* Hạn chế: Luận cương chưa nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc, nặng về đấu tranh giai cấp chưa thấy rõ khả năng cách mạng của các tầng lớp khá[r]
Trang 1MỤC LỤC Trang
4 Đối tượng nghiên cứu 4
Trang 2BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỊCH SỬ LỚP 9 GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1919- 1930
Lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và lịch sử dân tộc Việt
Nam nói riêng đã khẳng định vai trò của “người tài” Họ là lực lượng khởi đầu cho
sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, đem đến cho mỗi quốc gia nền văn minh, tiến
bộ không ngừng
Ngày nay trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, nhất là trong
nền kinh tế tri thức, vai trò của “ người tài” càng tăng lên gấp bội Chính vì thế, bồi
dưỡng học sinh giỏi là bước đi đầu tiên để đào tạo nhân tài cho đất nước và lànhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục Công tác này được xác định là một hoạtđộng mũi nhọn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
và đang được Đảng, Nhà nước cùng toàn thể xã hội đặc biệt quan tâm
Bên cạnh các môn khoa học tự nhiên như: Toán, Lý, Hoá thì việc dạy cácmôn khoa học xã hội trong đó có môn Lịch sử đang được ngành đặc biệt chú ý Mấynăm gần đây thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông đã gây ra nhiều bứcxúc, nỗi lo âu của xã hội Điều này không chỉ được phản ánh qua điểm số các kỳ thitốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng mà còn qua kết quả điều tra xãhội học, qua các sân chơi truyền hình và dư luận xã hội Mặt hạn chế nặng nề nhấtcủa giáo dục môn Lịch sử là đại bộ phận học sinh không thích học môn này, coi nhưmôn học của các sự kiện, năm tháng, môn học của trí nhớ, khô khan, nhàm chán
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Giáo sư Phan Huy Lê nói: Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông màkhông yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử vàvăn hoá nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc thì làm sao có thể hoàn chỉnh
Trang 3được phẩm chất của người công dân Việt Nam Từ đặc điểm đó, môn Lịch sử càngphải đặt đúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông.
Dạy học lịch sử ở trường THCS là một quá trình sư phạm, bao gồm nhiềuloại hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh Những hoạt động đó nhằm mụcđích cho học sinh nắm được tri thức lịch sử, yêu thích môn học, từ đó phát triển tưduy lịch sử, biết nhận định, đánh giá cá sự kiện lịch sử một cách khách quan, đúngđắn
Có rất nhiều phương pháp dạy học trong giảng dạy môn lịch sử, điều quantrọng là giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp giảng dạy sao cho hài hoà, phùhợp với đối tượng học sinh, có như vậy mới tạo được hứng thú học tập, tạo lòngđam mê, yêu thích môn học ở học sinh
Nhưng làm thế nào để bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, đặc biệt là đốivới môn lịch sử ?, đó là câu hỏi luôn trăn trở của các nhà quản lý và của giáo viêntrực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá trong các nhà trường nói chung vàmôn lịch sử nói riêng là vấn đề quan trọng, cơ bản, cốt lõi để nâng cao chất lượngđào tạo, giáo dục trí lực cho học sinh; mũi nhọn học sinh giỏi ở trong mỗi nhàtrường nó đánh giá chất lượng đào tạo cơ bản để nâng cao uy tín của nhà trường và
uy tín của giáo viên giảng dạy Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, kết quả mang lại khôngcao
Qua thực tiễn giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, bản thân tôi đã
tự rút ra những kinh nghiệm, đó có thể là những giải pháp góp phần nhỏ song hànhcùng các đồng nghiệp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Lịch sử
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của tôi viết chuyên đề này, nhằm góp phần nâng cao chất lượnggiảng dạy bộ môn Lịch sử nói chung, và góp phần nâng cao chất lượng dạy bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng, tạo sự hứng thú học tập bộ môn cho các
em trong đội tuyển giúp các em nắm chắc kiến thức và kĩ năng làm bài Đưa ra cácphương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả
- Giúp HS dễ nhớ: Khi làm bài học sinh gặp các câu hỏi các em sẽ hiểu câu hỏi
đó thuộc dạng bài tập nào, từ đó sẽ giúp các em hiểu đề bài hơn và làm bài tốt hơn
- Giúp HS hiểu được bản chất của các câu hỏi lich sử: Hệ thống hoá kiến thức
giúp học sinh so sánh, đánh giá, lý giải vấn đề …nhờ vậy mà hiểu được Lịch sử,phát triển tư duy logich trong nhận thức Lịch sử, giúp học sinh hiểu bài, nắm đượckiến thức cơ bản và ghi nhớ lâu hơn giúp các em học tập và khả năng làm bài tốthơn
Trang 4III BẢN CHẤT LÀM RÕ TRONG CHUYÊN ĐỀ
Trong chuyên đề Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, tôi muốn làm rõ
