1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx

99 722 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống nông nghiệp
Tác giả Nguyễn Viết Tuân
Trường học Đại Học Huế Trường Đại Học Nông Lâm
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2007
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT HỆ THỐNG Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội loài người mọi hoạt động đều diễn ra bởi các yếu tố, ta gọi là các hợp phần components có những mối liên hệ tươ

Trang 1

Đại Học Huế Trường Đại Học Nông Lâm

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT HỆ THỐNG TRONG PHÁT

TRIỂN VÀ HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP

1.1 KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội loài người mọi hoạt động đều diễn ra bởi các yếu tố, ta gọi là các hợp phần (components) có những mối liên hệ tương tác, hữu cơ với nhau, được gọi là tính hệ thống Vì vậy, muốn nghiên cứu một sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng và bản chất của chúng Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig Vonbertalanffy (tên gọi: Lý thuyết những hệ thống Chung – General Systems Theory, 1968), và bắt nguồn từ Ross Ashby ( Giới thiệu tới Điều khiển học, 1956)

Lý thuyết hệ thống đề cập đến các khái niệm: Hệ thống, phần tử ( hợp phần), chỉnh thể, tính chỉnh thể, môi trường hệ thống bao quanh, đầu vào, đầu ra, trạng thái, sự phân cấp, hướng mục đích, thông tin

Ngoài ra các khái niệm liên quan đến hệ thống như tiếp cận hệ thống, quan điểm

có mối quan hệ tương tác với nhau trong một hệ thống nhất định

Ví dụ: Sản xuất cây trồng mang tính hệ thống, bao gồm những hợp phần khác nhau có vai trò chức năng độc lập nhưng lại có quan hệ ảnh hưởng tương tác nhau để tạo ra những sản phẩm mới là cây trồng

+ Các hợp phần tự nhiên của hệ thống sản xuất cây trồng:

- Bức xạ -> Quang hợp

- Nhiệt độ

- Độ ẩm

- phân+ Các hợp phần hoạt động sản xuất:

Trang 4

và quản lý dự án

1.1.1.2 Hệ thống:

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại với nhau Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó đặc tính mới gọi là

"tính trội" (émergence) của hệ thống

Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên quan với nhau (hay tác động lẫn nhau) Thành phần của hệ thống là yếu tố Các mối liên hệ và tác động giữa các yếu tố bên trong mạnh hơn so với yếu tố bên ngoài hệ thống và tạo nên trật tự bên trong của hệ thống Một hệ thống là một nhóm các yếu tố tác động lẫn nhau, hoạt động chung cho một mục đích chung

Chúng ta đi tìm một hệ thống trong thực tiễn sản xuất qua trình tự tiếp cận như sau:

 Tiếp cận thứ nhất: Quan sát thực trạng của một nông hộ chúng ta thấy ở đây có một

vài cây gỗ, cây trồng, cỏ và một vài hàng rào nhưng không thấy một hệ thống như định nghĩa, không thấy có biên giới rõ ràng và cũng không thấy sự tác động qua lại

 Chúng ta có thể tìm hệ thống ở đâu?

Tiếp cận thứ 2: Một cây như là một hệ thống ?

- Nhìn tổng thể: Biên giới: cấu trúc vật lý của cây

- Các bộ phận: Lá, thân, cành rễ (không nhìn thấy)

- Tác động qua lại: Giữa các bộ phận tác động với nhau rất mạnh mẽ, sẽ sai lầm khi cho rằng cây sống không cần rễ

- Đầu vào: các chất dinh dưỡng, CO2, các chất dinh dưỡng, nứơc, ánh sáng

- Đầu ra: quả hạt gỗ, O2

- Mục tiêu: Một cây bản thân nó không có mục tiêu

- Thứ bậc của hệ thống: Một cánh rừng là hệ thống lớn hơn

 Tiếp cận thứ 3: Con người là một hệ thống ?

- Nhìn tổng thể: Biên giới: cấu trúc vật lý của cơ thể

Trang 5

- Các bộ phận và tác động qua lại:Thân thể, chân, tay, đầu các bộ phận tác động qua lại với nhau rất mạnh Sẽ sai lầm khi cho rằng con người sống mà không cần đến não, máu, tim gan ,

- Đầu vào: Thức ăn, không khí, nước uống, ánh sáng, các giá trị tinh thần.v.v

- Đầu ra: suy nghĩ, năng lượng, chí tuệ

- Hệ thống lớn hơn: Gia đình, cộng đồng

- Môi trường: các điều kiện tự nhiên tác động đến con người như là một hệ thống

- Mục tiêu: để sống, sáng tạo, vui chơi, v.v

- Quản lý: chức năng to lớn trong việc làm biến đổi đầu ra, sử dụng các nguồn tài nguyên cũng như các hệ thống khác

 Chúng ta đã tìm được một hệ thống khác phức tạp hơn

Tiếp cận thứ tư: Một nông trại như là một hệ thống ?

- Tổng thể: Biên giới:Nông trại với những tài nguyên của nó và phương thức sử dụng

chúng

- Thành phần: Vai trò trung tâm -con người, gia đình, các bộ phận của nông hộ Trên đồng ruộng: Cây trồng, vật nuôi, vật nuôi v.v các bộ phận ngoài đồng ruộng - việc làm thu nhập khác

- Tác động qua lại: Rất mạnh mẽ giữa các thành phần, hệ thống phức tạp đòi hỏi sự phân tích thận trọng

- Đầu vào:Lao động, năng lượng, tiền quản lý,

- Đầu ra: Lương thực tiền mặt, các khoản thỏa mãn khác

- Mục tiêu: Đáp ứng các nhu cầu cơ bản, hướng tới các nhu cầu sống khác

- Tổ chức thứ bậc của hệ thống: Các hệ canh tác, sự hội nhập của trang trại và các hình thái của làng xã hay xã hội

 Ta đã tìm thấy hệ thống mà ta mong muốn

- Sản xuất nông nghiệp thực chất là một hệ thống bao gồm rất nhiều nhóm hợp phần, các hợp phần thể hiện các hoạt động sản xuất và yếu tố sản xuất khác nhau Mục tiêu hệ thống này là đạt tốc độ phát triển sản lượng nông nghiệp cao và ổn định Trong hoạt động hệ thống, hai mục tiêu này hỗ trợ nhau để đạt được sự hoàn thiện của hệ thông nông nghiệp, tuy nhiên chúng cũng mâu thuẫn với nhau Nếu tốc độ phát triển sản lượng quá cao thì tính ổn định của độ màu mỡ đất mất đi, kéo theo mất tính ổn định của năng suất và sản lượng Vì vậy trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp, cần chú trọng điều hành và thực hiện các hoạt động của các hợp phần một cách thống nhất và hài hoà

1.1.1.3 Môi trường, các yếu tố đầu vào và đầu ra của hệ thống

Là tập hợp các hợp phần không nằm trong hệ thống nhưng lại tác động qua lại chặt chẽ, không thể thiếu được với hệ thống Những hợp phần của môi trường góp phần quan trọng cho sự tồn tại hoặc phát triển của một hệ thống và nó bao gồm những yếu tố đồng nhất với hoạt động hệ thống

Trang 6

Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố "đầu vào", còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố "đầu ra"

Trong hoạt động hệ thống sản xuất, môi trường thường được nhìn nhận là các hợp phần đầu vào (input) và đầu ra (output)

Ví dụ: Hoạt động sản xuất của nông hộ là một hệ thống thì môi trường của hệ

thống này sẽ là các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động đến và ảnh hưởng bởi các hoạt động sản xuất của nông hộ đó

Môi trường của hệ thống bao gồm: môi trường về tự nhiên, môi trường về kinh

tế, môi trường về văn hoá xã hội

Sơ đồ 2 : Hệ thống nông hộ

 Môi trường về tự nhiên: bao gồm khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước, thực vật,

Tổ hợp các yếu tố này sẽ tạo nên các đơn vị (vùng) sinh thái nông nghiệp Vùng sinh thái nông nghiệp là vùng có sự đồng nhất cao về điều kiện khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước và thích hợp cho các hệ thống nông nghiệp nhất định

 Môi trường về kinh tế: bao gồm vốn, tín dụng, tiềm năng về thị trường và giá cả

nông sản, chi phí về lao động, chi phí về vật tư (giống, phân bón, thuốc nông nghiệp, công cụ nông nghiệp, đặc điểm quyền sở hữu ruộng đất )

 Môi trường về văn hoá - xã hội: bao gồm tập tục sinh hoạt của một cộng đồng xã

hội tại một địa phương như: tập quán canh tác, văn hoá, tôn giáo, tiêu dùng, tích luỹ, tình nghĩa làng xóm , các tổ chức đoàn thể, xã hội và các chủ trương chính sách

Ví dụ môi trường bao quanh của hệ thống nông hộ.

Sản xuất nông hộ

Trang 7

- Khung cảnh và phạm vi: là sự biểu hiện không gian của một hay một số hệ thống để từ

đó ta có thể xem xét thực trạng và xu hướng phát triển của hệ thống

Ví dụ: Trong ruộng lúa của hộ A cây lúa phát triển tốt hơn các ruộng khác, diện tích rộng hơn

- Thành phần của hệ thống: trong một hệ thống có nhiều sự tương tác của các thành phần trong hệ thống Sự tương tác này là sự biểu hiện mối quan hệ các thành phần trong

hệ thống, nó quyết định hiệu quả của hệ thống

- Sự thực hiện và hoàn thiện của hệ thống Biểu hiện ở quá trình thực hiện, thời gian kéo dài hay rútt ngắn, quá trình thực hiện tạo ra hiệu quả cao hay thấp Ví dụ: Thời gian sinh trưởng của cây lúa là bao nhiêu? Thu hoạch cho năng suất bao nhiêu?

- Đầu vào và đầu ra của hệ thống:

+ Đầu vào (inputs): bao gồm các chi phí cho sản xuất như: giống, phân bón, thức

ăn, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, chuồng trại

+ Đầu ra (outputs): bao gồm sản phẩm của quá trình sản xuất như: các mặt hàng nông sản, phân hữu cơ, phế phụ phẩm

MÔI TRƯỜNG VẬT LÝ

- Khí hậu - Nước

- Đất - Thực vật

- Địa hình - Cơ sở hạ tầng

MÔI TRƯỜNG KINH TẾ

Trang 8

Là sự sắp xếp, cấu tạo của các hợp phần và mối quan hệ tương tác của chúng trong một phạm vi hệ thống Cấu trúc hệ thống thể hiện tính chức năng và tính ổn định của hệ thống Một khi cách sắp xếp và mối tương tác của các hơp phần thay đổi hay nói cách khác cấu trúc của hệ thống thay đổi thì hệ thống đó cũng bị thay đổi sang phương thức hoạt động khác.

Ví dụ: Cấu trúc của hệ thống sản xuất nông nghiệp của nông hộ

- Nguồn tài nguyên

- Chính sách / Thể chế

Chức năng của hợp phần tài nguyên là tác động môi trường Nếu hợp phần tự nhiên: đất hoặc nước là hợp phần yếu tố sản xuất thì cấu trúc hệ thống thay đổi, đó là hệ thống nông hộ:

Sơ đồ 5 : Cấu trúc hệ thống nông nghiệp cấp nông hộ 1.1.2 Các quan điểm về hệ thống

1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống

Là hợp phần môi trường của hệ thống sản xuấtnông hộ

NÔNG HỘ

Tài nguyên đất Lao động Vốn

Hoạt động trồng trọt

Ngành nghề phụ Hoạt động chăn nuôi

Sơ đồ 4: Hệ thống sản xuất nông hộ

Trang 9

Theo Đào Thế Tuấn (1988) quan điểm hệ thống là phương pháp nghiên cứu khoa học, là sự khám phá đặc điểm của hệ thống bằng cách nghiên cứu hệ thống bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các thành tố

Tiếp cận hệ thống là quá trình xem xét khách quan và toàn diện bản chất các mối quan hệ của các thành phần của hệ thống trong quá trình phát triển nhằm giúp điều khiển để hệ thống phát triển bền vững hơn Tiếp cận hệ thống có nghĩa:

+ Xem xét, phân tích hiện tượng/hoạt động một cách hệ thống, có nghĩa là coi các hợp phần của các hiện tượng/hoạt động đó có những đặc thù, chức năng, vai trò độc lập song lại có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác làm xuất hiện những thuộc tính mới (ví dụ: hệ thống canh tác)

+ Phải đặt các hiện tượng/hoạt động hệ thống đó trong môi trường tác động/ ảnh hưởng của nó, nhằm xác định rõ các mục tiêu, nội dung, phương thức hoạt động của mỗi hệ thống luôn bị ràng buộc trong mối quan hệ tương tác với môi trường bao quanh

nó (ví dụ: hệ thống sản xuất nông hộ)

+ Mỗi một hệ thống bao gồm các cấu trúc hợp phần khác nhau, vì vậy cần xác định phân tích mỗi hoạt động hệ thống theo cấu trúc các hợp phần, sau đó mới kết hợp lại

Theo N Jameison (1996), nếu chúng ta tách riêng từng bộ phận và nghiên cứu từng bộ phận một thì dù nghiên cứu tỷ mỷ đến đâu, đấy cũng chưa phải là tư duy hệ thống Vấn đề chính là quan hệ mà không phải là bộ phận Toàn bộ hệ thống hơn tổng số các bộ phận bởi vì hệ thống có tổ chức Như vậy các tác giả đều thống nhất rằng vấn đề chính trong hệ thống là quan hệ của các thành tố

Lý thuyết về hệ thống nhấn mạnh đến sự cần thiết của cách nhìn mọi sự việc và hiện tượng trong một thể thống nhất, chứ không phải con số cộng đơn thuần của các hợp phần rời rạc, có sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong quá trình vận động

từ đầu vào đến đầu ra và có sự phân cấp thứ bậc Như vậy có thể thấy mọi hệ thống đều

là một phần của hệ thống lớn hơn và đến lượt mình lại gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ Trong thời gian gần đây tiếp cận hệ thống đã được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông nghiệp

1.1.2.2 Quan điểm phân tích hệ thống vĩ mô và vi mô

+ Quan điểm vĩ mô: Nhìn nhận và phân tích 1 hệ thống trên phương diện đại thể, tổng quát về: Mục tiêu, nội dung hoạt động với những mối quan hệ tương tác chính và xuất hiện những thuộc tính / kết quả gì từ hoạt động của hệ thống đó

Trang 10

- Loại hệ thống

- Mục tiêu và chức năng hoạt động của hệ thống

- Môi trường tác động / ảnh hưởng của hệ thống

- Đầu vào và đầu ra của mỗi hoạt động hệ thống

+ Quan điểm vi mô: Phân tích các chức năng, hoạt động của mỗi hợp phần trong cấu trúc hệ thống và mối quan hệ tương tác của chúng để tạo ra hoạt động chung của hệ thống Đây chính là nội dung cụ thể trong phân tích hệ thống và là kết quả của hoạt động hệ thống

Chúng ta cần tập trung vào các vấn đề sau:

- Các hợp phần tạo nên một hệ thống: chức năng, vai trò và hoạt động của nó

- Cấu trúc hợp phần của hệ thống: đơn giản / phức tạp, đóng / mở, mức độ phân cấp

- Mối quan hệ tương tác của các nhóm hợp phần hoặc các hợp phần trong hệ thống

Trong phân tích hệ thống, quan điểm vĩ mô và vi mô bổ sung cho nhau:

+ Đi từ ngoài / đại thể đến trong / chi tiết

+ Đi từ khái quát đến cụ thể

+ Phương pháp phân tích hệ thống kiểu song song: Thể hiện sự hoạt động đồng thời của các hợp phần trong hệ thống.Ví dụ: Hệ thống quy trình đánh giá đất theo FAO: theo 2 bước tuần tự hoặc tiến hành theo 2 bước song song

+ Phương pháp phân tích tổ chức hệ thống đan xen hoặc lặp lại/phản hồi

Các nội dung hoạt động của các hợp phần trong hệ thống được phân tích trước hoặc sau tuỳ từng điều kiện, tình hình hoạt động của hệ thống Hay nói cách khác, trong nhiều trường hợp hoạt động của 1 hệ thống thì đầu ra của hợp phần này lại là đầu vào của hợp phần kia, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải phân tích các hoạt động đó theo kiểu đan xen với nhau hoặc lặp lại để hoàn thành quá trình hoạt động hệ thống

Phương pháp này thường dùng khi phân tích hệ thống thuộc hệ thống nghiên cứu

cơ bản và hệ thống quản lý

Trang 11

1.1.2.4 Phương pháp cùng tham gia trong nghiên cứu hệ thống.

Một sự việc, một hoạt động của hệ thống bao gồm nhiều hợp phần với những chức năng và hoạt động cụ thể/chi tiết khác nhau Như vậy trong nghiên cứu hệ thống cần phải tập hợp các nhà nghiên cứu/khoa học với các lĩnh vực chuyên môn ứng với các hợp phần của hệ thống Phương pháp nghiên cứu như vậy gọi là phương pháp cùng tham gia

Ví dụ: Trong hệ thống canh tác với hệ phụ trồng trọt bao gồm các hợp phần:

- Môi trường tác động: khí tượng, thể chế/chính sách

Sơ đồ 6: Quy trình đánh giá đất theo FAO

Tham khảo ban

Phân tích kinh tế

và xã hội

Trang 12

Để phân tích, nghiên cứu hệ thống này cần tập hợp các nhà nghiên cứu, chuyên môn khác: khoa học tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật: giống, nông hoá, thủy nông; cơ khí nông nghiệp, bảo quản sản phẩm

1.1.2.5 Công cụ phân tích hệ thống bằng mô hình hoá

Đây là phương pháp thông dụng, dễ sử dụng nhất trong việc xây dựng một hệ thống cũng như mô tả, phân tích hệ thống đó Tuỳ thuộc nội dung và quy mô hệ thống, cấu trúc hệ thống và kinh nghiệm/ kỹ năng của chuyên gia phân tích hệ thống mà các hệ thống được mô hình hóa rất khác nhau, cả về hình tượng và cách thức mô hình hoá

 Ưu điểm của phương pháp mô hình hoá:

+ Khái quát được toàn bộ nội dung và hoạt động của một hệ thống một cách dễ hiểu nhất, nhanh nhất -> đơn giản hoá được tính phức tạp của hoạt động hệ thống

+ Xác định được các hợp phần, cấu trúc hợp phần của hệ thống và mối quan hệ tương tác của chúng trong hệ thống thông qua các mũi tên

+ Thể hiện được tính hệ thống và tính logic của 1 hiện tượng/hoạt động sản xuất -> quan điểm tiếp cận hệ thống rõ ràng

+ Có thể dễ dàng lượng hoá thông tin của hệ thống qua các mô hình

+ Dễ ứng dụng cho người mô tả, phân tích hệ thống Hiện nay kỹ thuật tin học đã giúp tạo dựng nên những mô hình cấu trúc hệ thống tổng quát, phức tạp, đẹp, hiện đại

 Những yêu cầu trong việc mô hình hoá:

+ Mô hình phải thể hiện được tất cả nội dung và tính hệ thống của các hoạt động của hợp phần

+ Cấu trúc hệ thống phải được mô hình hóa một cách rõ ràng nhất, dễ hiểu nhất

+ Các hợp phần, mối quan hệ của chúng trong mô hình hệ thống phải được ký hiệu rõ rệt+ Mô hình hoá mang tính khoa học và nghệ thuật cao sẽ làm tăng chất lượng phân tích,

mô tả hệ thống và hấp dẫn người đọc/nghiên cứu

1.2 KHÁI NIỆM VỀ HỆ THỐNG CANH TÁC, HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP,

HỆ THỐNG TRỒNG TRỌT, HỆ THỐNG CÂY TRỒNG

1 2.1 Các khái niệm về hệ thống canh tác, hệ thống nông ngiệp.

Hệ thống canh tác( HTCT) Theo FAO (1989) khái niệm về hệ thống trang trại (Farming systmes) đã có từ thế kỷ thứ 19 do nhà nông học người Đức Vonwalfen đề xuất Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) đầu tiên được các nhà địa

lý sử dụng để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hóa (Grigg, 1979)

Trang 13

Đầu những năm 80 có nhiều tài liệu xác định hệ thống nông trại, hay hệ thống kinh doanh nông nghiệp (Farming Systems) là khái niệm/tiếp cận mới trong hệ thống nông nghiệp và được công nhận rộng rãi trong nghiên cứu nông nghiệp hiện nay Tại các nước nói tiếng Anh khái niệm hệ thống nông nghiệp thực chất đồng nghĩa với khái niệm về hệ thống nông trại, nhằm chỉ các mối liên hệ phức tạp của các quá trình sinh học, sinh thái và xã hội bên ngoài và bên trong của hoạt động nông trại

Về hệ thống canh tác (HTCT), một số nhà khoa học Mỹ cho rằng HTCT (Farming systemes, Hệ thống nông trại, Hệ thống nông nghiệp) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu, mong muốn và nguồn lực của

hộ (Shannor, Philipp và Sohomohl, 1984 dẫn theo Nguyễn Duy Tính)

Một số tác giả của viện lúa quốc tế cho rằng: HTCT là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung những nguồn lực nhận từ môi trường

HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại

ở mọi môi trường nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến, nó vượt quá hình thức phổ biến của nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt, nhưng

nó bao gồm những nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó (IRRI, 1989 dẫn theo Nguyễn Duy Tính) Như vậy đặc điểm chung nhất của HTCT là bao gồm nhiều hệ thống: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh

tế được bố trí một cách có hệ thống, ổn định phù hợp với mục tiêu của từng nông trại hay từng tiểu vùng nông nghiệp

Theo Vissac, Hentgen (1979): Hệ thống nông nghiệp là tập hợp trong không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu của mình Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật

Theo Mozoyer (1986): Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy

Trang 14

Touve (1988) cho rằng: Hệ thống nông nghiệp thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp của không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố tự nhiên, xã hội - văn hoá, kinh tế và kỹ thuật.

Theo Đào Thế Tuấn (1989), HTNN về thực chất là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái 2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt động của con người trong sản xuất để tạo ra của cải vật cho xã hội

Sơ đồ 7: Hệ thống tự nhiên và HTNN

1.2.2 Một số khái niệm về nông nghiệp và phát triển bền vững:

Phát triển bền vững: là việc quản lý bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định

hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau

Nông nghiệp bền vững: Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp

(nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen động

và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, lợi ích kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội

Trang 15

Nông nghiệp sinh học, nông nghiệp hữu cơ, sinh thái ( Biological, organic,

ecological agricul ture ) là một phương thức sản xuất cấm dùng các hóa chất tổng hợp Sản xuất dựa trên việc sử dụng lại các các hợp chất hữu cơ và luân canh cây trồng có mục tiêu tôn trọng môi trường và bảo vệ các môi cân bằng của đất và hệ sinh thái nông nghiệp

Nông nghiệp hợp lý ( NNHL): Raisonned agriculture) là nên nông nghiệp có sức

cạnh tranh, chú ý một cách cân bằng các mục tiêu kinh tế của người sản xuất, mong đợi của người tiêu dùng và sự tôn trọng môi trường NNHL chứng minh rằng có thể hóa giải việc có lãi của nông trại, bảo vệ môi trường tự nhiên, sản xuất chất lượng thường xuyên

và giá cả chấp nhận được và đóng góp của nền nông nghiệp vào nền kinh tế quốc dân

Nông nghiệp tổng thể ( Integative agriculture ) là hệ thống sản xuất có chất luợng

cao, dùng các nguồn lợi và cơ chế điều tiết tự nhiên để thay thế tổn thất do môi trường và đảm bảo một nền nông nghiệp có sức sống lâu dài

Nông nghiệp chính xác ( Precision agriculture) dùng các công nghệ mới đang

được phát triển để điều chỉnh các biện pháp canh tác gần với các nhu cầu của cây trồng tùy theo sự không đồng đều giữa các tỉnh

Theo các định nghĩa trên HTNN hiện nay của Việt Nam hội tụ đầy đủ các loại hình hệ thống nói trên

12.3 Đặc điểm của hệ thống nông nghiệp.

- Có mục tiêu chung: các thành phần trong hệ thống có chung mục tiêu, từ đó chức năng họat động của từng thành phần được xác định rõ hơn

- Có ranh giới rõ rệt: Ranh giới hệ thống cho biết qui mô và nội dung hệ thống Nó giúp xác định cái bên trong ( các thành phần ) và cái bên ngoài của hệ thống

- Yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của hệ thống và mối quan hệ Mộ hệ thống bao giờ cũng có các yếu tố đầu vào và đầu ra, các thành phần trong hệ thống có mỗi quan hệ với nhau, hệ thống lại có mối quan hệ với môi trường Hiệu quả của cả hệ thống lớn hơn các hệ thống con trong đó

- Luôn bị các rủi ro: hệ thống luôn bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài

- Có thuộc tính: Thuộc tính xác định tính chất của hệ thống, phân biệt giữa các hệ thống với nhau Mỗi thành phần đều mang thuộc tính chung và đặc tính riêng

- Có thứ bậc của hệ thống: Thứ bậc có được là do ranh giới của từng hệ thống Có các

hệ thống phụ, gồm nhiều đơn vị cấu thành: Mỗi một hệ thống có nhiều hệ thống phụ bản thân hệ thống đó nó cũng là một hệ thống con của hệ thống lớn hơn

Trang 16

+ Hệ thống nông nghiệp cấp vùng.

- Thay đổi: Hệ thống luôn ổn định tương đối, nó thay đổi theo thời gian và không gian

và bị tác động, bị chi phối bởi nhiều yếu tố môi trường và xã hội và có xu thế thay đổi theo thời gian

Sơ đồ 8: tổ chức thứ bậc của hệ thống nông nghiệp 1.2.4 Các đặc tính của hệ thống

Theo Kepas (1983), Cao Liêm và các cộng sự (1998) HSTNN bao gồm 6 đặc tính

cơ bản, HSTNN cũng là những hệ thống do vậy các đặc tính của HSTNN cũng có thể

áp dụng cho một hệ thống nông nghiệp:

 Sức sản xuất: Sức sản xuất là khả năng sản xuất ra giá trị sản phẩm trên một đơn vị

tài nguyên (đất, lao động, năng lượng, tiền vốn, ) đơn vị đo lường có thể là tấn/ha, tạ/ha, sức sản xuất của hệ thống nông nghiệp tăng, giảm hay cân bằng qua thời gian

 Khả năng sinh lợi: khả năng sinh lợi là hiệu quả kinh tế ( cho người sản xuất và xã

hội ) của một hệ thống nông nghiệp

 Tính ổn định: Tính ổn định của một hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì sức

ản xuất khi có rủi ro khi thay đổi điều kiện thời tiết, điều kiện kinh tế thị trường Tính

ổn định này được đo lường từ hệ số biến động của sức sản xuất

 Tính bền vững: là khả năng duy trì sức sản xuất cảu hệ thống trong thời gian dài

khi chịu tác động của stress hoặc sự đảo lộn Một HTNN bền vững được coi là bền vững khi bị stress xảy ra sức sản xuất có thể bị giảm nghiêm trọng sau đó sức sản xuất được phục hồi và duy trì ổn định

Trang 17

 Tính công bằng: được đo lường bằng sự phân bố tài nguyên đến những người tham gia sản xuất trong cùng hệ thống

 Tính tự chủ: Tính tự chủ của hệ thống biểu thị bằng khả năng tự vận hành sao cho

có hiệu quả mà ít lệ thuộc vào môi trường Như vậy trong 6 đặc tính này thể hiện gồm

cả đặc tính về sinh học và đặc tính xã hội của hệ

Thời gian

cao

Thấp

Thời gian

Trang 18

Sơ đồ 9: Cỏc đặc tớnh của hệ thống nụng nghiệp 1.2.5 Thành phần của hệ thống nụng nghiệp.

Theo Mazoyer (1988), thành phần của hệ thống nụng nghiệp bao gồm 3 thành tố

cơ bản: mụi truờng xung quanh, hệ thống kỹ thuật và hệ xó hội Đào Thế Tuấn (1989) cho rằng so với hệ sinh thỏi nụng nghiệp, hệ thống nụng nghiệp khỏc ở chỗ ngoài yếu tố ngoại cảnh và sinh học cũn cú yếu tố kinh tế - xó hội

Đào Thế Tuấn đưa ra thành phần của hệ thống nụng nghiệp cú tớnh cụ thể gắn vàovới đặc điểm nụng nghiệp Việt Nam, nụng nghiệp Việt Nam gắn chặt chẽ với nụng hộ

và hệ thống kỹ thuật gắn với kỹ thuật mà người dõn ỏp dụng bao gồm:

nghiệp

Hộ nông dân

Môi tr-ờng tự nhiên

Môi tr-ờng kinh tế xã hội

Nhà n-ớc

Thị tr-ờng

Thể chế

Quan hệ

Tổ chức

Xã hội dân sự

Lao động Vốn

Quyết định

Khí hậu

Trang 19

Thể chế: Là các cản trở do người đặt ra để hình thành các mối quan hệ giữa người (North, 1990)

- Thể chế bao gồm các luật chơi của xã hội gồm có các luật hình thức ( hiến pháp, điều

lệ và luật lệ, quy định) và các ràng buộc phi hình thức ( tiêu chuẩn, công ước và các quy tắc đối xử) và các đặc điểm ép buộc của chúng

- Phân biệt môi trường thể chế và sự sắp xếp thể chế: Môi trường thể chế là những nhân

tố tác động ảnh hưởng đến việc thực hiện các thể chế chính thức và phi chính thức.Sựsắp xếp thể chế là những thứ bậc trước sau, thế chế ưu tiên hoặc những điều giàng buộc

- Bản thân thị trường cũng là một thể chế Thể chế tạo ra thị trường có hiệu quả Thị trường hiệu quả là các thể chế có chi phí trao đổi thấp và tạo ra lợi ích kinh tế để các tác nhân cạnh tranh với nhau qua giá và chất lượng

Có các thể chế thị trường và thể chế không thị trường (như quyền sở hữu, thông tin, tín dụng, khuyến nông…).Việc cải tiến thể chế nhằm vào giảm chi phí trao đổi và rủi ro

1.2.6 Các hệ thống phụ của hệ thống Nông nghiệp:

Trang 20

 Hệ phụ trồng trọt:

Hệ thống trồng trọt (HTTT), Nguyễn Duy Tính (1995) cho rằng: Hệ thống trồng trọt là hệ thống con và là trung tâm của HTNN, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ khác như: chăn nuôi, chế biến, ngành nghề Với khái niệm về HTCT như trên thì hệ thống trồng trọt là bộ phận chủ yếu của HTNN

Hệ thống trồng trọt, theo Dufumier (1997), là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội

Trang 21

Hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như

kỹ thuật, lao động và quản lý (Zandstra,1981)

Sơ đồ 11: Mối quan hệ của HTNN và hệ thống trồng trọt.

Khi phân tích mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng trọt các tác giả đều cho rằng hệ thống trồng trọt là hệ trung tâm, diễn biến và xu hướng phát triển của hệ thống trồng trọt có tính chất quyết định đến xu hướng phát triển của hệ thống nông nghiệp Do vậy hệ thống nông nghiệp hay hệ thống canh tác không thể tách rời hệ thống trồng trọt và ngược lại Hệ thống trồng trọt bao gồm các hoạt động sắp xếp các hệ thống cây trồng trong tự nhiên, điều kiện lao động và các hình thức quản lý phù hợp Chính vì vậy, trong quá trình điều khiển quản lý cây trồng chúng ta phải xem xét nhiều mối quan hệ: quan hệ giữa cây với cây, cây với đất, cây với các yếu tố môi trường khác

Mỗi vùng sinh thái tồn tại một hệ thống trồng trọt đặc trưng trên cơ sở đất đai, các yếu tố tự nhiên và các nhân tố xã hội khác Các hệ thống cây trồng thích ứng với điều kiện tự nhiên và đáp ứng với nhu cầu của thị trường, trình độ canh tác và văn hóa của khu vực Chẳng hạn vùng miền Trung Việt Nam có các tiểu vùng miều núi, gò đồi,

Hệ thống nông nghiệp

Hệ thốngchăn nuôi Hệ thống

trồng trọt

Hệ thống chế biến

Năng suất,chất lượng,giá cả

Đầu vào

Đầu ra

Trang 22

- Hệ thống cây trồng vùng cao: Cây lâu năm chủ yếu là cây lâm nghiệp như Keo, bạch

đàn Cây trong vườn là hệ thống tổng hợp nhiều loại Cây lương thực như lúa, ngô và cây màu khác như sắn Sắn là cây được trồng độc canh cây sắn và hoặc trồng kết hợp sắn và khoai.Hệ thống cây trồng vùng cao thường rất phân tán do điều kiện địa hình phức tạp, điều kiện canh tác khó khăn do vậy vùng cao hướng đến mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực cho mỗi vùng

Hệ thống cây trồng vùng gò đồi: Hệ thống cây lâm nghiệp che phủ như keo, bạch đàn

và một số cây bản địa khác được chú ý phát triển với mục tiêu nâng cao độ che phủ và hiệu quả kinh tế Cây ăn quả cũng rất đa dạng nhưng chất lượng không cao và thiếu những vùng tập trung Hệ thống cây lương thực phát triển chủ yếu là lúa, ngô và cây màu khác như đậu lạc, đậu xanh, sắn Khó khăn trong vụ này là chế độ nước và hệ thống thủy lợi do vậy nhiều diện tích cây trồng chỉ canh tác được một vụ còn lại bỏ hóa Thêm vào một khó khăn là chất lượng đất ở vùng này rất thấp nên đây là những thách thức cho người dân

Hệ thống cây trồng vùng đồng bằng: Hệ thống cây lương thực chủ yếu là lúa 2vụ,

ngoài ra còn hệ thống cây màu đậu lạc được phát triển trên những dải phù sa ven Vùng này có nhiều công nghệ mới và có các giống được cải tiến nhưng những trở ngại ở vùng này có thể là thiếu nước, nhiễm mặn và do hiệu ứng sulphat ở một số vùng ven cửa sông

Ở những vùng cát ven biển: Cây trồng chính là khoai, hoặc là trồng độc canh hoặc là

xen kẻ với các giống đỗ khác nhau (đậu xanh, đậu đen) hoặc sắn Ở đây người ta cũng trồng lạc và rau xanh Vào mùa hè, hầu hết đất đều bỏ hoang Một số cây lưu niên như xoài và hạt điều đã được thí nghiệm trồng trong những năm gần đây, nhưng giá trị kinh

tế của chúng cần phải được kiểm tra trước khi thúc đẩy nhân rộng mô hình

Trong thời gian tới, chúng ta có hai khả năng phát triển ngành trồng trọt:Thứ nhất: đẩy mạnh thâm canh ở các vùng sinh thái khó khăn dựa vào hệ thống giống thích ứng với điều kiện này.Thứ hai tăng vụ hay phát triển tập trung theo nhóm sản phẩm ở những vùng thuận lợi, đẩy mạnh các tiến bộ kỹ thuật tiến tiến, giống mới hướng tới vùng sản xuất với số lượng lớn đảm bảo tiêu chuẩn cho xuất khẩu

 Hệ phụ chăn nuôi.

Khái niệm: HTSX chăn nuôi là một hệ thống bao gồm các thành phần họat động cùng nhau và tương tác lẫn nhau trong một phạm vi nhất định các yếu tố ( thành phần bao gồm: Vật nuôi, cây trồng và con người) Các họat động trong hệ thống chăn nuôi là sản xuất ra các sản phẩm thực phẩm thỏa mãn nhu cầu con người qua các giai đoạn phát triển Các vật nuôi trong các hệ thống:

Trang 23

- Các loại gia súc, gia cầm chính: Trâu bò, lợn, dê, cừu, ngựa, la, gà, vịt, gà tây, đà điểu, ngan ngỗng.Các loại gia súc gia cầm cho thịt, trứng sữa, và các sản phẩm da, lông,

sử dụng cày kéo

- Các loại động vật khác: hươu, chồn, chó,

- Các loại vật nuôi theo hướng thủy sản: cá, tôm, ếch nhái,

Hiện nay hệ thống chăn nuôi phát triển tùy theo điều kiện sinh thái của vùng, phương thức chăn nuôi mức độ đầu tư thâm canh khác nhau và dưới nhiều hình thức Chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ, quảng canh hoặc đầu tư theo hướng công nghiệp tập trung theo qui mô trang trại Thực tế dịch bệnh trong trong chăn nuôi trong thời gian qua cho thấy hệ thống chăn nuôi cần phát triển theo hướng tập trung với qui mô lớn và phải cómột cơ chế để khống chế, kiểm soát dịch bệnh

Nguyên lý phát triển chăn nuôi bền vững

- Mỗi yếu tố phải đảm bảo nhiều chức năng trong hệ thống và có hiệu quả

- Các yếu tố ( thành phần) hợp tác liên kết chứ không mâu thuẫn trong HTCN

- Các yếu tố sinh lợi cho chính nó và cho các yếu tố xung quanh

- Tận dụng tốt tiềm năng tài nguyên và nguồn lực

- An toàn xã hội, phát triển và ổn định

 Hệ phụ chế biến, ngành nghề.

Ngành nghề chế biến nông sản là một vấn đề quan trọng hiện nay của nông nghiệp

Việt Nam, chế biến đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao giá trị hành hóa, tính cạnh tranh và giá trị nông sản mở rộng thị trường tiêu thụ

Việc phát triển ngành nghề ở nông thôn có tác dụng đối với việc phát triển nông nghiệp vì một mặt giải quyết việc làm tăng thu nhập mặt khác tạo vốn cho cho phát triển nông nghiệp, vì ngành nghề thường có năng suất lao động cao hơn

 Hệ phụ quản lý lưu thông - phân phối.

Hệ thống lưu thông - phân phối là giai đoạn nhằm hướng tới tận tay người tiêu dùng, phát triển rộng đến những vùng xa xôi hẻo lánh về chất lượng, số lượng thấp cũng như những vùng có nhu cầu yêu cầu số lượng và chất lượng cao Những vùng xa xôi để hệ thống nông nghiệp phát triển mạnh thì cần thiết phải phát triển song song với một hệ thống lưu thông phân phối, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm được tạo ra từ hệ thống

Trang 24

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC LOẠI

HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP

2.1 VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI.

2.1.1 Các khái niệm khác nhau về nông nghiệp

- Nông nghiệp là sinh học áp dụng cho việc trồng trọt và chăn nuôi Là những tác động có mục đích của con người vào các hoàn cảnh dùng để canh tác nhằm lấy ra ngày một nhiều hơn các sản phẩm nông nghiệp

- Nông nghiệp là những hoạt động sử dụng đất đai và coi những hệ thống trồng trọt và chăn nuôi mà không sử dụng đất là những hoạt động phi nông nghiệp

- Nông nghiệp là sự kiểm soát và điều khiển cây trồng vật nuôi trong hoạt động hằng ngày của con người Nếu thiếu vắng sự kiểm soát và sự điều khiển này thì tình hình sẽ tương tự như thủa hoang sơ của sự săn bắn hái lượm

- Theo Spedding 1979 đã định nghĩa: Nông nghiệp là một loại hoạt động của con người, được tiến hành trước hết là để sản xuất ra lương thực, sợi, củi đốt cũng như các vật liệu khác, bằng sự cân nhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi

Hoạt động nông nghiệp chỉ là một bộ phận của cuộc sống xã hội, do vậy nó phải được gắn liền với nhiều ngành khoa học khác cả khoa học tự nhiên và xã hội, như khoa học kinh tế, quản lý, khoa học về nhân văn

Sơ đồ 12: Sơ đồ quan hệ của nông nhiệp với các ngành khoa học khác.

2.1.2 Mục đích của nông nghiệp.

- Thoả mãn nhu cầu các nhu cầu: cá nhân và xã hội về lương tực thực phẩm

- Cung cấp nguyên nhiên liệu cho chế biến và xuất khẩu

Nông nghiệp

Sinh học

Kinh tế

Xã hội

Trang 25

- Làm hạn chế môi trường qua chất lượng nước và không khí.

- Tạo cảnh quan cho du lịch giải chí

- Chung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp dược

Của động vật Của thực

vật

Lương thực Thức ăn cho chăn

nuôi

Phương tiện giải

Làm thoả mãn các nhu cầu

Cá nhân

Lương thực Lao động Nhiên liệu

Nguyên vật liệu

Thức ăn cho gia súc

Trang 26

Sơ đồ 13: Những mục đích của nông nghiệp 2.2 NHỮNG MÔ HÌNH VỀ NÔNG NGHIỆP.

2.2 1 Những khái niệm về mô hình

Mô hình hay hình mẫu theo nghĩa thông thường là một cái mẫu, hay là mô hình của một vấn đề để tham khảo hay làm theo Mô hình là sự trừu tượng hoá hay đơn giản hoá hệ thống Thực tế hệ thống rất phức tạp, mô hình đơn giản hơn hệ thống nhưng phải

có các chức năng quan trọng của hệ thống

Mô hình là phương tiện được tách ra từ hệ thống hoạt động khách quan nào đấy, các mối liên hệ, và quan hệ có qui luật, có trong thực tế cần nghiên cứu.Trong mô hình không cần phản ánh tất cả đặc điểm của hệ thống mà chỉ cần phản ánh được các mối quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống

2 2.2 Mô hình nông nghiệp.

Mô hình nông nghiệp là những mô hình mô tả các hoạt động của hệ thống nông nghiệp ( các yếu tố đầu vào, đầu ra, chế biến, trao đổi với thị trường, các yếu tố chính sách ) Nhờ có chúng mà chúng ta có thể hiểu các hoạt động của hệ thống nông nghiệp tốt hơn, hoàn thiện và càng đúng đắn rõ ràng hơn

Trang 27

Hiện nay có ít các mô hình hoàn chỉnh nào về hệ thống nông nghiệp được nêu ra Chỉ mới có mô hình về từng mặt ví dụ mô hình trao đổi vật chất hay mô hình trao đổi đạm và các mô hình này chỉ có tính chất mô tả Đa số các mô hình như vậy chỉ giải quyết được một phần của nông nghiệp và cố gắng của chúng ta là khái quát hoá nông nghiệp như một tổng thể Làm việc này phải xem xét vấn đề có tính lịch sử và để vạch

ra con đường mà nền nông nghiệp đã trải qua để thoả mãn nhu cầu của con người.Trong hệ thống nông nghiệp có các hệ thống sau đây: hệ thống sinh học trong đó cây trồng vật nuôi hoạt động theo qui luật sinh học ( có sự trao đổi năng lượng và vật chất Hệ thống kinh tế hoạt động theo các qui luật kinh tế Hai kiểu hoạt động này đan chéo lẫn nhau bởi lẽ trong mỗi hoạt động đều bao gồm hai kiểu hoạt động này

Hệ thống NN thực chất là sự thống nhất của 2 hệ thống: hệ sinh thái NN là một bộ phận của HSTTN và hệ thống kinh tế xã hội Vì vậy hệ thống NN khác HST nông nghiệp ngoài yếu tố ngoại cảnh và sinh học còn có các yếu tố KTXH

Thành thị

Dân số

Thu nhập Tích luỹ Tiêu dùng

Sản phẩm chăn nuôi

Sản phẩm chế biến

Trồng trọt

Chăn nuôi

Chế biến

Xuất nhập

Chính sách

Trang 28

Sơ đồ 15: Mô hình hệ thống nông nghiệp của Đào Thế Tuấn

Trong thời gian qua có nhiều tác giả cũng đã nói về các mô hình nhưng chưa có

mô hình nào được đưa ra một cách hoàn chỉnh Chúng ta cũng cần hiểu rằng mô hình hệ thống nông nghiệp trong thực tế là sự kế hợp của rất nhiều các yếu tố như sinh học, quản lý, thị trường, chính sách Hiện nay mô hình hệ thống nông nghiệp được bàn nhiều

là mô hình liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học

2.2.3 Phân loại về mô hình

- Mô hình Phân tích

Mô hình phân tích là các công cụ toán học chúng mô tả các quá trình trong hệ thống bằng các phương trình toán học mà ta đã biết hành vi toán học của chúng Mô hình phân tích được dùng trong một số vấn đề sinh thái như quá trình tạo năng suất cây trồng, sự phát triển của quần thể

- Mô hình mô phỏng: là dùng các công cụ toán đơn giản chúng không có giải chính xác

2.3 Lịch sử nông nghiệp thế giới.

- Markow,1972 cho rằng yếu tố quyết định sự tiến hoá của nền nông nghiệp là sự cải tiến và phát triển không ngừng công cụ lao động, quan trọng nhất là công cụ làm đất Vì vậy, ông chia thàng 5 giai đoạn của lịch sử phát triển nông nghiệp:

+ Canh tác chọc lỗ, bỏ hạt: đặc trưng cho quan hệ cây và đất, tương tự quan hệ đồng cỏ của tự nhiên

+ Canh tác bằng cuốc đá, rồi đến cuốc đồng, đến cuốc sắt: Xuất hiện quan hệ ruộng cây trồng

+ Canh tác bằng cày gỗ: Quan hệ đồng ruộng được xác lập

+ Canh tác bằng cày sắt: Quan hệ đồng ruộng điển hình

+ Canh tác bằng cày máy: Quan hệ đồng ruộng hiện đại

- Grigg, 1977 lại cho rằng yếu tố quyết định đến các kiểu hệ thống nông nghiệp trong lịch sử là sự thay đổi về kinh tế, kỹ thuật và dân số tiến tới công nghiệp hoá nông nghiệp như luân canh, sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, chọn giống cây con, cơ giới hoá Ví dụ có các kiểu nông nghiệp như sau:

+ Làm nương rẫy

+ Trồng lúa nước châu Á

+ Du mục

+ Sản xuất kiểu đồn điền

+ Chăn nuôi lấy thịt

+ Sản xuất cây lấy hạt ở quy mô lớn

- Đường Hồng Dật (1980 ); Cao Liêm, Trần Đức Viên (1990 ) và một số tác giả khác chia lịch sử phát triển nông nghiệp thành 3 giai đoạn:

Trang 29

+ Giai đoạn nông nghiệp thủ công: Con người tác động vào thiên nhiên là chủ yếu và phổ biến là bằng lao động sống, lao động cơ bắp giản đơn, còn trí tuệ chủ yếu là kinh nghiệm, vật tư kỹ thuật sản xuất và công cụ lao động cũng rất đơn giản nên sản phẩm nông nghiệp được tạo ra ít , năng suất cây con thấp.

+ Giai đoạn nông nghiệp cơ giới hoá: bắt đầu từ thế kỷ 18 đến thập kỷ 70 của thế kỷ 20 Sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn này có những bước tiến nhảy vọt nhờ có lao động sống được hỗ trợ bởi vật tư và công cụ sản xuất được cải tiến không ngừng và nhờ đó mà sản phẩm tạo ra ngày thêm nhiều, năng suất tăng rõ rệt

Con người đã thực hiện "5 hoá" trong sản xuất nông nghiệp: cơ khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, điện khí hoá và sinh học hoá Tuy nhiên đây cũng là giai đoạn sản xuất nông nghiệp đã sử dụng quá nhiều năng lượng vật tư, chủ yếu là năng lượng hoá thạch nên đã làm tổn thương đến môi trường sống rõ rệt như tài nguyên thiên nhiên kiệt quệ, suy thoái, ô nhiễm môi trường, thiên tai dẫn đến những hiểm hoạ kinh tế xã hội khác như chiến tranh, đói nghèo

+ Giai đoạn phát triển nông nghiệp hiện đại trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến: Những phản ứng tự nhiên của thiên nhiên đã buộc con người phải cân nhắc và có những biện pháp tích cực và thận trọng hơn trong sản xuất nông nghiệp Các hoạt động sản xuất ở giai đoạn này được định hướng phù hợp với các quy luật tự nhiên của hệ sinh thái và dựa trên cơ sở điều khiển sản xuất bền vững bằng trí tuệ - đó là các tri thức khoa

Trí tuệ

Vật tư, công cụ

LAO ĐỘNG SỐNG

Thiên nhiên Con người

Trí tuệ

VẬT TƯ, CÔNG CỤ

Lao động sống

Thiên nhiên Con người

Trang 30

chung ở nhiều nước giai đoạn này chưa phát triển rõ, mới thể hiện ở lý thuyết cấu trúc

hệ thống và lý thuyết sinh thái nông nghiệp, sinh thái môi trường

Trong quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp thế giới trải qua rất nhiều giai đoạn và thể hiện ở sự hoàn thiện các công cụ canh tác và hiệu quả của hệ thông thể hiện rất khác nhau Với các công cụ khác nhau khả năng khai thác của lao động với diệntích cũng được tăng lên theo công cụ lao động

TRÍ TUỆ

Vật tư, công cụ

Lao động sống

Thiên nhiên Con người

S/T( ha)II

Canh tác gắn động cơ vừa

Canh tác gắn động cơ cósức kéo nặng

Trang 31

Biểu đồ 16: Quan hệ hệ thống nông cụ và khả năng khai khẩn diện tích /lao động

Harrison (1964) và một số tác giả khác nhìn nhận lịch sử phát triển nông nghiệp do áp lực gia tăng dân số của con người Kết quả nghiên cứu cho thấy số người cư trú trên một dặm vuông của các kiểu canh tác khác nhau rõ rệt:

KIỂU CANH TÁC

-Hái lượmSăn bắn và câu cá

Trồng trọt đơn giản

Chăn thả du mục

Trồng trọt tiến bộ

SỐ NGƯỜI CƯ TRÚ/KM2 -

+ Sự tăng dân số và quá trình sản xuất theo kiểu di cư và tiến bộ

+ Sự tăng lên về khả năng kiểm soát cây trồng và vật nuôi do số người sản xuất tăng lên như kiểm soát về sinh sản, về phòng trừ dịch hại, về cung cấp dinh dưỡng ( sản xuất thêm thức ăn, phân bón cho cây, con )

+ Sự tăng lên về khả năng sử dụng năng lượng tái tạo như sức gió, sức nước, sử dụng sức kéo động vật đến chế tạo máy kéo, ô tô, tìm kiếm ra các loại nguyên liệu mới từ thiên nhiên

+ Sự thay đổi về kinh tế xã hội cộng đồng: từ sản xuất tự cung tự cấp đến có thừa để bán/ sản xuất hàng hoá, từ chuyên sản xuất nông nghiệp đến phi nông nghiệp, ngoài nông nghiệp

2.4 CÁC LOẠI HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP

2 4.1 Nông nghiệp du canh

Trang 32

Đặc trưng:

Nông nghiệp du canh người nông dân chỉ biết lợi dụng các điều kiện tự nhiên sẵn

có để làm ra sản phẩm mình mong muốn Khi điều kiện thuận lợi đã bị khai thác hết họ lại đi tìm chỗ khác có điều kiện tốt hơn về dinh dưỡng của đất

Việc thay đổi nơi sản xuất xảy ra ở những mảnh ruộng, những khu rừng quanh nơi

họ ở, khi tất cả những khu quanh đấy đều cạn kiệt dinh dưỡng thì họ lại chuyển cả nhà cửa đến định cư ở một nơi mới Tùy theo khả năng phục hồi dinh dưỡng của đất nhanh hay chậm mà người ta có thể quay về những nơi cũ

Thường xảy ra ở những nơi đất dốc, rừng núi có mật độ dân cư thưa thớt Nếu mật

độ dân cư thưa, chu kỳ của du canh dài hơn, ngược lại thì chu kỳ sẽ ngắn hơn

Do tình trạng du canh như vậy mà người nông dân ít quan tâm đến việc phục hồi trả lại dinh dưỡng cho đất và cũng không có biện pháp bảo vệ đất, nên thường làm đất

bị thoái hóa Nạn phá rừng hiện nay xảy ra ở các nước trên thế giới cũng như nước ta chính là hậu quả của nền nông nghiệp du canh

Các kiểu hệ thống du canh.

- Trồng trọt du canh chủ yếu là ở vùng khí hậu ẩm ướt, bán ẩm ướt và ở những vùng dân cư thưa thớt Tuy vậy du canh có thể thấy ở mọi loại khí hậu và trong những điều kiện kinh tế rất khác nhau Đây là một hệ thống nông nghiệp đầu tiên được sử dụng bởi những người du mục nông nghiệp ở nhiều vùng núi trên thế giới

- Theo nghiên cứu của Greenland 1960 thì dua canh chiếm trên 30% đất có khả năng khai thác của toàn thế giới với trên 200 triệu người

Theo Ruthemberg 1978 đã chia vùng nhiệt đới thành những hệ thống sau đây:1) Hệ thống thảm thực vật: chúng ta có thể phân biệt một cách cơ bản về thực vật giữa trồng trọt du canh về rừng, cây bụi, đồng cỏ Trồng trọt du canh về rừng là kiểu canh tác trông chờ về nước trời ở khu vực ẩm ướt có mật độ dân cư thấp

Luân canh với việc bỏ hóa cây bụi là hình thức áp dung ở khu vực ẩm ướt, bán ẩm ướt, có mật độ dân số cao (vùng đất thấp phía tây châu Mỹ) ở vùng châu Phi, Mỹ la tinh ở vùng đó rừng được thay thế bằng đồng cỏ (thường là cỏ tranh) Việc luân canh giữa trồng trọt và cây cỏ tự nhiên thường thấy ở những vùng khu vực cao nhiệt đới và vùng khí hậu bán khô hạn

2) Hệ thống di cư ngẫu nhiên theo tuyến hoặc thay đổi theo chu kỳ:

Trang 33

Trong hầu hết các hệ thống trồng trọt du canh sự thay đổi cây trồng là kết quả của việc du canh Những mảnh đất trồng trọt dần dần bị trống trụi, gia vận chuyển sản phẩm thu hoạch tăng lên, đặc biệt là ở những nơi trồng cây lấy củ Do khoảng cách ngày càng

xa, họ xây dựng những lều mới để chứa sản phẩm Mức độ và khoảng cách di chuyển phụ thuộc lượng mưa ở vùng bán ẩm ướt châu Phi thường là di chuyển dần dần

Một số vùng ở Philippin cho biết trung bình một gia đình cứ 5 năm di chuyển một lần và với khoảng cách 5-10km Ở vùng thấp thung lũng (Amazon, Brazin) những người trồng trọt du canh thực hiện di cư tới những canh rừng nguyên sinh trồng trọt trong vòng 2 năm trên một mảnh đất và di chuyển căn lều của họ cứ 10 năm một lần

Đó là chu kỳ di cư

3) Hệ thống du canh quay vòng: Sự du canh này thường xảy ra ở vùng núi cao, ẩm ướt, dân cư thưa thớt chu kỳ 30-25 năm họ quay trở về canh tác trên đất đó Cây trồng thay đổi và phù hợp với yêu cầu đời sống của họ, năng suất cây trồng đã được nâng cao.4) Hệ thống phát quang: Vào thời kỳ đồ đá các hệ thống trồng trọt bằng đốt rẫy, làm nương Nó xuất hiện tại vùng tiểu á 7000 năm trước công nguyên, Trung Hoa và Trung

Mỹ là 3000 - 4000 năm sau đó

Hình thức phát quang này là đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống nông nghiệp du canh Nó xuất hiện sớm và kéo dài trong nhiều năm Giai đoạn này con người chỉ mới biết dựa vào thiên nhiên để làm ra các sản phẩm cho mình để sinh sống

Sự đầu tư và lao động trong hệ thống nông nghiệp du canh:

Phương thức trồng trọt hỗn hợp này là bứơc tiến bộ đáng kể trong trồng trọt của nền nông nghiệp du canh Nó làm giảm đi tính mẫn cảm của cây trồng với sâu bệnh và

sử dụng tốt hơn với môi trường sống

- Sự đầu tư trong các hệ thống nông nghiệp du canh thường là rất thấp, việc đầu tư chủ yếu tập trung trong các giai đoạn đầu của quá trình sản xuất như mua con giống, còn đầu tư cho chăn sóc hầu như không có

Riêng đối với chăn nuôi đầu tư có cao hơn do tiền vốn mua con giống nhiều hơn trồng trọt, chăn nuôi theo kiểu chăn thả, quảng canh nên đầu tư cho quá trình chăm sóc cũng có nhưng rất thấp

Trang 34

- Lao động trong hệ thống nông nghiệp du canh thường là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động chân tay với các công cụ lao động rất thô sơ: liềm, cuốc, dao được dùng cho việc phát nương đốt rẫy, làm có : việc đầu tư lao động rất thấp.

- Theo tổng kết ở nhiều vùng lao động trên đồng ruộng nương rẫy không chiếm đến 1/2 thời gian, thời gian còn lại là lao động cho chăn nuôi, đi chợ, lấy nước và các hoạt động khác rãnh rỗi Sự phân công lao động khá rõ ràng Thông thường đàn ông phát nương, đốt rẫy, chọc lỗ, đàn bà gieo hạt và chăm sóc làm cỏ xới xáo

Hiện nay nước ta vẫn còn hiện tượng du canh, thường xảy ra ở vùng núi cao với đồng bào dân tộc thiểu số

 Sự thay đổi trong hệ thống du canh:

Khi hệ thống nông nghiệp du canh tồn tại sự xen kẽ với các hệ thống nông nghiệp hiện đại khác sẽ có sự ảnh hưởng của chúng nên có những thay đổi xảy ra nhất là thời

kỳ bỏ hóa, thời kỳ phục hồi dinh dưỡng của đất để cho quá trình phục hồi được nhanh người dân có thể phát triển cây họ đậu như: lạc, đậu tương, đậu xanh, để bảovệ đất được tốt người ta có thể phát rừng theo các vành đai để chăn gió có lợi cho việc gieo trồng các loại cây trồng

Trong quá trình trồng trọt người ta có thể kết hợp trồng cây lương thực, thực phẩm với cây rừng để tận dụng không gian, đồng thời bảo vệ đất Bên cạnh đó trong quá trình chăm sóc có thể họ đã sử dụng một lượng phân bón nhất định Việc nuôi dưỡng gia súc

có thể được cố định trong chuồng trại và có đầu tư thâm canh hơn

Sau một nhiệm kỳ du canh người ta lại trồng cây lâu năm hoặc để rừng tái sinh tự nhiên

2.4.2 Hệ thống du mục

 Định nghĩa:

Du mục là một phương thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu gắn liền với các hệ thống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác

Trong thời kỳ trồng trọt bằng đốt rẫy công cụ của người dân lao động thời đó chỉ

có những công cụ rất thô sơ Họ không đủ sức để khai thác các thảo nguyên khô hạn và bán khô hạn, cũng như các đồng cỏ ôn đới, vì vậy các thảo nguyên được dành cho hệ thống chăn nuôi du mục

Trang 35

Những người du mục di chuyển liên tục, không có nhà cửa cố định, họ sống ở những thảo nguyên khô hạn và bán khô hạn Năng suất đồng cỏ rất thấp và bị thay đổi theo mùa Những người dân du mục vẫn sống với đàn gia súc của họ và di chuyển từ vùng này sang vùng khác, đến những nơi có thức ăn cho đàn gia súc.

Các kiểu du mục:

- Du mục hoàn toàn: Sự di chuyển đàn gia súc của họ từ vùng này sang vùng khác quanh năm Họ đều không có nhà cửa cố định và không có sự tiến hành bất cứ một hoạt động trồng trọt nào

- Bán du mục: Là những người dân chỉ nuôi và chăn thả đàn gia súc theo mùa của đồng

cỏ tự nhiên Hết mùa họ bán gia súc và tiếp tục công việc khác Họ kết hợp một phần nhỏ với công việc trồng trọt và dần dần tạo thành các nông trại và có nhà cố định của họ

Dân du mục của toàn thế giới có khoảng 15 triệu người (theo Grigg 1974) họ sống trên một diện tích khoảng 10 triệu dặm vuông gần gấp 2 lần diện tích trồng trọt của toàn thế giới

Động vật chăn thả chủ yếu của dân du mục là: lạc đà, bò, cừu, dê

Những người dân du mục dựa vào đồng cỏ tự nhiên và những cây rừng lâu năm để cung cấp, lá làm thức ăn cho gia súc Họ không hề dự trữ thức ăn hoặc cỏ cho gia súc, đến khi nơi này hết cỏ, thức ăn họ lại di chuyển đi tìm kiếm nơi khác có thức ăn cho gia súc Họ chỉ dự trữ có muối ăn

Dân du mục thường di cư theo nhóm 5 - 6 gia đình một Mỗi nhóm có từ 25 - 60 con dê hoặc cừu, 10 - 15 con lạc đà, ngựa

Đặc tính là chỉ lợi dụng thức ăn sẵn có trong tự nhiên và bị phụ thuộc nên năng suất trong hệ thống du mục rất thấp, hằng năm dân du mục có khả năng sản xuất và bán khoảng 20% gia súc, còn dân bán du mục chỉ sản xuất và bán được 6-10% chất lượng lại kém hơn Trước kia trong chế độ xã hội cũ, việc đầu tư vào các hệ thống du mục là thấp và thường họ chỉ có đầu tư một lần sau đó tự gia súc phát triển, sinh nở dần ra vàquy mô của đàn tăng Lao động cho hệ thống chủ yếu là: chăn dắt, săn đuổi, công cụ lao động hầu như không có gì Lao động chủ yếu bằng sức lực tay chân với những công cụ

Trang 36

Du mục hoàn toàn thường diễn ra trên vùng đất mà không thể chấp nhận một hình thức sản xuất nào khác Có thể đây là biện pháp tốt nhất để khai thác những vùng thảo nguyên khô cằn, tận dụng được nguồn lợi sẵn có của tự nhiên.Việt Nam thường có hình thức bán du mục chủ yếu là người nông dân cùng đàn vịt hoặc bò đã tồn tại từ thời xa xưa.

2 4 3 Những hệ thống nông nghiệp cố định:

Những hệ thống nông nghiệp cố định là các hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân được tiến hành trên những vùng, khu vực hay trên các mảnh đất cố định qua các năm Nó được hình thành khi chu kỳ quay vòng của nông nghiệp du canh ngắn lại

do nhu cầu của con người tăng lên vì áp lực của dân số tăng dần Từ chu kỳ bỏ hóa 3-4 năm, đến khi không còn thời gian bỏ hóa nữa Người dân canh tác liên tục trên mảnh đất mà họ có.Từ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, nhu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế

mà có các kiểu hệ thống nông nghiệp khác nhau:

2.4.3.1 Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hoá:

 Khái niệm:

Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hóa là những hệ thống nông nghiệp chuyên sản xuất một hoặc hai loại sản phẩm nhất định Từ đặc điểm của điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của vùng, hay tập quán xã hội của một vùng nào đó, hay một đơn vị sản xuất nào đó Được phân công của xã hội mà chỉ chuyên sản xuất hoặc một hai loại sản phẩm chính

 Tính chất:

Loại hình chuyên môn hóa xuất hiện khi có sự chỉ đạo của Nhà nước và nó được thực hiện khi có điều kiện giao thông cũng như các phương tiện kỹ thuật phù hợp, đáp ứng Vì sản xuất chuyên môn hóa thì chỉ có 1-2 loại sản phẩm nhất định ở vùng đó nên tại nơi sản xuất sẽ thừa sản phẩm này, phải được chuyên chở đi phân phối hoặc trao đổi cho vùng khác Đồng thời phải nhập cho các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống tại vùng sản xuất từ nơi khác

Khi sản xuất chuyên môn hóa sẽ xảy ra tình trạng cạn kiệt một loại dinh dưỡng nào đó mà cây trồng đó ưa thích, vì vậy phải sử dụng biện pháp bổ sung dinh dưỡng thiếu qua con đường sản xuất công nghiệp nên cũng cần có các biện pháp kỹ thuật thích ứng

Trang 37

Khi sản xuất chuyên môn hóa cũng xảy ra hiện tượng mất cân bằng sinh học dễ gây ra các dịch sâu bệnh hại rất nguy hiểm và khó tiêu diệt Gây ra tình trạng căng thẳng về lao động khi thời vụ và nhàn rỗi lúc không phải thời vụ, nên có hiện tượng lãng phí lao động.

Nhưng sản xuất chuyên môn hóa lại có ưu điểm là dễ dàng tập trung sản phẩm tạo điều kiện tốt cho việc thu mua nông sản phẩm và chế biến Đây là nơi thuận lợi cho các

tổ chức nghiên cứu khoa học nghiên cứu và thí nghiệm các kỹ thuật tiên tiến

Kiểu chuyên môn hóa này phù hợp cho những nước có nền kinh tế phát triển mạnh và kỹ thuật tiên tiến Đối với nước ta hình thái sản xuất chuyên môn hóa được hình thành trong thời kỳ xây dựng các nông trường quốc doanh Hiện nay nó đang được hình thành và phát triển mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với kinh tế thị trường

Tính chất:

Khi hệ thống nông nghiệp du canh bị thu hẹp phạm vi, người nông dân phải rút ngắn chu kỳ bỏ hóa cho việc tái tạo màu mỡ của đất Đến lúc chu kỳ bỏ hóa không còn nữa người ta phải nghĩ đến chuyện bổ sung chất dinh dưỡng cho đất, trong khi công nghiệp phân bón chưa phát triển để đáp ứng thì chính những sản phẩm phụ của chăn nuôi sẽ là nguồn cơ bản bổ sung cho chất lượng dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi Chính vì vậy mà nó có thể thay thế cho việc bỏ xóa nhiều năm để phục hồi dinh dưỡng cho đất một cách tự nhiên

Chăn nuôi được kết hợp trong hệ thống còn là sức kéo quan trọng để vận chuyển hàng hóa, sản phẩm, giảm nhẹ sức lao độang nên người dân có điều kiện để luân canh,

Trang 38

Cứ như vậy trồng trọt hỗ trợ cho chăn nuôi, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, chăn nuôi sẽ tận dụng những phụ phẩm của trồng trọt để phát triển và cung cấp trở lại cho cây trồng sức kéo, phân bón, để tăng độ màu mỡ cho cây trồng phát triển.

Thường diễn ra ở gần vùng đô thị trước và ở đây thường do áp lực dân số tăng nhanh hơn và cũng là nơi có điều kiện dễ dàng để đầu tư phân bón, máy móc, và các tiến bộ khoa học kỹ thuật khác Nó không ngừng được phát triển và phát triển sớm ngay

từ giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ

Qua một thời kỳ dài và trên nhiều nước khác nhau đã cho thấy giá trị kinh tế của nông nghiệp hỗn hợp là rất cao

2.4.3.3 Một số hệ thống nông nghiệp cố định phát triển có tính điển hình

 Hệ thống VAC: ( vườn- ao- chuồng), VACR : vườn - ao - chuồng - rừng (

ruộng), VACR-B mô hình chăn nuôi gắn với xử lý môi trường (Bioga)

Là mô hình phát triển lý tưởng theo kiểu mô hình trang trại vừa có hiệu quả cao vừa

có tác rụng bảo vệ môi trường

- Trên đất vườn (V): có thể là các loại rau, cây ăn quả, cây dựơc liệu, cây cảnh, cây hoa, cây giống các loại

- Trên diện tích ao hồ (A): có thể thả cá chép, trôi, rô phi, trê, mè, ếch

- Gia súc trong chuồng trại( C): có thể là trâu, bò lợn, gà vịt, chim cút, trăn,

Cây trên ruộng: lúa ngô, khoai sắn, rau màu, cây dược liệu

Cây trên rừng ( R): cây lâm nghiệp keo, điều, tre lấy măng, cây ăn quả

Hầm bioga (B) xử lý rác thải trong chăn nuôi,

 Hệ thống sử dụng đất theo Mô hình SALT (Sloping agricultural land

- ALT-2: có sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, cải tiến của SALT-1, các loai gia

súc có thể nuôi là bò dê cừu cung cấp thực phẩm, và phân bón

- SALT-3: canh tác ở những vùngkhó khăn, là sự kết hợp giữa SALT-1 và SALT-2, nông dân rành một phần đất để sản xuất các loại gỗ có giá trị, những hộ có qui mô lớn hơn hoặc bằng 2ha có thể áp dụng mô hình này

- SALT-4: Là hệ thống kết hợp giữa SALT-3 và cây ăn quả ( làm vườn), hướng tơi sản xuất hàng hóa là rất cần thiết

Trang 39

Tỷ lệ sử dụng đất ở các hệ thống SALT

Hệ thống sản xuất SALT-1 SALT-2 SALT-3 SALT-4 Cây trồng chính Cây lương thực Cỏ Lâm nghiệp VườnSản phẩm chính Lương thực Thịt, sữa,

- cây lươngthực/hàng hóa

- cây lâu năm

- cỏ

- rừng

7525 -

2020-4020

2020 60

4060 -

2.4.3.4 Xu hướng trong sự phân loại của các hệ thống nông nghiệp nhiệt đới:

Các hệ thống canh tác khác nhau là do sự bùng nổ dân số với tỷ lệ cao và hơn thế nữa là sự thay đổi quá trình công nghệ đã trở thành hiện thực và có tác dụng ứng dụng vào thực tế sản xuất Sự lớn mạnh của đô thị, lực lượng tiêu thụ của nông thôn Sự chỉ đạo của nhà nước và các hình thức xuất khẩu của nhà nước đã làm thay đổi quan hệ, những sự phát triển này kéo theo sự thay đổi mới về chính trị, văn hóa và xã hội Toàn

bộ quá trình thay đổi này luôn biểu thị để tiến tới một xu hướng là thâm canh sử dụng được

Phân loại theo mức độ, cường độ sử dụng:

Những đặc tính được mô tả của mỗi trang trại là riêng của từng đơn vị Trong mỗi trường hợp hệ thống sẽ chuyển dần vào thành sản phẩm nông nghiệp và hệ thống này chịu sự biến đổi theo thời gian quá trình làm cho công thức luân canh và các biện pháp

kỹ thuật canh tác phù hợp với các điều kiện thí nghiệm, kinh tế xã hội ở mỗi một địa phương có thể phân biệt được các hệ thống trang trại dù nhiều hay ít trong thực tế không có trang trại nào là được tổ chức giống như trang trại khác

Nhưng ở những trang trại sản xuất trong những điều kiện tự nhiên kinh tế và thể chế xã hội tương tự nhau thì có xu hướng tổ chức gần giống nhau Với mục đích phát triển nông nghiệp và đề ra những chính sách nông nghiệp thực sự có ý nghĩa cần thiết phải phân chia các nhóm trang trại có những đặc tính cấu trúc tương tự nhau thành các nhóm Đây là một mục đích quan trọng

Tiêu chuẩn của việc phân loại được sử dụng không phải có duy nhất một tiêu

Trang 40

2.4.4.2 Phân loại hệ thống nông nghiệp theo mục tiêu

Khi xem xét, phân tích hệ thống trước hết phải nhận biết được mục tiêu của hệ thống cần đạt được là gì và hệ thống đó đang hoạt động để đạt đến mục tiêu gì Điều đó rất quan trọng cho việc tác động thúc đẩy hệ thống phát triển Xét theo mục tiêu của hệ thống chúng ta có các hệ thống nông nghiệp sau đây:

 Hệ thống nông nghiệp tự cung tự cấp

Nông nghiệp tự cung, tự cấp là một loại hệ thống sản xuất với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của con người bao gồm: ăn, ở, đi lại Kiểu hệ thống này hình thành ngay từ khi con người có hoạt động sản xuất nông nghiệp, họ làm ra các sản phẩm là để cung cấp cho cuộc sống của họ

Cũng có lúc đem sản phẩm ra trao đổi, lấy cái cần hơn, trao đổi giữa người này với người khác, làng này với làng khác Chưa có tư tưởng thương mại hóa sản phẩm.Khi trong cộng đồng có xuất hiện tư tưởng thương mại hóa sản phẩm làm ra thì các hệ thống nông nghiệp tự cung tự cấp cũng có biểu hiện sự mua bán sản phẩm hay vật liệu sản xuất, để mua vật tư dụng cụ sản xuất nhưng với tỷ lệ rất nhỏ Từ khi con người có hoạt động du cư, du mục là xuất hiện hệ thống nông nghiệp, tự cung tự cấp

Hệ thống nông nghiệp vừa tự cung, tự cấp, vừa sản xuất hàng hóa

Là hệ thống nông nghiệp đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, tái sản xuất và bắt đầu có sự tích lũy sản phẩm Nó biểu hiện thái độ kinh tế ở mức độ cao hơn so với các

hệ thống tự cung tự cấp Biểu hiện tiềm lực kinh tế vững vàng hơn Người nông dân có quan tâm nhiều hơn đến thị trường và như vậy năng suất cây trồng cao hơn, hiệu quả sản xuất lao động lớn hơn

Các hệ thống nông nghiệp sản xuất hàng hóa

Với mục tiêu sản xuất là tích lũy làm giàu Hoạt động lao động sản xuất của hệ thống này thường có kết quả là chi cho việc tiêu dùng ít hơn nhiều so với phần để tích lũy Hệ thống sản xuất này thuộc dạng nông nghiệp hỗn hợp Nhưng phần lớn các ngành sản xuất, có hiệu quả kinh tế cao chiếm tỷ trọng cao trong hệ thống và cũng có thể ở những vùng có sản phẩm đặc sản cho lợi nhuận kinh tế cao

Trong hệ thống sản xuất nông nghiệp hàng hóa có nguồn lực sản xuất rất lớn, tiềm lực kinh tế vững vàng là một hệ thống tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội

Ngày đăng: 24/12/2013, 02:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2 : Hệ thống nông hộ - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 2 Hệ thống nông hộ (Trang 6)
Sơ đồ 4:  Hệ thống sản xuất nông hộ - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 4 Hệ thống sản xuất nông hộ (Trang 8)
Sơ đồ 5 : Cấu trúc hệ thống nông nghiệp cấp nông hộ 1.1.2. Các quan điểm về hệ thống - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 5 Cấu trúc hệ thống nông nghiệp cấp nông hộ 1.1.2. Các quan điểm về hệ thống (Trang 8)
Sơ đồ 6: Quy trình đánh giá đất theo FAOTham khảo ban - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 6 Quy trình đánh giá đất theo FAOTham khảo ban (Trang 11)
Sơ đồ 7: Hệ thống tự nhiên và HTNN 1.2.2 Một số khái niệm về  nông nghiệp và phát triển bền vững: - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 7 Hệ thống tự nhiên và HTNN 1.2.2 Một số khái niệm về nông nghiệp và phát triển bền vững: (Trang 14)
Sơ đồ 8: tổ chức thứ bậc của hệ thống nông nghiệp 1.2.4 Các đặc tính của hệ thống. - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 8 tổ chức thứ bậc của hệ thống nông nghiệp 1.2.4 Các đặc tính của hệ thống (Trang 16)
Sơ đồ 9: Các đặc tính của hệ thống nông nghiệp 1.2.5 Thành phần của hệ thống nông nghiệp. - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 9 Các đặc tính của hệ thống nông nghiệp 1.2.5 Thành phần của hệ thống nông nghiệp (Trang 18)
Sơ đồ 11: Mối quan hệ của HTNN và hệ thống trồng trọt. - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 11 Mối quan hệ của HTNN và hệ thống trồng trọt (Trang 21)
Sơ đồ 12: Sơ đồ quan hệ của nông nhiệp với các ngành khoa học khác. - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 12 Sơ đồ quan hệ của nông nhiệp với các ngành khoa học khác (Trang 24)
Sơ đồ 13:  Những mục đích của nông nghiệp 2.2 . NHỮNG MÔ HÌNH VỀ NÔNG NGHIỆP. - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 13 Những mục đích của nông nghiệp 2.2 . NHỮNG MÔ HÌNH VỀ NÔNG NGHIỆP (Trang 26)
Sơ đồ 17: Tiếp cận nghiên cứu - phát triển thông thường ( truyền thống) 3.1.5 Theo hướng mới: nghiên cứu có sự tham gia - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 17 Tiếp cận nghiên cứu - phát triển thông thường ( truyền thống) 3.1.5 Theo hướng mới: nghiên cứu có sự tham gia (Trang 44)
Sơ đồ 18: Các bước tiến hành nghiên cứu hệ thống nông nghiệp  trên đồng ruộng nông dân - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 18 Các bước tiến hành nghiên cứu hệ thống nông nghiệp trên đồng ruộng nông dân (Trang 46)
Sơ đồ 20: Chọn điểm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp 4.3. Những thông tin cần thiết khi lựa chọn vùng và điểm nghiên cứu - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 20 Chọn điểm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp 4.3. Những thông tin cần thiết khi lựa chọn vùng và điểm nghiên cứu (Trang 51)
Sơ đồ 20: Tiến trình chẩn đoán trở ngại và xác định yếu tố thử nghiệm kỹ thuật - Tài liệu Hệ thống nông nghiệp-quản lý đất docx
Sơ đồ 20 Tiến trình chẩn đoán trở ngại và xác định yếu tố thử nghiệm kỹ thuật (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w