Để tạo điều kiện cho các trường làm tốt công tác HS- SV, Bộ GD và Đào tạo đã xác định công tác HS - SV phải hướng vào thực hiện mục tiêu đào tạo chung của các trường là hình thành nhân c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 06.14.05
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh đạo Nhà trường, Phòng Sau đại học, khoa Giáo dục Trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hữu Cát - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá tình học tập, nghiên cứu
Những nội dung học tập được ở trường thông qua tài liệu, được các nhà giáo lên lớp, hướng dẫn nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp đã giúp tôi nâng cao nhận thức để hoàn thiện đề tài:“Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục NSVH của SV ở KTX Trường Đại học Vinh’’
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả: Phạm Thị Quỳnh Như
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của luận 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của đề tài 6
1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 NSVH của SV 8
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý GD NSVH cho SV 14
1.2.3 Biện pháp, biện pháp quản lý giáo dục NSVH 17
1.3.Sự hình thành NSVH cho SV ở trường ĐH 19
1.3.1.Vài nét tâm lý lứa tuổi SV 19
1.3.2.Sự hình thành NSVH của SV ở KTX tại các trường ĐH 22
1.4 Nội dung quản lý công tác giáo dục NSVH của SV ở KTX 24
CHƯƠNG 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài 30
2.1 Vài nét về Trường Đại học Vinh 30
2.2 Sơ lược tình hình chung về KTX 35
2.3 Thực trạng NSVH của SV ở KTX Trường Đại học Vinh 37
2.4 Thực trạng về công tác quản lý giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên Trường Đại học Vinh 54
Trang 52.5 Nguyên nhân thực trạng quản lý giáo dục giáo dục NSVH của SV ở KTX
trường Đại học Vinh 69
CHƯƠNG 3: Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục NSVH của sinh viên ở KTX Trường Đại học Vinh 75
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.2 Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục nếp sống văn hóa của sinh viên nội trú Trường Đại học Vinh 76
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của SV về xây dựng NSVH trong KTX 76
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa các hoạt động quản lý NSVH của SV ở KTX, tăng cường các hoạt động thi đua, kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật 78
3.2.3 Biện pháp 3: Thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất đạo đức,năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý SV ở KTX cho cán bộ quản lý KTX 79
3.2.4 Biện pháp 4: Không ngừng cải tiến nội dung, hình thức quản lý NSVH của SV ở KTX 80
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư CSVC, phương tiện phục vụ hoạt động của SV ở KTX 81
3.2.6 Biện pháp 6: Tổ chức SV tự quản trong các hoạt động ở KTX 83
3.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường các hoạt động phối hợp giữa BQLKTX với khoa, với Đoàn TN, với gia đình SV trong việc quản lý NSVH SV ở KTX 85
3.2.8 Biện pháp 8: Đẩy mạnh hoạt động giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quản lý, tổ chức hoạt động phong trào, giáo dục NSVH của SV khối các trường Đại học, Cao đẳng trong tỉnh và ngoài tỉnh 88
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89
3.4 Khảo sát về sự cần thiết và khả thi của các biện pháp đã được đề xuất 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay nếu kỹ thuật năm trước được coi là hiện đại nhất thì năm sau đã lạc hậu Ý tưởng đào tạo ra những con người có kiến thức cơ bản vững chắc và biết sử dụng chúng với phương pháp suy luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề những tình huống mới, cần được khuyến khích Bên cạnh
đó, xu hướng thực tế hơn do nhịp độ phát triển kinh tế của Việt Nam yêu cầu nhân lực cho công nghệ mới
Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỉ mới, thế kỷ mà vấn đề nguồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt với vai trò trí tuệ con người luôn được nhắc đến Để tiếp tục phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì điều kiện tiên quyết
mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra là sự cần thiết phải khai thác nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người – những lớp người được GD và đào tạo, có tầm trí tuệ cao, tay nghề thành thạo và phẩm chất tốt đẹp là vốn quý nhất quyết định sự thành công Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương là xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân Các dân tộc phát triển bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân tất
cả các nước trên thế giới
Vì vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn coi “GD và đào tạo là quốc
Trang 8trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[46]
Trước yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay, vấn đề con người đang trở thành trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội Để tạo điều kiện cho các trường làm tốt công tác HS- SV, Bộ GD và Đào tạo đã xác định công tác HS - SV phải hướng vào thực hiện mục tiêu đào tạo chung của các trường là hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đào tạo người lao động tự chủ, sáng tạo và có kỹ thuật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có nếp sống lành mạnh, có kiến thức văn hóa, khoa học công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp, có sức khỏe, có khả năng, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, đưa đất nước tiến kịp thời đại một cách hiệu quả nhất
Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Vinh là một trong những cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành GD và nhiều ngành, nghề quan trọng khác Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên ngành Sư phạm và một số ngành thuộc lĩnh vực khác như: Kinh tế, Kỹ thuật Xây dựng, Luật nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong những năm gần đây, số lượng học sinh được tuyển vào trường ngày càng tăng, phần lớn các em đều ở xa trường, nên nhu cầu được ở trong KTX của trường cũng gia tăng Trước tình hình này, nhà trường đã đầu tư mở rộng nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng để tạo nhiều chỗ ở hơn cho các em, song vì diện tích sân bãi còn hạn hẹp nên vẫn không giải quyết được tất cả các nhu cầu xin ở KTX nhà trường Với số lượng học sinh nội trú tăng lên đột biến đã đặt ra cho công tác quản lý GD nếp sống
ăn ở, học tập, sinh hoạt… cho số lượng học sinh trên là rất lớn Điều này đòi hỏi Ban quản lý KTX và nhà trường phải xem xét lại thực trạng về công tác quản lý KTX nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý GD nếp sống văn hoá
Trang 9Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp quản
lý công tác GD nếp sống v n h a cho SV ở KTX Trường Đại học Vinh”
làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp Hy vọng và mong muốn của chúng tôi là đóng góp một phần nhỏ cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng quản lý GD nếp sống văn hóa cho SV ở KTX trong nhà trường nơi mà chúng tôi đang công tác
2 Mục đích nghiên cứu:
Từ nghiên cứu lý luận và thực ti n, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục NSVH cho SV ở KTX trường Đại
học Vinh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý công tác giáo dục NSVH cho SV ở
Trường Đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý công tác GD NSVH
cho SV ở KTX Trường Đại học Vinh
4 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả công tác quản lý GD NSVH cho SV ở KTX (nội trú) trường Đại học Vinh sẽ được nâng cao, nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lý có tính khoa học, tính khả thi và phù hợp với đặc điểm của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng NSVH cho SV và thực trạng quản lý công tác GD NSVH cho SV trong KTX trường Đại học Vinh
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GD NSVH cho SV ở KTX
Trang 106.1 Nh m các phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, để nghiên cứu tài liệu,
sách báo, tư liệu lưu trữ, báo cáo, tổng kết liên quan đến đề tài nghiên cứu 6.2 Nh m các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các sinh hoạt, hoạt động của của
SV ở KTX cũng như hoạt động quản lý GD của các CB quản lý nhằm thu thập các tư liệu bổ sung
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các SV ở KTX, các CB quản lý KTX và CB các phòng ban, các tổ chức có liên quan đến công tác HS, SV ở KTX
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu câu hỏi với 300 SV nội trú, 38 CBGV bao gồm các CB quản lý KTX, CB phòng Công tác chính trị- quản lý học sinh SV, Đoàn thanh niên, Hội SV trường và các giáo viên liên quan đến công tác HSSV ở KTX
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3.Phương pháp thống kê toán học: Nhằm xử lý số liệu thu được
+ Đề xuất được một số biện pháp quản lý công tác GD NSVH cho SV ở KTX
có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm của trường Đại học Vinh nói riêng,
sự nghiệp trồng người nói chung
8 C u tr c của luận v n:
Trang 11Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục NSVH và quản lý công tác GD
NSVH cho SV ở trường Đại học
Chương 2: Thực trạng về NSVH SV và công tác quản lý GD NSVH
cho SV ở KTX trường Đại học Vinh
Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác GD NSVH cho SV ở
KTX trường Đại học Vinh
Trang 12CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA VÀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA
CHO SV Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu v n đề
Vấn đề nghiên cứu "nếp sống" đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều tác
phẩm nghiên cứu như “Việt Nam Phong tục” của cụ Phan Kế Bính
(1875-1921) Ông đã nghiên cứu công phu về các phong tục tập quán của dân tộc
Việt Nam qua bao thăng trầm của bề dầy lịch sử 4000 năm Trong tác phẩm “
VN phong tục” của ông, hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia
tộc.Tất cả những thói quen, nếp sống của con người Việt Nam từ xưa đến đầu
thế kỉ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những
phẩm chất, cái đẹp của con người Việt Nam đồng thời cũng mạnh dạn đánh
giá, phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong nếp sống đi ngược lại thuần
phong mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc.[9] Trong tài liệu “Sửa đổi lề lối làm
việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng lối sống, nếp sống
mới, cách làm việc mới[21] Đại hội IV và V của Đảng đã đề ra đường lối xây
dựng nếp sống mới trong từng văn kiện Trong đại hội IV có ghi khái niệm
“nếp sống mới có văn hoá”, “vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra
nếp sống mới có văn hoá trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày,
vào lao động sản xuất” [46] Trong Đại hội V, văn kiện dùng khái niệm lối
sống: “Cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến và
lạc hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng và lối sống
đang di n ra hàng ngày rất phức tạp.” [46] Trong nghị quyết V ban chấp hành
Trung Ương khoá 8, Đảng ta dành riêng để bàn về lĩnh vực văn hoá Nội dung
nghị quyết gồm 6 vấn đề quan trọng thì vấn đề GD đạo đức, lối sống, nếp
Trang 13ngữ lối sống, nếp sống được nhắc đến như “tư tưởng đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá” hay như “lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh” Như vậy, vấn đề nếp sống đã được quan tâm rất sâu sắc không chỉ các nhà khoa học mà các nhà quản lý xã hội cũng rất chú trọng tới việc quản lý GD nếp sống.[46]
Ban nếp sống mới TW được thành lập năm 1980 do Ban Bí thư TW ĐCS VN trực tiếp chỉ đạo, đến năm 1989 có tên là Ban chỉ đạo NSVHTW Cả nước đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng NSVH – Gia đình văn hóa trong tình hình mới nhằm xây dựng cho cá nhân, gia đình và xã hội có nếp sống văn hóa
Nghị quyết Đại hội ĐCSVN lần thứ VII nhấn mạnh: “ Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phất triển, ổn định và cải thiện đời sống, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi người hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa [46]
Trong thời gian gần đây hàng loạt những công trình nghiên cứu về lối sống, nếp sống đã được thực hiện theo tinh thần đổi mới của ban chấp hành Trung Ương Đảng do những thay đổi rõ nét về kinh tế, xã hội đang di n ra sôi động đưa đến những biến đổi trong lối sống, nếp sống, định hướng giá trị con người Việt Nam nói chung, giới SV học sinh nói riêng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu lối sống, nếp sống ở đối tượng SV đã được công bố như sau:
- “Tổ chức tốt cuộc sống SV ở KTX nhằm GD đạo đức, lối sống cho họ” (Kỷ
yếu hội thảo định hướng giá trị GD đạo đức trong các trường ĐH; Hà Nội
Trang 14- “Đặc điểm lối sống SV hiện nay và những phương hướng, biện pháp GD lối
sống cho SV” của PGS PTS Mạc Văn Trang làm chủ nhiệm đề tài (Năm
1998, mã số B94-38-32)
- “Một số biện pháp quản lý GD nếp sống cho SV trường nội trú Trường Cao
đẳng Giao thông Vận tải 3 ” của Nguy n Văn Toàn (Luận văn thạc sĩ khoa học GD, năm 2004)
Ngoài ra một số chuyên đề bài báo viết về lối sống, nếp sống SV như:
- “Nếp sống xã hội của SV” của PTS Vũ Dũng, viện tâm lý trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia (Tạp chí ĐH và GD chuyên nghiệp, 01/1997)
- “Sinh hoạt trong KTX SV, sân chơi chưa lành mạnh” của Hồ Thu (Báo Sài
Gòn giải phóng, 24/11/2003)
Qua những công trình, tài liệu nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các tác giả đã tiếp cận về vấn đề xây dựng NSVH nhân dân đã có từ lâu, song các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý NSVH cho SV nói chung và SV ở KTX nói riêng đang còn hạn chế Và tại Trường Đại học Vinh chưa có tác giả nào đề cập Từ những bức xúc về công tác quản lý GD NSVH cho SV ở