những vấn đề cơ bản sau:
Thực trạng việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử
Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi Sử
Hệ thống hoá kiến thức Lịch sử Việt Nam từ 1919- 1930
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng của chuyên đề: Học sinh trường THCS Phúc Thắng( Cụ thể là họcsinh khối lớp 9)
V PHƯƠNG PHÁP VIẾT CHUYÊN ĐỀ
Trong quá trình dạy học Lịch sử không có một phương pháp nào được coi là
vạn năng, mỗi phương pháp có thể được sử dụng hiệu quả với từng mục đích khácnhau Một tiết học Lịch sử giáo viên không thể chỉ dạy bằng duy nhất một phươngpháp và phải có sự kết hợp của rất nhiều các phương pháp và nhiều dạng bài tập
- Phương pháp viết chuyên đề: + Các tài liệu, thông tin tham khảo
+ Các tài liệu dạy học : SGK, sách giáo viênLịch sử
- Phương pháp Kiểm tra đánh giá học sinh trên kết quả các bài kiểm tra để từ
đó có điều chỉnh và bổ sung hợp lí
- Trao đổi rút kinh nghiệm qua từng dạng bài tập lịch sử thông qua dự giờ
VI GIỚI HẠN CỦA CHUYÊN ĐỀ
Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử được nghiên cứu giới hạn tạitrường trung học cơ sở Phúc Thắng- thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc
VII PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH CỦA CHUYÊN ĐỀ.
- Phạm vi: Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi của tôi được viết trong quá trìnhbồi dưỡng học sinh giỏi
- Kế hoạch: + Bắt đầu nghiên cứu từ đầu năm học 2011-2012
+ Vận dụng trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏimôn Lịch sử ở trường THCS Phúc Thắng
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
I Thực trạng việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:
Trong những năm gần đây, bộ môn Lịch sử ở phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yêntham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh đạt kết quả chưa cao, mỗi năm chỉ có 3-5 emđạt giải / 20 em dự thi, và kết quả cũng chỉ dừng lại ở giải 3 và giải KK là nhiều
Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, theo tôi đó là:
Thứ nhất, giáo viên tham gia giảng dạy chưa xây dựng được một nội dung,chương trình, giảng dạy chi tiết, phù hợp
Thứ hai, học sinh không yêu thích môn học Lịch sử, xem đó là môn phụ, làmôn thi của những người không được học khối A,B,D, là môn của những người họcthuộc lòng Và đã là môn phụ thì rất khó để học sinh quan tâm học hành tử tế Thực
tế những em tham dự môn học là những em “ không sắc”, hơn nữa, gia đình các emkhông muốn con mình tham gia dự thi môn học này Theo như lời một phụ huynhnói thì đó là môn phụ, không giúp gì cho cháu thi vào cấp 3 và thi đại học, chúng tôichỉ muốn cháu học : Toán, Lý, Hoá, Ngoại ngữ thôi
Thứ ba, các em chưa biết cách học môn Lịch sử, chỉ biết học thuộc lòng, “học vẹt”, bởi vậy kiến thức nhớ không lâu, không hiểu bản chất sự việc Người họctiếp nhận kiến thức một cách thụ động, máy móc
Thứ tư, các em chưa biết cách làm bài môn lịch sử Nhiều em làm bài theo ý,gạch đầu dòng như cách ghi thông thường trên bảng của các thầy cô dạy trên lớp.Chưa biết phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử Chưa biết tổng hợp, chọn lọc kiếnthức cho các câu hỏi mang tính khái quát
Thứ năm, trong quá trình giảng dạy, giáo vên chưa kiểm tra thường xuyên đểbiết được sự tự học của các em Giáo viên chưa dạy các em kỹ năng trình bày, phântích , đánh giá các sự kiên lịch sử mình đang học, chưa giúp các em biết tự đặt racác câu hỏi cho những nội dung mình tiếp cận
Thứ sáu, BGH nhà trường chưa thực sự vào cuộc, chưa có những giải phápđồng bộ để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi
Từ thực tế đó, tôi đưa ra các giải pháp để chúng ta cùng thảo luận
II Các giải pháp
a Đối với Ban giám hiệu:
- BGH các nhà trường cần chỉ đạo lấy phương châm chất lượng giáo dục đạitrà là nền tảng để nâng cao chất lượng mũi nhọn
- Phân công chuyên môn, phân công GV dạy đội tuyển một cách hợp lý, lựachọn giáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm, tinh thần trách
Trang 6nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáoviên
- Phát hiện và xây dựng nguồn HSG bắt đầu từ lớp 8
- Tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ
- Có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên
và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi Động viên khuyến khích thầy dạycho học sinh giỏi và học sinh thi học sinh giỏi đạt kết quả cao, kết hợp hài hoà giữađộng viên tinh thần với những biện pháp khuyến khích lợi ích vật chất Nguồn kinhphí cho công tác này được huy động từ nhiều nguồn: Ngân sách của nhà nước, xãhội hóa
- Tổ chức khảo sát các đội tuyển vào các thời điểm thích hợp
b Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng.
