1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế tài liệu học tập môn biên phiên dịch 2 cho sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học ntt

48 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 473,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc ---Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH DÀNH CHO CÁN BỘ - GIẢNG VIÊN 2019 Tên đề tà

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH DÀNH CHO CÁN BỘ - GIẢNG VIÊN 2019

Tên đề tài:THIẾT KẾ TÀI LIỆU HỌC TẬP MÔN BIÊN PHIÊN DỊCH 2 CHO

SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐH NTT

Số hợp đồng:

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thanh Trang

Đơn vị công tác: Khoa Ngoại Ngữ

Thời gian thực hiện: 1/2018-10/2019

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 08 năm 2019

NTTU-NCKH-04

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NCKH DÀNH CHO CÁN BỘ - GIẢNG VIÊN 2019

Tên đề tài:THIẾT KẾ TÀI LIỆU HỌC TẬP MÔN BIÊN PHIÊN DỊCH 2 CHO

SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐH NTT

Số hợp đồng:

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thanh Trang

Đơn vị công tác: Khoa Ngoại Ngữ

Thời gian thực hiện: 1/2018-10/2019

Các thành viên phối hợp và cộng tác:

Trang 3

MỤC LỤC

1.2 Mục tiêu của đề tài & câu hỏi nghiên cứu 12

Chương 2: Tổng quan vấn đề và phương pháp thiết kế 17

2.1 Đào tạo biên phiên dịch trên thế giới 172.2 Đào tạo biên phiên dịch ở Việt Nam 202.3 Các khuynh hướng đào tạo biên phiên dịch 232.4 Đối sánh các giáo trình biên phiên dịch 31

2.5 Phương pháp 9 bước của Gagne (1992) 332.6 Thiết kế cấu trúc tài liệu học tập theo Schneider (2008) 352.7 Ngữ liệu thiết kế tài liệu học tập 38

Trang 4

SL: Source language: ngôn ngữ nguồn

TBLT: Task-based language teaching: dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ

TL: Target language: ngôn ngữ đích

V-A: Việt-Anh

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ/ BẢNG

Bảng 2.1 Bảng đối sánh các giáo trình biên phiên dịch hiện có Tr.32

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc theo hình thức Chapter của Schneider (2008) 35

Sơ đồ 2.2 Cấu trúc theo hình thức kết hợp Chapter-Section 36

Trang 6

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

- Họp lên kế hoạch thực hiện - Đã thực hiện

- Tìm hiểu nguyện vọng sinh viên - Đã thực hiện

- Tìm hiểu nhu cầu thị trường - Đã thực hiện

- Tìm tài liệu phù hợp nhu cầu - Đã thực hiện

- Sắp xếp theo logic chương trình

- Triển khai thực hiện - Hoàn thành

- Thiết kế bài tập phù hợp - Hoàn thành

Thời gian đăng ký: từ ngày 10/2018 đến ngày 10/2019

Thời gian nộp báo cáo lần 1: ngày 15/10/2019

Thời gian nộp báo cáo chỉnh sửa chương trình giảng dạy chuyên ngành Biên Phiên Dịch theo hội đồng khoa học KNN: 21/08/2020

Thiết kế tài liệu học tập môn Biên Phiên Dịch 2 cho sinh viên Khoa Ngoại ngữ trường

ĐHNTT

Tài liệu học tập BPD2 (đính kèm)

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

DẪN NHẬP

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đề án Ngoại ngữ 2020 (gọi tắt là đề án 2020) được Thủ tướng chính phủ thông quanăm 2008, và được gia hạn đến năm 2025, đề ra các định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ vàgiải pháp dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục cả nước giai đoạn 2017-2025 đã

và đang tạo bước phát triển trong việc cải tiến, và đổi mới chương trình giảng dạy ngoạingữ trong hệ thống giáo dục Nằm trong lộ trình chung của đề án 2020, Khoa Ngoại ngữcủa Đại học Nguyễn Tất Thành thực hiện các bước cải tiến và đổi mới chương trìnhkhung, chương trình giảng dạy, trong đó biên soạn giáo trình là một bước quan trọngnhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học ngoại ngữ

