1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp xây dựng xã hội học tập ở huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh

111 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 890,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời luôn gắn bó hữu cơ với nhau và là một nhu cầu bức xúc trong một thị trường lao động đang biến động và phát triển ở nước ta với sự trợ giúp của

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS Tiến sỹ Nguyễn Văn Tứ

NGHỆ AN, 2014

Trang 3

2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm

ơn các cô giáo, thầy giáo đã tận tình giảng dạy giúp đỡ tôi trong quá trình học tập; xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Tứ đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Thạch Hà; lãnh đạo và cán bộ chuyên viên phòng Giáo dục và Đào tạo Thạch Hà; Hiệu trưởng, các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên và học sinh các trường học; Chủ tịch UBND các xã, thị trấn đã động viên, tạo điều kiện về thời gian, trao đổi ý kiến, cung cấp thông tin giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài này

Xin cảm ơn sự quan tâm, cổ vũ, chia sẻ của gia đình, anh em, bạn bè

đã giúp tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, song trong luận văn này vẫn còn có những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được sự góp ý bổ sung của các thầy cô

và bạn bè đồng nghiệp để có thể sửa chữa và hoàn thiện luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Kim Trung

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

XMC - PCGD Xóa mù chữ - Phổ cập giáo dục

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của luận văn 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Xây dựng xã hội học tập ở một số nước trên thế giới 6

1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu xây dựng xã hội học tập ở VN 9

1.1.3 Việc nghiên cứu công tác xây dựng XHHT của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 13

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 14

1.2.1 Xã hội học tập 14

1.2.2 Xây dựng xã hội học tập 17

1.2.3 Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục 18

1.2.4 Giải pháp xây dựng xã hội học tập 20

1.3 Một số vấn đề về xây dựng xã hội học tập 21

Trang 6

1.3.1 Định hướng xây dựng xã hội học tập ở nước ta 21

1.3.2 Mục tiêu xây dựng xã hội học tập 22

1.3.3 Nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập 25

1.3.4 Mô hình xây dựng xã hội học tập 28

1.3.5 Các hình thức hoạt động xây dựng XHHT ở nước ta 30

1.3.6 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xây dựng xã hội học tập 31

1.3.7 Các yếu tố đảm bảo công tác XD XHHT hiện nay 37

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 41

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

2.2 Thực trạng xây dựng XHHT ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 44

2.2.1 Thực trạng giáo dục ở huyện Thạch Hà 44

2.2.2 Hoạt động xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà 50

2.3 Đánh giá Thực trạng xây dựng XHHT ở huyện Thạch Hà 60

2.3.1 Những thành tựu 60

2.3.2 Những hạn chế 61

2.3.3 Nguyên nhân 62

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH 65

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 65

Trang 7

3.1.1 Bảo đảm tính mục tiêu 65

3.1.2 Bảo đảm tính toàn diện 65

3.1.3 Bảo đảm tính khả thi 65

3.1.4 Bảo đảm phù hợp với các chức năng quản lý giáo dục 66

3.2 Một số giải pháp xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh 66

3.2.1 Tiếp tục tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, vai trò và lợi ích của xây dựng xã hội học tập 66

3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, trách nhiệm của toàn xã hội đối với xây dựng xã hội học tập 69

3.2.3 Củng cố và phát triển các mạng lưới các cơ sở giáo dục 71

3.2.4 Đa dạng hóa các loại hình học tập gắn liền với phát động các phong trào tự học, HTSĐ rộng khắp trong cộng đồng dân cư 76

3.2.5 Phát triển các mô hình gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Khuyến học các cấp 81

3.2.6 Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục 85

3.3 Thăm dò tính khả thi và sự cần thiết của các giải pháp 90

3.3.1 Về tính cần thiết 91

3.3.2 Về tính khả thi 93

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 97

2 Kiến nghị 98

CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: "Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục" [9]

Ở Điều 12, Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), khi nói

về xã hội hóa giáo dục đã ghi rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập

là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [26]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 2011 đã nêu lên mục tiêu: "Đổi mới căn bản và toàn diện của giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời".

Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã nêu quan điểm, giải pháp mục tiêu xây dựng xã hội học tập, trong đó khẳng định xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách; chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của

Trang 9

mỗi người học; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình, từng bước hình thành xã hội học tập [31] Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XI) cũng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục - đào tạo mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập [10]

Ngày 09 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 89/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn

2012 - 2020” [4]

Hiện nay, nâng cao dân trí là một yêu cầu bức thiết mang một ý nghĩa chiến lược về phát triển nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệ đại hóa đất nước Chính điều đó đã đặt giáo dục đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển Giáo dục có sứ mạng giúp mọi người phát huy tất cả tài năng và tiềm lực sáng tạo của mình Để thực hiện được sứ mạng đó, việc xây dựng xã hội học tập trở thành xu thế tất yếu của các nước trên thế giới trước yêu cầu mới của thời đại Đặc biệt đối với Việt Nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO

Như vậy, xây dựng xã hội học tập là chủ trương lớn, đúng đắn của Ðảng

và Nhà nước ta Xã hội học tập là một cơ sở tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, tri thức cao phục vụ CNH, HÐH đất nước Xã hội học tập đòi hỏi sự học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời

Thạch Hà là một huyện vành đai của Thành phố Hà Tĩnh, là vùng đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời, là một vùng trầm tích kết tinh qua nhiều thế hệ, giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, anh hùng, truyền thống hiếu học và học

Trang 10

giỏi Phát huy truyền thống hơn nghìn năm hình thành và phát triển với quyết tâm vươn lên để phát triển mạnh mẽ, tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Huyện Thạch Hà đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, hội nhập sâu vào nền kinh tế - văn hóa của đất nước

Trong những năm qua ngành GD - ĐT Thạch Hà luôn là lá cờ đầu trong toàn tỉnh Từ mạng lưới quy mô trường lớp, cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm đến chất lượng dạy và học Công tác xây dựng xã hội học tập đã thực sự góp phần tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ của GD - ĐT Thạch Hà Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện xây dựng xã hội học tập trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn do đây là vấn đề vừa mới, vừa khó nên hiệu quả mang lại chưa cao, mặt bằng dân trí dù được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói riêng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề xây dựng xã hội học tập

Để nhìn nhận toàn diện việc xây dựng xã hội học tập, có những giải pháp khả thi nhằm giải quyết tốt những khó khăn, vướng mắc, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mặt bằng dân trí ở huyện Thạch Hà

trong thời gian tới, tôi chọn hướng nghiên cứu “Một số giải pháp xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng xã hội học tập, phù hợp với tình hình phát triển giáo dục ở địa phương, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác xây dựng xã hội học tập

Trang 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được những giải pháp hợp lý và khả thi trong công tác xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh sẽ góp phần nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác xây dựng xã hội học tập

- Điều tra đánh giá thực trạng công tác xây dựng xã hội học tập ở huyện

- Phương pháp khái quát hóa nhận định độc lập để làm rõ những ý kiến chủ quan của bản thân đối với các vấn đề liên quan đến đề tài đang nghiên cứu

Từ đó, đề ra các giải pháp xây dựng xã hội học tập hiệu quả, phù hợp với các chủ trương, chính sách và thực tiễn của địa phương

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, quan sát, khảo sát thực tế

- Thống kê số liệu

- Phân tích thực trạng

- Tổng kết kinh nghiệm

Trang 12

- Điều tra bằng phiếu hỏi

- Lấy ý kiến chuyên gia (qua mạn đàm, trao đổi)

7 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về xã hội học tập

- Đánh giá thực trạng về công tác xây dựng xã hội học tập của huyện Thạch Hà, rút ra những thành công và hạn chế cũng như bài học kinh nghiệm

- Đề xuất một số giải pháp cần thiết và có tính khả thi nhằm xây dựng xã hội học tập huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng cho một số địa phương khác trong việc nâng cao chất lượng công tác xây dựng

xã hội học tập

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng xã hội học tập

Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch

Hà, tỉnh Hà Tĩnh

Chương 3: Một số giải pháp xây dựng xã hội học tập ở huyện Thạch Hà,

tỉnh Hà Tĩnh

Trang 13

Trong một cuốn sách công bố năm 1968 Rôbớt Hútchin cũng đã khẳng định sự cần thiết tiến tới một “XHHT” với hai lí do “là người ta có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn và thế giới biến đổi nhanh hơn” [12]

Giắc Đơlô, trong công trình nghiên cứu: “Học tập một kho báu tiềm ẩn”

đã đi sâu vào vấn đề “Học tập suốt đời” và gắn bó với quan niệm: “XHHT là xã hội ở đó mọi sự đều là cơ hội học tập và phát triển mọi khả năng” [28]

Ông cho rằng, nguyên tắc “Học tập suốt đời” đòi hỏi biết cách nắm được vững tri thức ngoài nhà trường hoặc ở nơi làm việc cũng như ở ngoài xã hội, trong suốt cuộc đời Do đó, cần phải kết hợp giáo dục chính quy ở nhà trường với giáo dục không chính quy ở ngoài nhà trường, giáo dục trong XHHT cần phải có những đặc điểm sau đây:

- Đó là một nền giáo dục thể hiện được tính mềm dẻo, đa dạng và khả thi trong thời gian khác nhau và địa điểm khác nhau Giáo dục trở thành một quá trình liên tục về sự hình thành con người toàn diện, cả về tri thức và cả những khả năng của họ (khả năng phán đoán trong tư duy và khả năng hành động trong đời sống hằng ngày)

Trang 14

- Đó là một nền giáo dục tạo ra được những cơ hội học tập cho mỗi một con người và mỗi cộng đồng có nhu cầu nắm bắt thông tin và tri thức, làm chủ được các công nghệ mới

- Đó là nền giáo dục coi trọng giáo dục cơ sở, tận lực phát triển giáo dục trung học và đại chúng hoá giáo dục đại học

Năm 1972, tại Tokyo (Nhật), người ta bàn nhiều về dân chủ trong giáo dục và giáo dục cho người lớn là một nhân tố quan trọng cho việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia

Năm 1972 trong cuốn “Học để thành người: thế giới của giáo dục hôm nay và ngày mai”, Faure đã đề cập đến xã hội học tập với nét đặc trưng tính dân chủ, bình đẳng của giáo dục Cũng trong năm này, Etga Phô viết cuốn “Học để tồn tại” Trong cuốn sách này, tác giả đã nhấn mạnh “nếu học tập là việc động chạm đến suốt đời của con người, cả theo nghĩa thời gian, cả theo nghĩa đa dạng

và đối với mọi người trong xã hội, kể cả các nguồn lực xã hội, kinh tế và giáo dục, khi đó chúng ta phải đi xa hơn việc tháo dỡ tất cả các hệ thống giáo dục cho đến lúc nào đạt được tình trạng của một XHHT” [15]

Năm 1985 tại Pari (Pháp), hội nghị đã thông qua 6 quyền của con người

về giáo dục trong bản tuyên ngôn về quyền giáo dục:

- Quyền biết chữ;

- Quyền học hỏi;

- Quyền sáng tạo;

- Quyền tìm hiểu mình và lịch sử;

- Quyền sử dụng nguồn lực giáo dục;

- Quyền phát triển cá nhân

Phong trào giáo dục cho mọi người ra đời và bắt đầu phát triển mạnh mẽ

từ năm 1990, khi các đại biểu tham dự Diễn đàn Thế giới Giáo dục cho mọi

Trang 15

người ở Jomtien, Thái Lan cùng nhau cam kết cung cấp Giáo dục tiểu học có chất lượng cho tất cả trẻ em và giảm một cách đáng kể tỷ lệ mù chữ của người lớn vào cuối thập kỷ Tại diễn đàn này đã đề cao giáo dục cơ sở và coi đây như một “giấy thông hành cho cuộc đời” và là chìa khoá để học tập suốt đời trong một xã hội học tập Năm 1996, trong báo cáo “Học tập: một kho báu tiềm ẩn” của Jacques Delors, người đứng đầu Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã nhấn mạnh 2 khái niệm: học tập suốt đời và xã hội học tập và coi giáo dục là nhân tố then chốt của sự phát triển xã hội Báo cáo cho rằng giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống với nhau

Năm 1997, tại Hamburg (Đức) trong xu thế toàn cầu hóa, người ta lại bàn nhiều đến giáo dục cho người lớn với các ý tưởng:

- Giáo dục người lớn để thừa nhận chân giá trị của con người;

- Giáo dục người lớn để tạo điều kiện bình đẳng giữa người và người;

- Giáo dục người lớn để cải tạo xã hội

Đến tháng 4/2000, tại Diễn đàn Giáo dục Quốc tế ở Dakar, Xênêgan, hơn

1100 đại biểu bao gồm các nhà lãnh đạo, nhà quản lý giáo dục, các giáo viên, nhà nghiên cứu… đến từ 164 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã cùng nhau tổng kết lại những tiến bộ đã đạt được kể từ sau Diễn đàn ở Jomtien, đồng thời khẳng định một lần nữa tầm nhìn về Giáo dục cho mọi người đến năm 2015 Các mục tiêu đề ra tại Diễn đàn Dakar gồm 6 nhóm chính:

- Mở rộng chăm sóc và giáo dục mầm non;

- Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đến năm 2015;

- Tăng cường hiểu biết và kỹ năng sống cho thanh niên và người lớn;

- Đạt mức 50% tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn vào năm 2015;

- Đạt cân bằng giới vào năm 2005 và bình đẳng giới vào năm 2015;

Trang 16

- Cải thiện chất lượng giáo dục

Năm 2000, tại Okinawa (Nhật Bản), hội nghị thượng đỉnh các nước G8 đã chủ trương xây dựng xã hội học tập trên quan điểm học tập suốt đời Cũng năm

2000, tổ chức các nước trong hội đồng kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã kêu gọi các nước xây dựng ở nước mình xã hội học tập và học tập suốt đời

Tại Hội nghị của UNESCO họp ở Giơnevơ tháng 12/2003 đã gắn XHHT với xã hội thông tin, xã hội tri thức Từ đó các đại biểu dự hội nghị đã đi tới thống nhất XHHT, xã hội tri thức, xã hội thông tin đều đặt con người vào vị trí trung tâm, đều tập trung vào con người, tạo điều kiện cho con người phát triển bền vững và là điều kiện của mọi sự phát triển của kinh tế xã hội

1.1.2 Ở Việt Nam

Khái niệm "học tập suốt đời" và "xây dựng xã hội học tập" thật ra đã có mầm mống được sử dụng ở nước ta từ lâu Sau cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Bác Hồ đã mong muốn dân ta ai cũng được học hành và Bác cũng đã yêu cầu người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, đây chính là mầm mống khởi đầu của việc xây dựng một xã hội học tập để mọi người đều được học tập

Song song với việc xoá mù chữ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành giáo dục nước ta đã mở ra hệ thống học tập không chính quy dành cho người lớn tuổi, cho người nghèo, cho con em tầng lớp lao động Khắp nơi trên đất nước hàng loạt các trường phổ thông lao động, các trường bổ túc công nông, bổ túc văn hoá, vừa học vừa làm đã hình thành và đem lại quyền được học hành cho mọi người dân, mà trước đấy trong lịch sử phát triển giáo dục nước ta chưa từng bao giờ có được

Trang 17

Mặt khác, trong các trường thuộc hệ chuyên nghiệp và đại học hàng loạt các khoa, các lớp tại chức, chuyên tu với đủ tất cả các lĩnh vực, ngành nghề cũng

đã được mở ra để đáp ứng cho nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực lớn mà xã hội đang đòi hỏi Ngành giáo dục đã bám sát nguyên tắc “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, đồng thời ở khắp nơi trong cả nước cũng giấy lên một không khí sôi nổi thực hiện khẩu hiệu: “Học, học nữa, học mãi “ của V.I Lênin

Có thể nói những năm tháng này ở nước ta trên thực tế đã có mầm mống hình thành một xã hội học tập Nhờ những bước đi đúng đắn này mà ở nước ta ngày hôm nay mới có được một đội ngũ trí thức công nông lớn mạnh, mà trong

họ không ít người nhờ qua con đường học không chính quy đã trưởng thành

và đạt tới đỉnh cao của các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý, trở thành những cán bộ đầu ngành của hầu hết tất cả các lĩnh vực

Tuy nhiên phải chờ đến những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua nghị quyết các Đại hội, đặc biệt là nghị quyết trung ương 2 khoá VIII, Đại hội Đảng lần thứ IX, lần thứ X và gần đây là Đại hội XI đã khẳng định chủ trương phát triển giáo dục - đào tạo nước ta theo hướng “cả nước trở thành một

xã hội học tập”

Mục tiêu quan trọng và cuối cùng của phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay chính là xây dựng một nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân Xây dựng xã hội học tập suốt đời phải là một trong những chiến lược then chốt của giáo dục nước ta trên con đường đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo do Đảng khởi xướng từ cuối thế kỷ trước và nó sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong thế kỷ XXI

Bước vào thế kỷ XXI, ở nước ta việc xây dựng XHHT là để đảm bảo được việc học tập suốt đời của mọi người, có nghĩa là đảm bảo nhu cầu hoàn

Trang 18

thiện của từng thành viên trong cộng đồng với sự phát triển kinh tế - xã hội và

sự bình đẳng về giáo dục và đào tạo Có thể coi đây là một quan niệm về triết lý giáo dục xây dựng con người mới thông qua giáo dục nhân bản, tô đậm bản sắc dân tộc và khai phóng con người Việt Nam mới bằng học tập suốt đời trong xây dựng xã hội học tập với việc coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân Học tập suốt đời trong xã hội học tập là tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục để từng thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả xã hội nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường làm cho nước ta sớm trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa

Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời luôn gắn bó hữu cơ với nhau

và là một nhu cầu bức xúc trong một thị trường lao động đang biến động và phát triển ở nước ta với sự trợ giúp của sự tiến bộ hàng ngày, thậm chí hàng giờ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và ngay cả văn hoá trong một xã hội phát triển lành mạnh

Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời là một chiến lược quan trọng

để đạt được sự dân chủ và bình đẳng của mọi người trong xã hội Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã chỉ rõ: “Tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng”

Trong thích ứng với nền kinh tế chuyển đổi và triển khai có hiệu quả ý Đảng lòng dân về xây dựng nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề tạo môi trường học tập suốt đời cho mỗi người dân trong xây dựng xã hội học tập là bức xúc của mỗi cá nhân trong nâng cao chất lượng cuộc sống Như vậy có thể nói học tập suốt đời là một quan niệm triết lý

Trang 19

giáo dục mới, là nhu cầu về sự hoàn thiện của mỗi người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường với một thị trường lao động luôn biến động theo sự phát triển nhanh của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và

đem lại cơ hội bình đẳng về giáo dục

Sau 25 năm đổi mới, nước ta đã thay đổi cơ bản, từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến toàn bộ hệ thống giáo dục nói riêng và tạo dựng nền giáo dục mở mới nói chung Hòa nhịp với nền giáo dục mở, nhu cầu học tập suốt đời dần dần đã trở thành lẽ sống không thể thiếu được của mọi người

Sự phát triển nhanh của khoa học - công nghệ ở nông thôn trong những năm đổi mới ở nước ta cũng đã mở ra nhu cầu mới về học tập suốt đời cho nông dân Việc đưa khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào phát triển nông nghiệp

đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn ở trình độ cao hơn trong hệ thống sản xuất Kết quả yêu cầu người nông dân cần đa dạng hơn với nhiều kiến thức, kỹ năng để sản xuất phát triển Người nông dân, nhất là thanh niên nông thôn trong bối cảnh mới cần có trình độ học vấn cao hơn với nhiều kiến thức, kỹ năng tay nghề mới hơn để đẩy quá trình sản xuất nhanh hơn và hiệu quả hơn Mặt khác với truyền thống của một dân tộc hiếu học, ngoài tác động của tiến trình chuyển đổi kinh tế và tiến bộ của khoa học - công nghệ, bản thân mỗi nông dân ngày càng quan tâm hơn đến các nhu cầu cá nhân riêng biệt trong nâng cao chất lượng đời sống bản thân, gia đình, họ tộc và cộng đồng Do vậy học tập suốt đời còn là nhu cầu thực sự của mỗi nông dân để tự thỏa mãn mình

Ngày 21/8/1997, Chính phủ đã có Nghị quyết 90/CP về xã hội hoá giáo dục, y tế và văn hoá Theo Nghị quyết này ở nước ta phải tạo ra một phong trào học tập sâu rộng với nhiều hình thức cho mọi người trong toàn xã hội Toàn dân, các ngành phải có trách nhiệm cao với giáo dục, chăm sóc thế hệ trẻ Huy động

Trang 20

toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho phát triển giáo dục Toàn xã hội có trách nhiệm tham gia vào quá trình giáo dục - đào tạo Huy động mọi lực lượng tham gia vào quá trình đa dạng hoá các hình thức học tập và loại hình nhà trường Huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho giáo dục - đào tạo

Nghiên cứu về vấn đề xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, từ sau Đại hội IX của Đảng đã xuất hiện hàng loạt bài báo của các tác giả Vũ Oanh, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Thái Xuân Đào, Nguyễn Như

Ất, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Xuân Đường, Phan Đức Thành… bàn về vấn đề XHHT và xây dựng XHHT

Các bài báo này đã đề cập tới những nội dung chủ yếu sau đây:

- Vị trí, chức năng và sự cần thiết phải xây dựng XHHT ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Quan niệm về XHHT, từ các phương diện tiếp cận khác nhau

- Định hướng phát triển, phương châm, mô hình, lộ trình xây dựng XHHT

ở nước ta

- Các giải pháp và một số bài học kinh nghiệm về xây dựng XHHT

- Sự khẳng định Trung tâm học tập cộng đồng là hạt nhân, là đơn vị tổ chức học tập của XHHT

- Hội Khuyến học làm nồng cốt liên kết các lực lượng xây dựng XHHT… Các công trình nghiên cứu trên đây là những nét phác thảo ban đầu về XHHT và xây dựng XHHT ở Việt Nam

1.1.3 Việc nghiên cứu công tác xây dựng xã hội học tập của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

Riêng ở tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói riêng, ngoài những văn bản có tính chất chủ trương, đường lối của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục - Đào tạo, Hội Khuyến học… và các văn bản hướng dẫn thực hiện của huyện về xây dựng XHHT, thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu

Trang 21

vấn đề này một cách hệ thống, đặc biệt là việc nghiên cứu từ góc độ quản lý giáo dục

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí,…), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh Do đó nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này

Trang 22

Bước vào thế kỷ XXI, xây dựng XHHT đã trở thành một trào lưu của thế giới Tổ chức các nước trong Hội đồng kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) họp tháng 4/2000, Hội nghị thượng đỉnh G8 họp tháng 7/2000, đều có lời kêu gọi các nước xây dựng XHHT trên quan điểm học tập suốt đời, đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cần cho thế

kỷ mới

Theo các quan chức của UNESCO, XHHT có những đặc trưng nổi bật:

- Mọi người đều được học tập, học thường xuyên, học suốt đời

- Toàn bộ môi trường xung quanh đều có thể tạo ra cơ hội học tập và phát huy tài năng của mỗi người

- Con người được tiếp nhận trình độ giáo dục cơ bản để học tập và tự hoàn thiện

- Nhà trường mang lại cho mọi người lòng mong muốn và sự hào hứng được học tập, với năng lực “học cách học” và với sự tò mò trí tuệ

- Mỗi cá nhân đều có thể lần lượt làm người dạy và làm người học

- Xã hội dựa trên thành tựu, cập nhật và ứng dụng tri thức

- Người học trở thành những nhà nghiên cứu, còn người dạy, dạy cho người học cách đánh giá và quản lý những thông tin mà họ được cung cấp [28]

Trang 23

Còn theo Risac Etoa, XHHT có những đặc trưng sau đây:

- XHHT là một xã hội có học, một xã hội đảm bảo mọi người đều tự tạo cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời; nhu cầu học tập, động cơ học tập

là nội lực quan trọng

- XHHT là một thị trường học tập, tạo cho mọi người có khả năng cạnh tranh trí tuệ, một thị trường tạo cơ hội học tập, cập nhật kỹ năng và trình độ của từng người với tư cách là người lao động

- XHHT tạo ra cho người học có phương pháp tiếp cận học tập đối với cuộc sống, tác động vào cách nghĩ, cách nhìn và lối sống thực tiễn của từng người, coi đây là điều kiện cần thiết cho cuộc sống của con người trong thời kỳ đầy biến động, đầy ngẫu nhiên và cũng là thời đại của hợp tác, giao lưu và phát triển

- XHHT gắn liền với ý tưởng xã hội hoá giáo dục - mọi người làm giáo dục và giáo dục cho mọi người

Ở Việt Nam, thuật ngữ XHHT lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một XHHT” [7]

Theo tác giả Vũ Oanh, XHHT là “một xã hội vì người học, của người học,

do người học, lấy người học và việc học suốt đời làm trung tâm” [21]

Còn tác giả Phạm Minh Hạc lại cho rằng: “XHHT là một xã hội mọi người đều lấy học tập làm một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà trường, chính quy và không chính quy, như là một phần không thể thiếu được của đời mình, lấy học tập làm phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lý) của cuộc sống nhằm phát triển con người bền vững - động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xã hội” [15]

Trang 24

Tác giả Nguyễn Viết Sự lại xem xét khái niệm XHHT từ các tiêu chí của

nó Theo tác giả, XHHT là một xã hội trong đó: kinh tế giáo dục chiếm tổng giá trị sản lượng kinh tế quốc dân từ 6 - 8%; bình quân trình độ văn hoá người lao động đạt trung học phổ thông; nền giáo dục phát triển dành cho mọi người theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; mọi người dân thể hiện sự ham học hỏi, quý trọng thầy và nghề dạy học, coi trọng tri thức, luôn có ý chí vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học kỹ thuật; nhà nước thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội; hình thành và phát triển bền vững hệ thống giáo dục quốc dân với sự phong phú đa dạng về phương thức giáo dục, tạo sự liên thông trong giáo dục [28]

Từ việc trình bày khái niệm XHHT theo quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng XHHT về bản chất là một xã hội

mà trong đó mọi người đều được học, học thường xuyên, học suốt đời và mọi lực lượng xã hội đều có trách nhiệm tạo cơ hội học tập cho mọi người dân

Như vậy, khi nói đến XHHT phải chú ý đến cả hai đặc trưng quan trọng của nó, đó là “giáo dục cho mọi người” và “mọi người cho giáo dục”

1.2.2 Xây dựng xã hội học tập

Xây dựng XHHT là nhằm hình thành một xã hội thực hiện tốt sự gắn kết chặt chẽ giữa học tập ban đầu trong các nhà trường với học tập suốt đời bên ngoài nhà trường, giữa giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội, mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hoá, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình

Xây dựng XHHT ở nước ta đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước phát triển

Trang 25

nhanh và bền vững, sớm sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và thế giới

1.2.3 Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục

1.2.3.1 Xã hội hoá

Xã hội hóa là quá trình hội nhập của một cá nhân vào xã hội hay một trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình học tập các chuẩn mực và các giá trị của xã hội Đó cũng là quá tình tiếp thu và phê phán các giá trị chuẩn mực, khuôn mẫu hành động mà trong đó mỗi thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì được năng lực hành động xã hội

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng phát huy sức mạnh toàn xã hội vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định:

"Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục" [9]

Với những quan điểm về xã hội hóa đã nêu trên, ta có thể hiểu xã hội hóa

có mục tiêu chủ yếu là: Huy động sức mạnh của toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực văn hóa xã hội, giáo dục, y tế làm cho các lĩnh vực này thực sự gắn bó với nhân dân, do nhân dân,

vì dân để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

1.2.3.2 Xã hội hoá giáo dục

XHHGD được xem là quá trình giáo dục thâm nhập và hòa nhập vào xã hội, đồng thời tiếp nhận giáo dục như 1 thành tố của xã hội Cơ sở tư duy của xã hội hóa giáo dục là đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó Giáo dục là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội, có quan hệ biện chứng với các lĩnh vực

Trang 26

khác trong xã hội Như vậy, xã hội hóa giáo dục là thực hiện mối liên hệ phổ biến, có tính quy luật giữa giáo dục và cộng đồng xã hội Thiết lập mối quan hệ này là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, nghĩa là "mọi người làm giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người Hai vế trên đã nêu rõ hai yêu cầu của xã hội hóa giáo dục là phải xã hội trách nhiệm, nghĩa vụ đối với giáo dục và phải xã hội hóa về quyền lợi của giáo dục đối với mọi người Hai yêu cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, thực hiện kết hợp, đồng thời Yêu cầu thứ hai là hệ quả và cũng là giải pháp để thúc đẩy yêu cầu thứ nhất Yêu cầu thứ 2 chính là mục tiêu cao nhất của xã hội hóa giáo dục

Từ sau Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, xã hội hóa giáo dục là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Văn kiện tại Hội nghị này nêu rõ xã hội hóa giáo dục là "huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước" Như vậy, đây là một khái niệm rất rõ ràng, nhưng thực tế với khá đông người và không ít cán bộ, xã hội hóa giáo dục được hiểu một cách đơn giản và phiến diện là sự huy động sự đóng góp bằng tiền của nhân dân vào sự nghiệp giáo dục, là tăng học phí ở các cấp học, bậc học, đa dạng hóa các loại hình trường Điều này khiến cho cuộc vận động góp sức cho

sự nghiệp giáo dục đã bị lệch hướng Vì vậy, việc trình bày lại một cách khái niệm và có hệ thống, toàn diện nội dung của thuật ngữ này là hết sức cần thiết