KTX tôi mạnh dạn chọn vấn đề: Một số biện pháp quản lý công tác GD NSVH cho SV ở KTX trường Đại học Vinh để nghiên cứu Hy vọng và
mong muốn của chúng tôi là đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng quản lý GD NSVH cho SV ở KTX trường Đại học Vinh nơi mà chúng tôi đang công tác ngày một hiệu quả hơn
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Nếp sống văn hóa của SV
1.2.1.1 Văn hóa
Văn hóa do con người sáng tạo ra, đến lượt mình con người lại trở thành một sản phẩm của văn hóa, của XH Để có một sự hài hòa giữa XH, văn
Trang 15định ra những khuôn mẫu, tiêu chí văn hóa cho những con người trong cộng đồng, trong xã hội, trong một quốc gia Sự quy định ấy phải thể hiện bằng pháp chế, bằng dư luận, bằng cách tạo ra những thói quen, phong tục tập quán truyền thống
a Khái niệm văn hóa
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học Việt nam và nước ngoài nghiên cứu về văn hóa, tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và vì thế đã từng đề xuất nhiều cách khái niệm khác nhau về phạm trù “ văn hóa”:
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng nói:“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn.” [29]
Cuốn “Tìm về bản sắc Văn hóa dân tộc” của GS.VS.TSKH.Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực ti n, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [45]
Ông Federico Mayor, cựu Tổng giám đốc UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động ( của cá nhân và của các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác
Trang 16Có thể thấy sự phong phú trong cách sử dụng thuật ngữ, di n đạt với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã dùng ở một số định nghĩa nêu trên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy khái niệm văn hóa cũng có thể hiểu như sau: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành theo thời gian qua sự tác động sáng tạo của con người vào tự nhiên, XH và chính con người để vươn tới sự hoàn thiện góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống xã hội loài người
Để hiểu rõ khái niệm văn hóa và phân biệt một khái niệm gần với khái niệm văn hóa (culture) đó là khái niệm văn minh (civilization); bởi lâu nay, không ít người vẫn sử dụng văn minh như một đồng nghĩa với văn hóa
“Văn minh là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, nó đặc trưng cho một thời đại và một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại [45]
Hai khái niệm văn hóa và văn minh “gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau song không đồng nhất” [45]; trong khi văn hóa luôn có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ cho biết một trình độ phát triển của văn hóa; thực tế chứng minh như sau nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nó là biểu tượng của sự lạc hậu và nhường chỗ cho máy vi tính, máy kỹ thuật số, phi thuyền bay vào vũ trụ
“Ở VN còn có các khái niệm: văn hiến, văn vật đó là những khái niệm
bộ phận của văn hóa” [38]; hai khái niệm này khác với khái niệm văn hóa ở
độ bao quát các giá trị: “văn hiến là văn hóa thiên về các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất” [45]
b Chức năng của văn hoá:
Văn hoá có 4 chức năng: tổ chức XH, điều chỉnh XH, GD, giao
Trang 17+ Chức năng tổ chức XH : “Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ
ổn định của XH, cung cấp cho XH mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và XH của mình ” [45] Thể hiện của chức năng này, đó là: tận dụng môi trường (nếu tác động của môi trường là tích cực), đối phó môi trường (nếu tác động của môi trường là tiêu cực) và chủ động cải biến, sáng tạo ra môi trường
+ Chức năng điều chỉnh XH: Văn hóa định hướng các giá trị, xem xét,
phân loại các giá trị, điều chỉnh các ứng xử của con người, “giúp cho XH duy trì trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường để tồn tại và phát triển ” [45]
+ Chức năng GD: Nhờ chức năng GD mà truyền thống văn hóa được
tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Chức năng giao tiếp : Văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan
trọng bởi văn hóa luôn gắn liền với con người và hoạt động của con người trong XH, thể hiện cụ thể: “giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau, giữa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới.”[45]
1.2.1.2 Nếp sống v n h a
a Khái niệm nếp sống
Trong cuộc sống, những ý nghĩ, việc làm, sinh hoạt…được lặp đi, lặp lại hàng ngày, dần dần trở thành thói quen, thành một hệ thống tập quán tạo
nên nếp sống Nói cách khác, Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy
ước đã trở thành thói quen trong các lĩnh vực của cuộc sống, ví dụ: trong sản xuất có cách thức trồng trọt, chăn nuôi, ; trong sinh hoạt có thói quen ăn, mặc, ở, giao tiếp ; trong đời sống XH có phong tục, tập quán, l nghi, pháp
Trang 18không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại quá trình lịch sử mà nhân loại đã trải qua
Trong từ điển Tiếng Việt [48], “nếp” được hiểu theo hai nghĩa:
+ Theo nghĩa thứ nhất: vệt hằn trên bề mặt nơi bị gấp lại của vải, da, áo (áo quần gấp còn nguyên nếp, nếp nhăn trên trán)
+ Theo nghĩa thứ 2: Chỉ nếp sống, lối sống, cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen (nếp sống văn minh, thay đổi nếp nghĩ)
Một số tác giả đã có những khái niệm khác nhau về nếp sống như sau:
Tác giả Thanh Lê cho rằng: “Nếp sống là một phương thức xử sự được quy định với các giá trị đạo đức Nói ngắn gọn, nếp sống là những quy ước được lặp đi lặp lại trở thành một thói quen trong sinh hoạt, phong tục, tập quán, hành vi đạo đức.”[27] Tác giả Lê Như Hoa: Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người đã được lặp đi, lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, thành phong tục được xã hội công nhận Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: Nếp sống là lối sống đã đi vào nề nếp được XH quy định bởi những pháp chế, tập tục hay luật lệ được dư luận đông đảo quàn chúng của XH chấp nhận [47]
Qua định nghĩa trên, chúng ta thấy thực chất nếp sống chính là cách thức ứng xử, làm việc, thực hiện các quy ước của cộng đồng đã trở thành thói quen Nếp sống được thể hiện trong tất cả mọi hoạt động của con người từ học tập, sinh hoạt, giải trí, vui chơi đến lao động, giao tiếp ứng xử Có thể chia nếp sống theo nhiều cách nhưng thường người ta dựa vào bình diện xã hội học Trong cách phân loại này, người ta dựa vào các tiêu chí sau:
- Theo đặc điểm nghề nghiệp có nếp sống nhà khoa học, nếp sống nông dân,
nếp sống nghệ sĩ…
- Theo đặc điểm vùng miền có nếp sống đô thị, nếp sống nông thôn…
Trang 19- Theo đặc điểm độ tuổi có nếp sống trẻ thơ, nếp sống thanh niên, nếp sống
người cao tuổi…
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống tư sản, tiểu tư sản, công nhân,