Muốn có HSG phải có Thầy giỏi và tâm huyết với nghề, vì thế người thầyphải luôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi
chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo.
Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện,đặc biệt là trên mạng internet Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụngnhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…người thầy phải luôn trăn trở, tìm ra các phương pháp dạy học thích hợp;…
Thứ nhất, Về chương trình bồi dưỡng:
- GV dạy bồi dưỡng phải xây dựng chương trình cho toàn bộ đợt bồi
dưỡng một cách cụ thể, chi tiết Trên cơ sở đó, phân bố thời gian hợp lý chotừng buổi dạy, tiết dạy
- Xác định rõ kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm, kiến thức nâng cao mởrộng ở từng bài, từng chương, từng phần…để có kế hoạch giảng dạy, phương phápgiảng dạy phù hợp
- Xây dựng giáo án cụ thể cho từng tiết dạy, giáo án phải tập trung chú trọngnâng cao kiến thứ bộ môn, mở rộng kiến thức, nhưng phải hệ thống, giúp học sinh
dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng trong làm bài Xây dựng giáo án có vai trò hết sứcquan trọng, thể hiện nội dung xuyên suốt trong cả quá trình bồi dưỡng
Thứ hai, về việc dạy bồi dưỡng (Đây là quá trình quan trọng nhất)
Học sinh được lựa chọn tham gia vào đội tuyển HSG là những em có nhữngphẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ hơn học sinh khác Chính vì thế, những họcsinh này cần được tổ chức dạy học đặc biệt sao cho nhịp độ giảng dạy được caohơn, nội dung giảng dạy cao hơn, phương pháp giảng dạy đặc biệt hơn, để các emđược học tập, làm việc, phát triển hết khả năng của mình Người giáo viên phải làmđược:
Giúp học sinh thực sự yêu thích học bộ môn Lịch sử
Trang 7Đây là vấn đề khó khăn nhất của mỗi giáo viên đứng lớp Làm sao để họcsinh thực sự yêu thích môn học của mình, làm sao giáo viên truyền được lòng đam
mê học tập cho học sinh?
Dạy sử không đơn thuần là sự truyền đạt kiến thức một chiều, càng khôngphải là áp đặt những khuôn sáo có sẵn…mà là sự đối thoại hai chiều giữa thầy côgiáo với học sinh để lớp trẻ đi vào môn Lịch sử một cách năng động, thích thú vàthoải mái Người thầy không đơn thuần chỉ là người truyền đạt kiến thức cho họcsinh, mà thầy còn là người giúp đỡ, động viên học sinh, gần gũi, tìm hiểu tâm tưcủa các em trong cuộc sống Đặc biệt, Thầy cần biết khéo léo, động viên, khích lệcác em trong giờ học Trong quá trình giảng dạy, nên kết hợp nhiều phương pháp,kết hợp kể 1 số câu chuyện về Lịch sử để giờ học đỡ khô khan, không nhàm chán.Giáo viên cần khéo léo động viên để gắn trách nhiệm của các em cũng là cách đểcác em thêm yêu thích môn học Hãy cho các em thấy rằng mình là niềm tự hào,niềm tin tưởng của gia đình, dòng họ, của thầy cô, bạn bè, của nhà trường củaPhòng, Sở…
Giúp các em phương pháp học tập bộ môn Lịch sử
Hầu hết học sinh khi học môn Lịch sử đề cố gắng học thuộc lòng và nhớtừng sự kiện mà không có khả năng phân tích, khái quát, nhìn nhận sự kiện lịch sửtrong bối cảnh thời đại, từ đó thấy rõ bản chất, nguyên nhân và mối liên hệ của các
sự kiện để hệ thống hoá vấn đề cho dễ nhớ các sự kiện điển hình, tiêu biểu của mỗigiai đoạn lịch sử, không sa đà vào chi tiết vụn vặt Học Lịch sử phải hiểu được bản
chất vấn đề, tránh lối “học vẹt” Chính vì thế học sử tuyệt đối không phải là thuộc
lòng các năm tháng, sự kiện, tên tuổi, nhân vật cùng với những con số khô cứng…
mà là hiểu biết một cách thông minh những diễn biến cơ bản của Lịch sử, thấmnhuần một cách hứng thú những giá trị tiêu biểu của Lịch sử và văn hoá, xây dựng
tư duy Lịch sử
Phương pháp học bắt đầu từ cách ghi vở Ghi vở, học sinh chỉ cần ghi những
ý chính, trọng tâm, ghi những sự kiện cơ bản, còn giành thời gian để nghe giảng, đểhiểu, để hỏi lại thầy những vấn đề mình chưa rõ…
Bên cạnh đó, việc tự học của các em là vô cùng quan trọng Giáo viên phải
hướng dẫn các em cách tự học ở nhà Không nên “học vẹt” mà phải nắm vững
những kiến thức lịch sử chính ở từng bài, từng chương, từng giai đoạn, sau đó mớiliên hệ với các sự kiện khác có liên quan Phải phân biệt được đâu là sự kiện chính?
Sự kiện đó nằm trong bối cảnh lịch sử nào diễn ra như thế nào? kết thúc ra sao? Cótác dụng gì?
Hướng dẫn các em làm bài thi môn lịch sử
Dạy học sinh giỏi cần phải dạy và rèn luyện kỹ năng làm bài Kỹ năng làmbài thi của HS có có nhiều hạn chế, vì vậy GV phải là người hướng dẫn, rèn luyệncho HS cách làm bài, trình bày bài thi một cách khoa học Việc làm này phải đượctiến hành thường xuyên, liên tục
Trang 8Kỹ năng làm bài thi là một yêu cầu quan trọng trong quá trình bồi dưỡng.Học sinh phải đọc qua tất cả các câu hỏi trong đề ra trước khi làm bài.
Trước khi làm bài nên ghi dàn ý
Bài thi môn lịch sử cần chú ý:
+ Phần mở bài ( Có thể sử dụng hoàn cảnh lịch sử để mở bài), lưu ý khôngnên quá dài dòng, chỉ cần vài câu, đủ ý để dẫn dắt vào nội dung
+ Phần thân bài: Đây là phần trọng tâm câu trả lời Dựa trên cơ sở những ý
cơ bản đã vạch ra học sinh tập trung liên hệ những kiến thức đã học, đã nắm được
và học sinh sử dụng phương pháp liên kết câu, liên kết đoạn văn để làm bài Đây làphần cơ bản nhất, học sinh cần đưa ra đầy đủ các kiến thức mà đề yêu cầu, đồngthời phải có sự đánh giá, liên hệ thực tế
+ Phần kết luận: Tóm tắt ý nghĩa, tác dụng của phần thân bài để làm kết luận.Phần kết luận không cần dài dòng (Có thể dùng phần kết quả, ý nghĩa, bài học kinhnghiệm cho phần kết luận)
Lưu ý: Chọn câu dễ làm trước, Tuy nhiên trong kỳ thi HSG môn Lịch sử
khuyến khích làm các câu hỏi theo tiến trình lịch sử Câu nào sự kiện trước thì làmtrước
Phải tập trung vào làm bài, nhưng cần phân bố thì gian hợp lý Cố gắng làmhết các câu hỏi trong đề thi Tuy theo từng câu để phân bố thời gian cho phù hợp.Cuối giờ nên để giành khoảng 10 phút để đọc lại bài trước khi nộp
Thường xuyên kiểm tra sự tự học ở nhà.
Sau mỗi buổi học, giáo viên dạy bồi dưỡng cần đưa ra các câu hỏi, những bàitập yêu cầu học sinh học bài, làm bài ở nhà Hôm sau giáo viên giành khoảng thờigian 30 phút để kiểm tra lại việc học của học sinh.( GV nắm được học sinh học nhưthế nào? học đến đâu? Đồng thời giáo viên kiểm tra được cách diễn đạt của họcsinh, từ đó có phương pháp uốn nắn kịp thời) Với mỗi bài kiểm tra của học sinh,thầy cần chấm kỹ phát hiện những cái mới, hay mang tính sáng tạo, đồng thời cũngphát hiện những điểm sai, bỏ sót về kiến thức, cách trình bày Sau đó trả bài vàchữa cẩn thận lại từng câu hỏi, các lỗi sai phổ biến cho học sinh
Tăng cường hướng dẫn học sinh biết sử dụng sách giáo khoa, học sinh phảihiểu và khai thác hết kiến thức có trong sách giáo khoa
Giáo viên cần sưu tầm các dạng câu hỏi, các dạng đề thi của các năm trước, của các đơn vị bạn để học sinh tham khảo
Mỗi nội dung lịch sử, người ra đề có thể hỏi bằng nhiều cách hỏi khác nhau,trong quá trình giảng dạy sau mỗi nội dung, giáo viên nên đặt câu hỏi cho học sinhtrả lời, đồng thời giáo viên nên tập cho học sinh cách đặt ra các câu hỏi theo ý củamình và hướng trả lời các câu hỏi đó Có như vậy các em tự phải tư duy và chắcchắn sẽ nhớ kiến thức một cách lâu hơn
Trang 9III Hệ thống kiến thức sử dụng trong chuyên đề: Giai đoạn lịch sử 1919- 1930.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viên cần xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức mở rộng, nâng cao để có phương pháp giảng dạy phù hợp Trong giai đoạn 1919- 1930 của Lịch sử Việt Nam, tôi có thể đưa ra 1 số dạng câu hỏi cụ thể như sau:
1 Kiến thức trọng tâm:
+ Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
+ Phong trào cách mạng Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1925)
1919-+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài ( 1919- 1925)
+ Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời
+ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
2.Kiến thức nâng cao
+Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp có ảnh hưởng tới nền kinh tế,
chính trị, xã hội ở Việt Nam như thế nào?
+ Căn cứ vào đâu để khẳng định phong trào công nhân nước ta phát triển lên
1 bước cao hơn sau chiến tranh thế giới thứ nhất? Cuộc bãi công Ba Son ( 8.1925)
có điểm gì mới trong phong trào công nhân nước ta sau chiến tranh thế giới thứnhất? Vị trí của phong trào công nhân đối với việc thành lập Đảng cộng sản VN?
+ Vai trò của Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạngthanh niên
+Vai trò của Nguyễn Ái Quốc với sự thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
3 Những định hướng cơ bản ( Hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong giai đoạn 1919- 1930)
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử, mục đích khi Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ 2 ở VN.
Trang 10- Cách mạng tháng Mười Nga thành công, thị trường lớn nhất của Pháp tạichâu Âu không còn
- Nạn lạm phát, giá cả leo thang, đời sống nhân dân khổ cực…
* Mục đích
- Để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, chínhquyền thực dân Pháp một mặt ra sức tìm các biện pháp thúc đẩy sản xuất ở trongnước
- Mặt khác tăng cường đầu tư khai thác, trước hết là ở Đông Dương và ChâuPhi thuộc địa
Câu 2: Nêu qui mô (nội dung), hậu quả của chính sách cai trị và chương trình khai thác thuộc địa của Pháp ở VN sau chiến tranh thế giới thứ nhất.
* Thời gian: Đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp chính
thức được triển khai từ sau đại chiến thế giới thứ nhất và kéo dài cho đến trướccuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ( 1929- 1933) tức là khoảng 10 năm
* Mục tiêu: Bòn rút thuộc địa, làm giàu cho chính quốc, không cho thuộc địa
có cơ hội cạnh tranh với chính quốc
* Cơ cấu vốn đầu tư:
+ Trước chiến tranh TG thứ nhất: Chủ yếu là vốn đầu tư của tư bản nhà nước+ Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2: Chủ yếu là vốn đầu tư của tư bản
tư nhân
* Cường độ: Cuộc khai thác diễn ra với cường độ mạnh Riêng 6 năm
1924-1929, tổng số vốn đầu tư của Pháp vào Đông Dương tăng 6 lần so với 20 năm trướcchiến tranh
+ Khai thác thuộc địa lần1: Khai khoáng ở vị trí số 1
+ Khai thác thuộc địa lần 2: Nông nghiệp ở vị trí số 1
a Qui mô:
- Về nông nghiệp: Thực dân Pháp tăng cường đầu tư vốn vào nông nghiệp,
mà trọng tâm là cao su Diện tích trồng cao su tăng từ 15 ngàn héc ta năm 1918 lên
120 ngàn ha năm 1930 Nhiều công ti cao su lớn ra đời: Công ty Đất đỏ, công ti Mi
sơ lanh, công ti Cây nhiệt đới…( 1924: Vốn bỏ vào nông nghiệp 52 triệu Prăng;
1927 vốn bỏ vào nông nghiệp: 400 triệu Prăng)
- Về khai thác mỏ: Thực dân Pháp tăng cường khai thác mỏ, chủ yếu là mỏthan, nhiều công ti than mới nối tiếp nhau ra đời: Công ti than Hạ Long- ĐồngĐăng, công ti than và kim khí Đông Dương, Công ti than Tuyên quang, Công tithan Đông Triều…
Trang 11( 1911: 6vạn ha; 1930: 43 vạn ha)
-Về công nghiệp: Chỉ đầu tư vào công nghiệp nhẹ, không đầu tư vào côngnghiệp nặng để nền kinh tế phát triển không cân đối, phụ thuộc vào chính quốc
- Thương nghiệp: Phát triển hơn
+ Đánh thuế nặng vào hàng các nước nhập vào Việt Nam trước đây: TrungQuốc, Nhật bản…
+ Hàng hoá Pháp nhập vào Việt Nam tăng
( Trước chiến tranh: hàng hoá của Pháp nhập vào Đông Dương: 37%
1929- 1930: hàng hoá của Pháp nhập vào Đông Dương: 63% )
- Về GTVT: Đầu tư vào đường sắt xuyên Đông Dương và 1 số đoạn cần thiết+ Đồng Đăng- Na Sầm (1922)
b hậu quả: Chương trình khai thác lần thứ hai ở Việt Nam của Thực dân
Pháp, tấn công qui mô lớn và toàn diện vào nước ta biến nước ta thành thị trườngtiêu thụ hàng hoá ế thừa và thị trường đầu tư tư bản có lợi cho chúng Kinh tế ViệtNam chuyển biến: có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đó là nền kinh tế mất cân đối,què quặt, phát triển không đồng đều giữa kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và giữacác vùng miền của đất nước Với chương trình khai thác lần này, kinh tế xã hội vàvăn hoá giáo dục biến đổi sâu sắc
* Em có nhận xét gì về chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của hực dân Pháp so với lần thứ nhất?
Điểm mới trong chương trình khai thác lần thứ 2 so với trước là tăng cườngđầu tư vốn, kỹ thuật vào mở rộng sản xuất để kiếm lời Tuy nhiên, về cơ bản chínhsách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không thay đổi so với trước kia: vẫnhạn chế công nghiệp phát triển, đặc biệt là công nghiệp nặng; tăng cường thủ đoạn
Trang 12bóc lột vơ vét tiền của của nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng như: Thuế ruộngđất, thuế thân, thuế rượu, thuế thuốc phiện và hàng trăm thứ thuế khác.
c Các chính sách chính trị, văn hoá, giáo dục:
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sách cai trị của Pháp ở Việt Namkhông hề thay đổi Mọi quyền hành đều bị thâu tóm trong tay người Pháp
Vua Nam là bù nhìn, tay sai
Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ
Mọi hành động yêu nước bị đàn áp, khủng bố dã man
* Về chính trị:
- Chúng thực hiện chính sách “ chia để trị”
- Chúng chia Việt Nam thành 3 kì: Bắc kỳ, Trung kì, Nam kì với 3 chế độkhác nhau
- Chúng chia rẽ giữa các dân tộc đa số và thiểu số
- Chúng chia rẽ tôn giáo
- Lợi dụng bọn đế quốc, phong kiến để củng cố quyền uy
* Về Văn hoá- Giáo dục
- Thực hiện chính sách văn hoá nô dịch
- Khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội
a Sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam, thái độ chính trị, khả năng cách mạng của từng giai cấp sau chiến tranh thế giới thứ nhất
* Giai cấp phong kiến:
- Câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp
- Chiếm đoạt ruộng đất của nông dân
- Tăng cường áp bức bóc lột
Nhìn chung giai cấp phong kiến là đối tượng của cách mạng ( trừ 1 bộ phậnnhỏ yêu nước)
Trang 13* Giai cấp tư sản: Ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phần đông
trong số này là những tiểu chủ đứng trung gian làm thầu khoán, cung cấp nguyênliệu, vật liệu hay đại lý hàng hoá cho tư bản Pháp, khi kiếm được số vốn khá họđứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản như: Bạch Thái Bưởi,Nguyễn Hữu Thu…giai cấp tư sản Việt Nam phân hoá thành hai bộ phận:
- Tầng lớp tư sản mại bản, có quyền lợi gắn chặt với đế quốc – là đối tượngcủa cách mạng
- Tầng lớp tư sản dân tộc, kinh doanh độc lập, thái độ chính trị cải lương dễthoả hiệp
* Tầng lớp tiểu tư sản: hình thành sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tăng
nhanh về số lượng, họ bị thực dân bạc đãi, chèn ép, khinh miệt, đời sống bấp bênh
dễ bị xô đẩy vào con đường phá sản, thất nghiệp
Quan trọng nhất là tầng lớp TTS trí thức, họ hăng hái cách mạng, tíêp thunhững tư tưởng văn hoá mới, là lực lượng quan trọng của cách mạng dân tộc dânchủ
* Giai cấp nông dân
- Chiếm 90% dân số
- Bị thực dân Pháp và phong kiến áp bức nặng nề
- Bị bần cùng hoá không lối thoát
- Họ là lực lượng cách mạng hùng hậu
* Giai cấp công nhân:
- Ra đời ngay trước chiến tranh, trong thời kì khai thác thuộc địa lần thứ nhấtcủa thực dân Pháp, phát triển nhanh trong thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ 2 cả
về số lượng và chất lượng, sống tập trung ở các đô thị và khu công nghiệp
- Có đặc điểm chung của giai cấp công nhân TG và có đặc điểm riêng:
+ Chịu 3 tầng lớp áp bức: Đế quốc, Phong kiến, Tư sản
+ Kế thừa truyền thống yêu nước
+ Gần gũi với nông dân
- Nhanh chóng nắm quyền lãnh đạo cách mạng
* Tác động của cuộc khai thác tới xã hội Việt Nam?:
Cuộc khai thác thộc địa lần thứ 2 của Pháp làm cho xã hội Việt Nam có sựphân hoá ngày càng sâu sắc Các giai cấp cũ ( địa chủ phong kiến và nông dân)phân hoá sâu sắc hơn Những tầng lớp xã hội mới nảy sinh trong cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất ( TS, TTS) phát triển hơn; Giai cấp công nhân trưởng thành
từ tự phát sang tự giác
Trang 14Mỗi giai cấp, tầng lớp trong xã hội có địa vị và quyền lợi khác nhau nêncũng có thái độ chính trị khác nhau trong cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giaicấp đang phát triển, trong đó TTS trở thành 1 lực lượng quan trọng của cách mạng,cùng với giai cấp công nhân, nông dân là động lực chính trong cuộc cách mạng dântộc, dân chủ ở nước ta Bên cạnh đó 1 số bộ phận khác là tư sản dân tộc; trung, tiểuđịa chủ cũng là những lực lượng cách mạng có thể tranh thủ, lôi kéo Ngược lại, bộphận TS mại bản và địa chủ có quyền lợi gắn liền với đế quốc thực dân trở thànhđối tượng cách mạng, kẻ thù của nhân dân.
b.Vì sao giai cấp công nhân nắm quyền lãnh đạo ở nước ta?
- Họ là những người bị bóc lột nặng nề nhất, chịu 3 tầng áp bức: Đế quốc,phong kiến, tư sản
- Họ gần gũi với nông dân, họ sinh ra trong 1 dân tộc có truyền thống yêunước chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập
- Họ ra đời khi phong trào cách mạng dâng lên cao, nội bộ thống nhất, không
bị chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn
- Họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến có ý thức kỷ luật cao, sống tậptrung trong các đồn điền và khu công nghiệp
- Họ có tinh thần cách mạng cao, tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lê Nin nhanh, giaicấp công nhân tuy tuổi đời ít, số lượng chưa nhiều song là giai cấp triệt để cáchmạng nhất
Câu 4: Những nét chính của phong trào dân tộc dân chủ trong những năm 1919- 1925 ở Việt Nam Những ưu điểm, hạn chế, tác dụng của những phong trào đó.
1 Hoàn cảnh lịch sử:
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới có nhiều ảnh hưởngthuận lợi đối với cách mạng Việt Nam đặc biệt là ảnh hưởng của cách mạng thángMười Nga và phong trào cách mạng thế giới
- Phong trào giải phóng dân tộc phương Đông và phong trào công nhânphương Tây gắn bó mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung làchủ nghĩa đế quốc
- Phong trào cách mạng lan rộng khắp thế giới
- 3.1919 Quốc tế cộng sản ra đời; 1920 đảng Cộng sản Pháp ra đời, 1921đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập….tạo điều kiện chủ nghĩa Mác- Lê Nintruyền bá vào Việt Nam
2 Phong trào dân tộc dân chủ công khai 1919- 1925.
Trang 15* Khái quát: Sau chiến trang thế giới thứ nhất, phong trào dân tọc dân chủ ở
nước ta phát triển mạnh thu hút nhiều tầng lớp tham gia với những hình thức phongphú
* Phong trào của giai cấp Tiểu tư sản dân tộc (TSDT)
- Tư sản Việt Nam tổ chức tẩy chay Tư sản Hoa kiều, vận động người Việtchỉ mua hàng của người Việt Nam:
+ Phong trào đòi chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá ( 1919)
+ 1923 địa chủ và Tư sản Việt Nam đấu tranh chống độc quyền cảng SG, độcquyền xuất cảng lúa gạo tại Nam kì của tư bản Pháp
+ Muốn vươn lên dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho giai cấp mình.+ Trong đấu tranh họ đã thành lập Đảng Lập Hiến ( 1923) để tập hợp lựclượng, rồi đưa ra khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quầnchúng nhằm gây áp lực với Pháp, nhưng đảng này khi được Pháp nhược bộ một sốquyền lợi thì lại thoả hiệp với chúng
* Phong trào của TTS trí thức:
- Mục tiêu: Chống cường quyền áp bức, đòi tự do dân chủ
- Trong đấu tranh, các tổ chức chính trị xuất hịên: Việt Nam nghĩa đoàn, Hộiphục Việt, Đảng Thanh niên…
- Nhiều tờ báo “ Chuông rè”, “ An nam trẻ”, “ Người nhà quê” ra đời Lập ranhững nhà xuất bản tiến bộ “ Cường học thư xã”, “Nam Đồng thư xã”
- Tháng 6.1924 tiếng bom Sa điện của Phạm Hồng Thái báo hiệu 1 thời kỳđấu tranh mới bắt đầu
- Phong trào đòi thả Phan Bội Châu ( 1925)
- Phong trào đồi để tang Phan Châu Trinh (1926)
3.Ưu điểm, tác dụng và hạn chế của phong trào
Trang 16và hoạt động chính trị với tư bản Pháp nhưng sẵn sàng thoả hiệp với với Pháp khiđược chúng nhược cho 1 số quyền lợi.
- Phong trào của TTS còn ấu trĩ, xốc nổi ( chưa có chính Đảng)
Câu 5: Trình bày sự phát triển của phong trào công nhân VN từ 1925? Tại sao nói cuộc bãi công của thợ máy Ba Son có ý nghĩa lớn nhất trong phong trào công nhân VN từ 1919- 1925?
1919-a Sự phát triển của phong trào công nhân
- 1922 Công nhân Bắc kỳ đấu tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật thắng lợi
- 1924: Nhiều cuộc bãi công nổ ra ở hội nghị, Nam Định, Hải Dương…
- Tháng 8.1925: Phong trào đấu tranh của công nhân Ba Son ( Sài Gòn) Đây
là mốc đánh dấu phong trào công nhân Việt Nam bước đầu chuyển từ “ Tự phát”sang “ tự giác”
b Cuộc bãi công của thợ máy Ba Son có ý nghĩa lớn nhất trong phong trào công nhân VN 1919- 1925.
Trong phong trào công nhân nước ta sau chiến tranh thế giới thứ nhất từ1919- 1925 cuộc bãi công của thợ máy Ba Son ( 8.1925) có ý nghĩa rất lớn bởicông nhân Ba Son đấu tranh không chỉ vì quyền lợi của mình mà còn thể hiện tìnhđoàn kết với công nhân và nhân dân lao động Trung Quốc Phong trào này thắnglợi đã đánh dấu 1 bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam Phong trào đã
có tổ chức và mục đích chính trị rõ ràng Nó là mốc đánh dấu cho phong trào côngnhân Việt Nam bước đầu chuyển từ “ tự phát “ sang “ tự giác”
Câu 6: Căn cứ vào đâu để khẳng định phong trào công nhân nước ta phát triển lên 1 bước cao hơn sau chiến tranh thế giới thứ nhất? Cuộc bãi công
Ba Son ( 8.1925) có điểm gì mới trong phong trào công nhân nước ta sau chiến tranh thế giới thứ nhất? Vị trí của phong trào công nhân đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam?
a Căn cứ: