Trong những năm gần đây, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên đã được Đảng ủy, Ban Giám hiệu và các tổ chức đoàn thể Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN THỊ HỒNG DỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG SÓC
TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ĐỒNG THÁP, NĂM 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN THỊ HỒNG DỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG SÓC TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PP DH BỘ MÔN GIÁO DỤC
CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.10
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thái Sơn
ĐỒNG THÁP, NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời nói đầu tiên tôi xin chân thành biết ơn đối với quí thầy, cô giáo Khoa Giáo dục chính trị, Khoa sau Đại học trường Đại học Vinh và thầy, cô Khoa sau Đại học trường Đại học Đồng Tháp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia học tập trong khoá học này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS NGUYỄN THÁI SƠN – Thầy đã giảng dạy, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu Thầy đã đóng góp những ý kiến quí báu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn, người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học cũng như trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Mặt dù đã rất nhiều cố gắng nhưng công trình không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong sự nhận xét, góp ý của quý thầy cô và các bạn để công trình được hoàn thiện
Đồng Tháp, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Dệ
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” [4,tr.7] Công tác thanh niên
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó vai trò của Nhà nước rất quan trọng Thực tiễn hiện nay đòi hỏi tăng cường quản
lý nhà nước về công tác thanh niên nhằm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện tốt hơn cho sự phát triển của thanh niên và phát huy cao tiềm năng,
lực lượng thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đảng ta khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [4, tr.5] Đây những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có nhân cách đạo đức trong sáng, làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh
về thể chất đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điều đó sẽ tạo ra hệ điều chỉnh bên trong, tự giác, tự nguyện; làm cho sự quan tâm của con người đối với người khác cũng như đối với lợi ích của xã hội trở thành nhu cầu và sự thôi thúc từ nội tâm Đây là yếu tố kích thích tính tích cực trong mỗi con người, hướng họ biết giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, góp phần khắc phục sự mất cân đối trong quá
Trang 6trình phát triển con người - xã hội dưới những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và cơ chế thị trường
Trong những năm gần đây, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức lối sống cho thanh niên đã được Đảng ủy, Ban Giám hiệu và các
tổ chức đoàn thể Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng thường xuyên quan tâm và có những bước tiến triển như: Tham gia tích cực thanh niên tình nguyện, đi đầu trong phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh môi trường… Song bên cạnh số đông thanh niên tiên tiến đó vẫn còn một
số bộ phận thanh niên chưa theo kịp bước tiến của đất nước, thậm chí một số thanh niên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu chí tiến thủ và chạy theo lối sống thực dụng, lười lao động, lười học tập, tham gia vào các tệ nạn xã hội … Trong khi đó, Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng là nơi đào tạo nguồn nhân lực phải có đủ đức và tài cho Sóc Trăng nói riêng và cả nước nói chung
Vì thế, việc nghiên cứu vấn đề xây dựng đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay là một yêu cầu cơ bản và cấp thiết Xuất phát từ lý
do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho
sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay”
làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về
đạo đức, lối sống và giáo dục đạo đức cho thanh niên như:
Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Công trình: Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn
viên thanh niên, Nhà xuất bản Thanh niên của Văn Tùng đã nghiên cứu khái
Trang 7quát về tình hình thanh niên nước ta trong mấy năm đầu bước vào thế kỷ thứ XXI, và từ đó bồi dưỡng đạo đức cánh mạng trong mối quan hệ với giáo dục toàn diện theo năm điều Bác Hồ dạy thanh niên
Trong bộ sách kỷ niệm 120 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh- “Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” ( Hỏi- đáp), Nhà xuất bản Thanh niên, của Tiến sĩ Trần Văn Miều và Cử nhân Nguyễn Việt Hùng,
đã nghiên cứu những nội dung về: Tuổi trẻ, những năm tháng đi bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân và những năm tháng lãnh đạo nước Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và chống đế quốc Mỹ, xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ năn 1890 đến năm 1969); tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng tuổi trẻ cả nước học tập và làm theo lời Bác
Các bài phát biểu của nguyên tổng bí thư Đỗ Mười trong cuốn Lý
tưởng của thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, Nhà xuất bản Thanh niên, gồm các bài nói về tuổi trẻ Việt Nam phải
xây dựng cho mình hoài bảo, trí tuệ, đạo đức và ý chí cách mạng (bài phát biểu tại đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI); Lịch sử dân tộc chứng minh thanh niên luôn luôn đi đầu đáp ứng những đòi hỏi của đất nước; Thanh niên phải xây dựng cho mình hoài bảo, trí tuệ, đạo đức và ý chí cách mạng; Trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam trước nhiệm vụ lịch sử trọng đại của dân tộc; Vì sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đoàn thanh niên phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mình
Trong cuốn Quản lý Nhà nước về công tác thanh niên trong thời kỳ
mới, Vũ Trọng Kim (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Đảng Cộng
Trang 8sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên và công tác thanh niên
trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc
Nhóm các tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức đã làm rõ tính chất hai mặt của kinh tế thị trường và tác động của nó đối với đời
sống đạo đức: GS.TS Nguyễn Ngọc Long: "Quán triệt mối quan hệ biện
chứng giữa kinh tế và đạo đức trong việc đổi mới tư duy", Tạp chí Nghiên cứu lý
luận, tháng 1-2, 1987; TS Nguyễn Thế Kiệt: "Quan hệ giữa kinh tế và đạo đức
trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay", Tạp chí Triết học 6/1996;
PGS.TS Nguyễn Tĩnh Gia: "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với
đạo đức người cán bộ quản lý", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2/1997;
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu sự biến đổi của đạo đức và thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta: PGS.TS
Nguyễn Chí Mỳ: "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Văn Lý: "Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 1998
Về xây dựng nhân cách đạo đức có tác giả quan tâm nghiên cứu ở
phương diện chung: Trần Thị Tuyết Sương: "Vấn đề xây dựng nhân cách đạo
đức con người Việt Nam trong điều kiện hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học,
bảo vệ tại Viện Triết học 1998
PGS.TS Đoàn Minh Duệ và các cộng tác viên với đề tài “ Tình hình tư
tưởng đạo đức lối sống cho các sinh viên trường Đại học, Cao đẳng ở các tỉnh Bắc miền Trung”, 1998 Nghệ An
Trang 9Nhìn chung, các công trình kể trên đã có nhiều đóng góp trong công tác giáo dục đạo đức cho giới trẻ Việt Nam hiện nay Thế nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở tỉnh Sóc
Trăng Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và
phương pháp dạy học bộ môn chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của luận văn là trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giáo dục đạo đức, tác giả hướng tới việc đề xuất một hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong điền kiện phát triển kinh tế thị trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm rõ hơn một số vấn đề về đạo đức, công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng, vai trò và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
Làm rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng những năm gần đây
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu đời sống đạo đức, các quan hệ, giá trị đạo đức và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghên cứu: Thực trạng giáo dục đạo đức của sinh viên trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng và giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của khoa học giáo dục về giáo dục đạo đức
và công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên
Đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quan sát, điều tra xã hội học, phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin
6 Giả thuyết khoa học
Nếu việc đề xuất các giải pháp và vận dụng một cách hợp lý vào thực tiễn giáo dục đạo đức học sinh và công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng thì việc giáo dục đạo đức sẽ có hiệu quả cao hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thực hiện tốt các mục tiêu của nền Giáo dục - Đào tạo
Trang 117 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Nếu luận văn được nghiên cứu và bảo vệ thành công sẽ góp phần làm sáng tỏ thực trạng công tác giáo dục đạo đức và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
và vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng nói riêng, các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng
Chương 2: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng hiện nay
Trang 12B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG SÓC TRĂNG
1.1 Cơ sở lý luận của giáo dục đạo đức
1.1.1 Quan niệm về đạo đức
Ở phương Đông, phạm trù “đạo” “đức” xuất hiện trong các học thuyết chính trị- xã hội của Nho giáo, Lão giáo… Theo Lão tử “đạo” là bản nguyên,
là con đường sinh thành, biến hoá của vạn vật, cũng còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội Mở rộng phạm trù “đạo” trong quan
hệ chính trị xã hội, Lão tử đã đề ra thuyết “vô vi”, có nghĩa là con người cần phải “hành động theo lẻ tự nhiên, thuần phác, không hành động theo tính chất giả tạo, gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình” Để làm được điều đó con người phải sống khoan dung, khiêm nhường, không phô trương, thái quá Trong Triết học Trung Quốc cổ đại, phạm trù “đạo” luôn được xem xét trong mối quan hệ với phạm trù “đức”, đức là biểu hiện của đạo, đức đó chính là
“biểu hiện khát vọng được trời ban cho phước lành” Theo Khổng Tử làm người thì phải “khắc kỷ tu thân”, có nghĩa là để đạt được đạo đức con người phải tu dưỡng, phải hoàn thiện về mặt đạo đức, làm những việc chính đáng mà không gượng ép
Hệ thống triết học Trung Quốc nói chung đều lấy đạo đức- luân lý làm nội dung chủ yếu cho các luận thuyết, xem nó là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Vì vậy, những nguyên tắc đạo đức được xem như
“khuôn vàng, thước ngọc” để đánh giá con người Trong cuộc sống con người phải “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính” có nghĩa là phải rèn luyện đạo đức, nhân
Trang 13cách Khi có được phẩm chất đạo đức cao đẹp thì lúc đó con người không chỉ biết mình mà còn được biết cả thiên hạ, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh
để đạt được luân lý, đạo đức và được mọi người trong xã hội đánh giá cao
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học kể cả theo trường phái duy vật hay duy tâm đều bàn về đạo đức Khác với phương Đông coi đạo đức là nội dung chủ yếu trong các học thuyết chính trị- xã hội, là khuôn mẫu
để cả xã hội tuân theo, ở phương Tây đạo đức được bàn đến như là một bộ phận của triết học Chẳng hạn, khi bàn về đạo đức, Đêmôcrit đã đứng trên lập trường duy vật khi ông tìm thấy đúng đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống con người Đêmôcrit cho rằng nhận biết một người trung thực và nhận biết một người không trung thực, không những căn cứ vào việc làm của
họ mà còn phải căn cứ vào ý muốn của họ Còn Aristote thì cho rằng, đạo đức
là cái vốn có của con người, sống trong xã hội con người phải tuân theo những quy tắc, để hướng tới cái cao cả, cái thiện: “chúng ta không bất tử, nhưng chúng ta không nên phục tùng những điều xấu xa mà hãy vươn tới sự bất tử sống phù hợp với gì tốt đẹp nhất ở nơi ta đang có” [34, tr120]
Tiêu biểu nhất trong lịch sử triết học phương Tây khi bàn về đạo đức là triết học cổ điển Đức với những triết gia tiêu biểu như: Kant, Hegel, Feuerbach… Kant một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử triết học phương Tây đã đứng trên lập trường duy tâm tiên nghiệm khi bàn về các vấn đề triết học trong đó có đạo đức Ông cho rằng, nguyên tắc đạo đức là phải tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối và chính mệnh lệnh này sẽ hướng con người vào hoạt động cộng đồng, tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác, sống đúng với trách nhiệm công dân trong xã hội Hegel là nhà triết học mặc
dù có thế giới quan duy tâm, nhưng ông vẫn được lịch sử tư tưởng thừa nhận
là một nhà biện chứng lỗi lạc Khi bàn về đạo đức, Hegel cho rằng, con người chỉ thực hiện các hành vi đạo đức khi có sự thôi thúc bên trong, từ niềm tin
Trang 14của chính mình, mà không ai có thể ra lệnh hay cưỡng bức, nói cách khác trong quan hệ đạo đức Hegel đề cao vai trò chủ thể của con người
Nói chung, các nhà triết học trước Mác kể cả phương Đông hay phương Tây đã bàn nhiều về đạo đức và mặc dù đã có những đóng góp nhất định nhưng nhìn chung đều rơi vào quan điểm duy tâm khi bàn về vấn đề con người, về các mối quan hệ xã hội có quan hệ đạo đức Họ đã không thấy đạo đức được hình thành trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đó chính
là lao động, trong lao động con người có nhu cầu gắn bó với nhau và chính trong mối quan hệ này con người ý thức được rằng bản thân cần phải làm gì hay không nên làm gì để phù hợp với chuẩn mực chung của cộng đồng, của xã hội Nhưng thiếu sót lớn nhất của các nhà triết học trước Mác là không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội trong đó có ý thức đạo đức, không thấy được cơ sở kinh tế của các quan hệ đạo đức trong xã hội
Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng, danh dự, lòng tự trọng, ước mơ, ý chí, lý tưởng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa
cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội Đạo đức mang tính lịch sử, nó được điều chỉnh cùng với sự phát triển của xã hội theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc, được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội
Ý thức đạo đức bao gồm hệ thống tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo đức, tình cảm và lý tưởng đạo đức, trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lý tính không thể chuyển hóa bằng hành vi đạo đức
Trang 15Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung
và sinh hoạt thường ngày của mọi người
Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp thì nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp, nó có tính giai cấp Trong các phạm trù đạo đức luôn luôn phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của CNXH thì đại diện cho nền đạo đức tiến bộ Còn giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái Ph Ăng ghen cho rằng:
“Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức” [2, tr.15]
Hiện nay ở một số nước Tư bản phương Tây đang có quan niệm sai lầm cho rằng, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã hình thành một kiểu đạo đức mới không có tính giai cấp Người ta đặc biệt nhấn mạnh đến đạo đức tôn giáo như một thứ đạo đức duy nhất có khả năng chỉ cho toàn thể loài người con đường phát triển đi lên
Trang 16Đạo đức cộng sản được hình thành trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, bắt nguồn từ đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân Đạo đức cộng sản kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của loài người, trước hết là của nhân dân lao động Đạo đức cộng sản phản ánh mối quan hệ kinh tế của xã hội mới không còn áp bức, bóc lột giai cấp và chỉ đạo mọi hành vi đạo đức của con người Nó đòi hỏi sự hài hòa trong sự phát triển cá nhân và tập thể, coi trọng sự phát triển tự
do và toàn diện của cá nhân, đồng thời chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tách rời đi tới đối lập lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng
Sự hình thành đạo đức cộng sản là kết quả của một quá trình giáo dục, đấu tranh xây dựng xã hội mới lâu dài, bền bỉ Hơn nữa xã hội mới – xã hội XHCN, là xã hội vừa thoát thai từ xã hội cũ, trong lòng nó còn mang dấu ấn cả về kinh tế, lẫn tinh thần đạo đức của xã hội cũ Do đó
để hình thành đạo đức mới phải đấu tranh xóa bỏ dần những tàn dư lỗi thời của đạo đức cũ
1.1.2 Nguồn gốc đạo đức
* Các quan niệm trước Mác về nguồn gốc đạo đức
Trước Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật) đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội được nhìn nhận một cách tách rời cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó Các nhà triết học, đạo đức trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên
Trang 17ngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh
cơ sở xã hội, hiện thực khách quan
Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực đạo đức, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra
để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên; và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện – ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó
Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”,
về các lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức suy cho cùng, cũng tương tự như vậy Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như là những năng lực
“tiên thiên” của lý trí con người Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi của Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động với những hoạt động mang tính xã hội của con người
Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L.Phoi-ơ-bắc đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ con người, người với người Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại
Những người theo quan điểm Đác-Uyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ
xã hội
Trang 18* Quan điểm Mácxít về nguồn gốc đạo đức
Quan niệm khoa học về nguồn gốc của đạo đức là quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác, Ăngghen đã quan niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch
sử
Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội loài người, Mác, Ăngghen cho rằng “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [2, tr.41] Rằng “người ta phải
ăn, ở, mặc, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật…” Xuất phát
từ con người thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con người sinh học, hai ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết định đối với toàn bộ các hoạt động của con người, xã hội loài người Trong “Lời tựa” của tác phẩm “Góp phần phê phán chính trị - kinh tế học”, Mác viết:
“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định
sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [2, tr.13] Luận điểm này chính là chìa khóa để khám phá tất cả các hiện tượng xã hội trong đó có đạo đức
Như vậy, đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người Với
tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế “Xét cho cùng, mọi học thuyết
Trang 19về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của
xã hội lúc bấy giờ” [2, tr.137]
Những phong tục đạo đức của người nguyên thủy, đời sống của xã hội văn minh là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và các hoạt động nhận thức của
xã hội đó Sự phát triển từ phong tục đạo đức của người nguyên thủy đến ý thức đạo đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người
Xã hội Cộng sản nguyên thủy là bước đầu tiên con người thoát khỏi trạng thái động vật Hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, chưa tạo nên sản phẩm thặng dư, và do đó, tư hữu và chế độ tư hữu chưa có tiền đề khách quan để xuất hiện Trong xã hội chưa có hiện tượng áp bức xã hội, nhưng con người vẫn bị nô dịch bởi những lực lượng tự phát của tự nhiên Tuy nhiên, xã hội nguyên thủy đã đem lại nội dung “ngây thơ” “thuần phác” nhưng “tốt đẹp thơ mộng” cho đạo đức người nguyên thuỷ Đạo đức này chưa biết nói đến thói xấu, cái ác trong xã hội văn minh Đây là “ý thức bầy đàn đơn thuần” của “bản năng được ý thức” Ý thức đạo đức chưa tách ra thành hình thái độc lập
Những hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp tạo nên những cơ
sở kinh tế, xã hội và tinh thần cho sự phát triển ý thức đạo đức Những hệ thống đạo đức của các giai cấp khác nhau và đối nghịch nhau đều lấy “những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho
vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [2, tr.136] Những hệ thống đạo đức đó phản ánh và điều chỉnh những quan hệ xã hội đa dạng, phong phú và phức tạp, trong khi ý thức nói chung và đạo đức nói riêng của người nguyên thủy chỉ phản ánh hoàn cảnh gần nhất có thể cảm giác được Đạo đức đã tự khẳng định mình là một
Trang 20hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội Đây là một bước tiến, làm đạo đức phát triển so với xã hội nguyên thủy Tuy nhiên, bước phát triển này cũng làm nảy sinh những cái ác, tham lam, ích kỷ, lừa dối… mà loài người phải đấu tranh hàng ngàn năm nay để chống lại nó
Về mặt hình thức, đạo đức của xã hội văn minh đã phát triển vượt bậc
Do nhận thức của loài người vượt bỏ tư duy cụ thể, chuyển tư duy lý luận… Nội dung đạo đức được thể hiện dưới hình thức kinh nghiệm, khái niệm, lý tưởng, chuẩn mực và đánh giá đạo đức, do đó đạo đức ngày càng phát triển về cấu trúc Và đến lượt mình, sự hoàn thiện cấu trúc làm cho phản ánh và điều chỉnh đạo đức trở nên sâu sắc, tự giác Nội dung của đạo đức được thể hiện dưới những hình thức cụ thể
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan
hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng
có đạo đức Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [2, tr 43]
Trang 211.1.3 Bản chất của đạo đức
Như ở phần trên đã trình bày, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức đã khẳng đạo đức không phải từ sự “tiên nghiệm” càng không phải là lực lượng từ bên ngoài ấn vào xã hội, đạo đức là sản phẩm của xã hội
Đạo đức là lĩnh vực của quan hệ thật sự con người Trong khi phát triển với tính cách là thực thể xã hội, con người lựa chọn và chịu trách nhiệm với sự lựa chọn, với hậu quả của những sự lựa chọn đối với hành vi ứng xử người - người Tự do lựa chọn và sự lựa chọn có trách nhiệm nảy sinh trong quan hệ người - người, trong quan hệ cá nhân và xã hội Mỗi người chấp nhận kiểm tra những yêu cầu của xã hội để nhận được sự đánh giá, sự ủng hộ của xã hội Còn xã hội thì với những chuẩn mực của nó, yêu cầu các cá nhân điều chỉnh các hành vi phù hợp với lợi ích của xã hội
Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang bản chất xã hội Bản chất xã hội của đạo đức được hiểu theo nghĩa: Sự hình thành, phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được qui định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Nói cách khác, nội dung khách quan của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức chính là biểu hiện cảu trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế
Việc khẳng định tính qui định của cơ sở kinh tế đối với đạo đức cho phép nhìn nhận sự biến đổi của đạo đức theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế với kiến trúc thượng tầng mà trong
đó đạo đức là một yếu tố của nó, Mác viết: “ Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ
Trang 22cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [2, t4, tr188]
Tiếp tục và cụ thể hoá tư tưởng của Mác về tính qui định của cơ sở kinh
tế đối với ý thức xã hội nói chung và đạo đức nói riêng, Ăngghen đã luận chứng cho bản chất xã hội của đạo đức bằng cách cử chỉ ra tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp của đạo đức
Trong tác phẩm “ Chống Đuy- Rinh” Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ của các thời đại đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức với tính cách
là biểu hiện về mặt đạo đức của các thời đại kinh tế
Phê phán quan điểm của Đuyrinh về những chân lý đạo đức vĩnh cửu, Ăngghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan điểm đạo đức chẳng qua là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi Lấy ví dụ về nguyên tắc không được ăn cắp, Ăngghen cho rằng đó không phải là một nguyên tắc, một chân lý vĩnh cửu gắn liền với bản chất trừu tượng của con người Nguyên tắc này có cơ sở kinh tế của nó và nó sẽ mất ý nghĩa khi cơ sở kinh tế của nó không còn nữa Trước khi có sở hữu tư nhân, không thể có nguyên tắc đạo đức không được trộm cắp Cũng như vậy, “trong một xã hội mà mọi động cơ trộm cắp bị loại trừ” nghĩa là trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, lời răn đạo đức đó sẽ không có
ý nghĩa nữa
Tính qui định của thời đại đối với đạo đức cho ta quan niệm khoa học
về loại hình đạo đức Mặc dù đạo đức có qui luật vận động nội tại, có sự kế thừa, có sự lệch pha nào đó đối với cơ sở sản sinh ra nó nhưng về căn bản, tương ứng với một chế độ kinh tế, mỗi phương thức sản xuất và do đó mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một hình thái đạo đức nhất định Đạo đức nguyên
Trang 23thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau đó, đạo đức Cộng sản chủ nghĩa là những thời đại tiến triển dần dần của đạo đức nhân loại
Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù tính thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau Không phải các học thuyết đạo đức trước Mác không thấy sự khác biệt trong đời sống đạo đức của các dân tộc Có điều, việc giải thích sự khác biệt ấy hoặc là dựa trên cơ sở tôn giáo hoặc là dựa trên các quan niệm duy tâm triết học nên không đúng đắn…
Coi đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã dặt cơ sở khoa học cho việc luận chứng tính dân tộc của đạo đức Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức vừa bị qui định bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo …) Tổng thể những nhân tố ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau, làm thành cái mà ngày nay chúng ta gọi là bản sắc dân tộc Bản sắc ấy được phản ảnh vào đạo đức nên tính độc đáo của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức, nghĩa là tạo nên tính độc đáo trong đời sống đạo đức của mỗi dân tộc Nhìn nhận tính độc đáo và sự khác biệt ấy về mặt dân tộc trong cặp khái niệm cơ bản của đạo đức, cặp khái niệm thiện- ác Ph Angghen chỉ ra sự biến đổi của chúng qua các thời đại và dân tộc, ông viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”[2, tr17]
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai trò, địa vị khác nhau trong hệ thống kinh tế, xã hội và do đó mà họ có các lợi ích khác và đối nghịch nhau Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã
Trang 24phản ảnh và khẳng định lợi ích của mỗi giai cấp Ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của nó, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích giai cấp Mặt khác, mỗi giai cấp đều sử dụng đạo đức của mình như là công cụ bảo vệ lợi ích của mình Như vậy, tính giai cấp của đạo đức là sự phản ánh và sự thể hiện lợi ích của các giai cấp
1.1.4 Các chức năng của đạo đức
* Chức năng điều chỉnh hành vi
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng
Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó
Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhau ở mức độ đòi hỏi và phương thức điều chỉnh
Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấp thống trị buộc mọi người phải tuân theo Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện bằng ngăn cấm và cưỡng bức (quyền lực công cộng cùng với đội vũ trang đặc biệt, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù…) Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng
Trang 25Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng
xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức
Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)
Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng (gián tiếp)
Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội
Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu
Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác
Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức xã hội
* Chức năng giáo dục
Trang 26Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ” Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội Hệ thống ấy tác động đến con người và con người tác động lại hệ thống Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác động, chi phối con người
Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các
cá nhân chịu sự tác động Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức
Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục
Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức:
Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến của nó…sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộng đồng tạo ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng
Trang 27Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng;mặt khác, là sự “ tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực
Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức Và đa số trường hợp có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức (Khác những khoa học và ứng dụng nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách
về không gian và thời gian)
Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài)
và hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể)
Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra
Trang 28các giá trị đạo đức Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như
là cái riêng
Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn
Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình – giá trị mà xã hội mong muốn
Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để ho thành trách nhiệm đó Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, gia cấp, tổ quốc
Nhận thức đạo đức (đạo đức phản ánh hiện thực) ở hai trình độ : trình
độ thông thường và trình độ lý luận
Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội Mọi cá nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này
Trang 29Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát Trình độ này đáng ứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền
Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức Các cá nhân, nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức cá nhân) Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức)
1.2 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển xã hội
Ngay từ thời cổ đại cách đây hàng nghìn năm, vai trò của đạo đức đối với xã hội đã được các nhà tư tưởng xem xét và bàn luận tới từ nhiều góc độ khác nhau Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (thế kỷ VI trước Công nguyên) đã khuyên học trò “Tiên học lễ, hậu học văn” Ông mong muốn xã hội phát triển bình ổn, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý Mạnh Tử rất đề cao đạo đức đến mức ông đề xuất quản lý xã hội bằng đức trị Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu ni sáng lập đã đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức Cái cốt lõi nhất trong hệ thống đạo đức Phật giáo là khuyên con người sống thiện, biết yêu thương nhau, giúp
đỡ nhau, tránh điều ác
Trong xã hội Hy Lạp- La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo dục con người thông qua những truyền thuyết, các sử thi…nhằm đề cao những giá
Trang 30trị đạo đức của con người Đó là thần Athena đẹp như mặt trăng, đầy tình nhân
ái đối với con người Hình tượng thần Dớt có tài- đức vẹn toàn Ôđixê là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực, lòng dũng cảm,
sự trong sáng trong tình bạn, tình yêu… Tất cả những hình tượng đó đều là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức được các nhà nghiên cứu xã hội đặt ra rất sớm Đặc biệt trong các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, nhân dân ta đã đề cao những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức giúp công nhận người hướng tới những điều tốt đẹp Truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Trạng Quỳnh… đều giáo dục con người hướng thiện và có nhân cách cao đẹp trong cuộc sống Vấn đề đặt ra là tại sao con người lại sớm quan tâm đến đạo đức? Bởi vì đạo đức có một vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan của đời sốngx xã hội Trong đời
sống xã hội của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển Sống trong xã hội, ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình
và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng
Thứ hai, đạo đức có vai trò trong việc duy trì trật tự, bình ổn và phát triển
của xã hội, xã hội phát triển nhanh hay chậm, tiến bộ hay trì trệ, suy cho cùng
là do tính tự nguyện tự giác của con người, đồng thời do mức độ con người nhận thức được quy luật và hành động phù hợp theo quy luật Chính đạo đức
đã đóng vai trò quan trọng để tạo dựng nên cuộc sống tốt đẹp cho xã hội và giúp con người hoàn thiện nhân cách Từ khi con người và xã hội loài người xuất hiện, đạo đức cũng hình thành và tham gia vào quá trình điều chỉnh ý
Trang 31thức và hành vi của con người Cùng với pháp luật, đạo đức góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh thái độ, hành vi con người, qua đó điều chỉnh các quan hệ xã hội Mặc dù pháp luật thì chặt chẽ, chính xác, ghi thành văn có tính bắt buộc và khung hình phạt có nhiều nấc, nhưng lại không trừng phạt được từ trong ý nghĩ (ý nghĩ phạm tội) Trong khi đó, đạo đức mang nặng tính khuyên nhủ, khung hình phạt không có các nấc trung gian, chỉ có thiện và ác, tốt và xấu, nhưng nó lại có thể trừng phạt người ta ngay từ trong ý nghĩ (ý nghĩ xấu) nhờ sự phán xử của lương tâm Đó chính là một nét đặc thù của đạo đức, tạo nên sức mạnh to lớn của đạo đức trong đời sống xã hội
Thứ ba, đạo đức có tác dụng cảm hoá con người, giúp con người nhận
thức và hành động theo lẽ phải, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người Đồng thời đạo đức giúp con người sáng tạo ra hạnh phúc, gìn giữ phẩm giá, làm thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, những phẩm chất cao quý, đó là lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, thẳng thắn… Đạo đức như một động cơ có sức mạnh thôi thúc con người đấu tranh chống lại những cái
ác, cái xấu, giữ gìn và phát huy những cái tốt, cái thiện Nói cách khác, đạo đức luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ
Như vậy, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Xã hội loài người càng tiến lên thì vai trò của đạo đức cũng tăng lên, có thể đạo đức sẽ nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thế chức năng quản lý con người bằng pháp luật Khi xã hội phát triển đạt đến văn minh thì một số hình thái ý thức xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức xã hội vẫn tồn tại và phát triển cùng với loài người
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự tác động của đạo đức đến đời sống xã hội có tính hai mặt Nếu hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức tiến
bộ, phù hợp với đời sống xã hội , với xu thế vận động của xã hội thì nó sẽ tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển; nếu ngược lại, nó sẽ gây nên những
Trang 32tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển xã hội Vì vậy, trong quá trình xây dựng xã hội mới, chúng ta phải biết kế thừa và phát triển những giá trị đạo đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay, loại bỏ những chuẩn mực đạo đức
cũ, không còn phù hợp, đồng thời xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển
1.2.2 Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tác động trước hết đến những người trẻ tuổi, bởi những đặc trưng phổ biến của nhóm người này Sinh lực tràn trề, chứa đầy những mẫn cảm với cuộc sống, trái tim nóng bỏng những khát khao
về những điều mới mẻ và tốt đẹp, sinh viên bao giờ cũng là lực lượng nhạy cảm nhất với quá trình hội nhập quốc tế
Dưới ảnh hưởng của xu thế mở cửa, sinh viên nước ta ngày càng quan tâm tới những vấn đề đang đặt ra trong xã hội hiện đại, những kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến, tham gia nghiên cứu, giải quyết những vấn đề phức tạp và khó khăn nhất mà nhân loại đang quan tâm Nhiều sinh viên đã vận dụng những tiến bộ về khoa học, công nghệ và kỹ thuật của thế giới vào công việc lao động sáng tạo xây dựng và phát triển đất nước Nhu cầu về hội nhập và giao lưu quốc tế đã lôi cuốn sinh viên đến với các lớp ngoại ngữ, tin học, quản trị kinh doanh, tiếp xúc và trao đổi với những nhà khoa học, những sinh viên, thanh niên các nước về những vấn đề đang đặt ra đối với nhân loại
Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế cũng đang đặt ra nhiều vấn đề, thách thức đối với thế hệ trẻ nước ta Dưới ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, bên cạnh xu hướng tích cực và tiến bộ, nhiều yếu tố tiêu cực từ bên ngoài cũng thâm nhập, tác động không nhỏ tới nhận thức và hành vi của sinh viên nước ta Nhiều vấn đề có liên quan tới nhận thức, tư tưởng, quan điểm chính trị, lối sống, đạo đức, nhân cách của sinh viên Những giá trị truyền thống, gia
Trang 33đình, văn hóa, đạo đức đang có xu hướng bị sinh viên xem nhẹ Việc tìm hiểu, phân tích và tiếp thu các xu hướng tư tưởng và trào lưu của xã hội hiện đại trong sinh viên còn có phần cảm tính, thiếu cân nhắc và chọn lọc một cách sáng suốt
Sinh viên cũng chưa được chuẩn bị đầy đủ về bản lĩnh chính trị, ý thức sẵn sàng đối phó với những âm mưu lợi dụng vấn đề toàn cầu hóa của các thế lực thù địch hòng thâm nhập, can thiệp, làm lung lạc ý chí của thanh niên sinh viên, phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta Điều đó khiến cho một bộ phận sinh viên thanh niên gặp phải những vấp váp, sai lầm trong nhận thức và hành động
Do thiếu những kiến thức và sự tỉnh táo cần thiết, một bộ phận không nhỏ sinh viên nước ta đã bị những mặt trái, mặt tiêu cực nói trên tác động, họ đã sa vào cạm bẫy của những tệ nạn xã hội và lối sống vị kỷ, nhầm lẫn giữa những giá trị tốt đẹp chân chính với những đòi hỏi vật chất tầm thường, những dục
vọng cá nhân, có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cộng sản, suy thoái về đạo đức,
lối sống, nhân cách
Chính điều đó đã và đang đặt ra đòi hỏi phải nâng cao nhận thức của sinh viên và hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên Để có một sự phát triển lành mạnh, lối sống sinh viên cần có được những định hướng đúng đắn, có sự chủ động, xác định rõ vị trí, vai trò của nó trong chiến lược phát triển văn hóa cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; cần phải có một nhận thức đúng đắn, khoa học về lối sống văn hóa sinh viên cũng như mối quan hệ biện chứng giữa lối sống văn hóa sinh viên với lối sống văn hóa xã hội Việc giáo dục đạo đức, lối sống hướng tới xây dựng một thế hệ sinh viên có nhân cách phát triển toàn diện và hài hòa càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn
Trang 34Như vậy, giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên, sinh viên chính là để giúp họ trở thành những công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ xứng đáng của nước nhà và là người cách mạng chân chính Đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng; là công việc gốc của Đảng và Chính phủ, của Đoàn Thanh niên, của gia đình, nhà trường và toàn xã hội
Sinh viên là một đội ngũ trí thức của xã hội, đại diện cho một thế hệ trẻ,
có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”
Với tư cách là những người trẻ tuổi, đang trưởng thành, phát triển về nhân cách, có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, các thế hệ thanh niên sinh viên Việt Nam là những người liên hệ trực tiếp với các thế hệ khác trong cộng đồng xã hội Họ không phải bắt đầu sự nghiệp từ đầu mà phải tiếp tục những
gì cha anh làm được trước đó và nâng nó lên một tầm cao mới, một trình độ chất lượng mới Hiện tại muốn phát triển, muốn vươn lên phải dựa vào truyền thống, trong đó có truyền thống đạo đức, truyền thống thẩm mỹ của dân tộc Nhưng để các giá trị truyền thống đạo đức, truyền thống thẩm mỹ của dân tộc không bị mai một, không bị lu mờ trước hiện thực thì phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lối sống cho thanh niên sinh viên Giáo dục đạo đức cho sinh viên là một yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế
Trang 35Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đề ra yêu cầu đối với giáo dục đại học là: “Nội dung giáo dục phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa
và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình
độ chung của khu vực và thế giới” [8, tr.26]
Đối với sinh viên nói chung, tuy đã được học tập về đạo đức và giáo dục đạo đức trong giáo dục phổ thông, nhưng sự hiểu biết của họ về các vấn đề này chưa thật sự chuyên sâu và chưa mang tính hệ thống Để sinh viên có điều kiện nắm được kiến thức về đạo đức và giáo dục đạo đức một cách chắc chắn, mang tính hệ thống, đòi hỏi các ngành khoa học xã hội và nhân văn phải giữ vai trò liên kết, nòng cốt trong giáo dục, kể cả giáo dục đại học Các bộ môn Lịch sử, Văn học, Văn hóa học, Địa lý, Đạo đức học, các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có tác dụng bồi dưỡng và nâng cao tầm hiểu biết của sinh viên về lịch sử dân tộc, về đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin và đạo đức cách mạng của Đảng và Nhà nước ta, trong
đó biểu hiện tập trung nhất ở môn Đạo đức học
Giáo dục đạo đức cho sinh viên là việc làm thường xuyên, liên tục, không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Đây cũng là mục tiêu hướng tới của giáo dục hiện nay Điều 2, Luật giáo dục ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Những con người được đào tạo đó
sẽ là người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Để
Trang 36đạt được mục tiêu trên, ngoài việc giáo dục trí tuệ, thể lực và kỹ thuật còn phải quan tâm đến giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động và kỹ thuật quân sự cho thế hệ trẻ Đồng thời hết sức coi trọng giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng cho sinh viên
Giáo dục đạo đức cho sinh viên (bao gồm đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng) là một trong những nội dung quan trọng góp phần làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, lối sống văn hóa cho sinh viên, giúp họ củng cố niềm tin và sức mạnh trước những khó khăn, thử thách của cuộc sống Sinh viên ngày nay phải tin tưởng vào đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng
và lãnh đạo, tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân ta Có được niềm tin, sinh viên sẽ xác định rõ nhiệm vụ của mình, nối tiếp truyền thống cha anh, xây dựng làm giàu quê hương, đất nước Từ đó, sinh viên phải thường xuyên trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, không ngừng hoàn thiện nhân cách, tăng cường tri thức, tinh thông nghề nghiệp, sẵn sàng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân
Với đặc trưng của tuổi trẻ tràn đầy sức sống, mẫn cảm và khát khao cái mới, hội nhập quốc tế chính là cánh cửa mở ra cho sinh viên những cơ hội để khẳng định bản lĩnh, năng lực, thực hiện những ước mơ và hoài bão của tuổi thanh niên Môi trường cuộc sống sôi động, đầy tính cạnh tranh bắt buộc sinh viên phải có sự nỗ lực học tập, phấn đấu và trau dồi bản thân để vươn lên, để khẳng định
Ở nước ta, trong điều kiện mới của thời kỳ mở cửa và giao lưu quốc tế, chưa bao giờ sinh viên lại có cơ hội tiếp xúc mạnh mẽ và sâu sắc đến như vậy đối với những kiến thức về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thế giới Cùng với quá trình toàn cầu hóa, mở cửa và giao lưu quốc tế, hàng loạt những vấn đề tiêu cực gắn liền với xã hội phương Tây và lối sống phương Tây
Trang 37cũng đã thâm nhập vào nước ta Các sai lệch văn hóa, văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng đề cao hưởng thụ và dục vọng cá nhân, nạn mãi dâm và ma túy, nạn bạo hành và tội phạm, việc coi nhẹ các chuẩn mực của cuộc sống gia đình, sự ngược đãi cha mẹ và người già, sự thiếu quan tâm chăm sóc, thậm chí còn lạm dụng tình dục trẻ em… đang len lỏi vào cuộc sống thường ngày của các gia đình Việt Nam
Bên cạnh sự tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ và ảnh hưởng tiêu cực đến sinh viên, làm thay đổi các quan niệm của họ về các giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ truyền thống của dân tộc Điều đáng lo ngại là sự sa sút về phẩm chất, đạo đức ở một
bộ phận sinh viên, thể hiện ở xu thế chạy theo những giá trị vật chất đơn thuần, có tư tưởng sùng ngoại, văn hóa ngoại, lối sống ngoại, từ đó có thái độ coi thường hoặc lãng quên các giá trị đạo đức truyền thống, đạo đức cách mạng của cha ông Những biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống sinh viên đang làm rối loạn kỷ cương gia đình, xã hội và làm bùng lên những làn sóng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình định hình và phát triển nhân cách của lứa tuổi thanh xuân Không chỉ dừng lại ở đó, chúng còn làm cho thanh niên sinh viên, lớp người kế cận bị tổn thương và mất phương hướng về đạo đức, lối sống, phong cách làm việc, cách tiếp thu và hòa nhập vào cái mới Những giá trị đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng của cha ông có tác dụng nâng cao sự hiểu biết, lòng tự hào dân tộc cho sinh viên, đồng thời, giúp sinh viên nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của đạo đức, giáo dục đạo đức trong đời sống xã hội Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức, lối sống văn minh, tiến bộ cho sinh viên còn thể hiện ở chỗ, giúp sinh viên nhận ra những giá trị đích thực và sức sống lâu bền của những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng như những giá trị đạo đức cách mạng mà cha ông để lại
Trang 38Các giá trị đạo đức của dân tộc và nhân loại như chiếc bản lề đưa thanh niên sinh viên vào nền nếp cuộc sống, tạo cho họ lối sống lành mạnh, trong sáng, thủy chung Nhờ có những chuẩn mực giá trị đạo đức, sinh viên sẽ chủ động và có ý thức trong cuộc sống và trong cách tiếp thu những giá trị đạo đức mới, chọn lọc những giá trị đạo đức tinh hoa của văn hóa nhân loại Những cái mới mà sinh viên tiếp nhận say mê không làm cho họ xa lạ với chính mình, với truyền thống đạo đức dân tộc, thanh niên sinh viên hăng hái vươn tới những giá trị thời đại mà không đánh mất đi ý thức cội nguồn, bản sắc dân tộc Như vậy, giáo dục đạo đức cho sinh viên sẽ góp phần tạo nên những con người có nhân cách Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy rằng, việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên chẳng những là cần thiết mà còn là hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay
1.3 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng
1.3.1 Khái quát Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng
Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng được thành lập theo quyết định số 2917/QĐ.BGD ĐT ngày 08 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
Trường có chức năng đào tạo trình độ cao đẳng và các trình độ khác thấp hơn, phục vụ nhu cầu phát triển xã hội ở địa phương gồm các ngành nghề: Trồng trọt, Chăn nuôi, Thú y, Nuôi trồng thủy sản, Chế biến nông- thủy sản, Công nghệ thông tin, Tài chính- kế toán, Quản trị kinh doanh, Quản trị
văn phòng, Ngoại ngữ, Công tác xã hội, Thư kí văn phòng…
Bộ máy nhà trường gồm: 5 khoa đào tạo chuyên ngành, 7 phòng chức năng, 2 trung tâm
Trang 39Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đạt chuẩn, Trường đã xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ giảng viên: có chứng chỉ sư phạm, chứng chỉ triết học, tin học, ngoại ngữ; Có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên; đưa giảng viên đi bồi dưỡng chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ ở các đơn vị trong và ngoài tỉnh Khuyến khích cán bộ giảng viên học tập, nâng cao trình độ trong công tác chuyên môn nghiệp vụ
Hiện nay, tổng số sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng là
hơn 7.800 sinh viên , đa số có độ tuổi từ 18 đến 22
- Trình độ:
+ Đại học, Cao đẳng: 6.800 sinh viên
+ Trung cấp: 1.000 học sinh
Sinh viên tốt nghiệp có việc làm trên 97%
Năm học 2011 - 2012, Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng có 118 lớp học, đào tạo 7 ngành cao đẳng hệ chính quy, 10 ngành Trung cấp chuyên nghiệp với trên 7.000 sinh viên từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, với 3.000 học viên hệ vừa làm vừa học đang theo học tại trường
Ngoài ra, Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng còn liên kết với các trường đại học trong nước đào tạo nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường và đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, khoa học giáo dục và khoa học quản lý phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh kế – xã hội của tỉnh Sóc Trăng nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như cả nước nói chung
Sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập, có ước mơ, hoài bão, nhiều tấm gương vượt khó học giỏi hiện trong học sinh và sinh Nguyện vọng chung của sinh viên là muốn được sớm định hướng nghề nghiệp, được học tập vui chơi lành mạnh có việc làm
Trang 40sau khi ra trường Ngày nay đối với lĩnh vực sinh viên này cần định hướng về nghề nghiệp, bồi dưỡng về lý tưởng giáo dục, về đạo đức lối sống, ý thức công dân để phát triển toàn diện hơn trong tương lai
1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng
Sinh viên là lớp người trẻ, đầy nhiệt huyết, hăng hái, muốn được cống hiến sức lực, trí tuệ của mình cho quê hương, đất nước Tuy nhiên, tuổi trẻ cũng dễ bị tác động do các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội (tinh thần, văn hoá, luật pháp, tín ngưỡng, tôn giáo…)
Một là, sự tác động hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp của kinh tế thị trường
định hướng XHCN
Kinh tế thị trường đặt mọi đối tượng, mọi mối quan hệ trong xã hội dưới quan niệm hàng hoá hoặc tính chất hàng hoá, kể cả sức lao động, tình cảm của con người Mối quan hệ đạo đức, lối sống cũng bị chi phối bởi quan niệm đó Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là con người chứ không phải là hàng hoá Tuy nhiên, dù muốn hay không thì các quan hệ thị trường cũng sẽ làm cho con người thay đổi đạo đức, lẽ sống cùng với sự cải thiện mức sống và môi trường sống Sự phân hoá giàu nghèo sẽ dẫn đến sự phân hoá đạo đức, lối sống
Hai là, sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng
XHCN
Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xét về mặt vật chất thì công nghiệp, dịch vụ, đô thị và người làm công ăn lương sẽ chiếm địa vị áp