- Nếp sống là mặt biểu hiện của đạo đức lối sống nên có tính xã hội rất cao
- Nếp nếp là những hành vi đã trở thành thói quen nên có tính tự động hoá
cao
- Nếp sống không tách rời khỏi các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhất định
trong cuộc sống hàng ngày của con người
* Nếp sống được biểu hiện ở các mặt sau:
- Nếp sống biểu hiện ở hoạt động lao động, học tập
- Nếp sống biểu hiện ở hoạt động quan hệ, ứng xử
- Nếp sống biểu hiện ở hoạt động cá nhân
- Nếp sống biểu hiện ở hoạt động đoàn thể xã hội
Đối với học sinh, SV; nếp sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, lao động, trong giao tiếp ứng xử trong sinh hoạt cá nhân, đoàn thể,
vì đây là những hoạt động d quan sát trong nhà trường, trong KTX và cũng
là những hoạt động cơ bản hàng ngày của SV
Nhìn chung, nếp sống là phương thức xử sự trong một tình thế nhất định trong cuộc sống, nó còn là một phương thức xử sự được quy định bởi các giá trị đạo đức Vì vậy nếp sống là những quy ước có tính chu kỳ tạo thành
Trang 20loại nếp sống trong các mối quan hệ xã hội, buộc mỗi cá nhân phải tính toán lựa chọn cho mình một cách sống lành mạnh, có văn hoá
b Khái niệm nếp sống văn hóa:
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, mỗi thời đại, mỗi xã hội đều hình thành nên một nếp sống văn hoá phù hợp với nó Nếp sống văn hoá vừa là một biểu hiện trình độ phát triển, đặc điểm của xã hội, vừa là yếu
tố để tạo thành, tạo nên đời sống xã hội, là bộ mặt văn hóa, đạo đức sinh động cho mỗi thời kỳ phát triển của xã hội
GS Đặng Nghiêm Vạn nhà dân tộc học Việt nam cho rằng: NSVH tức
là nếp sống phù hợp với văn hóa của một XH, một dân tộc, một tộc người, một đất nước nhất định [47]
Nhân tố quyết định trong việc xây dựng một NSVH của dân tộc VN đang trên chặng đường quá độ tiến tới một XHCN là: NSVH của con người
VN nói chung, của thanh niên nói riêng không chấp nhận lối sống lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị con người, lấy cạnh tranh không lành mạnh, lừa gạt bịp bợm làm lẽ sống, lấy sự chà đạp lên danh dự, phẩm giá người khác, mua quyền, bán chức làm phương tiện để vươn lên địa vị cao sang trong XH, lấy sự gian dối, cơ hội, thiếu trung thực để đạt được những gì mình mong muốn
Qua tìm hiểu nghiên cứu chúng tôi cho rằng: NSVH cho SV là những biểu hiện hành vi ứng xử của SV trong các hoạt động học tập, giao tiếp, hoạt động cá nhân, tập thể đã được hình thành, rèn luyện, ổn định theo thời gian, phù hợp với các quy định, văn hóa của nhà trường, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH và được cộng đồng chấp nhận
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục NSVH cho SV
1.2.2.1 Quản lý
Trang 21Khái niệm quản lý được hình thành từ xa xưa, khi loài người xuất hiện
sự hợp tác, phân công lao động Quản lý là các hoạt động do một hay nhiều người điều phối hoạt động của người khác nhằm đạt mục tiêu đã định trước
Mác nói: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng"
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederich Wiliam Taylo 1915), Henri Fayol (1841-1925), Max Weber ( 1864-1920) đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội Giáo trình khoa học quản lý (T1.NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội 1999)
(1856-ghi: "Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành
công việc qua nỗ lực của người khác" Có tác giả lại quan niệm: Quản lý là
một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định [44]
Hiện nay, quản lý được hiểu là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hoạt động của một nhóm (hay nhiều nhóm) xã hội cùng thực hiện những nhiệm vụ và mục đích chung [28]
Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con
Trang 22- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
Nói cách khác, quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của
chủ thể quản lý đến với khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung 1.2.2.2 Quản lý GD
Quản lý GD là quản lý mọi hoạt động GD trong xã hội Ở đây, GD được hiểu theo nghĩa rộng nhất Các nhà nghiên cứu về GD và quản lý GD đã đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý GD là:
" Quản lý GD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm cho việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ
sở nhận thức và vân dụng những quy luật chung của xã hội, những qui luật chung của quá trình GD, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em" [ 40 ]
" Quản lý GD là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt nam mà mục tiêu hội tụ là quá trình dạy học -
GD thế hệ trẻ, đưa thế hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [40]
Quản lý GD theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh GD thường xuyên, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ, cho nên quản lý GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ, cho nên quản lý công tác GD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống
GD quốc dân” [6]
1.2.2.3 Quản lý GD NSVH cho SV
Trang 23Quản lý GD NSVH là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động GD NSVH đạt kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác GD NSVH cho SV trong xã hội; có thái độ hành vi đúng đắn đối với công tác quản lý GD NSVH trong xã hội; ủng hộ những việc làm tốt, phê phán những việc làm xấu và biểu hiện những tiêu cưc trái với qui định của pháp luật; tích cực tự rèn luyên, tu dưỡng, tự hoàn thiện bản thân; có thói quen thực hiện và thực hiện tốt những qui định của các tổ chức trong xã hội NSVH là thành tố quan trọng của nhân cách Chính vì vậy, hình thành trong họ ý thức, tình cảm và niềm tin, có những thói quen, hành vi nếp sống đáp ứng yêu cầu của xã hội là trách nhiệm của nhà quản lý
Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa quản lý GD NSVH là sự tác động
có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa hoạt động GD NSVH đạt tới kết quả mong muốn
1.2.3 iện pháp, iện pháp quản lý giáo dục NSVH
a iện pháp là cách thức cụ thể tác động đến đối tượng để đạt được
kết quả mong muốn, trong giáo dục người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp Trong từng tình huống sư phạm cụ thể phương pháp và biện pháp giáo dục có thể chuyển hóa lẫn nhau
b iện pháp quản lý GD NSVH cho SV là những cách thức cụ thể
của người quản lý nhằm mục tiêu cuối cùng là hình thành cho các em những nhận thức đúng đắn và rèn luyện hành vi tương ứng Những biện pháp quản lý
GD NSVH cho SV rất phong phú đa dạng Thực hiện những biện pháp quản
lý NSVH cho SV là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi người và mọi tổ
