng khắp, đáp ứng tối đa nhu cầu gửi, nhận bưu phẩm, bưu kiện của người dân, doanh nghiệp Trong kỳ, đã chuyển phát hơn 2,3 triệu thư (tăng 8% so với cùng kỳ), gần 3 triệu gói, kiện hàng hóa đi trong nước và quốc tế (giảm 6%), chuyển phát gần 0,8 triệu tờ (cuốn) báo và tạp chí (giảm 15%) Doanh thu lĩnh vực bưu chính ước đạt gần 250 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng kỳ, nộp ngân sách nhà nước trên 10 tỷ đồng
- Lĩnh vực viễn thông: Hạ tầng viễn thông liên tục được đầu tư, phát triển
theo hướng hiện đại Mạng cáp quang đã phủ đến cấp xã; sóng thông tin di động
Trang 1616
phủ 100% địa bàn, hạ tầng thông tin di động 3G, 4G đã phủ khắp các khu đô thị và khu công nghiệp với gần 2.000 trạm thu phát sóng di động, đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ với chất lượng ngày càng cao Hạ tầng mạng cáp từng bước được hạ ngầm, đảm bảo an toàn mạng lưới và góp phần cải tạo mỹ quan đô thị
Số thuê bao điện thoại cố định: 78.252 thuê bao, đạt 3,22 thuê bao/100 dân; số thuê bao điện thoại di động: 3.742.940 thuê bao, đạt 154,25 thuê bao/100 dân; số thuê bao Internet băng rộng cố định: 456.481 thuê bao, đạt 18,81 thuê bao/100 dân;
số thuê bao Internet băng rộng di động: 2.526.641 thuê bao, đạt 104.12 thuê bao/100 dân Doanh thu lĩnh vực viễn thông ước đạt 1.400 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ
5 Nông, lâm nghiệp, thủy sản
Tình hình thời tiết khu vực tỉnh Bình Dương ngày nắng nóng, có những cơn mưa trái mùa, nhiều nơi có mưa vừa đến mưa to, xuất hiện mưa dông; tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đã xảy ra, song Tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành chủ động phòng trừ, kiểm soát dịch bệnh, điều tiết hợp lý nguồn nước, củng cố, mở rộng mạng lưới dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa ngành nông nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển Ước tính giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 6.179,1 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 3,3% so với cùng kỳ, trong đó: trồng trọt tăng 0,9%, chăn nuôi tăng 5,7%
a Nông nghiệp
- Trồng trọt: Kết thúc vụ Đông Xuân năm 2020, ước tổng diện tích gieo trồng
các loại cây hàng năm đạt 6.556,1 ha, bằng 96,3% cùng kỳ, trong đó: diện tích lúa 2.053 ha, bằng 98,4% cùng kỳ, cây ngô gieo trồng 102,9 ha, tăng 8,5%, cây lấy củ
có chất bột 1.430,5 ha, bằng 91,7% cùng kỳ, cây mía 220 ha, bằng 90,2% cùng kỳ, cây có hạt chứa dầu 214,6 ha, tăng 6% so với cùng kỳ, cây rau, đậu các loại và hoa 1.819,4 ha bằng 97,8% cùng kỳ ; nguyên nhân diện tích một số cây trồng giảm do
đô thị hóa nhanh, chuyển đổi cơ cấu một số cây hàng năm kém hiệu quả; Diện tích gieo trồng tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế cá thể; tập trung nhiều ở các huyện, thị xã như: Tân Uyên chiếm 28,9%, Bắc Tân Uyên chiếm 14,7%, Dầu Tiếng chiếm 20,1%, Phú Giáo chiếm 16,3%, Bến Cát 12%… Diện tích một số cây trồng được áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng giống mới chất lượng cao, cũng như được đầu tư chăm sóc tốt, nên năng suất tăng như: năng suất cây lúa tăng 0,3% (+0,1 tạ/ha), cây ngô tăng 0,7%, cây khoai lang tăng 0,8%, cây đậu phộng tăng 0,6%
Diện tích gieo trồng cây lâu năm ước đạt 142.883 ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ; trong đó: diện tích cây công nghiệp và cây lâu năm khác đạt 135.887 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ; Cây ăn quả diện tích gieo trồng đạt 6.996 ha, tăng 0,9% cùng kỳ, trong đó:
+ Diện tích cây cao su gieo trồng 133.814 ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ; diện tích thu hoạch 104.938 ha, tăng 0,3% cùng kỳ; sản lượng đạt 55.320 tấn, tăng 0,6%
so cùng kỳ; năng suất đạt 5,3 tạ/ha, tăng 0,3% so cùng kỳ
Trang 17+ Diện tích cây bưởi 1.448 ha, tăng 5,7% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch 931
ha, tăng 16% so cùng kỳ; sản lượng đạt 3.745 tấn, tăng 16,2% so cùng kỳ; năng suất đạt 40,2 tạ/ha, tăng 0,7% so cùng kỳ
+ Diện tích cây cam 1.773 ha, tăng 2,9% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch 872
ha, tăng 9,5% so cùng kỳ; sản lượng đạt 7.250 tấn, tăng 11% so cùng kỳ; năng suất đạt 83,2 tạ/ha, tăng 1,4 % so cùng kỳ
- Chăn nuôi: Giá bán heo hơi tăng mạnh sau khi bệnh dịch tả heo Châu Phi
qua đi Người chăn nuôi lãi cao nên đã thực hiện tái đàn, chủ yếu là chăn nuôi theo quy mô trang trại, ứng dụng công nghệ cao, giảm trang trại nuôi theo mô hình trại
hở Riêng chăn nuôi nhỏ lẻ giảm đàn rất nhiều, nhất là các thị xã, thành phố do không phù hợp theo định hướng quy hoạch nông nghiệp của tỉnh Chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao sản xuất ổn định với 142 trang trại đầu tư chăn nuôi gà, 154 trang trại heo chất lượng cao; 15 trại vịt, 02 trang trại bò sữa