Nghị quyết 90-NQ/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ đã xác định khái niệm xã hội hóa giáo dục như sau: Vận động và tổ chức có sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển của sự nghiệp giáo dục; xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và

Trang 27

cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục;

mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tốt các tiềm năng về nguồn lực, vật lực và tài lực trong xã hội (kể cả nước ngoài); phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này

Nghị quyết 05-NQ/CP của Chính phủ cũng khẳng định "Thực hiện xã hội hóa nhằm đạt hai mục tiêu lớn: Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục ; Thứ hai

là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao"

Như vậy, có thể hiểu: XHHGD là làm cho giáo dục trở thành một công việc của toàn xã hội

1.2.4 Giải pháp và giải pháp xây dựng xã hội học tập

1.2.4.1 Khái niệm giải pháp

Theo từ điển Tiếng Việt, giải pháp là “Phương pháp giải quyết một vấn đề

cụ thể nào đó” [33]; như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách thức, con đường, phương tiện là tổ hợp các bước mà trí tuệ phải đi theo để tác động làm chuyển biến hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định,… nhằm đạt được mục đích hoạt động

Hay nói cách khác: Giải pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc quy phạm dùng để chỉ đạo hành động Tuy nhiên, để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy và giải pháp càng thích hợp, càng đồng bộ, càng tối ưu thì càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra

1.2.4.2 Giải pháp xây dựng xã hội học tập

Giải pháp xây dựng xã hội học tập là tổ hợp hệ thống các quy tắc, phương pháp, cách thức quản lý việc thực hiện công tác xây dựng xã hội học tập nhằm

Trang 28

khuyến khích, động viên mọi người dân học tập suốt đời, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3 Một số vấn đề về xây dựng xã hội học tập

1.3.1 Định hướng xây dựng xã hội học tập ở nước ta

Xây dựng XHHT là nhằm hình thành một xã hội thực hiện tốt sự gắn kết chặt chẽ giữa học tập ban đầu trong các nhà trường với học tập suốt đời bên ngoài nhà trường, giữa giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội, mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hoá, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình

Xây dựng XHHT ở nước ta đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sớm sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và thế giới

Trong quá trình xây dựng XHHT ở nước ta cần xuất phát từ các định hướng sau đây:

- Trong xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại

- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời

- Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết

và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi

Trang 29

1.3.2 Mục tiêu xây dựng xã hội học tập

Đặc biệt ưu tiên xoá mù chữ cho phụ nữ, trẻ em gái, vùng khó khăn; phấn đấu tỷ lệ biết chữ cân bằng giữa nam và nữ

- 80% số người mới biết chữ tiếp tục học tập và không mù chữ trở lại;

- 100% địa phương củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở

b Nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ

- 100% cán bộ, công chức, viên chức tham gia các chương trình học tập nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm;

- 20% cán bộ, công chức, viên chức có trình độ ngoại ngữ bậc 2 và 5% có trình độ bậc 3;

- Hằng năm, tăng tỷ lệ số công nhân lao động có kiến thức cơ bản về tin học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc và giao lưu văn hóa

c Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề để lao động có hiệu quả hơn, hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn

- Đối với cán bộ, công chức từ cấp tỉnh đến cấp huyện: 100% được đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn quy định; 95% cán bộ công chức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp được đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình quy định; 80% thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm

- Đối với cán bộ, công chức cấp xã: 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc; 90% cán

Trang 30

bộ cấp xã có trình độ chuyên môn theo chuẩn quy định; 70% công chức cấp xã thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm

- Đối với lao động nông thôn: 50% lao động nông thôn tham gia học tập cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất tại các trung tâm học tập cộng đồng

- Đối với công nhân lao động: 80% công nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp có trình độ học vấn trung học phổ thông hoặc tương đương; Tăng tỷ lệ công nhân lao động có tay nghề cao ở các ngành kinh tế mũi nhọn; phấn đấu 85% công nhân qua đào tạo nghề

d Hoàn thiện kỹ năng sống, xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn Hằng năm, tăng dần tỷ lệ học sinh, sinh viên và người lao động tham gia học tập các chương trình giáo dục kĩ năng sống để xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn Trong đó, phấn đấu 30% học sinh, sinh viên được học kĩ năng sống tại các cơ sở giáo dục

1.2.3.2 Mục tiêu đến năm 2020

a Xóa mù chữ và phổ cập giáo dục

- 99% người trong độ tuổi từ 15 - 60, 100% người trong độ tuổi từ 15 - 35 biết chữ Đối với các địa phương vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ tương ứng là 97% và 99%;

- 95% số người mới biết chữ tiếp tục tham gia học tập và không mù chữ trở lại;

- 100% đơn vị tiếp tục củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở

b Nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ

- 100% cán bộ, công chức, viên chức tham gia các chương trình học tập nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm;

Trang 31

- 40% cán bộ, công chức, viên chức có trình độ ngoại ngữ bậc 2 và 20%

có trình độ bậc 3;

- Hằng năm, tiếp tục tăng tỷ lệ số công nhân lao động có kiến thức cơ bản

về tin học, ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc và giao lưu văn hóa

c Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề để lao động có hiệu quả hơn, hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn

- Đối với cán bộ, công chức từ tỉnh đến cấp huyện: tiếp tục duy trì 100% được đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn quy định; 100% cán bộ công chức giữ các chức

vụ lãnh đạo, quản lý các cấp được đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình quy định; 90% thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm

- Đối với cán bộ, công chức cấp xã: 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc; 100% cán

bộ cấp xã có trình độ chuyên môn theo chuẩn quy định; 85% công chức cấp xã thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm

- Đối với lao động nông thôn: 70% lao động nông thôn tham gia học tập cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất tại các trung tâm học tập cộng đồng

- Đối với công nhân lao động: 90% công nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp có trình độ học vấn trung học phổ thông hoặc tương đương; tiếp tục tăng tỷ lệ công nhân lao động có tay nghề cao ở các ngành kinh

tế mũi nhọn; phấn đấu 95% công nhân được qua đào tạo nghề

d Hoàn thiện kỹ năng sống, xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn

Hằng năm, tiếp tục tăng tỷ lệ học sinh, sinh viên và người lao động tham gia học tập các chương trình giáo dục kỹ năng sống để xây dựng cuộc sống cá nhân và cộng đồng ngày càng hạnh phúc hơn Trong đó phấn đấu 50% học sinh, sinh viên được học kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục

Trang 32

1.3.3 Nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập

1.2.3.1 Nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, vai trò, lợi ích của việc xây dựng xã hội học tập

- Tổ chức các hình thức tuyên truyền phong phú trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, khu dân cư, qua các hội nghị, hội thảo, mạng internet

- Tổ chức tuyên truyền xây dựng xã hội học tập thông qua phong trào gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, phát động phong trào đơn vị học tập, cộng đồng học tập

- Nghiên cứu và tổ chức nhiều hình thức phong phú nhằm động viên mọi người học tập suốt đời; hằng năm tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời ở các địa phương

- Xây dựng chuyên mục “xây dựng xã hội học tập” trên đài truyền hình, đài phát thanh; biên soạn và phát hành bản tin, các tài liệu tuyên truyền về xây dựng xã hội học tập

- Tổ chức tuyên dương, khen thưởng các đơn vị và cá nhân có nhiều thành tích trong công tác xây dựng xã hội học tập; tổ chức xét tặng danh hiệu “Đơn vị học tập” cho các cơ quan, các địa phương

1.2.3.2 Tổ chức các hoạt động học tập suốt đời thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ

- Các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện các chương trình giáo dục từ xa, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về các lĩnh vực của khoa học và đời sống

- Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá, câu lạc bộ

1.2.3.3 Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục

Trang 33

a Trung tâm học tập cộng đồng: Củng cố, phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng; tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng địa bàn hoạt động đến các thôn, bản, cụm dân cư; đa dạng hóa nội dung giáo dục; phấn đấu tăng số lượng trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả; phát triển mô hình trung tâm học tập cộng đồng kết hợp với trung tâm văn hóa thể thao xã hoạt động có hiệu quả

b Trung tâm giáo dục thường xuyên: Mở rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, cấp huyện đã được thành lập; thành lập mới trung tâm giáo dục thường xuyên ở các quận, huyện, tỉnh, thành phố hiện nay chưa có; phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên theo hướng mỗi huyện có một trung tâm thực hiện các nhiệm vụ: Giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp, dạy nghề

c Các cơ sở giáo dục chính quy làm nhiệm vụ giáo dục thường xuyên:

Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá trong các trường phổ thông, các trường đại học, cao đẳng nhằm giáo dục cho học sinh, sinh viên tinh thần ham học, năng lực tự học, khả năng nghiên cứu để học tập suốt đời có hiệu quả Các cơ sở giáo dục đại học tổ chức nghiên cứu về các hình thức học tập suốt đời, phát triển các loại học liệu phục vụ cho học tập suốt đời; mở mã ngành đào tạo về giáo dục cộng đồng, về học tập suốt đời; xây dựng chương trình và triển khai bồi dưỡng về phương pháp giáo dục người lớn cho giáo viên các cơ sở giáo dục thường xuyên; tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

d Các cơ sở giáo dục khác: Củng cố, phát triển các trung tâm ngoại ngữ, tin học; củng cố mạng lưới trường, trung tâm bồi dưỡng cán bộ của các địa phương, các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan,

Trang 34

tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thành lập các cơ sở học tập, bồi dưỡng thường xuyên cho người lao động

1.2.3.4 Đẩy mạnh hình thức học từ xa, học qua mạng

- Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo từ xa ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, đặc biệt là ở các cơ sở giáo dục đại học

- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến (E-learning); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc cung ứng các chương trình học tập suốt đời cho mọi người

- Củng cố, hoàn thiện chức năng và nhiệm vụ của Viện Đại học Mở Hà Nội và Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm dẫn đầu

về nghiên cứu phát triển công nghệ đào tạo mở và từ xa; trung tâm phát triển học liệu; trung tâm bồi dưỡng cán bộ, giáo viên phục vụ học tập suốt đời

1.2.3.5 Triển khai các giải pháp hỗ trợ người học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập suốt đời

- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ cho người học thuộc đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ theo địa bàn, đặc biệt là các địa phương có điều kiện kinh

tế - xã hội còn nhiều khó khăn

- Xây dựng cơ chế đánh giá, công nhận kết quả học tập không chính quy

và phi chính quy nhằm khuyến khích mọi người dân tự học, tự tích lũy kiến thức

- Tổ chức biên soạn tài liệu học tập về các lĩnh vực của đời sống xã hội đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân

- Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá phù hợp với việc học tập của người lớn tuổi

1.2.3.6 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng xã hội học tập

Trang 35

- Quy định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các tổ chức và cá nhân,

cơ chế tham gia, phối hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp đối

với học tập suốt đời, XHHT

- Xây dựng bộ chỉ số đánh giá việc thực hiện XHHT

- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân đưa xây dựng xã hội học tập là nội dung bắt buộc trong chương trình, kế hoạch hoạt động, thi đua hàng năm và từng giai đoạn

- Thành lập Ban Chỉ đạo XHHT từ trung ương đến cấp xã

- Củng cố, xây dựng bộ phận làm đầu mối quản lý về học tập suốt đời, XHHT ở các Bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp

- Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng “Quỹ học tập suốt đời” để hỗ trợ người lao động học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp, hoặc đào tạo lại cho những người chuyển đổi nghề nghiệp

1.2.3.7 Hợp tác quốc tế

- Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về xây dựng xã hội học tập; phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo nhằm chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật thông tin về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở các nước trong khu vực và trên thế giới

- Tổ chức nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập tại một số nước có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo từ xa Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm SEAMEO về học tập suốt đời

1.3.4 Mô hình xây dựng xã hội học tập

Hệ thống giáo dục quốc dân trong xã hội học tập gồm hai tiểu hệ thống:

- Hệ thống giáo dục ban đầu được tổ chức theo các cấp học, bậc học, từ thấp lên cao: Nhà trẻ - mẫu giáo, mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng - đại học, sau đại học và học tập trung, "mặt giáp mặt", học

Trang 36

theo niên chế Hệ thống này đã có từ lâu, đã vận hành hơn một thế kỷ nay mang tính khép kín, khoa cử, cứng nhắc, thiếu tính liên thông, ít gắn với nhu cầu xã hội, cần phải thay đổi nhiều về tổ chức, quản lý nội dung, chương trình, tài liệu học tập, đặc biệt là phương pháp dạy và học để thích ứng hệ thống giáo dục trong XHHT

- Hệ thống giáo dục tiếp tục: Có mô hình tổ chức linh hoạt, mềm dẻo; chương trình, nội dung dạy - học theo nhu cầu của người học, lấy tự học, học

từ xa làm hình thức học tập chủ đạo; việc dạy - học được tiến hành trong các

cơ sở giáo dục tổ chức theo các mục đích, yêu cầu của người học gồm các lớp xóa mù chữ, trường hay lớp bổ túc văn hóa, khoa hay lớp tại chức, trung tâm giáo dục thường xuyên trường hay trung tâm dạy nghề, trung tâm học tập cộng đồng, lớp học gia đình, lớp học dòng họ

Sơ đồ 1.1 Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Nền giáo dục trong xã hội học tập hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá… thông tin để xã hội tiến kịp sự phát triển của tri thức nhân loại Do vậy, nền giáo dục phải tập trung vào

Trang 37

sự phát triển con người trên cơ sở tự chủ của mỗi người, làm cho con người phát huy cao độ năng lực sáng tạo, năng động về mọi phương diện

Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đi đôi với đề cao năng lực

tự học của mỗi người Ngày nay trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu tức giáo dục từ nhà trẻ đến đại học và trên đại học lại có thể đủ cho cả đời người Vì vậy, phải tiếp tục học tập, học không bao giờ ngừng, phải thay đổi tư duy giáo dục phù hợp với xu thế chung xem giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia

Báo cáo của Uỷ ban quốc tế về phát triển giáo dục thế kỷ XX thuộc tổ chức UNESCO nêu lên 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết; Học để làm; Học để chung sống và Học để tồn tại

1.3.5 Các hình thức hoạt động xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong tiến trình đó, xây dựng xã hội học tập vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Phát triển một hệ thống giáo dục mở, lấy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là một trong những đặc trưng và mục tiêu cơ bản

Các hình thức hoạt động xây dựng XHHT ở nước ta tập trung vào việc đa dạng hoá nội dung, chương trình và hình thức giáo dục để ở đâu có cộng đồng dân cư thì ở đó phải có hoạt động giáo dục, ở đâu có hoạt động giáo dục thì ở đó phải có tổ chức và quản lý nhằm đáp ứng cơ hội học theo phương thức giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, làm cho mọi người được bình đẳng học tập thường xuyên, suốt đời

Để xây dựng XHHT ở nước ta, có các hình thức hoạt động sau đây:

Trang 38

- Mở rộng và nâng cao chất lượng GD - ĐT với các đối tượng trong nhà

trường: Ở hình thức hoạt động này, bao gồm các công việc cần phải làm như: vận động nhân dân cùng chính quyền, nhà trường huy động học sinh đi học đúng

độ tuổi Tăng cường đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống đào tạo,

ưu tiên đầu tư để phát triển giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, phát triển nhiều loại hình giáo dục sau trung học, phát triển mạnh các trường ngoài công lập từ mầm non đến đại học, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong công tác giáo dục

- Triển khai hoạt động xây dựng XHHT ở nước ta, đòi hỏi phải tập trung

phát triển nhiều hình thức giáo dục ngoài nhà trường (giáo dục thường xuyên) cho người lớn tuổi và người thất học Ngành GD - ĐT cần phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội tập trung xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục thường xuyên về các mặt: quy hoạch các cơ sở giáo dục theo phương thức không chính quy, thể chế hoá nhằm tạo hành lang pháp lý để các

cơ sở này hoạt động hiệu quả, đúng pháp luật, đồng thời phối hợp cùng các lực lượng xã hội phát động phong trào xây dựng “Gia đình hiếu học”, thôn bản, khu phố khuyến học, phát triển rộng khắp, bền vững có chất lượng TTHTCĐ xã, phường, thị trấn…

Xây dựng XHHT là một cuộc vận động cách mạng to lớn, vì thế, cần có

sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng, sự quản lý chỉ đạo của các cấp chính quyền và ngành GD - ĐT, sự tham gia trực tiếp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội, trong đó Hội Khuyến học có vai trò quan trọng để phát triển các hình thức học tập bên ngoài nhà trường và hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển GD -

ĐT trong các nhà trường

1.3.6 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xây dựng XHHT

Trang 39

1.3.6.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng xây dựng XHHT

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, giúp cho nhiều người có cơ hội học tập, thu hút ngày càng nhiều người tham gia xây dựng giáo dục, hướng tới một XHHT như đã nêu ở Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) Luật Giáo dục thể hiện rất rõ ràng: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập”

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục- đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng, và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [7]

Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: "Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục" [9]

Đến ngày 18 tháng 5 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn

2005 - 2010”, việc xây dựng XHHT ở nước ta được tổ chức thực hiện một cách

có hệ thống hơn Quyết định của Thủ tướng Chính phủ xác định: Xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học

Trang 40

liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, mọi người, mọi

tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT

Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng

xã hội học tập đã tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và “Cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng xã hội học tập trong từng địa phương, đơn vị Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong “Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” mà Chính phủ đã ban hành Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện”

Ngày 09 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 89/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn

2012 - 2020” Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) cũng đã tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng XHHT

Xây dựng cả nước trở thành XHHT được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông cả hai bộ phận cấu thành: giáo dục chính quy và giáo dục không thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt

Ngày đăng: 16/09/2021, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w