CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CUỐI BẬC TIỂU HỌC.. Cụ thể là: Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được đề cập thông qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Nghệ An – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHO HỌC SINH CUỐI BẬC TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
MÃ SỐ 60.14.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM MINH HÙNG
Nghệ An – 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Minh Hùng, người đã hướng dẫn đề tài và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới quý thầy cô Khoa Giáo dục tiểu học Trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy,chỉ bảo tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục
và Đào tạo Quận Bình Tân đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, cung cấp số liệu nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực trạng
Tôi xin cảm ơn tới tập thể Ban Giám hiệu, đội ngũ giáo viên và các
em học sinh các trường TH An Lạc 1 và TH Bình Trị 2 đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm
Xin chân thành biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CUỐI BẬC TIỂU HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Các khái niệm cơ bản 6
1.2.1 Môi trường và bảo vệ môi trường 6
1.2.1.1 Môi trường 6
1.2.1.2 Bảo vệ môi trường 11
1.2.2 Giáo dục và giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh 12
1.2.2.1 Giáo dục 12
1.2.2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh 14
1.2.3 Biện pháp và biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho HS 15
1.2.3.1 Biện pháp 15
1.2.3.2 Biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho HS 16
1.3 Khái quát về môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học 17
1.3.1 Mục tiêu môn học 17
1.3.2 Nội dung,chương trình môn học 18
Trang 61.3.3 Phương pháp,hình thức tổ chức dạy học 18
1.3.3.1 Phương pháp dạy học môn Đạo đức 18
1.3.3.2 Hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức 24
1.3.4 Đánh giá kết quả học tập môn học của HS 25
1.4 Một số đặc điểm tâm-sinh lí của HS cuối bậc tiểu học liên quan đến giáo dục BVMT 27
1.4.1 Đặc điểm về nhận thức 27
1.4.1.1 Tri giác 27
1.4.1.2 Chú ý 28
1.4.1.3 Trí nhớ 29
1.4.1.4 Tưởng tượng 29
1.4.1.5 Tư duy 30
1.4.2 Đặc điểm về tình cảm 30
1.4.3 Đặc điểm về hành vi 31
1.5 Vấn đề giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức cho HS cuối bậc tiểu học 31
1.5.1 Sự cần thiết phải giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức cho HS cuối bậc tiểu học 31
1.5.2 Định hướng giáo dục BVMT cho HS tiểu học 33
1.5.2.1 Mục tiêu giáo dục BVMT cho HS tiểu học 33
1.5.2.2 Nguyên tắc giáo dục BVMT cho HS tiểu học 34
1.5.2.3 Nội dung giáo dục BVMT cho HS tiểu học 35
1.5.3 Giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức cho HS cuối bậc tiểu học 38
1.5.3.1 Mục tiêu giáo dục BVMT qua môn Đạo đức 38
1.5.3.2 Phương pháp và hình thức GDBVMT trong môn Đạo đức 39
1.5.3.3 Mức độ tích hợp giáo dục BVMT trong môn Đạo đức 39
Trang 7Kết luận chương 1 40
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CUỐI BẬC TIỂU HỌC 2.1 Khái quát về nghiên cứu thực tiễn 41
2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực tiễn 41
2.1.2 Nội dung nghiên cứu thực tiễn 41
2.1.3 Đối tượng khảo sát 41
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 41
2.2 Phân tích kết quả điều tra 43
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức 43
2.2.2 Thực trạng giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức cho HS cuối bậc tiểu học 48
2.2.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp để giáo dục BVMT thông qua dạy học môn Đạo đức cho HS cuối bậc tiểu học 50
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 52
2.3.1 Nguyên nhân thành công 52
2.3.2 Nguyên nhân hạn chế,thiếu sót 52
Kết luận chương 2 54
Chương 3.MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CUỐI BẬC TIỂU HỌC 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 56
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 56
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 56
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 57
Trang 83.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 57
3.2 Các biện pháp 57
3.2.1 Lựa chọn những nội dung trong chương trình môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học có khả năng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh: 57
3.2.2 Thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học theo một quy trình thống nhất: 64
3.2.3 Chú ý khai thác kinh nghiệm thực tế của học sinh về bảo vệ môi trường trong quá trình dạy học môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học: 66
3.2.4 Đa dạng hóa các hình thức thực hành bảo vệ môi trường cho học sinh trong quá trình dạy học môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học: 67
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học: 73
3.3 Thực nghiệm sư phạm 75
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 75
3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 76
3.3.3 Nội dung và cách thực hiện 77
3.3.4 Tiến hành thực nghiệm 78
3.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả thực nghiệm 78
3.3.6 Kết quả thực nghiệm 79
Kết luận chung về thực nghiệm 83
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 85
Trang 92 Kiến nghị 86
2.1 Đối với các cơ quan chủ quản 86
2.2 Đối với địa phương 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 92
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Môi trường của Việt Nam hiện đang bị cạn kiệt về tài nguyên rừng, khoáng sản; suy thoái tài nguyên đất; ô nhiễm và suy kiệt tài nguyên biển; ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; chất độc do chiến tranh để lại gây hậu quả nặng nề; dân số tăng nhanh và phân bố không đều gây sức ép lớn với môi trường;…
Trước tình hình đó, bảo vệ môi trường đã và đang trở thành mối quan tâm mang tính toàn cầu Giáo dục bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững là một trong các nhiệm vụ giáo dục quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngày 17 tháng 10 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1363/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị số/2005/CT-BGD&ĐT về “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường”, xác định nhiệm vụ trọng tâm của Giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng các hình thức phù hợp qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng nhà trường xanh - sạch - đẹp
1.2 Theo số liệu thống kê,tính đến đầu năm 2008, cả nước có gần 7 triệu học sinh tiểu học, khoảng 323.506 GV tiểu học với gần 15.028 trường
Trang 11tiểu học Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào tạo các em trở thành công dân tốt cho đất nước Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học tức là làm cho gần 10% dân số hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các
em biết và thực hiện được tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, từng bước tiến tới trong tương lai, ta có cả một thế hệ biết và hiểu về môi trường, sống và làm việc vì môi trường, thân thiện với môi trường
1.3 Do đặc trưng của môn học, môn Đạo đức có nhiều lợi thế trong việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học Cụ thể là: Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được đề cập thông qua các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp trong mối quan hệ của các em với môi trường xung quanh; Tiếp cận giáo dục bảo vệ môi trường cho các em thông qua giáo dục Quyền trẻ em; Giáo dục bảo vệ môi trường gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực của học sinh trên cơ sở phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và
xã hội
1.4 Thực tế cho thấy, việc giáo dục thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong những năm qua dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế Học sinh còn thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xả rác bừa bãi, không tôn trọng môi trường…
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục
bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học ” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trang 123.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
5.1.3 Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh cuối bậc tiểu học bao gồm học sinh các lớp 4-5
- Việc nghiên cứu thực trạng, khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất được tiến hành ở một số trường tiểu học trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6 Nh m phương pháp nghiên cứu u n
Trang 13Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nh m phương pháp nghiên cứu th c ti n
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
6 Phương pháp thống ê toán h c
Để xử lý số liệu thu được thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông
qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông
qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
- Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục bảo vệ môi
trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CUỐI
BẬC TIỂU HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở Liên Xô cũ, hai tác giả OR.Ecmôlôvic và I.V.Xemênôp nghiên cứu hình thức và phương pháp GDMT thông qua các môn học ở trường phổ thông.Cả hai đều nhấn mạnh đến việc tổ chức công tác ngoại khóa về bảo vệ tự nhiên như thành lập các nhóm “Tuần tra xanh”, “Người bạn xanh trong nhà trường”
Một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia…đã xây dựng các tài liệu
về phương pháp GDMT trong nhà trường phổ thông
.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, vào những năm 80, nội dung GDMT được đưa vào các trường phổ thông Năm 1995,dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt Nam giai đoạn I 1996 – 1998 (VIE/95/041)và giai đoạn II ( VIE/98/018) góp phần thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp GDMT
Các tài liệu Thiết kế mẫu một số Môđun Giáo dục môi trường của Bộ Giáo dục
và Đào tạo theo Dự án VIE/98/018, tài liệu Giáo dục môi trường – tài liệu đào tạo
và bồi dưỡng giáo viên theo dự án phát triển giáo viên tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học tập về Giáo dục môi trường ở trường tiểu học các tỉnh miền Trung của nhóm tác giả mà chủ biên là TS Bùi Văn Dũng, giảng viên trường Đại học Vinh … là cơ sở để Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng bộ tài liệu Giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học cấp tiểu học thực hiện dạy trong chương trình tiểu học từ học kì 2, năm học 2008-2009 Ngoài ra, một số lượng khá lớn các luận văn Đại học, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ của
Trang 15sinh viên, học viên cao học,nghiên cứu sinh nghiên cứu vấn đề này như: Thiết kế môđun GDMT cho học sinh đầu bậc tiểu học thông qua khai thác nội dung SGK môn Tự nhiên xã hội ( Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Nhung); GDMT cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp (Luận án Tiến sĩ của Huỳnh Thị Thu Hằng); Xác định hình thức và phương pháp GDMT qua môn Địa
lý ở trường phổ thông Việt Nam (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hằng) Như vậy, vấn đề GDMT cho học sinh các trường phổ thông nói chung và các trường tiểu học nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, qua các tài liệu Giáo dục bảo vệ môi trường ở các môn học nói chung và phân môn Đạo đức nói riêng , chúng tôi nhận thấy còn thiếu vắng sự phân loại theo giai đoạn giáo dục ở tiểu học Bỡi lẽ,chỉ có như vậy mới có thể đưa ra những biện pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của từng giai đoạn ở lứa tuổi tiểu học.Trên
cơ sở kế thừa và phát triển các nội dung nghiên cứu về GDMT của nhiều nhà
nghiên cứu, chúng tôi vận dụng vào việc đề xuất “Một số biện pháp giáo dục bảo
vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học”
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
2 Môi trường và bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Môi trường:
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, môi trường là “ toàn
bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội nói chung , trong đó có con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật”
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
có quan hệ mật thiết với nhau,bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống , sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật ( Điều 3,Luật Bảo vệ môi trường 2005)
Trang 16Từ các định nghĩa trên, các khái niệm về môi trường còn được hiểu theo các nghĩa khác nhau nhưng tựu trung lại không nằm ngoài nội dung của định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường
Năm 1981,UNESCO đưa ra khái niệm về môi trường như sau:
“Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo
ra xung quanh mình, trong đó,con người sinh sống và lao động đã khai thác tài nguyên tự nhiên hay nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên của con người”[16,7]
“Môi trường là tổng thể các điều kiện ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân hoặc dân cư Tình trạng của môi trường quyết định trực tiếp chất lượng
và sự sống còn của cuộc sống”[23,9]
Theo nghĩa rộng, môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới mọi vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống Bất cứ một vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống nào cũng tồn tại và biến đổi trong môi trường nhất định
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường
và thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường , lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn,chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Môi trường có chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở…cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác
Trang 17Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên, khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì
Chức năng là không gian sống của môi trường thể hiện:
Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm và giá trị của nó trong xã hội
- Môi trường là nơi chứa đựng,đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải.Các chất thải này bị các quá trình vật lí, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ,vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên, chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Trang 18
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất
lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể tăng không gian sống
cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của
các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và
nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên
nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục
hồi
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các
loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lí, hóa
học, sinh học tồn tại ngoài muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu
tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không
khí, động vật, thực vật, đất, nước…Môi trường tự nhiên cho ta không khí để
thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người
các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa
MÔI TRƯỜNG
Chứa đựng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 19đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước,quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,…Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, còn có môi trường nhân tạo, đó là bao gồm tất cả các nhân
tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ô
tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo…
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
và bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và các hoạt động sản xuất, xây dựng môi trường xã hội với các mối quan hệ tốt đẹp đảm bảo phát triển bền vững và lợi ích lâu dài cho các thế hệ hôm nay và mai sau
1.2.1.2 Bảo vệ môi trường:
Trang 20Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển, việc khai thác các nguồn tài nguyên tăng lên nhanh chóng, đã làm cho nhiều khu rừng, nhiều phong cảnh đẹp bị phá huỷ
Từ đó mới xuất hiện thuật ngữ “ bảo vệ tự nhiên”
Khái niệm này được giải thích là: “ Ý muốn chung hướng tới việc bảo
tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng”
Vì vậy, bảo vệ thiên nhiên được coi là bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt Từ đó, người ta bắt đầu xây dựng những khu rừng cấm để nhằm bảo vệ toàn vẹn các điều kiện tự nhiên của những khu vực nhất định
Tuy nhiên sự phát triển của xã hội không chỉ dừng lại đó Sự bùng nổ dân số đã làm tăng nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên Sự phát triển kinh tế- xã hội đã đi cùng với sự ô nhiễm không khí, nước, đất Trong khi đó khả năng chịu đựng của trái đất có giới hạn Nên việc bảo vệ tự nhiên bằng cách “giữ gìn” không còn phù hợp nữa Chính vì thế khái niệm bảo vệ thiên nhiên được thay thế bằng khái niệm bảo vệ môi trường Khái niệm này rộng hơn bởi vì trong khái niệm MT có cả MT tự nhiên và MT nhân tạo Do đó bảo vệ MT ngày nay mang một nội dung mới, mở rộng hơn, phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn thế giới, bao gồm:
- Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái
Sử dụng hợp lí có nghĩa là sử dụng nguồn tài nguyên một cách tiết kiệm, không lãng phí và có hiệu quả Sử dụng hợp lí còn là việc sử dụng theo một phương án tối ưu, dựa trên cơ sở các quy luật phát triển của MT để có thể khai thác sử dụng các tài nguyên có lợi nhất và MT cũng tốt lên hơn
Trang 21- Cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt Mục đích của cải tạo là để phục hồi và nâng cao chất lượng của MT Ngày nay, nhiệm vụ cải tạo phục hồi các cảnh quan trở thành các nhiệm vụ rất quan trọng, bởi vì các cảnh quan tự nhiên đã bị con người khai thác từ lâu
- Chống ô nhiễm và suy thoái MT Bởi MT ô nhiễm do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra đang ngày càng trầm trọng Sự ô nhiễm nặng đang làm cho MT bị suy thoái, bị phá huỷ đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sức khoẻ và sự phát triển của con người
và mọi sinh vật
- Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm Sinh vật hay những thành viên quan trọng của MT mà sự tồn tại của chúng còn đảm bảo giữ cho hệ sinh thái được cân bằng ổn định
- Nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố MT Bởi xét cho cùng hoạt động của con người là nguyên nhân gây ra lũ lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, lở núi, tai nạn giao thông,
Nói tóm lại, BVMT như lời kêu gọi sự quan tâm thích đáng và hợp lí tới MT Ngay lập tức phải hợp tác với nhau một cách đầy thiện ý trong việc
sử dụng, quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học,
sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm MT
2.2 Giáo dục và giáo dục bảo vệ môi trường cho h c sinh
1.2.2.1 Giáo dục
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,làm cho đối tượng ấy dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [13,394]
Trang 22Như vậy, có thể nói giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức ,hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức,năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại
Theo từ “Giáo dục” tiếng Anh - “Education” – vốn có gốc từ tiếng La tinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra” Có thể hiểu “giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục”
Theo nghĩa rộng, giáo dục bao gồm việc dạy và học ,đôi khi, nó cũng
mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến kiến thức, truyền thụ sự
suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân,đánh thức trí tuệ của mỗi người Hay nói cách khác, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài: từ nhà trường, gia đình, xã hội, từ môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo Ví như, ảnh hưởng của các hoạt động
đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường, ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình, ảnh hưởng của vở kịch, những cuốn phim, những tin tức trên màn hình, ảnh hưởng của những sách báo, tạp chí, ảnh hưởng của những hoạt động tham quan, du lịch những phong cảnh tự nhiên, di tích lịch sử, văn hóa [8,21]
Theo nghĩa hẹp,giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới thế
hệ trẻ về mặt đạo đức, tư tưởng và hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ và những thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội
Trang 23Theo đó, giáo dục trước hết là sự tác động của những nhân cách này tới những nhân cách khác, tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục cũng như tác động của những người được giáo dục với nhau Để giáo dục nhân cách con người, cần xây dựng được môi trường nhà trường, môi trường
xã hội lành mạnh, đồng thời cần duy trì ,tân tạo môi trường tự nhiên và sáng tạo ra môi trường nhân tạo có tính thẩm mĩ cao
1.2.2.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho HS
GDBVMT là tiền đề của sự phát triển bền vững.Vì GDBVMT là làm cho từng người và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của MT tự nhiên
và nhân tạo, có được tri thức thái độ và kĩ năng thực tế để tham gia có hiệu quả và có trách nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề MT và quản lí chất lượng MT
Hiện nay trên các tài liệu về giáo dục tồn tại rất nhiều định nghĩa về GDBVMT.Cách trình bày các định nghĩa nói chung rất đa dạng Song nếu xét từ mục tiêu GDBVMT được nêu trong định nghĩa thì có thể phân chia thành 2 loại định nghĩa sau đây:
Thứ nhất, GDBVMT là quá trình hình thành cho người học những hiểu biết, tri thức về MT và các vấn đề MT liên quan Đại diện cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa về GDBVMT được nêu trong luật GDMT của Mỹ được ban hành vào năm 1970: GDBVMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với MT tự nhiên và MT xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật phát triển đô thị và nông thôn có ảnh hưởng đến MT con người như thế nào
Thứ hai, GDBVMT là quá trình không chỉ hình thành ở người học những hiểu biết về MT và những vấn đề liên quan mà còn hình thành ở họ
Trang 24những thái độ và hành động giải quyết các vấn đề MT, bảo vệ và cải thiện
MT Đại diện cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa được đề cập tại hội thảo“GDBVMT trong chương trình của trường học” của hiệp hội quốc tế về Bảo vệ Tự nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên ( IUCN) năm 1970: GDBVMT
là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với MT tự nhiên và MT xã hội bao quanh con người Hơn nữa, GDBVMT cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động có liên quan tới chất lượng MT[7]
Như vậy, việc GDBVMT cần phải được tiến hành sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành, từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng tới những người làm công tác chỉ đạo quản lí, nhà chiến lược kinh tế xã hội
Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục BVBVMT của con người là một trong các nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm và suy thoái môi trường Do vậy,cần phải giáo dục cho mọi người biết và hiểu về môi trường, tầm quan trọng của môi trường trong sự phát triển bền vững và làm thế nào
để BVMT Do đó, giáo dục BVMT phải là một nội dung giáo dục quan trọng nhằm đào tạo con người có kiến thức về môi trường, có đạo đức về môi trường, có năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề môi trường trong thực tiễn
.2 Biện pháp và biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho h c sinh:
Trang 25Như vậy có thể hiểu biện pháp là cách thức,phương pháp để thực hiện giải quyết một vấn đề nào đó còn vướng mắc,chưa đạt hiệu quả như mong đợi
1.2.3.2 Biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh:
i) Biện pháp giáo dục:
Theo bachkhoatoanthu.gov.vn:Biện pháp giáo dục là cách thức tổ chức nội dung giáo dục nhằm tác động đến tinh thần người học hoặc nhóm người học làm cho họ có những phẩm chất năng lực theo yêu cầu đã định
Biện pháp giáo dục là cách thức tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần ,thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra
ii) Biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường:
Dựa trên khái niệm chung về biện pháp và biện pháp giáo dục,chúng tôi đưa ra khái niệm về biện pháp GDBVMT như sau:
- Biện pháp GDBVMT là cách thức tổ chức nội dung GDBVMT cho
HS nhằm hình thành ở các em nhận thức ,thái độ và hành vi đúng đắn về môi trường
- Biện pháp GDBVMT là cách thức tổ chức thông qua các hoạt động giáo dục nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị ,tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái
Các biện pháp thực hiện phải nhằm vào việc vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào giữ gìn ,bảo tồn,sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa ,nó bao hàm cả việc đạt được những kĩ năng ,có những động lực và cam kết hành động, dù
Trang 26với tư cách cá nhân hay tập thể ,để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh
1.3 Khái quát về môn Đạo đức ở các lớp cuối bậc tiểu học:
Mục tiêu môn h c:
Môn Đạo đức ở Tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và chuẩn mực xoay quanh theo chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các quan hệ và tình huống đơn giản, hành vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các
em với bản thân; với người khác; với công việc; với cộng đồng, đất nước, nhân loại; với môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực đó
- Bước đầu hình thành kĩ năng nhận xét,đánh giá hành vi của bản thân
và những người xung quanh cuộc sống
- Bước đầu hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương, tôn trọng con người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu
- Do đặc trưng môn học, môn Đạo đức có nhiều lợi thế trong việc giáo dục BVMT cho học sinh tiểu học (HS tiểu học).Cụ thể:
+ Nội dung giáo dục BVMT được đề cập thông qua các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp trong mối quan hệ của các em với môi trường xung quanh
+ Tiếp cận giáo dục BVMT cho các em thông qua giáo dục Quyền trẻ
em
+ Giáo dục BVMT gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực của HS trên
cơ sở phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 271.3.2 Nội dung, chương trình môn học:
- Toàn bộ chương trình gồm 35 tiết/năm học, được cấu trúc như sau: + Phần cứng: 14 bài x 2 tiết = 28 tiết
+ Phần mềm: Dành cho địa phương = 3 tiết
+ Giai đoạn thứ nhất(từ lớp 1 đến lớp 3): Chủ yếu giáo dục các hành
vi có tính luân lý, có tính giao tiếp ở gia đình và nhà trường Nội dung được thể hiện trên cả kênh hình và kênh chữ; ngôn ngữ diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng,
dễ hiểu
+ Giai đoạn 2 (lớp 4, 5): Nội dung các chuẩn mực được mở rộng về phạm vi (quê hương, đất nước, nhân loại), bước đầu giáo dục cho HS ý thức, hành vi của người công dân, một số phẩm chất đặc trưng
Trang 28- Phương pháp này có tác dụng quan trọng nhất là giúp HS hình thành tinh thần hợp tác trong học tập, tạo cơ hội cho mọi HS đều được tham gia vào hoạt động học tập
- Phương pháp động não có thể dùng để lí giải bất kì một vấn đề đạo đức nào Song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế cuộc sống của HS
- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn, lí tưởng là bằng một từ hay một câu thật ngắn
- Tất cả mọi ý kiến đều được GV hoan nghênh, chấp nhận, không nên phê phán, nhận định đúng, sai
- Cuối cùng,GV nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của tất cả HS
b) Phương pháp đóng vai
- Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành (làm thử) một cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định và trong môi trường an toàn
- Phương pháp này có ưu điểm: HS thực hành những kĩ năng ứng xử trong môi trường an toàn trước khi áp dụng vào thực tiễn; gây hứng thú và chú ý đối với HS; tạo điều kiện phát huy tính sáng tạo của HS; khích lệ HS thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tích cực; có thể gây tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của HS qua các vai diễn
- Trong phương pháp đóng vai, tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, lứa tuổi, trình độ HS, điều kiện, hoàn cảnh lớp học; cách nêu tình huống phải thật ngắn gọn nhưng dễ hiểu và có yêu cầu rõ ràng; tình huống để mở, không cho trước lời thoại; người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề; GV nên khích lệ những HS nhút nhát cùng tham gia; nên có hóa trang đơn giản để tăng tính hấp dẫn
Trang 29c) Phương pháp trò chơi:
- Trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS “học mà chơi, chơi mà học” bằng cách thực hiện những hành động, những thái độ, những việc làm phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức đã học
Phương pháp trò chơi có ưu điểm là tăng cường khả năng chú ý của HS; nâng cao hứng thú của HS, góp phần giải trừ mệt mỏi, căng thẳng trong học tập; tạo môi trường cởi mở, thân thiện; tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS với HS và giữa GV với HS
- Khi sử dụng phương pháp trò chơi cần lưu ý: Trò chơi phải dễ tổ chức,dễ thực hiện, phải phù hợp với chủ đề đạo đức, kinh nghiệm sống của
HS, với quỹ thời gian, điều kiện thực tế của lớp học, không gây nguy hiểm cho HS; HS phải nắm được qui tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi; phải qui định rõ thời gian, địa điểm chơi; phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tự quản trong các khâu: Chuẩn bị, tiến hành chơi, nhận xét, đánh giá sau khi chơi; luôn thay đổi các hình thức chơi
để tránh nhàm chán.Cuối cùng, sau khi chơi,GV cần cho HS thảo luận để rút
ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi
d) Phương pháp thảo luận nhóm:
- Thảo luận nhóm là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập.HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề đạo đức nào đó
Phương pháp thảo luận nhóm có tác dụng làm cho kiến thức được tăng tính khách quan khoa học, kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ, nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; rèn luyện cho HS một số
kĩ năng: biết lắng nghe, phê phán, tự nhận thức, xác định giá trị; làm cho HS mạnh dạn hơn trong giao tiếp
Trang 30- Khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm cần lưu ý: số lượng khoảng 2-6 HS/nhóm, không nên quá đông, dễ gây mất trật tự; vấn đề thảo luận phải thiết thực,gắn với chủ đề bài học, gần gũi với kinh nghiệm sống của HS;câu hỏi thảo luận phải vừa sức, ngắn gọn, dễ hiểu,những câu hỏi khó cần có câu hỏi gợi ý; tạo không khí thân thiện,tin tưởng để các em phát biểu
ý kiến một cách tự nhiên, tích cực, tránh gây tâm lí căng thẳng giả tạo hoặc đùa cợt; nhóm trưởng và thư kí luôn luân phiên để HS tập tự quản; khi HS thảo luận, GV cần quan sát, giúp đỡ, động viên, khen ngợi kịp thời khích lệ các em thi đua lành mạnh
e) Phương pháp kể chuyện:
- Phương pháp kể chuyện là phương pháp dùng lời kể để thuật lại truyện kể.Truyện kể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: sách báo, cuộc sống (những tấm gương người tốt, việc tốt,…)
- Phương pháp này thường được sử dụng nhằm giới thiệu cho HS một biểu tượng cụ thể về chuẩn mực hành vi và tiến hành vào đầu tiết học, sau khi kiểm tra bài cũ.Ngoài ra, phương pháp trên còn dùng để minh họa cho một chuẩn mực hành vi, được sử dụng tùy theo thời điểm cần thiết
- Khi sử dụng phương pháp kể chuyện cần chú ý những điều sau đây: + Đảm bảo tính khoa học: trung thực với nội dung cốt truyện
+ Đảm bảo tính nghệ thuật: ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh, gợi cảm, tự nhiên, sinh động; nhập vai, hòa mình vào truyện kể với giọng nói, dáng điệu phù hợp kết hợp với các đồ dùng trực quan
f) Phương pháp giải quyết vấn đề:
- Giải quyết vấn đề là một kĩ năng cơ bản.Đó là khả năng xem xét, phân tích những vấn đang tồn tại và xác dịnh các bước nhằm giải quyết các tình huống do vấn đề đặt ra Phương pháp giải quyết vấn đề sẽ giúp HS có
Trang 31khả năng vạch ra những cách thức giải quyết tình huống cụ thể gặp phải trong đời sống hằng ngày
- Khi sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề cần lưu ý : vấn đề, tình huống được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu bài học và gắn với thực tế; đảm bảo tính vừa sức đối với HS; phải kích thích được sự sáng tạo của HS; cách giải quyết vấn đề phải là giải pháp có lợi nhất
g) Phương pháp đề án:
- Phương pháp đề án có thể được vận dụng dưới nhiều hình thức Tư tưởng chủ đạo là HS xây dựng một kế hoạch học tập, rèn luyện thông qua những việc làm cụ thể
- Phương pháp đề án giúp HS có điều kiện thực hành ngay những kiến thức đã học; dễ đánh giá kết quả; HS có cơ hội rèn luyện nhiều kĩ năng như: giao tiếp, ra quyết định, giải quyết vấn đề, đặt mục tiêu,…
- Khi sử dụng phương pháp đề án cần chú ý những vấn đề sau:
+ Nội dung đề án phải rõ ràng, cụ thể, dễ thực hiện
+ Cách giao nhiệm vụ cần rõ ràng, yêu cầu phải phù hợp với khả năng thực hiện và điều kiện thực tế của HS; đặc biệt, phải hướng dẫn thực hiện một cách tỉ mỉ
+ Nghiệm thu kết quả và đánh giá đề án cần dựa trên sự cố gắng của
HS, nhóm HS Cần khuyến khích, nêu gương những HS có cố gắng, nỗ lực hoàn thành đề án của mình
h) Phương pháp điều tra:
- Điều tra là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu thực trạng những vấn đề thực tế xung quanh lien quan đến chủ đề đạo đức
- Khi điều tra, HS phải thâm nhập, nghiên cứu thực tiễn, quan sát hiện trạng để lấy số liệu cần thiết, xác định nguyên nhân, đề ra những biện pháp giải quyết,…
Trang 32- Tác dụng của phương pháp điều tra là giúp HS vận dụng kiến thức vào cuộc sống, mở rộng hiểu biết, hòa nhập cộng đồng xã hội, gắn bài học với thực tế Qua đó, HS có thái độ, trách nhiệm đối với những vấn đề xã hội đang quan tâm giải quyết, định hướng cho việc thực hiện hành vi đạo đức của mình một cách thích hợp, mang tính tự giác cao
- Khi sử dụng phương pháp điều tra cần lưu ý những yêu cầu sau: + Nội dung điều tra phải phù hợp với bài Đạo đức, với khả năng của HS; công việc điều tra phải mang ý nghĩa xã hội nhất định để có tác dụng giáo dục thiết thực; cần có phiếu điều tra,mẫu báo cáo phát cho HS; có biện pháp kiểm tra việc thực hiện của HS (kết hợp với gia đình, các GV khác, các lực lượng xã hội có liên quan) để giúp HS giải quyết khó khăn khi điều tra, uốn nắn lệch lạc; đánh giá kịp thời, nghiêm túc
i) Phương pháp rèn luyện:
- Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho HS thực hiện những hành vi, công việc trong cuộc sống, sinh hoạt lao động, học tập hàng ngày theo bài học Đạo đức
- Phương pháp rèn luyện có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện thói quen hành vi đúng chuẩn mực của HS Đối với HS tiểu học, thói quen phải được xác lập thường xuyên để tạo tính bền vững Đó là cơ sở thuận lợi
để hình thành những nét tính cách tốt phù hợp với yêu cầu đạo đức xã hội
- Khi sử dụng phương pháp rèn luyện cần chú ý những yêu cầu sau:
+ Nội dung rèn luyện phải phù hợp với bài Đạo đức, với đặc điểm tâm sinh lí của HS, có tính khả thi
+ Việc tổ chức rèn luyện cho HS phải thường xuyên, có hệ thống vì như vậy mới hình thành thói quen, tình cảm đạo đức bền vững
+ Cần tạo điều kiện cho HS tự giác, tự quản, trung thực trong rèn luyện
Trang 33+ Thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá để nâng cao ý thức tự quản, trung thực, tránh việc HS làm đối phó, dối trá
+ Ngoài các phương pháp trên, cần kết hợp với các phương pháp đàm thoại, trực quan, nêu gương, khen thưởng, liên hệ,…
1.3.3.2 Hình thức tổ chức dạy học môn Đạo đức:
- Hình thức dạy học môn Đạo đức là những cách thức hoạt dộng của
GV và HS trong quá trình dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học Đạo đức, nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học môn Đạo đức và giáo dục đạo đức cho HS.Với các hình thức sau:
a) Hình thức bài lớp (giờ học trên lớp):
+ Làm việc cá nhân: tự học, tự làm bài tập…
+ Tự học bài cũ, làm bài tập, chuẩn bị bài mới
+ Điều tra xã hội
Trang 34+ Tham gia các hoạt động xã hội nhân ngày lễ lớn, ngày hội, lễ hội văn hóa,…ở địa phương
+ Tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tình nghĩa,…
+ Tìm hiểu tập quán, truyền thống đạo đức của địa phương(giao bài tập, thi tìm hiểu, mời nói chuyện,…)
d) Giúp đỡ riêng đối với HS cá biệt hoặc đặc biệt( có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em thiệt thòi, khuyết tật,…)
Các hình thức dạy học trên giúp cho việc gắn kết các hình thức dạy học Đạo đức với giáo dục đạo đức theo chu trình khép kín,kết hợp:
+ Trước, trong, sau giờ học
+ Học và hành
+ Nhà trường- Gia đình- Xã hội
.4 Đánh giá ết quả h c t p môn h c của h c sinh
1.3.4.1 Đánh giá là gì?
Đánh giá kết quả dạy học Đạo đức thực chất là đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HS vì đó là sản phẩm trực tiếp của quá trình dạy học, giáo dục đạo đức
1.3.4.2 Căn cứ để đánh giá:
+ Dựa vào mục tiêu:( bài học, môn học)
+ Môi trường, điều kiện, hoàn cảnh sống để HS bày tỏ thái độ, thực hiện hành vi
1.3.4.3 Yêu cầu khi đánh giá:
Đảm bảo tính giáo dục trên các nguyên tắc
+ Khách quan
+ Công bằng:
+Có quan điểm toàn diện và cụ thể, kết hợp các lực lượng xã hội + Có quan điểm phát triển
Trang 35+ Kết hợp thời điểm đánh giá và quá trình học tập, rèn luyện
a)Đánh giá tri thức:
Tri thức có vai trò định hướng thái độ, hành vi của HS,do đó phải tích cực đánh giá tri thức dưới các hình thức
+ Kiểm tra nói: Thường sử dụng khi kiểm tra bài cũ, nhắc lại kiến thức có liên quan đến bài mới
+ Kiểm tra viết: Thường dùng trong kiểm tra học kì, năm học.Có 2 hình thức kiểm tra:
* Tự luận(chủ quan):Trả lời các câu hỏi về nội dung bài học,sự cần thiết,cách thực hiện chuẩn hành vi
* Trắc nghiệm(khách quan):Có nhiều dạng
Điền khuyết:Điền vào chỗ chấm những từ thích hợp
Ghép đôi:Cho sẵn 2 cột kiến thức,ghép(cặp đôi,nối)các kiến thức ở cột B với thông tin ở cột A cho phù hợp
Đúng, sai:Đưa ra những tri thức đúng và sai, HS điền chữ
Đ(đúng),chữ S(sai) vào ô tương ứng
b) Đánh giá thái độ,tình cảm đạo đức:
Thái độ,tình cảm là một trong các mục tiêu của dạy học Đạo đức,nó có tác dụng kích thích,thúc đẩy nhận thức,thực hiện chuẩn mực hành vi.Do đó cần được đánh giá đúng mực
+ Kiểm tra nói:Thường sử dụng dạng câu hỏi để khẳng định thái độ + Kiểm tra viết:
* Tự luận:Đưa ra cách ứng xử,yêu cầu HS bày tỏ thái độ
* Phiếu học tập:Đưa ra một số câu dẫn,yêu cầu HS bày tỏ thái độ ở các mức khác nhau
Trang 36* Đánh giá thái độ thông qua quan sát hành vi của HS, qua việc làm,ứng xử hằng ngày phát hiện động cơ, tình cảm,thái độ của HS Đồng thời,kịp thời uốn nắn thái độ, động cơ không đúng
c) Đánh giá hành vi đạo đức của học sinh:
- Kiểm tra nói:Yêu cầu HS liên hệ bản thân,kể lại những việc làm của mình sau các chủ đề đã học để đủ độ tin cậy
- Kiểm tra viết: Yêu cầu như trên
- Quan sát hành vi của HS thông qua luyện tập trên lớp, tham gia các hoạt động của trường, lớp, khi ở nhà và khi sinh hoạt cộng đồng Để đánh giá khách quan, cần kết hợp với phụ huynh, phụ trách Đội, GV khác và tập thể lớp
- Tri giác của HS tiểu học thường gắn với hành động,với hoạt động thực tiễn những gì phù hợp nhu cầu HS,những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của chúng, những gì giáo viên (GV) chỉ dẫn thì mới được các em tri giác tốt Vì thế,trong giáo dục nên vận dụng các
Trang 37điều kiện sau đây: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”
- Tính xúc cảm thể hiện rất rõ khi các em tri giác Các em tri giác trước hết những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em những xúc cảm.Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn,dễ dàng gây ấn tượng tích cực cho chúng.Vì vậy, theo nhà tâm lý học V.A Cruchexki thì những bức tranh có màu sắc rực
rỡ trong sách có ảnh hưởng không tốt đến học tập kĩ xảo, làm chậm tốc độ đọc Bỡi lẽ, những chi tiết riêng biệt khêu gợi,kích thích lại phỏng đoán các
từ đang học,làm chậm tốc độ đọc Khi đã có kĩ xảo đọc sơ đẳng , thì lúc ấy, những tranh ảnh minh họa bắt đầu ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ
- Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp
và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác mang tính chất của sự tri giác có tổ chức Trong phát triển tri giác, vai trò của GV tiểu học rất lớn GV là người hàng ngày không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét, không chỉ dạy nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe tổ chức một cách đặc biệt hoạt động của HS để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết phát hiện những dấu hiệu, thuộc tính, bản chất của sự vật và hiện tượng… Điều này cần được thực hiện không chỉ ở trong lớp(giới thiệu đồ dùng dạy học, hướng dẫn thực hành, hướng dẫn học vẽ, lao động) mà cả khi tham quan, dã ngoại
Trang 38gợi cho các em xúc cảm tích cực Tuy vậy, HS tiểu học rất mẫn cảm,những
ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn ở vỏ não, kết quả là sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được chú ý không chủ định cho nên GV cần làm cho giờ học hấp dẫn và lí thú Tuy vậy, cần rèn cho HS chú ý cả đối với sự vật, công việc không gây được chú ý trực tiếp, chưa phải
lí thú lắm
- Khả năng phát triển của chú ý có chủ định bền vững, tập trung ở HS tiểu học trong quá trình học là rất cao Bản thân của quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí
Sự chú ý có chủ định được phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính xã hội cao, cùng với sự trưởng thành ấy về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập
1.4.1.3 Trí nhớ:
- Nhìn chung, trẻ em tiểu học có trí nhớ tốt, cả ghi nhớ chủ định và không chủ định đều đang phát triển Ở cuối bậc tiểu học,ghi nhớ chủ định của các em phát triển mạnh.Việc ghi nhớ các tài liệu trực quan hình tượng có nhiều hiệu quả Khả năng ghi nhớ từ ngữ rất tốt Tuy nhiên, việc ghi nhớ các
từ ngữ cụ thể vẫn có nhiều hiệu quả hơn việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ trừu tượng
Trang 39- Theo các nhà tâm lí học, tư duy của trẻ em ở bậc tiểu học chuyển dần từ trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái quát nhờ vào khả năng ngôn ngữ của các em Tư duy ở cấp độ cao được xác lập khi trẻ em đã thay thế công cụ tư duy từ vật thật, hình ảnh cụ thể sang cấp độ tư duy ngôn ngữ
- Khi hình thành khái niệm, HS dựa vào những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ và quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng Các em đã biết xếp loại các khái niệm, phân biệt những khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, đặt mối quan hệ giữa các khái niệm về giống và loài Trên cơ sở này,các em đã nắm được phương pháp phân loại các đối tượng, kĩ năng xây dựng,chứng minh, kết luận và hệ thống lập luận cũng được phát triển
1.4.2 Đặc điểm về tình cảm
- Tình cảm của HS tiểu học mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Tình cảm đó dược biểu hiện trong quan hệ đời sống hàng ngày và cả trong hoạt động tư duy của các em Tình cảm đời sống thể hiện ở việc các
em chăm lo đến kết quả học tập, hài long khi có kết quả tốt và ngược lại,các
em sẽ buồn bực, lo lắng nếu như kết quả không cao, tình cảm đời sống còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa các em với gia đình và trong giao lưu với những người xung quanh Tình cảm trí tuệ của các em thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu thế giới sự vật xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình
- Tóm lại, HS tiểu học là lứa tuổi mà nhân cách các em đang định hình
và phát triển Do đó, các em dễ tiếp thu những giá trị định hướng mới Các
em hiếu động và rất thích tham gia các hoạt động xã hội Đây là những thuận lợi để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục BVMT
4 Đặc điểm về hành vi
Trang 40- HS tiểu học nhanh chóng bắt chước những đánh giá, hành vi… của những người lớn có uy tín đối với các em (đặc biệt là GV và bố mẹ) để lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp trong các quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống.Về sau, hình thành ở các em kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh dựa theo những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật trong quan hệ với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội, môi trường tự nhiên được hình thành Tuy nhiên, cuộc sống nhà trường luôn đặt trẻ vào những cuộc “đấu tranh” giữa ý muốn, ham thích cá nhân và sự cần thiết phải tuân theo các chuẩn mực, quy tắc – Do khả năng kiềm chế còn hạn chế, tính chủ định dang được hình thành ,nên có lúc, dưới sự kích thích quá mạnh của ý muốn cá nhân, trẻ đã bỏ qua các yêu cầu đạo đức khi hành động
1.5 Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Đạo đức cho học sinh cuối bậc tiểu học
5 S cần thiết phải giáo dục bảo vệ môi trường thông qua dạy h c môn Đạo đức cho h c sinh cuối b c tiểu h c
Bậc tiểu học là bậc học có quy mô lớn nhất trong hệ thống giáo dục quốc gia với 6 745 014 HS và 15 051 trường tiểu học bao gồm cả công lập
và dân lập ( nguồn thống kê số liệu của Bộ Giáo Dục và Đào tạo năm học 2008-2009) Nhà trường tiểu học với mạng lưới phân bố rộng khắp, đặc biệt đối với vùng núi được phân bố đến từng làng bản với các điểm trường Do
đó, GDBVMT cho HS tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu GDBVMT trong hệ thống giáo dục quốc dân.HS tiểu học có đặc điểm hồn nhiên, hiếu động, ham học hỏi và hay bắt chước Những nội dung của GDBVMT gần gũi với đời sống xung quanh các em Do đó, dễ làm các em nhớ lâu Các em cũng là lứa tuổi mà trong mối quan hệ với người thân trong