Tính đến thời điểm 01/4/2020, tổng đàn trâu là 5.170 con, tăng 0,4% so cùng kỳ; đàn bò hiện có 25.011 con, tăng 1%; đàn lợn có 678.531 con, tăng 2,8%; đàn gia cầm 10.569 ngàn con, tăng 8,3%, trong đó: gà 10.210 ngàn con, tăng 7,5% Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 80.642 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thịt lợn đạt 58.631 tấn, tăng 2,4%; sản lượng gia cầm đạt 20.350 tấn, tăng 4%
Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện tốt Công tác tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm động vật ra vào tỉnh đã được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo ngăn chặn giảm thiểu khả năng lây lan dịch bệnh, sản phẩm chăn nuôi đảm bảo an toàn thực phẩm
- Tình hình dịch bệnh heo Châu Phi và Cúm gia cầm:
+ Bệnh dịch tả heo Châu Phi và có hiện tượng heo chết bất thường xảy ra tại
03 hộ (02 hộ xã An Sơn, thị xã Thuận An; 01 hộ xã Thanh An, huyện Dầu Tiếng) với tổng số heo chết và buộc phải tiêu hủy là 30 con Đến nay, bệnh dịch tả heo Châu Phi đã có chiều hướng giảm về số hộ phát sinh mới, số con mắc bệnh, không bùng phát ồ ạt nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái phát Ngành chức năng đã chủ động triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong công tác phòng chống bệnh; tăng cường kiểm soát ở các cửa ngõ giáp ranh với các tỉnh, duy trì hoạt động các Trạm kiểm dịch tạm thời, phân công lực lượng thú y đảm bảo ca trực 24/24 giờ; tăng cường tần suất vệ sinh tiêu độc các cơ sở chăn nuôi; tăng cường kiểm tra việc giết mổ trái phép, vận chuyển động vật và sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc vận chuyển ra vào tỉnh; bố trí cán bộ, phương tiện, vật tư sẵn sàng thực hiện các hành động ứng phó theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Bệnh Cúm gia cầm xảy ra 01 hộ (ấp Đường Long, huyện Dầu Tiếng) với số con tiêu hủy là 10.400 gia cầm, 80 con gia cầm khác (trĩ) Đến nay, đã qua 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới
Tình hình giá sản phẩm chăn nuôi có nhiều biến động: Giá heo hơi vẫn duy trì
ở mức cao, dao động khoảng từ 70.000-83.000 đồng/kg (tăng từ 33.000-41.500
Trang 1818
đồng/kg so với cùng kỳ) đối với những Trại chăn nuôi quy mô lớn; khoảng 85.000
- 94.000 đồng/kg đối với những trại chăn nuôi tư nhân Giá sản phẩm thịt heo ở các chợ từ 120.000-200.000 đồng/kg tùy loại Giá gia cầm tuy dao động lên xuống không ổn định so với cùng kỳ, có khi giảm sâu đến 10.000 đồng/kg, thị trường tiêu thụ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nhưng hiện tại giá thịt hơi vẫn ở mức có lợi nhuận (khoảng 27.000 đồng/kg), người chăn nuôi vẫn tái đàn sau khi xuất bán
b Lâm nghiệp
Tập trung cho công tác chăm sóc, quản lý bảo vệ số rừng hiện có, đồng thời triển khai nhiều biện pháp phòng chống cháy rừng trong mùa khô; Đội cơ động phòng cháy chữa cháy rừng của tỉnh thường xuyên phối hợp với các huyện, thị nhằm tăng cường công tác tuần tra 24/24 giờ để có biện pháp xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra; Bên cạnh đó, nâng cao công tác tuyên truyền giáo dục về công tác quản lý và bảo vệ rừng đến với người dân, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc phòng chống cháy rừng Trong kỳ, không có vụ cháy rừng xảy ra 6 tháng đầu năm 2020, sản lượng củi khai thác trong kỳ ước đạt 5.743,2 Ste, bằng 99% cùng kỳ, sản lượng gỗ khai thác 6.312 m3, bằng 91,7% cùng kỳ
c Thủy sản
Tổ chức hướng dẫn các cơ sở, trang trại và các hộ nuôi trồng thuỷ sản thực hiện vệ sinh ao hồ và các qui trình nuôi thả đúng quy định trên diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản hiện có là 343,3 ha, bằng 98,7% cùng kỳ; Sản lượng thuỷ sản trong kỳ ước tính 1.754,7 tấn, tăng 0,9% so cùng kỳ, trong đó: sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 1.606,1 tấn, tăng 1,7% so cùng kỳ, sản lượng khai thác thuỷ sản 148,6 tấn, bằng 93,3% cùng kỳ
9 Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a Tài chính
Tổng thu mới ngân sách 6 tháng đầu năm 2020 thực hiện 29.300 tỷ đồng, đạt 47% dự toán Thủ tướng Chính phủ (TTCP) giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, tăng 2% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa 21.800 tỷ đồng, đạt 48% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, tăng 4% so với cùng kỳ; thu từ lĩnh vực xuất, nhập khẩu 7.500 tỷ đồng, đạt 44% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, bằng 97% so với cùng kỳ Kết quả ở một số lĩnh vực thu chủ yếu như sau:
- Doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước thực hiện 396 tỷ đồng, đạt 33% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, bằng 61% so với cùng kỳ Số thu từ lĩnh vực này đạt thấp do trong năm 2019 Công ty Cao su Dầu Tiếng có nộp thuế TNDN tạm tính cho phần chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn cây cao su bàn giao cho địa phương là 167 tỷ