Ngành ngôn ngữ Anh của Khoa Ngoại ngữ với ba chuyên ngành: Biên phiên dịch,tiếng Anh thương mại và phương pháp giảng dạy được kiểm định chất lượng theo hệthống của các trường Đại học khu vực Đông Nam Á (AUN - QA) năm 2019 đòi hỏi cảitiến chất lượng giáo dục thông qua việc biên soạn và cập nhật kiến thức trong các giáotrình

Các tài liệu học tập đang sử dụng cho ngành biên phiên dịch hiện cần được biên soạntheo hướng giảng dạy theo nhiệm vụ (Task-based language teaching - TBLT), cập nhật

Trang 8

khâu rà soát và đổi mới chương trình giảng dạy hàng năm của trường Đại học NguyễnTất Thành (ĐHNTT) nói chung và Khoa Ngoại ngữ (KNN) nói riêng.

Chương trình học môn chuyên ngành Biên Phiên dịch như sau: Lý thuyết dịch(Theory of translation), Biên Phiên dịch căn bản (Translation Interpretation-Basic level),Biên Phiên dịch 1 (Translation interpretation: Elementary), Biên Phiên dịch 2(Translation interpretation Pre-intermediate), Biên Phiên dịch 3 (Translationinterpretation Intermediate), Biên Phiên dịch 4 (Translation interpretationUpper-intermediate), Biên dịch nâng cao (Advanced translation), Phiên dịch nâng cao(Advanced interpretation)

Hầu hết các nhà lý thuyết đồng ý rằng các chiến dịch được dịch giả sử dụng khi họgặp vấn đề mà bản dịch nghĩa đen không thể giải quyết Do đó, các nhà nghiên cứu khácnhau đã xem xét và mô tả các chiến lược dịch khác nhau từ những quan điểm riêng của

họ Nhiều nghiên cứu sâu rộng về các chiến lược dịch thuật đã được thực hiện Tuynhiên, định nghĩa mà mỗi tác giả nghiên cứu hay nhà lý thuyết đưa ra đều thể hiện quanđiểm riêng của từng người và khác biệt với nhau

Mục đích của nghiên cứu này là nêu ra các lý thuyết khác nhau về chiến lược dịchthuật và cung cấp một cái nhìn nghiên cứu tổng quát để tạo thuận lợi cho việc nghiên

Trang 9

Khái niệm cổ điển của Vinay và Darbelnet (1958/2000) và của Newmark (1988) đã

sử dụng các thuật ngữ “phương pháp dịch” và “thủ tục dịch” điều đó có thể được coi làchiến lược “toàn cầu” và “địa phương” Vinay và Darbelnet chỉ đề cập đến hai phươngpháp dịch: trực tiếp, hoặc dịch theo nghĩa đen hoặc nghĩa xiên Trong khuôn khổ dịchtrực tiếp, họ liệt kê ba thủ tục: mượn, calque và dịch theo nghĩa đen

Theo Newmark, “trong khi các phương pháp dịch liên quan đến toàn bộ văn bản, cácthủ tục dịch được sử dụng cho các câu và các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn (Newmark, 1998,trang 81) Phân loại của Newmark về các phương pháp dịch và các thủ tục trùng lặp mộtphần với Vinay và Darbelnet (1958/2000) nhưng nhiều chi tiết hơn Nó cũng dựa trên sựđối lập giữa dịch nghĩa đen và dịch tự do

Chúng ta ở đây chỉ giải thích một số khái niệm chính còn những khái niệm còn lại

bỏ qua Biên dịch trung thực là phương pháp biên dịch trung thành với văn bản gốc về

cả ý nghĩa hình thái, tức là chuyển đổi y nguyên ý đồ của tác giả, thể văn và cấu trúcngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích Hay chính là phương pháp dịch chuyển y nguyênnhững từ vựng có liên quan mật thiết với văn hóa đúng như phát âm của nó, đồng thời

nó dịch chuyển y nguyên cả những biểu hiện không đúng với ngữ pháp, từ vựng trongngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích Biên dịch đặt trọng tâm vào ý nghĩa là phươngpháp biên dịch chuyển đổi một cách thích hợp bằng phương pháp “tương đương về mặt

ý nghĩa” trong trường hợp khó tái hiện những cấu trúc từ ngữ, vần điệu, thể văn, từ

Trang 10

tượng thanh trong văn bản nguồn sang văn bản đích Trái với biên dịch trung thực là táihiện y nguyên tất cả những yếu tố của văn bản nguồn thì biên dịch đặt trọng tâm vào ýnghĩa linh động hơn và chấp nhận tính sáng tạo của người biên dịch Thông thường biêndịch đặt trọng tâm vào ý nghĩa được tạo nên từ cấp độ ngôn ngữ mà tác giả văn bảnnguồn sử dụng và nó được sử dụng trong những văn bản biểu cảm.

Biên dịch trọng tâm vào giao tiếp là phương pháp biên dịch giúp người đọc văn bảnđích dễ dàng hiểu được những nội dung mang tính ngôn ngữ hay mang tính văn hóa củavăn bản nguồn Sau đây là một ví dụ giải thích phần nào nhận định trên Trong phầntrích dẫn ví dụ giải thích của Newmark, ông cho rằng, khi chuyển đổi thông điệp bằngtiếng Pháp:” Bissiger Hund and chien mechant” sang tiếng Anh người ta không dịch vềmặt ý nghĩa là “dog that bites” (con chó cắn)hay “ bad dog”(con chó hư) mà phải dịchtheo cách giao tiếp là “beware the dog” (cẩn thận với con chó) Ông cũng giải thíchrằng, về mặt văn hóa các yếu tố ngoại lai có thể chuyển đổi thành yếu tố văn hóa củangôn ngữ đích, và có thể được sử dụng trong văn bản mang tính phi văn học và văn bảnmang tính kĩ thuật thông tin hay quảng cáo Dưới đây là phần trích dẫn câu nói củaNewmark: “Biên dịch mang tính giao tiếp là phương pháp cố gắng làm cho hiệu quả màđộc giả của ngôn ngữ nguồn và độc giả của ngôn ngữ đích nhận được đồng nhất vớinhau Biên dịch theo ý nghĩa luận là phương pháp khiến những cấu trúc mang tính cúpháp học hay ý nghĩa học của ngôn ngữ thứ hai gần nhất với ý nghĩa trên mạch vănchính xác của văn bản nguồn” Newmark chủ trương cho rằng mục đích chính của biên

Trang 11

ông cũng chọn cách biên dịch đặt trọng tâm vào ý nghĩa và biên dịch đặt trọng tâm vàogiao tiếp là phương pháp phù hợp nhất cho hai mục đích trên, và cũng đề cao giá trịtrung thực trong biên dịch Ngoài ra ông cũng chủ trương cho rằng phải lựa chọn

phương pháp biên dịch tùy theo đối tượng độc giả, mục đích biên dịch và mục đích củathể loại văn bản

Chesterman (1997) đã trình bày chiến lược cú pháp đầu tiên của mình là bản dịchnghĩa đen Theo các nhà lý thuyết dịch thuật, ông tin rằng đây là một chiến lược “mặcđịnh” Theo Chesterman (1997 như được trích dẫn ở Bergen n d.), rõ ràng tất cả cácchiến lược có thể chỉ ra những trường hợp “thay đổi một điều gì đó”, mà Chesterman(1997) tin là chiến lược dịch thuật cơ bản

Như Venuti (2001) khẳng định, từ quan điểm của Vinay và Darbelnet (1958), dịchgiả có thể chọn hai phương pháp dịch thuật chính là:dịch trực tiếp / dịch nghĩa đen vàdịch xiên Theo lý thuyết này khi dịch nghĩa đen là bất khả vì những khác biệt từ vựng

và cú pháp giữa hai ngôn ngữ, dịch xiên được sử dụng

Các chiến lược đã nêu phù hợp với các phân loại của Vinay và Darbelnet (1958),trong đó cho thấy một số điểm tương đồng với phân loại của Chesterman (1997) Tuynhiên, như chúng ta thấy ở trên, phân loại của Chesterman rõ ràng là chi tiết hơn Tất cảcác chiến lược nêu trên là các lý thuyết được đặt tên khác nhau bởi các nhà lý thuyếtkhác nhau Tuy vậy; nếu ai muốn xem xét khả năng áp dụng các chiến lược này, sẽ

Trang 12

không có ranh giới rõ ràng giữa chúng Hơn nữa, đây chỉ là một số chiến lược có thểđược dịch giả sử dụng, và dường như có những lựa chọn khác nhau mà dịch giả có thể

có khi thực hiện bản dịch Tuy nhiên, không có sự phân thứ bậc chiến lược nào hay được

sử dụng hay ít được sử dụng hơn Baker (1992) đưa ra nguyên tắc phân loại rõ ràng nhấtgồm tám chiến lược dịch thuật, được các dịch giả chuyên nghiệp sử dụng khi họ gặp vấn

đề dịch thuật trong quá trình làm việc

Và ở đây tôi chỉ đề cập đến môn Biên Phiên dịch 2 làm đề tài cấp trường “Thiết kếtài liệu học tập môn Biên Phiên Dịch 2 (BPD2) để giảng dạy học kỳ 2 năm 2 cho sinhviên Khoa Ngoại ngữ trường ĐHNTT ” với mục tiêu thiết kế tài liệu học tập biên phiêndịch tiền trung cấp (BPD2) dựa trên đề cương chi tiết và ngữ liệu nhằm cung cấp chosinh viên những kiến thức liên quan đến biên phiên dịch gồm các chiến lược dịch phùhợp với mục tiêu môn học, các chuẩn đầu ra được thiết kế theo chuẩn kiểm định

AUN-QA

1.2 Mục tiêu đề tài & câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

- Thiết kế biên soạn tài liệu học tập Biên phiên dịch tiền trung cấp dựa trên lý

thuyết biên soạn giáo trình 9 bước của Gagne (1992) và cấu trúc giáo trình của

Schneider (2008)

Trang 13

- Nội dung tài liệu học tập phù hợp với lý thuyết giảng dạy theo nhiệm vụ (TBLT),với mục tiêu phù hợp với chương trình khung, đề cương chi tiết của môn học.

Từ mục tiêu nghiên cứu, hai câu hỏi nghiên cứu được đề xuất như sau:

1 Việc thiết kế tài liệu học tập biên phiên dịch tiền trung cấp (BPD2) dựa trên lý thuyết khung và cấu trúc nào?

2 Nội dung tài liệu học tập BPD2 có phù hợp với chương trình khung và đề cương chi tiết môn học hay không?

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Hiện nay, có nhiều lý thuyết về biên soạn tài liệu học tập, nhưng các nhà nghiêncứu thường đề cập nhiều như: Gagne (1992), Schneider (2008) Lý thuyết biên soạn tàiliệu học tập của Gagne (1992) với 9 bước thực hiện được các nhà nghiên cứu đánh cao

và áp dụng ở nhiều trường đại học trên thế giới

Tài liệu học tập môn học đòi hỏi phải có 2 phần song hành là Biên dịch (translation)

và Phiên dịch (interpretation) Mỗi loại dịch đều có chiến lược và tiêu chí riêng đối vớingười dịch như dịch viết đòi hỏi người biên dịch có khả năng sử dụng chiến lược nào để

có thể khai thác tư liệu một cách phong phú và đa dạng thì dịch nói cũng đòi hỏi ngườiphiên dịch phải sử dụng chiến lược nào để có hiệu quả tốt nhất Với phiên dịch việc cótrí nhớ tốt (good memory), đặt biệt là trí nhớ tạm thời (short term memory) rất cần thiết

Trang 14

Tài liệu học tập yêu cầu phải được ứng dụng phù hợp, bổ khuyết và nâng cao vớichuyên ngành người học chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn ( source language- SL) sangngôn ngữ đích (target language- TL):

• Chiến lược Biên Dịch được thiết kế theo Baker (2018) có tám chiến lược chủ yếu

• Chiến lược Phiên dịch được thiết kế theo Xiangdong (2015) có bốn chiến lượcchủ yếu

• Từ góc độ chương trình đào tạo: Sau khi học xong, sinh viên nắm vững lý thuyết,thể loại, phương pháp và kỹ thuật cơ bản của biên phiên dịch Thực hiện phiên dịch vàbiên dịch trong các giao dịch dân sự, thương mại thông qua việc sử dụng tiếng Anh tạicác công ty mô phỏng tại trường Sinh viên có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp có thểlàm việc hiệu quả trong lĩnh vực biên – phiên dịch, đáp ứng được yêu cầu của xã hội vàcủa nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế

• Từ góc độ người học: Sinh viên có đủ kiến thức và khả năng tự phân tích và hiệuđính một văn bản đã được dịch Sinh viên có khả năng giao tiếp hiệu quả trong môitrường chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế, có khả năng thích ứng với sự thay đổi trongmôi trường làm việc, xác định và đưa ra hướng giải quyết vấn đề của tổ chức hoặc cộngđồng., có tinh thần hợp tác và phối hợp công việc với các thành viên trong nhóm và tổchức Luôn luôn học hỏi, tự nghiên cứu, đánh giá và cập nhật thông tin phục vụ nhucầu học tập và làm việc Tôn trọng sự khác biệt, tính đa dạng của các nền văn hóa

Trang 15

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Để thiết kế tài liệu học tập biên phiên dịch tiền trung cấp, các phương pháp sau đâyđược sử dụng:

+ Phương pháp 9 bước của Gagne (1992)

+ Thiết kế cấu trúc giáo trình của Schneider (2008)

1.7 Bố cục của báo cáo

Báo cáo có 4 chương

Chương 1: Dẫn nhập

Chương 2: Tổng quan vấn đề và Phương pháp thiết kế

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Trang 16

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

và vũ khí của Đức của các nước thắng trận cùng với nhu cầu biên phiên dịch cấp báchcủa Tòa án quốc tế Nuremberg, nhiều chương trình và trường đào tạo biên phiên dịch rađời ở châu Âu và Mỹ Châu Âu có Graz và Innsbruck năm 1946, Germersheim năm

1947 và Saarbrücken năm 1948, Mỹ có Georgetown University năm 1949 Sự phát triểnnhanh và mạnh mẽ phải kể đến là các chương trình và trường đào tạo biên phiên dịchcủa Pháp ra đời năm 1957 trước đòi hỏi của quá trình hợp nhất châu Âu đang bước đầuhình thành Khác với trào lưu đáp ứng nhu cầu xã hội và thị trường ở Tây Âu, đào tạo

Trang 18

trình đào tạo ngoại ngữ như chương trình đào tạo biên phiên dịch ở Đại học tổng hợpngôn ngữ Matxcơva (Liên Xô) bắt đầu từ thập niên1930 Mô hình đào tạo gắn với dạyngoại ngữ này sau đó lan rộng và hiện còn duy trì ở nhiều nước Đông Âu Các nướcphương Tây có xu hướng thành lập các trường chuyên đào tạo biên phiên dịch vàchương trình đào tạo mang tính chuyên ngành cao Các trường này thường mở cácchương trình đào tạo phiên dịch hội nghị cao cấp và dịch thuật nói chung và đều là thànhviên của Hiệp hội CIUTI (Conférence Internationale Permanente d’InstitutsUniversitaires de Traducteurs et Interprètes) thành lập năm 1964 Hiệp hội hiện có hơn

30 thành viên với nỗ lực không ngừng đảm bảo thương hiệu qua các chương trình đàotạo chất lượng ở hơn 300 trung tâm thuộc CIUTI chuyên đào tạo dịch thuật trên toàn thếgiới, chiếm khoảng 10% thị phần đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp của thế giới.Tuy vậy, các chương trình đào tạo biên phiên dịch ngoài Tây Âu cũng phát triển nhanhchóng cạnh tranh mạnh mẽ với các chương trình Tây Âu từ những năm 1960 và đếnnhững năm bảy mươi thế kỷ trước đã vượt Tây Âu về số lượng Nguyên nhân chính của

sự vượt trội này nằm ở nhu cầu xã hội và diễn biến của tình hình thế giới cuối thế kỷ 20đầu thế kỷ 21 Tây Âu phát triển đào tạo biên phiên dịch nhằm phục vụ hàng loạt cácnhu cầu khác nhau của quá trình hợp nhất châu Âu trong những năm này, trong khi cácnước ngoài Tây Âu phát triển đào tạo biên phiên dịch chủ yếu để đáp ứng các nhu cầucủa quá trình toàn cầu hóa kinh tế vốn ổn định hơn

Tuy có lịch sử phát triển khác nhau, nhưng đào tạo biên phiên dịch trên thế giới vẫn

Trang 19

cách đang làm thay đổi bản chất của đào tạo đại học là dần dịch chuyển trọng tâm sangcác mục tiêu đào tạo nghề nghiệp, từng bước hòa nhập đào tạo biên phiên dịch vào cơcấu đào tạo đại học Các chương trình và trường đào tạo biên phiên dịch đang dần từ bỏquan niệm đào tạo biên phiên dich chuyên nghiệp là thuộc các chương trình đào tạo đặcbiệt (đào tạo đội ngũ ‘elite’) của các trường đào tạo nghề nghiệp chuyên biệt trước đây

và đó cũng chỉ là các chương trình đào tạo đại học bình thường Ngoài ra, các nhân tốtác động khác tới xu hướng cải cách đại học này còn là sự biến đổi về nhu cầu nhân lực

và việc làm ở nhiều nước Tỷ lệ thất nghiệp ở những người tốt nghiệp từ các trường đàotạo ngôn ngữ cao là hệ quả của toàn cầu hóa, việc dùng tiếng Anh phổ biến hơn khiếnnhu cầu dùng các tiếng khác giảm nên giáo viên dạy các tiếng này ít việc làm hơn.Nhiều giáo viên ngoại ngữ tìm đến nghề biên phiên dịch hoặc để thay thế nghề dạy hoặcnhư một nghề bổ sung bán thời gian Chính sách duy trì và phát triển các ngôn ngữ ítngười nói của nhiều chính phủ, đặc biệt ở các nước đa dân tộc như Mỹ, Australia,Canada, Thụy Điển v.v dẫn đến việc đào tạo hai ngoại ngữ trong đó biên phiên dịchđóng vai trò lớn hơn dạy tiếng để phục vụ cộng đồng, như biên phiên dịch tòa án, bệnhviện, sở di trú v.v Ở một số nước khác như Trung Quốc, nhu cầu của xã hội phát triểnvới biên phiên dịch chất lượng cao đang vượt xa năng lực đào tạo của hệ thống giáo dục

do trước đây nước này đã không chú trọng đào tạo biên phiên dịch như một nghề nghiệpchính thống Theo Liu (2013), các khóa đào tạo biên phiên dịch ở Trung Quốc được đặthoàn toàn trong hệ thống đào tạo đại học và thuộc về các khoa đào tạo chuyên môn Mặc

dù chương trình đào tạo dịch thuật trình độ Thạc sĩ được bắt đầu từ những năm 1950 ở

Trang 20

Trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, nhưng phải đến 2007 chương trình đào tạo cửnhân biên phiên dịch mới bắt đầu cùng với những chương trình đào tạo nghề biên phiêndịch khác Ở Hồng Kông, đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp bắt đầu từ những năm

1970 với chương trình cử nhân biên phiên dịch của Trường Đại học Hồng Kông Ấn Độhiện cũng đang nhận thấy sự thiếu hụt này cùng với đà phát triển và tăng trưởng kinh tếnhanh trong trào lưu toàn cầu hóa và nhiều trường đại học đang nỗ lực khắc phục hậuquả của việc đặt đào tạo dịch thuật ở biên của giáo dục đại học

2.2 Đào tạo biên phiên dịch ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đào tạo biên phiên dịch một cách chính qui và bài bản ở các cơ sở đàotạo được bắt đầu khá muộn so với thế giới Trước những năm 90 của thế kỷ 20, các khóađào tạo biên phiên dịch được tổ chức một cách nhỏ lẻ ở các trường chuyên ngoại ngữ,ngoại giao và ngoại thương với chương trình đào tạo nặng về ngoại ngữ và một số ítmôn học thực hành dịch theo hướng truyền nghề, với cơ sở khoa học thấp Từ năm 2000,các khóa đào tạo biên phiên dịch chính quy mới được thực sự bắt đầu ở một số trườngđại học như Trường Đại học Ngoại ngữ, Học viện Ngoại giao Việt Nam và Đại họcNgoại thương Chương trình đào tạo phần lớn theo hướng liên thông (chương trình cửnhân biên phiên dịch gồm 2 năm cơ sở và 2 năm chuyên ngành dịch) nhưng không đầy

đủ, lấy đào tạo ngoại ngữ là chính với một hai học kỳ cuối tập trung vào đào tạo kỹ năngbiên phiên dịch Lúc đầu, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Cử nhân tiếng nước ngoài

Trang 21

ngoài chuyên ngành ngôn ngữ học Mặc dù chương trình đã được cải tiến rất nhiều sovới trước đây, nhưng nhìn chung vẫn thiên về đào tạo ngoại ngữ với một số học kỳ cuốitập trung vào lý luận và kỹ năng biên phiên dịch Các khâu đào tạo chính từ thiết kế,quản lý thực hiện chương trình đến giảng dạy, kiểm tra đánh giá đều được tiến hànhchưa thực sự bài bản, thiếu vắng lý luận cơ sở Các chương trình đào tạo biên phiên dịch

ở Việt Nam vẫn chỉ ở cấp cử nhân và chưa có trường nào có chương trình đào tạo cấpcao hơn Chưa có đánh giá chính thức nào về chất lượng đào tạo của các chương trìnhtrong nước, nhưng một số sinh viên tốt nghiệp các chương trình đào tạo biên phiên dịchcho biết họ chưa có được vị thế cao khi gặp các nhà tuyển dụng ở các cơ quan, công tytrong nước Các cơ sở và chương trình đào tạo biên phiên dịch như sau:

a Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội: Chương trình được bắt đầu

từ năm 1994 với 4 năm đào tạo chia thành 2 phần, mỗi phần 4 học kỳ được tiến hànhxen kẽ không theo tuyến tính Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân ngoại ngữchuyên ngành phiên dịch/ngôn ngữ học

b Trường Đại học Hà Nội: Chương trình 4 năm với 3 học kỳ cho biên dịch và 2 học

kỳ dành cho phiên dịch, ngoài các học kỳ dành cho đào tạo ngoại ngữ Sinh viên tốtnghiệp được cấp bằng cử nhân ngoại ngữ chuyên ngành phiên dịch/ngôn ngữ học

Trang 22

c Trung tâm đào tạo phiên dịch, Học viện Ngoại giao Việt Nam: Chương trình 3tháng đào tạo biên phiên dịch viên dùng chương trình của cộng đồng châu Âu Học viêntốt nghiệp được cấp Chứng chỉ biên phiên dịch.

d Trường Đại học Hải Phòng: Chương trình 4 năm chia thành 2 phần, 4 kỳ đầu dànhcho đào tạo ngoại ngữ, 4 kỳ sau cho đào tạo biên phiên dịch Sinh viên tốt nghiệp đượccấp bằng cử nhân chuyên ngành phiên dịch/ngôn ngữ học

e Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế: Chương trình đào tạo liên kết với Họcviện Ngoại giao Việt Nam, thời lượng 3 tháng và cấp Chứng chỉ biên phiên dịch Một sốtrường đại học khác ở phía Nam như Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học CầnThơ, v.v cũng có các khóa đào tạo hệ biên phiên dịch cấp cử nhân tương tự các trườngđại học phía Bắc nói trên Hiện trạng đào tạo trong nước cho thấy việc đào tạo biênphiên dịch cũng tương tự các nước châu Á khác (Trung Quốc, Ấn Độ), đào tạo biênphiên dịch chuyên nghiệp vẫn chưa phải trọng tâm và ưu tiên của hệ thống đào tạo đạihọc và dạy nghề Cấp đào đạo, nội dung và hình thức chương trình nghèo nàn, còn khá

xa so với hiện trạng đào tạo ở các nước phát triển trên thế giới và yêu cầu của xã hội vàthị trường trong nước

Tuy vậy chương trình khung các trường trên chưa mang tính logic từ thấp đến cao,

Trang 23

nam cho thực hành Lý thuyết dịch thuật như tấm bảng chỉ đường nơi một ngã ba trênđất lạ, nó giúp ta tự tin để quyết định sẽ đi theo phương hướng dịch thuật nào Một quanđiểm dịch thuật không dựa vào lý thuyết sẽ tạo ra một sản phẩm dịch đầy cảm tính, thiếuthuyết phục, và đôi khi thiếu cả sự nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ đích.

Kiến thức về lý thuyết dịch thuật cũng cần thiết khi phê bình tiến trình hay sản phẩmdịch thuật Dùng lý thuyết để phân tích và đánh giá sẽ giúp ta giảm bớt cách nhìn đầychủ quan, khiến việc phê bình trở nên chừng mực và khách quan Sau cùng, để bước vàolĩnh vực dịch thuật một cách nghiêm chỉnh, ngoài khả năng ngôn ngữ, sinh viên cần rènluyện kỹ năng diễn đạt bằng chữ và lời nói, tự trang bị kiến thức qua kỹ năng tìm vàđánh giá thông tin Các kỹ năng và kiến thức này cần cập nhật thường xuyên bằng tựhọc để có thể bắt kịp sự phát triển của xã hội và công nghệ thông tin

Vì những lý do khách quan trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu tài liệu học tậptrên làm kim chỉ nam cho sinh viên học tập và nghiên cứu Ngoài ra sinh viên còn áp

dụng các kỹ năng phản xạ nhanh khi luyện phiên dịch… (xem thêm Bảng 2.1 Đối sánh các tài liệu học tập Biên phiên dịch bên dưới)

2.3 Các khuynh hướng đào tạo biên phiên dịch

Đào tạo biên phiên dịch chuyên nghiệp được các nhà lý luận chia thành 2 bình diệnchính là giáo dục biên phiên dịch và đào tạo biên phiên dịch Như đã bàn ở trên, đào tạo

Trang 24

biên phiên dịch là huấn luyện và phát triển các năng lực phục vụ nghề nghiệp với trọngtâm là kiến thức, kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng biên phiên dịch, kết hợp giữa giảng dạy

và thực hành ở các khóa học có định hướng dạy nghề thuần túy.Việc sử dụng các chiếnthuật dịch cũng góp phần không nhỏ trong giảng dạy và học tập Hướng này thường docác biên phiên dịch chuyên nghiệp chủ trương và trực tiếp tham gia đào tạo Giáo dụcbiên phiên dịch là đào tạo ra các biên phiên dịch viên chuyên nghiệp với tư cách lànhững người hành nghề biên phiên dịch với thái độ, phẩm chất, kiến thức và kỹ năngthích hợp với nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội Hướng này thường thực hiện ở cáctrường đại học với chương trình đào tạo chính quy và bài bản

Để phục vụ đào tạo biên phiên dịch viên chuyên nghiệp, nhiều nghiên cứu dịch thuật

và đào tạo dịch thuật nửa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã tập trung làm rõ khái niệm

‘năng lực dịch thuật’ với nhiều định nghĩa và ý kiến khác nhau Hiện trạng đào tạo biênphiên dịch trên thế giới cho thấy các loại hình chương trình và khóa đào tạo rất đa dạng,phản ánh những cách nhìn khác nhau về năng lực cần đào tạo cho biên phiên dịch viên

Về lý luận, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất với nhau rằng người hành nghềbiên phiên dịch cần có hai loại kiến thức cơ sở là kiến thức thực thi hay phương pháp(operative or procedural knowledge) và kiến thức miêu tả hay thực tế (descriptive orfactual knowledge) Hai loại kiến thức này cùng giúp biên phiên dịch viên phát triểnnăng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề phức tạp trong quá trình dịch thuật mà bất kỳ

Ngày đăng: 16/09/2021, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w