Trang 24+ Trước hết là nâng cao nhận thức cho mọi người mà lực lượng trước nhất là những cán bộ, đội ngũ quản lý giáo dục của nhà trường Đây là điều kiện đầu tiên để tạo ra sự thống nhất trong hành động của toàn xã hội và trong nhà trường Tuyệt nhiên không nên coi quản lý NSVH cho SV là việc riêng của nhà trường hoặc của một tổ chức nào Thống nhất nhận thức về hệ thống giá trị NSVH, tư tưởng chính trị, về trách nhiệm tự giáo dục và tham gia vào giáo dục là điều kiện đầu tiên tạo ra thống nhất trong hành động của toàn xã hội Cụ thể phải có kế hoạch để tuyên truyền, phổ biến hoặc tập huấn về công tác giáo dục NSVH cho SV Có thể sử dụng những kênh truyền thông để tuyên truyền; xác định trách nhiệm cho mọi người tham gia thực hiện NSVH cho SV
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục NSVH cho SV phong phú, đa dạng phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi SV.Tiến hành giáo dục NSVH cho SV thông qua việc giảng dạy các môn học Xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động tham quan, dã ngoại Nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo điều kiện về vật chất để các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đặc biệt là đoàn thanh niên hoạt động có hiệu quả
+ Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CB quản lý KTX cũng là biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung
và chất lượng GD NSVH nói riêng
+ Xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về quản
lý công tác NSVH Trước hết cần có một bộ máy quản lý và chỉ đạo công tác
GD NSVH thống nhất từ Trung ương đến cơ sở dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền Xác định rõ mục đích, nội dung, chức năng quản lý GD NSVH cho các bộ phận trong nhà trường
Trang 25+ Củng cố tăng cường việc quản lý ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với quản lý nhà trường và các đoàn thể trong việc quản lý công tác
GD NSVH cho mọi người
+ Thực hiện nghiêm minh những quy định nội quy của KTX, tăng cường hoạt động quản lý xã hội là biện pháp trực tiếp góp phần vào việc GD NSVH và quản lý công tác GD NSVH cho SV
1.3 Sự hình thành NSVH cho SV ở trường ĐH
1.3.1 Vài nét về đặc điểm tâm lý lứa tuổi SV
Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Có thể nói rằng, SV là một nhóm xã hội đặc biệt có hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập nghề nghiệp nhằm tiếp thu những kiến thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp để chuẩn bị cho quá trình lập nghiệp sau khi ra trường
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên
- SV (đại bộ phận SV là thanh niên lứa tuổi từ 18 - 24) là sự phát triển tự ý thức Ở lứa tuổi này, họ đã đánh giá được mình một cách toàn diện về tư tưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú, động cơ và kết quả hoạt động của mình Đây là cơ sở để họ có thể tự vạch ra phương hướng cho sự phát triển nhân cách Tích cực điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình trong học tập, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu của xã hội Chẳng hạn, nhờ nhận thức
rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình cũng như mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Như vậy, có thể nói, khả năng tự ý thức, tự GD của SV đã tương đối phát triển về cả mặt
Trang 26Bên cạnh hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập nghề nghiệp, với SV, hoạt động giao tiếp, ứng xử cũng không kém phần quan trọng So với học sinh phổ thông, giao tiếp của SV phong phú hơn nhiều SV không chỉ giao tiếp với bạn cùng lớp, cùng trường mà còn mở rộng mối quan hệ giao tiếp với nhiều thành phần khác trong xã hội Có thể nói, những mối quan hệ xã hội phong phú cùng với sự tích cực, chủ động tham gia các hoạt động sẽ có những ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành nhân cách, thế giới quan cũng như nếp sống, thói quen của mỗi cá nhân Một nét đặc trưng ở lứa tuổi SV chính là sự xuất hiện và nảy sinh tình yêu nam nữ Đây cũng là một đặc điểm
SV là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức GD khác nhau, không phải bất cứ SV nào cũng được phát triển tối
ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi SV Bên cạnh
đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp GD phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm
lý của SV
Bên cạnh những mặt tích cực, mặc dù là những người có trình độ nhất định, SV không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó
là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm,
Trang 27thanh niên, do đó, SV d dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ Lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp,
có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống,
SV cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm
lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV
Việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi SV có ý nghĩa quan trọng, là cơ
sở để xây dựng các biện pháp quản lý công tác GD nếp sống văn hóa cho SV nói chung, SV nội trú nói riêng
* Tình hình SV các trường ĐH, CĐ hiện nay
Trong nhà trường, SV là nhân vật trung tâm Đa số SV có ý thức chính trị tốt, quan tâm đến các vấn đề của XH, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; hầu hết có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động XH như phong trào TN tình nguyện tham gia hoạt động hè, giữ gìn trật tự giao thông, hướng dẫn mùa thi… Trong điều kiện đất nước mở cửa, việc giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau của thế giới, đa
số SV vẫn giữ được bản lĩnh, có nếp sống lành mạnh, có nhiều ước mơ, hoài bão cống hiến thật nhiều cho quê hương, đất nước, không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn XH Tuy nhiên, tình trạng đáng lo ngại hiện nay là còn một bộ phận SV thiếu trung thực trong học tập và thi cử; một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, đua đòi Tệ nạn XH, nhất là ma tuý, cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp
Trang 28nghiên cứu, khả năng giao tiếp và hợp tác trong công việc còn yếu; trình độ ngoại ngữ của SV tốt nghiệp ĐH,CĐ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và yêu cầu của cuộc sống
Phải nói rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn SV đến những điều không tốt, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH, nhưng trong hoàn cảnh hay điều kiện nào thì họ cũng cần được giúp đỡ, GD, rèn luyện để tiến bộ và có thể khẳng định mình, lấy lại được vị trí của mình trước bạn bè, trong gia đình
và ngoài XH, từ đó họ có thể tự hào với hai tiếng SV mà bạn bè, gia đình và
XH luôn dành cho những tình cảm tốt đẹp, trìu mến và đặt nhiều hy vọng
1.3.2 Sự hình thành NSVH cho SV ở KTX tại các trường Đại học
GD NSVH giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các phẩm chất nhân cách của con người nói chung, SV nói riêng Nó giúp cho SV có đủ khả năng thực hiện các quan hệ với mọi người xung quanh và với xã hội nhằm phù hợp với các quy tắc và chuẩn mực chung Trong đó, GD NSVH cho SV KTX là nhiệm vụ cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách của các em, nâng cao hiệu quả học tập và góp phần xây dựng môi trường KTX của nhà trường văn minh, hiện đại, đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với công tác GD, đào tạo ở nhà trường đại học
Sự hình thành nếp sống văn hóa cho SV KTX thực chất là sự GD ý thức tự giác và các thói quen hành vi của SV trong sinh hoạt, học tập và tham gia các hoạt động tập thể một cách có văn hóa, phù hợp với yêu cầu và các chuẩn mực xã hội Công tác tuyên truyền, GD góp phần hình thành ý thức tự giác và chuyển thành hành động tự động hóa Hành động tự động hóa đó lúc đầu là hành động có ý thức, nhưng do được lặp đi lặp lại nhiều lần mà trở thành hành động tự giác, nghĩa là không có sự kiểm soát của ý thức Như vậy, việc rèn luyện NSVH cho SV KTX là việc luyện tập các hành động, hoạt
Trang 29dựng thói quen trong học tập, sinh hoạt, giao tiếp ứng xử và tham gia các hoạt động tập thể khác Ở đó, thói quen văn hóa chính là hoạt động tự động hóa đã trở thành nhu cầu của con người mà bản thân mỗi SV phải rèn luyện vất vả mới có được Ví dụ thói quen không xả rác bừa bãi nơi công cộng, thói quen không hút thuốc trong phòng ở KTX đối với người nghiện thuốc lá, thói quen giữ trật tự và tôn trọng người khác trong giờ tự học, thói quen giữ gìn vệ sinh chung, thói quen tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động cộng đồng trong KTX…
Việc hình thành NSVH cho SV KTX được tiến hành bằng hai con đường cơ bản, đó là:
- Sự GD và tự GD tự ý thức và các thói quen một cách có hệ thống và có mục đích Nó giúp SV hình thành các thói quen tốt, có văn hóa trong học tập, sinh hoạt, ứng xử với mọi người xung quanh cũng như trong hoạt động tập thể khác
- Con đường tự phát: SV tự bắt chước các hành vi, các chuẩn mực ứng xử từ bạn bè, thầy cô và những người xung quanh thông qua hoạt động giao tiếp hàng ngày
Để góp phần hình thành ý thức tự giác và các thói quen tốt của SV Nội trú, cần quan tâm đến các điều kiện sau:
- Cần có sự tuyên truyền, GD và nêu gương của cán bộ, thầy cô quản lý các KTX
- Quan tâm đến việc tổ chức các điều kiện, phương tiện, cơ hội thúc đẩy sự hình thành các thói quen tốt, các hành vi có văn hóa của SV Nội trú trong học tập, sinh hoạt và ứng xử với mọi người xung quanh
- Quan tâm động viên, khích lệ và biểu dương những SV có ý thức cao, có
Trang 30- Chú trọng tác động vào nếp nghĩ của SV về sự cần thiết phải hình thành các thói quen, hành vi ứng xử có văn hóa
- Kịp thời nhắc nhở, xử lý những SV có thói quen và hành vi xấu, có biện pháp GD, điều chỉnh sự lệch lạc trong nếp nghĩ, trong hành động của các em
1.4 Nội dung quản lý công tác GD NSVH cho SV ở KTX
NSVH được truyền đạt lại và thay đổi có chọn lọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được bổ sung phong phú thêm theo sự phát triển của
XH Trong nhà trường, các cán bộ, giáo viên của trường cũng đã kế thừa và phát huy truyền thống của các thế hệ trước, ngày một hoàn thiện NSVH để góp phần xây dựng nhà trường luôn vững mạnh về mọi mặt NSVH đã làm mọi người trong nhà trường đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau, kích thích sự năng động, sáng tạo của từng người, từng đơn vị phòng, ban, khoa, tổ, đoàn thể trong trường, từ đó các công việc được thực hiện có chất lượng và hiệu quả hơn
Một số biểu hiện NSVH của cán bộ, giáo viên trường Đại học Vinh Đối xử có văn hoá trong giao tiếp: sự tôn trọng những quy tắc sống tập thể, chia sẻ những khó khăn khi hoạn nạn, chúc mừng nhau khi gặp chuyện vui…
Quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên trong tập thể Mỗi người làm việc hết lòng vì SV, vì tập thể Ngược lại, cả tập thể chăm lo đời sống cho từng cá nhân, từng gia đình để mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người trong nhà trường
Trong tập thể có sự học tập lẫn nhau, sự bắt chước lẫn nhau về tác phong quản lý, tác phong lao động, về các hành động tốt đẹp…
Cán bộ, giảng viên có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực của bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ, cập nhật kiến thức để khỏi bị lạc hậu so với thời đại, thường xuyên viết sáng kiến
Trang 31nước tiên tiến trên thế giới, các quan điểm mới trong kiểm tra, đánh giá SV, thường xuyên đọc sách, tra cứu thông tin, cập nhật kiến thức từ Internet, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại,… để đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy,
GD, phục vụ ngày càng cao của nhà trường
NSVH cho SV có thể xem như phần thể hiện văn hoá của một trường
học; có thể khẳng định rằng: một kết quả văn hoá, một NSVH nào đó trong
XH được truyền thụ và phổ biến trong một đơn vị đều phải được thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Một số biểu hiện NSVH cho SV ở KTX trường Đại học trong một số lĩnh vực như: giao tiếp, ứng xử, học tập, sinh hoạt cá nhân …cần được xây dựng, quản lý trong hiện tại và tương lai; Cụ thể như sau:
1.4.1 NSVH cho SV ở KTX iểu hiện trong giao tiếp, ứng xử
Thực sự tôn trọng, l phép khi giao tiếp với cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường, người lớn tuổi
Có cử chỉ nhã nhặn, lịch sự khi giao tiếp với bạn bè, biết “cảm ơn”, “ xin lỗi” kịp thời, đúng lúc, đúng nơi Giữ đúng lời hứa, giờ hẹn với mọi người
Chú ý đến những người xung quanh, quan tâm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với người thân, đồng nghiệp, bạn bè, cộng đồng Sẵn sàng giúp đỡ và luôn khiêm tốn học hỏi mọi người
Có thái độ bất bình trước những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm NSVH của tập thể, của XH
Góp ý phê bình một cách tế nhị, khéo léo, tránh gây ức chế, xúc phạm người được góp ý phê bình Tôn trọng sở thích, cá tính của người khác nếu cá tính của họ không ảnh hưởng xấu đến những người xung quanh
Trang 32Có lòng tự trọng, nhận trách nhiệm trong công việc và cuộc sống
Có lòng nhân hậu, thái độ lạc quan, yêu đời
1.4.2 Quản lý NSVH cho SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử
Quản lý NSVH cho SV ở KTX trong giao tiếp, ứng xử là :
- Quản lý hình thức, nội dung, biện pháp GD SV thông qua các chức năng quản lý
- Quản lý sự phối hợp trong các hoạt động của BQL KTX với các đoàn thể, các phòng chức năng, các khoa, tổ, GVCN, chính quyền địa phương, gia đình SV… nhằm nâng cao nhận thức về NSVH trong giao tiếp, ứng xử cho SV ở KTX
- Thường xuyên sử dụng các biện pháp tuyên truyền, GD kết hợp kiểm tra phát hiện, nhắc nhở, xử lý kịp thời những tiêu cực trong giao tiếp, ứng xử, đồng thời phát huy những điểm mạnh, nhân rộng các điển hình tiên tiến giúp SV suy ngẫm, học tập kinh nghiệm, nâng cao khả năng thích ứng, khéo léo, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử
1.4.3 NSVH cho SV ở KTX iểu hiện trong học tập
Tự giác, chăm chỉ học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp
Tìm tòi, học hỏi những phương pháp học tập tích cực phù hợp với bản thân, bậc học và ngành học Có thói quen tham khảo tài liệu, sách, báo… để cập nhật, bổ sung kiến thức
Tích cực suy nghĩ để giải quyết những vấn đề đặt ra Làm bài tập lớn, niên luận, khoá luận và NCKH theo khả năng
Xây dựng kế hoạch, sắp xếp thời gian học tập một cách hợp lý; biết quý thời gian và rèn luyện thói quen đi học, làm việc đúng giờ
Không học nhồi nhét, dồn nén, đợi đến gần ngày thi mới bắt đầu học Trung thực trong kiểm tra, thi cử
Trang 33Thói quen hợp tác làm việc, trao đổi, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau và giải quyết vấn đề theo nhóm
1.4.4 Quản lý NSVH cho SV ở KTX trong học tập
Quản lý NSVH SV ở KTX trong học tập thực chất là việc :
- Nghiên cứu, tìm biện pháp để quản lý quá trình học tập của SV ở KTX, thông qua những việc như: hình thành phong cách học tập, bồi dưỡng tình cảm, lòng yêu nghề, kích thích động cơ học tập của SV, rèn luyện tính kế hoạch, khoa học, trung thực, năng động, sáng tạo trong học tập
- Phát huy tính tự học, tự nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ để giải quyết vấn đề, đẩy mạnh sự hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập, NCKH nhằm đạt được những mục đích mong muốn
1.4.5 NSVH cho SV ở KTX iểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Luôn có ý thức chấp hành và thực hiện đúng các quy định, nội quy của nhà trường, KTXSV; có ý thức bảo quản, giữ gìn tài sản của cá nhân, tập thể
Tích cực nắm bắt thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách, báo theo chuyên đề phù hợp đặc điểm tâm lý, lứa tuổi
Sắp xếp thời gian để tham gia các hoạt động văn thể Sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý vào các hoạt động tích cực, hữu ích, không làm ảnh hưởng đến những người xung quanh
Rèn luyện thói quen ngăn nắp, gọn gàng, thẩm mỹ Ăn mặc sạch đẹp, giữ vệ sinh nơi học tập, cư trú và nơi công cộng
Rèn luyện nếp sống lành mạnh, giản dị, không phô trương, hình thức, đua đòi,… Nâng cao ý thức xây dựng tình bạn, tình yêu trong sáng, lành mạnh, an toàn
Trang 34Thường xuyên nâng cao ý thức tự rèn luyện để ngày một hoàn thiện bản thân về sức khỏe, năng lực hoạt động ở các lĩnh vực mình đang thực hiện
và phụ trách
`Nói không với ma túy, cờ bạc, tệ nạn XH, văn hóa phẩm đồi trụy, mê tín dị đoan
1.4.6 Quản lý NSVH cho SV ở KTX iểu hiện trong sinh hoạt cá nhân
Quản lý NSVH cho SV ở KTX trong sinh hoạt cá nhân thực chất là :
Quản lý sự phối hợp các phòng, ban chức năng, các đoàn thể, các khoa, GVCN trong việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền,
GD, thuyết phục, động viên, khen thưởng, kỷ luật SV…
Phát huy những mặt tích cực của SV, cổ vũ, nhân điển hình những thói quen tốt, hành động tiêu biểu, tích cực thể hiện NSVH cho SV trong việc tham gia các hoạt động VHVN, TDTT, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản của bản thân và tập thể, biết nắm bắt, cập nhật thông tin, thời sự kịp thời
Hạn chế những biểu hiện lệch lạc, sai trái, không lành mạnh, tiêu cực trong SV để xây dựng KTXSV thực sự là môi trường văn hóa lành mạnh góp phần GD toàn diện SV nhà trường
Trên đây là một số biểu hiện NSVH cho SV ở KTX mang tính điển hình, phù hợp với sự phát triển của một đơn vị, trường học và yêu cầu của công tác quản lý NSVH cho SV ở KTX trên từng lĩnh vực cụ thể trong tình hình hiện nay
Có thể khẳng định rằng : Quản lý NSVH cho SV ở KTX giữ vai trò
quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất và nhân cách tốt cho SV, giúp SV có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập, tham gia các hoạt động
và tự tổ chức các hoạt động, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, ứng xử khéo léo, linh hoạt, tế nhị với mọi người phù hợp các quy tắc, chuẩn mực của XH
Trang 35Điều mang tính quyết định dẫn đến hiệu quả việc quản lý NSVH cho
SV nhà trường nói chung và SV ở KTX nói riêng là biến những hành vi tốt
thành thói quen tốt, biến sự GD thói quen tốt thành sự tự GD thói quen tốt, có như vậy, SV mới có đủ bản lĩnh, kỹ năng, đạo đức để bổ sung vào hành trang của người thầy giáo – những kỹ sư tâm hồn với trách nhiệm nặng nề song rất cao quý đó là truyền đạt kiến thức, kỹ năng và GD đạo đức cho thế hệ trẻ mai sau - lực lượng chủ lực xây dựng đất nước tương lai
* Tiểu kết chương 1
Tóm lại NSVH là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và xã hội
Do đó công tác GD NSVH cho HS- SV mang ý nghĩa và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hoạt động của nhà trường nói chung và SV ở KTX nói riêng Để công tác GD NSVH cho HS- SV đạt hiệu quả, nhà quản lý GD trước hết phải nhận thức sâu sắc rằng trong các mặt GD, GD NSVH cho HSSV giữ vị trí hết sức quan trọng Vì vậy trong quá trình GD yêu cầu đối với nhà quản lý phải nắm được tâm lý lứa tuổi học sinh và vận dụng một cách linh hoạt để có cách quản lý GD một cách toàn diện, khoa học về: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện GD NSVH cho HSSV
Trang 36CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ NẾP SỐNG VĂN HOÁ SINH VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA CHO SINH VIÊN
Ở KTX TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 2.1 Vài nét về trường Đại học Vinh
Ngày 16 tháng 7 năm 1959, Bộ trưởng Bộ GD ký Nghị định số 375/NĐ thành lập Phân hiệu Đại học Sư phạm Vinh Ngày 28 tháng 8 năm
1962, Bộ trưởng Bộ GD đã ký Quyết định số 637/QĐ đổi tên Phân hiệu Đại học Sư phạm Vinh thành Trường Đại học Sư phạm Vinh Ngày 25 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 62/2001/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Vinh thành Trường Đại học Vinh
Trường Đại học Vinh là đơn vị hành chính sự nghiệp, trực thuộc Bộ
GD và Đào tạo, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có con dấu và biểu tượng riêng Quyết định số 62/2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ của Trường Đại học Vinh là đào tạo giáo viên có trình độ đại học và từng bước mở thêm các ngành đào tạo khác phù hợp với khả năng của Trường và nhu cầu nhân lực của xã hội, nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Ngày 11 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn số 1136/TTg-KGVX về việc bổ sung Trường Đại học Vinh vào danh sách xây dựng thành trường đại học trọng điểm
Trường Đại học Vinh là cơ sở đào tạo đại học đa ngành, đa cấp ở khu vực Bắc Trung Bộ, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và thích ứng nhanh với thế giới việc làm; là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và cả nước; hướng đến là trường Đại học trọng điểm quốc gia, có một số ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế
Trang 37Tiền thân là trường đại học sư phạm với nhiệm vụ chính là đào tạo đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý GD nhưng trước những yêu cầu bức thiết về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội nên từ cuối những năm 1980, Đảng ủy, Ban Giám hiệu đã quyết tâm đưa Trường trở thành một trung tâm đào tạo đa ngành Từ năm 2001, ngoài việc tiếp tục duy trì, phát triển và hoàn thiện các ngành đào tạo sư phạm, Trường đã mở rộng
và phát triển hàng chục mã ngành ngoài sư phạm để không ngừng đáp ứng các yêu cầu của xã hội về nhân lực trên các lĩnh vực: kinh tế, nông, lâm, ngư nghiệp, xây dựng, điện tử vi n thông, luật, công nghệ thông tin Đến nay Nhà trường đã đào tạo nhiều bậc học, ngành học khác nhau với 13 chuyên ngành tiến sĩ, 28 chuyên ngành thạc sĩ; đào tạo 48 ngành kỹ sư, cử nhân, các ngành ngoài sư phạm chiếm 65% tổng số các ngành học; đào tạo học sinh trung học phổ thông chuyên với 5 môn chuyên (Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học và Tiếng Anh) Hiện nay toàn Trường có khoảng 32.500 học sinh, SV, học viên Ngoài ra, Trường còn liên kết với các cơ sở GD trong và ngoài nước đào tạo các trình độ đại học và sau đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước
Hiện tại, cơ cấu của Trường Đại học Vinh là một đại học 3 cấp: Trường, Khoa - Trường trực thuộc, Bộ môn
Ban Giám hiệu có 1 Hiêụ trưởng và 5 phó Hiệu trưởng
Trường có 18 khoa đào tạo: Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Địa lý,
Khoa Điện tử Vi n thông, Khoa GD, Khoa GD Chính trị, Khoa GD Quốc phòng, Khoa Hoá, Khoa Kinh tế, Khoa Lịch sử, Khoa Luật, Khoa Ngoại ngữ, Khoa Ngữ Văn, Khoa Nông Lâm Ngư, Khoa Sinh, Khoa Thể dục, Khoa
Toán, Khoa Vật lý, Khoa Xây dựng; có 2 trường trực thuộc: Trường THPT
Trang 38Có 22 phòng ban, trung tâm, viện, trạm: Phòng Bảo vệ, Phòng Công
tác chính trị - Học sinh SV, Phòng Đào tạo, Phòng Đào tạo Sau đại học, Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Hợp tác quốc tế, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Quản lý Khoa học - Thiết bị, Phòng Quản trị, Phòng Thanh tra
GD, Phòng Tổ chức Cán bộ, Nhà Xuất bản, Trung tâm Đảm bảo chất lượng, Trung tâm Đào tạo từ xa, Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Nội trú, Trung tâm Hỗ trợ SV và Quan hệ doanh nghiệp, Trung tâm GD thường xuyên, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguy n Thúc Hào, Ban Quản lý các dự án xây dựng, Trạm Y tế
Có 14 ban, trung tâm chuyên môn, nghiên cứu, ứng dụng: Tạp chí
Khoa học, Trung tâm Nghiên cứu Hồ Chí Minh, Trung tâm Môi trường và Phát triển nông thôn, Trung tâm GD Quốc phòng, Trung tâm Tư vấn thiết kế
và Chuyển giao công nghệ, Trung tâm Kiểm định an toàn Thực phẩm - Môi trường, Trung tâm Thực hành và Tư vấn pháp luật, Trung tâm Thực hành - Thí nghiệm, Trung tâm Thể dục - Thể thao, Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Quản lý dịch vụ, Ban Quản lý các dự án GD
Có 2 văn phòng đại diện: Văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh và
Văn phòng đại diện tại tỉnh Thanh Hóa
Phát huy truyền thống hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, hiện nay, Trường Đại học Vinh đang quyết tâm xây dựng Nhà trường với khẩu hiệu hành động "Trường Đại học Vinh - Nơi tạo dựng tương lai cho tuổi trẻ" và nét đặc trưng của SV Trường Đại học Vinh "Bản lĩnh - Trí tuệ - Văn minh - Tình nguyện"
Trường Đại học Vinh có hệ thống thư viện, trang thiết bị học tập và cơ
sở vật chất ngày càng được hoàn thiện, hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu đào tạo
đa ngành Hệ thống phòng học, giảng đường đạt tiêu chuẩn đã và đang được
Trang 39đại hoá Ngoài diện tích hiện nay tại khu vực Bến Thuỷ - Trường Thi (14ha), Trường đã được quy hoạch và triển khai xây dựng tại cơ sở II thuộc huyện Nghi Lộc với diện tịch 258ha (cho khoa Nông Lâm Ngư, Trung tâm GD Quốc phòng và một số đơn vị khác) Ngoài ra, Trường đang xây dựng một số cơ sở phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ ở một số địa phương khác (Trại thực hành thuỷ sản Hưng Nguyên, Trung tâm thí nghiệm nuôi trồng thuỷ sản Nghi Xuân, ) Nhà trường đã có nhiều giải pháp
và kế hoạch tự chủ về tài chính, huy động được nhiều nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng các hoạt động trong tất cả các lĩnh vực
Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên của Trường Đại học Vinh không ngừng lớn mạnh Hiện nay, Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình
độ với 944 cán bộ, công chức, tăng 73% so với năm 2001 Trong tổng số 642 giảng viên, có 56 giáo sư, phó giáo sư, 4 giảng viên cao cấp, 137 tiến sĩ, 328 thạc sĩ, 133 giảng viên chính Trong tổng số 273 chuyên viên, kĩ thuật viên, cán bộ hành chính, phục vụ có 11 chuyên viên chính và 52 thạc sĩ Ngoài ra, còn có hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia đào tạo đại học
và sau đại học tại Trường Đại học Vinh
Song song với hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học công nghệ của Trường Đại học Vinh đã có sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng Số
đề tài nghiên cứu khoa học các cấp tăng lên hàng năm Trong 10 năm qua cán
bộ của Trường đã thực hiện 24 đề tài cấp Nhà nước, 203 đề tài cấp Bộ, 1.857
đề tài cấp cơ sở
Việc mở rộng mối quan hệ, hợp tác với các cơ quan, ban ngành từ trung ương đến địa phương, các trường đại học, các viện nghiên cứu trong và ngoài
Trang 40đại học tại Trường, trong đó có hàng trăm em đã tốt nghiệp Trường đã hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng cán bộ với trên 40 cơ sở GD đại học và các cơ quan, tổ chức khoa học trong nước và quốc tế Nhiều cán bộ của Trường là thành viên, cộng tác viên của các hội đồng khoa học hoặc tổ chức khoa học quốc gia, khu vực và quốc tế (Đức, Italia, Nhật Bản, Pháp, Ba Lan, Nga, Canađa, Hoa Kì, Hội Thiên văn quốc tế,…); được mời làm chuyên gia GD và giảng dạy tại các trường đại học ở Ăngôla, Môzămbic, Madagaxca, Algiêri, Lào, Campuchia, Thái Lan
Hệ thống tổ chức Đảng, đoàn thể của Trường Đại học Vinh luôn đạt danh hiệu tổ chức Đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh
Đảng bộ Trường là Đảng bộ cơ sở, có 13 Đảng bộ bộ phận, 50 chi bộ
và 5 ban xây dựng Đảng) Ban Chấp hành Đảng bộ khoá XXX (2010 - 2012)
có 21 uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ có 7 đồng chí
Công đoàn Trường Đại học Vinh là đơn vị trực thuộc Công đoàn GD Việt Nam Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Vinh là đơn vị trực thuộc của Tỉnh Đoàn Nghệ An.Hội SV Trường Đại học Vinh trực thuộc Hội
SV Tỉnh Nghệ An Cựu chiến binh Trường Đại học Vinh trực thuộc Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An
Hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, Trường Đại học Vinh được tặng thưởng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý
Hiện nay, Nhà trường đang quyết tâm thực hiện tuyên bố: Trường Đại học Vinh là cơ sở đào tạo đại học đa ngành cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu xã hội; là trung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Bắc Trung bộ và cả nước với tầm nhìn đến năm 2020, Trường Đại học Vinh trở thành trường Đại học trọng điểm, có một số ngành học đạt