- Doanh nghiệp nhà nước địa phương ước thực hiện 1.040 tỷ đồng, đạt 35% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, bằng 69% so với cùng kỳ Nguồn thu này đạt thấp do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thực hiện giãn cách xã hội Một số Công ty có số thu đột biến năm 2019 từ chuyển nhượng bất động sản như: Công ty
Trang 19CP kinh doanh và phát triển Bình Dương, Tổng Công ty Becamex, Công ty CP Khu công nghiệp Nam Tân Uyên, Công ty CP Hưng Vượng Thực hiện Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ các doanh nghiệp xin gia hạn nộp thuế
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 6.327 tỷ đồng, đạt 45% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, tăng 3% so với cùng
kỳ Nguồn thu này tăng so với cùng kỳ do Công ty TNHH ô tô MITSUBISHI VN
có 02 dòng sản phẩm bán rất chạy, một số doanh nghiệp không nộp sát thuế TNDN trong tháng 12/2019 mà sang nộp vào đầu năm 2020 Tuy nhiên, nếu loại trừ các khoản thu đột biến trên, do thực hiện chính sách gia hạn nộp thuế và ảnh hưởng của dịch bệnh nên trong 6 tháng đầu năm nguồn thu này vẫn đạt khá thấp
- Lĩnh vực kinh tế dân doanh ước thực hiện 3.462 tỷ đồng, đạt 35% dự toán TTCP giao và dự toán HĐND tỉnh thông qua, bằng 81% so với cùng kỳ Nguồn thu này đạt thấp do thực hiện chính sách gia hạn nộp thuế và ảnh hưởng của dịch bệnh Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 6.300 tỷ đồng, đạt 28% dự toán, tăng 22% so với cùng kỳ, trong đó:
- Chi đầu tư phát triển: 2.400 tỷ đồng, đạt 25% dự toán, tăng 46% so với cùng kỳ; riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản ước thực hiện 2.300 tỷ đồng, đạt 24% dự toán, tăng 50% so với cùng kỳ
- Chi thường xuyên 3.895 tỷ đồng, đạt 33% dự toán, tăng 11% so với cùng kỳ,
đã đáp ứng các yêu cầu chi tiền lương, các khoản phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức, đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ chi các hoạt động y tế, bảo đảm vệ sinh môi trường và các hoạt động hỗ trợ kiểm soát, phòng, chống dịch Covid-19
- Chi lập quỹ dự trữ tài chính: 5 tỷ đồng
b Ngân hàng
Tổng nguồn vốn huy động tính đến 30/6/2020 ước đạt 203.712 tỷ đồng, tăng 0,1% so tháng trước, tăng 0,3% so với đầu năm Trong đó: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 94.012 tỷ đồng, tăng 0,6% so tháng trước, giảm 1,1% so với đầu năm; Tiền gửi dân cư đạt 107.220 tỷ đồng, giảm 0,3% so tháng trước, tăng 1% so với đầu năm; Huy động từ kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá đạt 2.480 tỷ đồng, giảm 4,1% so tháng trước, tăng 38,2% so với đầu năm
Tổng dư nợ tính đến 30/6/2020 ước đạt 205.142 tỷ đồng, tăng 1,8% so với cùng kỳ Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 106.768 tỷ đồng, tăng 0,6% so tháng trước, giảm 0,4% so với đầu năm; Dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 98.374 tỷ đồng, tăng 0,6% so tháng trước, tăng 4,3% so với đầu năm
Nợ xấu đến 30/6/2020 ước đạt 850 tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng dư nợ, giảm 21,5% so tháng trước, giảm 34,8% so với đầu năm
c Bảo hiểm
Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội tỉnh, số người tham gia bảo hiểm xã hội ước tính đến ngày 30/6/2020, trong đó: bảo hiểm xã hội bắt buộc là 945.676 người, giảm 2,5% so cùng kỳ; bảo hiểm xã hội tự nguyện là 6.250 người, tăng 75,4% so
Trang 2020
cùng kỳ; bảo hiểm thất nghiệp là 928.528 người, giảm 0,5% so cùng kỳ; bảo hiểm
y tế 2.010.932 người, tăng 3,7% so với cùng kỳ
Tổng số thu ước tính đến ngày 30/6/2019 là 11.006 tỷ đồng, đạt 43,8% kế hoạch năm, tăng 4,9% so với cùng kỳ Trong đó: bảo hiểm xã hội bắt buộc: 8.364
tỷ đồng, tăng 4,1%; bảo hiểm xã hội tự nguyện: 15 tỷ đồng, tăng 150%; bảo hiểm thất nghiệp: 676 tỷ đồng, tăng 5,5%; thu bảo hiểm y tế 1.951 tỷ đồng, tăng 2,4% Tổng số nợ đến nay là 628.775 tỷ đồng (tỷ lệ nợ so với kế hoạch thu năm là 2,5%), cao hơn 0,65% so với chi tiêu giảm nợ BHXH giao
Tổng số chi 6 tháng đầu năm 2020 là 4.687,9 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng
kỳ Trong đó: Chi bảo hiểm xã hội: 3.472,1 tỷ đồng (từ Ngân sách Nhà nước: 100,2
tỷ đồng, quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc: 3.362 tỷ đồng; quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện: 9,9 tỷ đồng) Chi bảo hiểm tự nguyện: 507,5 tỷ đồng Chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế: 708,3 tỷ đồng
B MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1 Về tiến độ giải ngân hỗ trợ người dân gặp khó khăn bởi dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ
Tổng số đối tượng thuộc diện được hỗ trợ theo Nghị quyết số 42/NQ-CP trong
toàn tỉnh là 68.035 người, 375 doanh nghiệp, với tổng nhu cầu kinh phí là 70.318 triệu đồng Tính đến ngày 01/6/2020, toàn tỉnh đã thực hiện hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho 57.837 người với tổng kinh phí là 58.505 triệu đồng, trong đó: Hỗ trợ người có công cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng: 9.129 triệu đồng;
Hỗ trợ người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo: 10.989 triệu đồng; Hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng: 32.232 triệu đồng; Hỗ trợ người bán vé số lưu động: 6.155 triệu đồng
2 Giải quyết việc làm, an sinh xã hội
- Lĩnh vực Lao động - Việc làm: Đã kiểm tra, hướng dẫn, trả lời văn bản 231
nội quy lao động; 240 thỏa ước lao động tập thể; 1.117 hệ thống thang, bảng lương Cấp mới cho 830 giấy phép lao động nước ngoài, cấp lại: 735 giấy phép; Xác nhận không thuộc diện cấp phép lao động: 06 trường hợp Tiếp nhận nhu cầu tuyển dụng của 783 doanh nghiệp với 2.926 vị trí có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài Tư vấn giới thiệu việc làm cho 52.731 lượt người lao động; 35.653 lượt người lao động được giới thiệu việc làm; giao dịch với 3.158 lượt doanh nghiệp với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp là 50.607 vị trí Trong kỳ, tạo việc làm mới cho 17.850 lao động, đạt tỷ lệ 39,6% kế hoạch
Từ ngày 01/01/2020 đến ngày 04/6/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ tranh chấp lao động tập thể tại 12 doanh nghiệp với 11.571 người tham gia Các vụ tranh chấp lao động xảy ra đã được ngành chức năng kịp thời giải quyết, ổn định tình hình an ninh trật tự tại doanh nghiệp và khu vực Số vụ tranh chấp lao động tập thể 6 tháng đầu năm 2020 bằng với số vụ cùng kỳ (12 vụ tại 11 doanh nghiệp với
số người tham gia là 4.363 người); tuy nhiên tăng về số lượng doanh nghiệp (01 doanh nghiệp) và tăng về số người tham gia (tăng 7.208 người)
Trang 21- Lĩnh vực Người có công: Tổng kinh phí chi tặng quà cho người có công là:
86,6 tỷ đồng (tính đến ngày 10/6/2020), trong đó: Ngân sách Trung ương tặng quà cho 17.489 lượt đối tượng, tổng kinh phí 3,6 tỷ đồng (mức 200.000 đồng và 400.000 đồng) Ngân sách địa phương tặng quà cho 52.931 lượt đối tượng, tổng kinh phí: 78,1 tỷ đồng Nguồn kinh phí huyện, thị tặng quà cho 1.444 lượt đối tượng, tổng kinh phí: 2,1 tỷ đồng Nguồn kinh phí vận động tặng quà cho 5.089 lượt đối tượng, tổng kinh phí: 2,5 tỷ đồng Đoàn lãnh đạo tỉnh đến thăm tặng quà trực tiếp cho 45 đối tượng chính sách khó khăn tiêu biểu trên địa bàn với số tiền:
112 triệu đồng Thăm tặng quà Tết cho 28 trung tâm và cơ sở bảo trợ xã hội với số tiền: 200 triệu đồng
Trong kỳ, bàn giao 04 nhà tình nghĩa trị giá 320 triệu đồng tại huyện Phú Giáo Thực hiện Nghị Quyết số 42/NQ-CP và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg của Chính phủ về việc hỗ trợ cho đối tượng người có công với cách mạng và thân nhân của người có công gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tỉnh đã ban hành Quyết định hỗ trợ cho 6.093 đối tượng với tổng kinh phí thực hiện là 9,1 tỷ đồng
- Công tác giảm nghèo: Tổ chức thăm, tặng quà Tết cho hơn 2.000 hộ nghèo,
hộ khó khăn, hộ nhiễm chất độc đioxin, người mù với tổng kinh phí là 1,5 tỷ đồng Cấp 24.471 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người cận nghèo và người thoát nghèo với tổng kinh phí là 9,8 tỷ đồng Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh đã giải quyết cho 1.324 hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn với tổng số tiền 59,9 tỷ đồng và
211 hộ thoát nghèo vay vốn với tổng số tiền 10,2 tỷ đồng; đồng thời rà soát nhu cầu vay vốn giải quyết việc làm của hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo cho 5.969 đối tượng được hỗ trợ vay vốn, với tổng kinh phí là 317,3 tỷ đồng nhằm giải quyết khó khăn do dịch bệnh Covid 19 gây ra
Trong kỳ, đã bàn giao 33 căn nhà đại đoàn kết với tổng số tiền 2,9 tỷ đồng; Hỗ trợ tiền điện cho 3.806 hộ nghèo, với tổng số tiền 1,1 tỷ đồng Thực hiên miễn giảm học phí cho 689 lượt học sinh, với tổng số tiền 260,9 triệu đồng và hỗ trợ chi phí học tập cho 463 lượt học sinh, với tổng số tiền 335,7 triệu đồng Ngoài ra, tặng 258 suất học bổng cho con hộ nghèo, hộ khó khăn học giỏi với tổng số tiền 290 triệu đồng;
Hỗ trợ cho 6.839 người bán vé số lẻ với số tiền hỗ trợ là 6,2 tỷ đồng Đến nay, toàn tỉnh đã chi cơ bản đạt (93%) hỗ trợ cho 18.738 người nghèo và cận nghèo, với tổng số tiền 14,1 tỷ đồng, trong đó: hỗ trợ cho 8.693 người nghèo với tổng số tiền 6,5 tỷ đồng và 10.045 người cận nghèo với tổng số tiền 7,5 tỷ đồng
3 Giáo dục Đào tạo
Ngành Giáo dục Đào tạo chủ động thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19; tích cực bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với đối tượng học sinh Chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo ngày càng được củng cố và từng bước nâng cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trường lớp được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ số lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên
Trang 2222
- Về quy mô phát triển giáo dục: Năm học 2019-2020, toàn Ngành có 676 trường, trung tâm (từ cấp học mầm non đến trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên), tăng 39 trường, với tổng số 483.675 học sinh (tăng 22.623 học sinh (HS) so với cùng kỳ năm học trước) Ngoài ra, hiện nay có 08 trường đại học; 100 trung tâm và 30 chi nhánh ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng văn hóa và luyện thi đại học; 08
cơ sở hoạt động giáo dục kỹ năng sống được ban hành quyết định thành lập và cấp phép hoạt động
- Về chất lượng giáo dục:
+ Giáo dục mầm non: Các cấp quản lý GDMN chú trọng quản lý chặt chẽ chất lượng bữa ăn của trẻ, đặc biệt là các cơ sở ngoài công lập quy mô Nhóm/Lớp độc lập tư thục; phối hợp y tế tăng cường công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm không để xảy ra ngộ độc thực phẩm
+ Giáo dục tiểu học (GDTH): Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việc tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm sáng tạo, giúp cho học sinh được tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, từ đó rèn kĩ năng sống cho các em một cách hiệu quả Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học trong học kỳ II năm học 2019-2020; nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngoại ngữ, các cơ sở giáo dục tiểu học tổ chức dạy học tiếng Anh cho tất cả học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 thông qua việc giảng dạy bộ sách Tiny Talk đối với lớp 1, 2 và Let’s Go đối với lớp 3, 4, 5
+ Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên: Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh từ năm học 2017-2018 và thực hiện hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên năm học 2019-2020, các trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo dục toàn diện, nâng cao kết quả học sinh giỏi quốc gia và thi THPT quốc gia, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
Chú trọng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp; hướng dẫn, động viên học sinh tham gia các cuộc thi: Khoa học kỹ thuật, sáng tạo trẻ, vận dụng kiến thức
đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn Biên soạn và phát hành tài liệu tuyển sinh
10 nhằm định hướng cho giáo viên trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 hàng năm, tổ chức biên soạn bộ đề ôn tập, bộ
đề thi thử tố nghiệp THPT năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng kỳ thi tốt nghiệp THPT
Ngành GDĐT đã hợp đồng giảng viên Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh tập huấn cho giáo viên kỹ năng soạn giảng trắc nghiệm và kỹ năng dạy cho học sinh làm bài thi trắc nghiệm chuẩn bị tốt cho kỳ thi tốt nghiệp THPT 2020 Ban hành Công văn hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp THPT năm 2020 và các hoạt động trong học kỳ II năm học 2019-2020 đối với các trường THPT Tổ chức triển khai
có hiệu quả việc “Tạm dừng đến trường, không dừng học” trong thời gian giản cách xã hội để thực hiện phòng chống dịch bệnh và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020
Trang 23Trong năm học 2019-2020, ngành GDĐT tổ chức tốt các kỳ thi học sinh giỏi các cấp và đạt thành tích cao Kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp quốc gia năm 2020 đạt 34 giải, trong đó: 05 giải Nhì, 11 giải Ba, 18 giải Khuyến khích (so với năm
2019 tăng 5 giải)
4 Y tế và An toàn vệ sinh thực phẩm
Ngành Y tế đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2020 Theo đó, duy trì hoạt động của các đội cơ động phòng chống dịch bệnh (tỉnh/huyện/thị xã/thành phố), đảm bảo cơ số hóa chất phòng dịch Công tác tuyên truyền phòng chống các loại bệnh truyền nhiễm tiếp tục được triển khai ngay từ đầu năm tại tất cả các xã/phường/thị trấn, đảm bảo thông tin báo cáo xử lý ổ dịch Hiện nay, toàn ngành hiện đang tập trung nguồn lực cho công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19
- Về nguồn lực trong phòng chống dịch bệnh Covid-19: Các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh chưa đủ điều kiện về trang thiết bị, nhân lực để thực hiện xét nghiệm chẩn đoán Covid-19; Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh được giao nhiệm vụ lấy mẫu bệnh phẩm gửi Viện Pasteur TP.HCM Bệnh viện đa khoa tỉnh, 02 bệnh viện ngành (Cao su Dầu Tiếng, Quân y 4 - Quân đoàn 4) và 06 Trung tâm Y tế (TTYT) huyện/thị xã/thành phố (có giường bệnh điều trị nội trú) được giao nhiệm vụ cách
ly, điều trị các trường hợp nghi ngờ và nhiễm Covid-19; mặc dù không được giao nhiệm vụ điều trị nội trú nhưng 03 TTYT (Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Thủ Dầu Một) đã chuẩn bị các phòng cách ly trong trường hợp phát hiện những ca nghi nhiễm đến khám tại đơn vị Đã triển khai khu cách ly tập trung tại Trường Quân sự địa phương và 06 cơ sở cách lý tập trung tại các huyện/thị xã/thành phố; Bộ Y tế phối hợp Bộ Quốc phòng có kế hoạch xây dựng bệnh viện dã chiến quy mô 500 giường tại khu vực Sư đoàn 7 (là nơi điều trị cho học sinh, sinh viên, người lao động từ nước ngoài về của khu vực Đông Nam Bộ) Ngành y tế đã tham mưu kế hoạch triển khai bệnh viện dã chiến 100 giường có thể mở rộng quy mô lên đến 200 giường bệnh
Các vật tư y tế thiết yếu cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 gồm: khẩu trang, đồ bảo hộ, găng tay,… đã được ngành Y tế đã phối hợp với Vụ Trang thiết bị
y tế - Bộ Y tế, Sở Công thương rà soát năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh, thống nhất giá đảm bảo cung cấp cho ngành Y tế trong công tác phòng, chống dịch Bên cạnh đó, đã hoàn chỉnh kế hoạch mua sắm trang thiết bị y
tế cho công tác điều trị Covid-19 theo hướng dẫn của Bộ Y tế theo phương án chủ động và dự phòng trên cơ sở hiệu quả và tiết kiệm
Tính từ đầu Vụ đến nay, tỉnh Bình Dương chưa ghi nhận trường hợp dương tính với Covid-19; hiện tại đã có 424 trường hợp nghi ngờ và lấy mẫu xét nghiệm
vi rút Covid-19, kết quả 424 trường hợp đều âm tính Đang cách ly tập trung: 323 trường hợp (01 trường hợp cách ly tại Trung tâm Y tế Thuận An, 01 trường hợp cách ly tại Trung tâm Y tế Dầu Tiếng, 321 trường hợp đang cách ly tại Khu cách ly Nhà ở xã hội Becamex Mỹ Phước, Bến Cát; hoàn thành cách ly tập trung: 284 trường hợp Đang cách ly tại nhà, nơi cư trú: 01 trường hợp; hoàn thành cách ly tại nhà, nơi cư trú: 4.734 trường hợp
Trang 2424
Các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong kỳ có xu hướng giảm, hiện có 937 trường hợp mắc sốt xuất huyết, giảm 40% so với cùng kỳ; 220 ca mắc tay chân miệng, giảm 22,4% so với cùng kỳ; 01 ca mắc sốt rét Không có người mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Covid-19, Zika, cúm A H5N1, cúm A H7N9, ho gà
- Về an toàn thực phẩm (ATTP): Tổ chức nói chuyện chuyên đề, tập huấn kiến thức ATTP cho người sản xuất chế biến thực phẩm thời vụ, tập huấn ứng phó ngộ độc thực phẩm tại các Công ty và Xí nghiệp, thức ăn đường phố, xe hoa tuyên truyền lưu động, treo băng rôn tại các nơi đông dân, khu du lịch, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ ăn uống, cấp phát tờ rơi ; Đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nghi ngờ do ăn So biển nướng tại xã Thanh An, Dầu Tiếng, có 07 người ăn, 06 người nhập viện (01 người tử vong)
Toàn tỉnh thành lập 670 lượt đoàn kiểm tra 7.599 cơ sở, có 991 cơ sở vi phạm, trong đó: phạt hành chính 22 cơ sở (131,8 triệu đồng); nhắc nhở 969 cơ sở; tiêu hủy 38,3 kg nguyên liệu, thực phẩm không đảm bảo ATTP tại 06 cơ sở Xét nghiệm giám sát 5.070 mẫu thực phẩm (giảm 23% so với cùng kỳ), phát hiện 135 mẫu không đạt (thực phẩm: 74 mẫu, dụng cụ: 461 mẫu)
- Công tác khám chữa bệnh: Duy trì triển khai thực hiện tốt quy chế bệnh viện, đảm bảo thường trực, phục vụ tốt người bệnh, không để xảy ra sai sót chuyên môn hoặc tinh thần thái độ phục vụ ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh Trong kỳ, tổng số lần khám bệnh của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh là 1.317.865 lượt người (giảm 25% so với cùng kỳ)
và hoạt động của di tích quốc gia Địa đạo Tây Nam Bến Cát, Nhà tù Phú Lợi, Chiến khu Đ”
Hoàn thiện tập sách “Tổng tập nghệ thuật Đờn ca tài tử tỉnh Bình Dương”, 20 bản đờn và 20 bản ca (20 bản tổ) và ấn phẩm “Sơn mài Bình Dương - Đường đến
di sản văn hóa” Lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng 02 di tích cấp tỉnh: Nhà cổ Dương Văn Hổ (xã Bạch Đằng, thị xã Tân Uyên) và Chiến thắng Bót Cây Trường (xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng); điều tra khảo sát hiện trạng, lý lịch khoa học
03 di sản văn hoá phi vật thể đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia: “Nghề làm gốm ở Bình Dương”, “Lễ hội Kỳ Yên đình Tân An” và
“Võ thuật Tân Khánh Bà Trà” Triển khai thực hiện việc tu bổ di tích Nhà cổ Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, Thành phố Thủ Dầu Một)
Trang 25Bảo tàng tỉnh, Nhà Truyền thống và các di tích trên địa bàn tỉnh thường xuyên
mở cửa phục vụ 118.600 lượt khách đến tham quan
Các thiết chế văn hóa cơ sở đã phát huy vai trò trong việc tuyên truyền, phục
vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập, trao đổi, vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân Công tác quản lý và tổ chức lễ hội được triển khai nghiêm túc và thực hiện theo các quy định của Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/20218 của Chính phủ Thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở và hướng dẫn các đơn vị địa phương tăng cường công tác tuyên truyền đối với nhân dân và du khách thực hiện tốt nếp sống văn minh trong lễ hội Nhiều địa phương ở các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa
ở cơ sở
Thư viện tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020), Bình Dương 23 năm phát triển (01/01/1997 - 01/01/2020), 52 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968 - 2020), kỷ niệm 1980 năm ngày Khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
110 năm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 phục vụ bạn đọc; 130 năm Ngày sinh Chủ tịch
Hồ Chí Minh; Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6; tổ chức Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc Trong kỳ, Thư viện tỉnh tổ chức 07 đợt trưng bày, triển lãm 6.370 bản sách chuyên
đề Hệ thống thư viện công cộng luân chuyển 49.993 bản sách phục vụ lưu động tại các trại giam, trung tâm giáo dưỡng xã hội, các công ty, khu nhà trọ, trường học…; Cấp mới 2.643 thẻ bạn đọc; phục vụ 252.682 lượt bạn đọc, luân chuyển 861.545 lượt sách, báo tạp chí; phát hành 120 quyển thư mục chuyên đề “Bệnh viêm phổi và những điều cần biết”
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật và điện ảnh: Các hoạt động Đường hoa, Hội Hoa Xuân, Hội báo Xuân, Du Xuân Bình Dương đã được tổ chức từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/01/2020 (tức từ ngày 29 tháng Chạp năm Kỷ Hợi đến Mùng 5 Tết Nguyên đán Canh Tý) tại Khu vực Công viên Trung tâm Hành chính Tỉnh Có hơn 600 hiện vật là các loại hoa, cây kiểng, chim cảnh, cá cảnh, tiểu cảnh, hòn non bộ, đá mỹ thuật,… của các nghệ nhân trong và ngoài tỉnh tham gia tại Hội Hoa Xuân; có hơn 1.000 bản sách mới, sách chuyên đề được tổ chức trưng bày, triển lãm tại Hội Báo Xuân; có 2.200 ấn phẩm du lịch các loại là các sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh như: gốm sứ, sơn mài, mây tre lá, ẩm thực đặc sản, du lịch sinh thái, tâm linh, thể thao,… đã được giới thiệu đến đông đảo nhân dân và khách
du lịch Chương trình nghệ thuật đặc biệt kết hợp với tổ chức bắn pháo hoa Đêm hội giao thừa đã thu hút sự quan tâm, theo dõi trực tiếp của hàng 100.000 lượt người dân và du khách trực tiếp đến xem Tổ chức 05 đêm văn nghệ tại Sân khấu ngoài trời Công viên Trung tâm Hành chính tỉnh do các nghệ sỹ, ca sĩ, diễn viên, nhạc công đến từ Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương biểu diễn nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân
Phối hợp với Công ty Cổ phần Đại Nam tổ chức các hoạt động biểu diễn thể thao đặc sắc phục vụ du khách gồm các môn: Đua ngựa, đua chó, đua xe mô tô và bay ván nước Đặc biệt trong đêm Tết Dương lịch, bắn pháo hoa chào mừng năm
Trang 2626
mới 2020 thu hút hàng chục ngàn lượt người xem; phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh thực hiện buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ công nhân đón tết xa quê tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức biểu diễn với kịch bản tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS tại Thị xã Tân Uyên và huyện Bàu Bàng
Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều hoạt động phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân Công tác xã hội hóa trang trí đường phố năm nay của các địa phương được thực hiện khá tốt, thu hút sự quan tâm và tham gia ủng hộ của nhiều tổ chức, doanh nghiệp, các mạnh thường quân trong việc tài trợ, hỗ trợ kinh phí gần 10 tỷ đồng Công tác phối hợp chăm lo đời sống văn hoá tinh thần cho công nhân xa quê được chú trọng với nhiều hoạt động hiệu quả, thiết thực nhằm góp phần thay đổi mỹ quan đường phố, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho các tầng lớp nhân dân trong dịp vui xuân đón Tết cổ truyền của dân tộc
Xây dựng kế hoạch tổ chức lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước và Kế hoạch tổ chức “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân” năm 2020 Thành lập Câu lạc bộ Chạy bộ Bình Dương với chức năng, nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn hoạt động thể dục thể thao, nhằm rèn luyện, vui chơi giải trí lành mạnh, nâng cao sức khỏe góp phần phát triển phong trào thể dục thể thao chạy bộ trên địa bàn tỉnh
6.2 Thể thao thành tích cao
Tập trung thực hiện tốt công tác về tuyển chọn, đào tạo - huấn luyện và thường xuyên kiểm tra công tác tập luyện của các đội nhằm tuyển chọn đào tạo vận động viên đầu tư theo hướng trọng tâm, trọng điểm để tham gia thi đấu các giải; đồng thời hoàn chỉnh thủ tục hồ sơ phong cấp cho Huấn luyện viên năm 2020 Phối hợp Công ty Cổ phần Nước - Môi trường Bình Dương, Đài Phát thanh Truyền hình Bình Dương tổ chức giải xe đạp nữ Quốc tế Bình Dương cúp Biwase lần thứ X năm 2020, tham dự có 8 đội xe đạp nữ mạnh trong nước, 3 khách mời quốc tế (tuyển Thái Lan, Velofit - Australia và Taiwan Cycling Team - Đài Loan), với 10 chặng đua, tổng lộ trình trên 1.000 km đi qua các tỉnh: Bình Dương, Đồng Nai, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và về lại Bình Dương Kết quả đạt được 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc
Trang 27Trong kỳ, các đội tuyển thể thao tỉnh đã tham gia thi đấu 8 giải (01 quốc tế; 03 quốc gia, cúp các CLB; 04 giải cụm, khu vực, mở rộng) Kết quả đạt 12 huy chương các loại (04 huy chương vàng, 05 huy chương bạc, 03 huy chương đồng)
7 Hoạt động khoa học và công nghệ
Tổ chức triển khai các nhiệm vụ đề ra kịp thời, đảm bảo tiến độ và chất lượng Trong kỳ đã nghiệm thu 03 đề tài, bàn giao 08 đề tài cho đơn vị thụ hưởng để triển khai kết quả nghiên cứu Công tác Thanh tra, hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục khai báo cấp phép tiến hành công việc bức xạ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp thực hiện tốt Hoạt động kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đảm bảo duy trì thường xuyên giúp các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Trong kỳ, phối hợp tổ chức thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực an toàn bức xạ 13/51 cơ sở bức xạ trong y tế Qua thanh tra, đã xử phạt vi phạm hành chính 03 cơ
sở y tế vi phạm Tiếp nhận 562 bản đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu; Ban hành 18 thông báo tiếp nhận hồ sơ công bố hợp quy đối với sản phẩm Điều hòa không khí, Máy lọc nước nóng lạnh, Thép thanh vằn, Thép thanh tròn trơn, Mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy Thông báo tiếp nhận 20
hồ sơ công bố hợp chuẩn đối với sản phẩm Gạch bê tông tự chèn, Đá xây dựng, dây cáp điện Giải quyết 10 hồ sơ cấp giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ôxy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ và các chất ăn mòn (thuộc nhóm 5 và nhóm 8) bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia dự án nâng cao năng suất chất lượng Đến nay, đã xét chọn được 07 doanh nghiệp tham gia dự án năng suất chất lượng gồm 02 doanh nghiệp áp dụng ISO và 05 doanh nghiệp áp dụng HACCP Phối hợp Văn phòng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia thẩm định doanh nghiệp được đề xuất giải vàng chất lượng quốc gia tại Công ty TNHH Esquel Garment Manufacturing Việt Nam
Số phương tiện đo kiểm định, hiệu chuẩn là 19.314 phương tiện, tăng 7% so với cùng kỳ Tổng số mẫu thử nghiệm là 234 mẫu, đạt 68% Doanh thu thực hiện đạt 3.470 triệu đồng, tăng 4%
Các thủ tục hành chính được công khai đầy đủ tại quầy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả và được cập nhật kịp thời trên trang thông tin hành chính công tỉnh Bình Dương 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận và giải quyết đúng nội dung và thời gian quy định Việc tiếp nhận hồ sơ trên hệ thống một cửa quốc gia và trên cổng thông tin dịch vụ của tỉnh đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian
và chi phí đi lại khi thực hiện thủ tục hành chính, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đến nay có 139/149 doanh nghiệp nhập khẩu tham gia thực hiện đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, đạt tỉ lệ 93,28%
8 Tình hình trật tự, An toàn giao thông
- Về trật tự xã hội: Xảy ra 322/434 vụ (giảm 112 vụ, tương đương 25,8%), gồm: Án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng: 70/59 vụ (tăng 11, tương
Trang 2828
đương 18,6%); án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng: 252/375 vụ (giảm 123 vụ,
tương đương 32,8%) Thiệt hại: 21 người chết, 73 người bị thương Đã điều tra làm
rõ: 306/322 vụ, bắt 459 đối tượng (đạt 95%), gồm: Án rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng: 67/70 vụ, bắt 93 đối tượng (đạt 95,7%); án ít nghiêm trọng và
nghiêm trọng: 239/252 vụ, bắt 366 đối tượng (đạt 94,8%)
- Tai nạn giao thông: Xảy ra 602/731 vụ (giảm 129 vụ, tương đương 17,6%),
làm thiệt mạng 134/133 người (tăng 01 người, tương đương 0,8%), bị thương
650/777 người (giảm 127 người, tương đương 16,3%), hư hỏng 1.470 phương tiện
Trong đó: Tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng 01/0 vụ (tăng 01 vụ so cùng
kỳ); Tai nạn giao thông rất nghiêm trọng 10/8 vụ (tăng 02 vụ); Tai nạn giao thông
nghiêm trọng 112/118 vụ (giảm 06 vụ) Va chạm giao thông 479/605 vụ (giảm 126
vụ)
9 Tình hình cháy, nổ
Xảy ra 14 vụ cháy (trong nước: 09 vụ, nước ngoài: 05 vụ (Hàn Quốc: 02 vụ;
Malaysia: 01 vụ; Mỹ: 01 vụ; Đài loan: 01 vụ)); làm 01 người bị thương, thiệt hại về
tài sản ước tính khoảng 21,7 tỷ đồng Đã điều tra làm rõ nguyên nhân 02 vụ cháy
do sự cố hệ thống điện So với cùng kỳ giảm 05 vụ cháy (14/19 vụ) Xảy ra 15/14
vụ sự cố, tai nạn So với cùng kỳ, số vụ sự cố, tai nạn tăng 01 vụ
Trên đây là một số nét cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm
2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương./
CỤC TRƯỞNG Nơi nhận: