=== === THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG PROTEIN BỘT NHÂN HẠT CAO SU TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG Anabas sp NUÔI TRONG GIAI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Người thực
Trang 1=== ===
TRẦN VĂN BẮC
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG PROTEIN BỘT NHÂN
HẠT CAO SU TRONG KHẨU PHẦN ĂN
CỦA CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG (Anabas sp)
NUÔI TRONG GIAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2012
Trang 2=== ===
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG PROTEIN BỘT NHÂN
HẠT CAO SU TRONG KHẨU PHẦN ĂN
CỦA CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG (Anabas sp)
NUÔI TRONG GIAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Trần Văn Bắc
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Đình Vinh
VINH - 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và các bạn trong khoa Nông - Lâm - Ngư Nhân dịp này, em xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Đình Vinh đã hướng dẫn tận tình và chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ công tác trên trại thực nghiệm NTTS nước ngot tại Hưng Nguyên đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ cho em trong thời gian thực hiện đề tài
Bên cạnh đó, em luôn ghi nhớ công lao của các thầy cô giáo những người đã giúp em trang bị kiến thức trong suốt khóa học
Cuối cùng , em muốn gửi lời cảm ơn rất nhiều đến những người đã luôn bên cạnh chia sẻ, động viên, giúp đỡ em và tiếp thêm cho em nghị lực để học tập và sống tốt Đó là cha mẹ, người thân bạn bè của em…
Vinh, tháng 9 năm 2012
Sinh viên Trần Văn Bắc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm của cá Rô đầu vuông 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Phân bố 4
1.1.3 Đặc điểm sinh học 4
1.2 Tình hình phát triển của cá Rô đầu vuông 7
1.2.1 Tình hình nuôi cá Rô đầu vuông ở nước ta 7
1.2.2 Tình hình nuôi cá Rô đầu vuông ở Nghệ An 8
1.2.3 Các hình thức nuôi cá Rô đầu vuông hiện nay 8
1.2.4 Một số bệnh thường gặp 9
1.3 Một số nét về cây cao su và giá trị dinh dưỡng của hạt cao su 10
1.3.1 Tình hình trồng cao su trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình trồng cao su tại Việt Nam 11
1.3.3 Tình hình trồng cao su ở địa bàn Nghệ An 12
1.3.4 Giá trị dinh dưỡng của hạt cao su 13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Vật liệu nghiên cứu 15
2.2.1 Nguyên liệu chế biến thức ăn 15
Trang 52.2.2 Công thức thức ăn 16
2.2.3 Dụng cụ thí nghiệm 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 17
2.3.2 Bố trí thí nghiệp 18
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 20
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.4.1 Thời gian nghiên cứu 21
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng 22
3.1.1 Kết quả phân tích nguyên liệu 22
3.1.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm 23
3.2 Sự biến động của các yếu tố môi trường 24
3.3 Ảnh hưởng của các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su tới sự tăng trưởng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) 27
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trọng trung bình của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức 27
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức 28
3.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức 30
3.3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến chiều dài trung bình của cá Rô đầu vuông ở 3 công thức 31
3.3.5 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài toàn phần của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức 33
Trang 63.3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều
dài toàn phần của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức 34
3.3.7 Ảnh hưởng của các mức thay thế một phần protein bột cá bằng
protein bột nhân hạt cao su tới tỷ lệ sống của cá Rô đầu vuông
(Anabas sp) 36
3.3.8 Ảnh hưởng của các mức thay thế một phần protein bột cá bằng
protein bột nhân hạt cao su tới hệ số chuyển đổi thức ăn FCR
của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hi ệu viết tắt Tên đầy đủ
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cá Rô đầu vuông 3
Hình 1.2 Hoa và quả của cây cao su 10
Hình 2.1 Cá Rô đầu vuông 15
Hình 2.2 Bột nhân hạt cao su 15
Hình 2.3 Nhân hạt cao su 15
Hình 2.4 Viên thức ăn thì nghiệm 16
Hình 2.5 Sơ đồ sản xuất thức ăn thí nghiệm 16
Hình 2.6 Sơ đố khối nghiên cứu 17
Hình 2.7 Sơ đồ bố trí thực nghiệm 18
Hình 3.1 Biểu đồ tăng trọng trung bình của cá Rô đầu vuông 27
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá cá Rô đầu vuông 29
Hình 3.3 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng theo thời gian nuôi) 30
Hình 3.4 Biểu đồ chiều dài trung bình của cá Rô đầu vuông 32
Hình 3.5 Biểu đồ so sánh tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài thân toàn phần của cá Rô đầu vuông 33
Hình 3.6 Biểu đồ so sánh tăng trưởng tương đối về chiều dài thân toà phần của cá Rô đầu vuông 35
Hình 3.7 Biểu đồ so sánh tỉ lệ sống của cá Rô đầu vuông 36
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng hạt cao su 13
Bảng 1.2 Thành phần các axitamin trong nhân hạt cao su 13
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm 18
Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của cá theo khối lượng 19
Bảng 3.1 Thành phần của nhân hạt cao su 22
Bảng 3.2 Thành phần một số nguyên liệu sử dụng trong sản xuất thức ăn thí nghiệm 23
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 23
Bảng 3.4 Biến động của nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm 24
Bảng 3.5 Biến động của pH nước trong thời gian thí nghiệm 25
Bảng 3.6 Biến động của hàm lượng oxy hoà tan trong thời gian thí nghiệm 26
Bảng 3.7 So sánh khối lượng trung bình giữa các công thức thí nghiệm 27
Bảng 3.8 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của cá thí nghiệm về khối lượng 28
Bảng 3.9 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) 30
Bảng 3.10 So sánh chiều dài trung bình cá rô dầu vuông (Anabas ps) 31
Bảng 3.11 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của cá thí nghiệm về chiều dài 33
Bảng 3.12 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài toàn phần của cá trong các công thức thí nghiệm 34
Bảng 3.13 Tỷ lệ sống của cá qua các lần kiểm tra 36
Bảng 3.14 Hệ số FCR trong quá trình thực nghiệm của các công thức thí nghiệm 37
Trang 10MỞ ĐẦU
Bột cá là nguồn protein phổ biến nhất được sử dụng trong chế biến thức
ăn trong nuôi trồng thuỷ sản, đây là nguồn nguyên liệu có hàm lượng Protein cao,có đầy đủ khoáng chất, vitamin, các axit amin thiết yếu Với xu thế khai thác như hiện nay thì nguồn cung cấp các sản phẩm thuỷ sản ngày càng ít đi,
mà diện tích nuôi ngày càng được mở rộng, nhu cầu bột cá ngày càng tăng, sản lượng bột cá thiếu hụt trong tương lai là điều tất yếu Giá bột cá cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, gây áp lực cho ngành nuôi trồng thuỷ sản
Chi phí thức ăn là chi phí cao nhất trong nuôi trồng thuỷ sản, thường thay đổi từ 50 - 60%, tuỳ thuộc vào mật độ nuôi, đối tượng nuôi Giải pháp bền vững cho vấn đề này là thay thế bột cá bằng các nguồn Protein thực vật sẵn có ở các địa phương Hiện nay đã có nhiều hướng nghiên cứu hướng đến việc thay thế nguồn Protein có nguồn gốc từ động vật bằng Protein có nguồn gốc từ thực vật, nhằm giảm mức chi phí thức ăn cho nghề nuôi
Bột nhân hạt cao su có giá trị dinh dưỡng cao, các axit amin quan trọng trong protein nhân hạt cao su ở mức khá Mặt khác cây cao su là cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tế cao được trồng rất nhiều ở các nước Mỹ La Tinh, Châu Á, Châu Phi Hơn nữa việc sử dung nhân hạt cao su hiện nay chủ yếu là tận dụng nhân để ép lấy dầu và một số ứng dụng khác Nên đây là nguồn protein thực vật lớn, giá rẻ có thể dùng để thay thế bột cá làm giảm áp lực về nhu cầu bột cá và giảm chi phí về thức ăn
Các công thức thức ăn thay thế đã đươc nghiên cưu tại các cơ sở nghiên cứu như Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm Huế,… dựa trên nguồn nguyên liệu: Cám gạo, bột mì, khô dầu lạc,…Đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề sử dụng bột nhân hạt cao su làm thức ăn cho chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản nhưng số lượng chưa nhiều
Trang 11Cá rô đầu vuông có ưu điểm khỏe mạnh, mau lớn, thích nghi với môi trường rất cao, hệ số tiêu thụ thức ăn thấp, theo kinh nghiệm của các hộ nuôi thì chỉ 1,4 - 1,7 kg thức ăn cho 1 kg cá, trong khi đó nuôi cá rô đồng trung bình tốn 2 kg thức ăn Trung bình sau thời gian nuôi 4 tháng đầu cá có thể đạt trọng lượng 6 - 8 kg/con Nếu nuôi kéo dài 7 tháng trọng lượng cá có thể đạt
từ 500 - 600 g/con Nhiều hộ nông dân làm giàu nhờ bán được cá giống với giá cao Thịt cá rô đầu vuông chắc nịch, thơm, ngon, ngọt, béo, đậm đà làm được nhiều món ngon Giá bán cao từ 40.000 - 50.000 đồng/kg, và 60.000 - 80.000 đồng/kg đối với cỡ cá 4 - 5 con/kg
Cá rô đầu vuông là đối tượng mới đưa vào nuôi ở Nghệ An, việc đưa cá rô đầu vuông về nuôi thử nghiệm trong điều kiện sinh thái Nghệ An là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tế đó được sự đồng ý của khoa Nông Lâm Ngư,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Thử nghiệm sử dụng protein bột nhân hạt cao
su trong khẩu phần ăn của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) nuôi trong giai”
* Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định khả năng sử dụng và mức sử dụng protein bột nhân hạt cao su trong khẩu phần ăn của cá Rô đầu vuông
* Nội dung nghiên cứu:
- Phân tích thành phần dinh dưỡng nguyên liệu và thức ăn sau khi sản xuất
- Đánh giá khả năng thay thế của các mức protein bột nhân hạt cao su trong khẩu phần ăn của cá Rô đầu vuông giai đoạn thương phẩm trong giai với các chỉ tiêu đánh giá:
- Tốc độ tăng trưởng của cá thí nghiệm
- Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm
- Hệ số chuyển đổi thức ăn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm của cá Rô đầu vuông
1.1.1 Hệ thống phân loại
Tên tiếng Việt : Cá Rô đầu vuông (Cá Rô Hậu Giang)
Hình 1.1 Cá Rô đầu vuông
Trang 131.1.2 Phân bố
Cá Rô đầu vuông phân bố chủ yếu ở vùng nước ngọt, có thể sinh sống ở những khu vực như: đầm lầy, kênh mương, ao hồ, sông hay thậm chí là những nơi ao tù nước đọng, so với một số loài cá nước ngọt khác thì ngưỡng chịu đựng của cá Rô đầu vuông cao hơn nhiều Các yếu tố môi trường như pH, DO chỉ là yếu tố giới hạn thứ cấp chứ không đóng vai trò chủ yếu Chúng có thể sống trong môi trường khô hạn trong nhiều giờ, nhất là trong mùa khô hạn để tìm nguồn nước mới Các khu vực có cá Rô đầu vuông xuất hiện nhiều là nơi
có nguồn thức ăn phong phú, nhất là mùn bã hữu cơ ở khu vực nền đáy
Hiện nay ở Việt Nam cá Rô đầu vuông được nuôi nhiều ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long như : An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang, Bình Dương và hiện nay đang được đưa ra nuôi thí điểm ở khu vực phía Bắc như Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương bước đầu thu được kết quả khả quan
1.1.3 Đặc điểm sinh học
Đặc điểm hình thái
Cá Rô đầu vuông có hình thon dài, đầu rộng, mắt to Cơ thể có màu xanh xám đến nhạt, phần bụng có màu sáng hơn phần lưng, phần lưng có màu sẫm hươn thậm chí có màu đen Thân mình và bộ phạn đầu phủ một lớp vảy khác cứng, các gờ của vảy và vây có màu sáng Nắp mang cá có hình răng cưa Đặc biệt phần đầu có một gờ nhô lên nên gọi là cá Rô đầu vuông
Cá có một cơ quan hô hấp phụ dưới mang là mang phụ, cho phép chúng có thể trao đổi không khí với bên ngoài Chính vì điều này mà chúng có thể sống hàng giờ mà không cần đến nước Hàm răng của cá Rô đàu vuông sắc và chắc xếp thành dãy trên hai hàm, răng sắc nhọn giúp chúng có thể xé và rỉa thức
ăn Cá Rô đầu vuông là loài cá có tai trong, là một cấu trúc ở đầu cá cho phép chúng hít thở oxy trong không khí Đầu cá chiếm 1/3 chiều dài cơ thể miệng
Trang 14lớn hướng lên trên, mắt thấp và tương đối nhỏ Các tia mang mịn và tách biệt, vây nhỏ và xếp sít nhau
Trọng lượng phổ biến từ 4 - 6 con/ 1kg một số con có thể nặng tới 700gam sau 18 tháng nuôi
Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Rô đầu vuông là loài ăn tạp nhưng có xu hướng nghiêng về thức ăn là động vật Chúng có thể ăn các loài động vật phù du, động vật thân mềm, cá con của các loài cá khác, các loài thực vật có trong thủy vực Trong trường hợp nuôi với mật độ cao và nguồn thức ăn không phù hợp chúng có thể ăn thịt lẫn nhau giống như các loài cá dữ khác Chính vì vậy trong quá trình nuôi cần chú ý tới việc phân đàn của cá để hạn chế điều này Khi trong đàn cá nuôi có một cá thể chết thì những con sống sẽ ăn thịt con chết Nguồn thức ăn chủ yếu của cá Rô đầu vuông trong thủy vực là các loài tôm, cá nhỏ, các loại động vật phù du hay thậm chí là xác của các loài động vật đang trong quá trình phân hủy Ngoài ra chúng còn có thể ăn các phụ phẩm lò mổ, phụ phẩm nông nghiệp…
Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi theo Khi cá ở giai đoạn cá bột thường cho ăn lòng đỏ trứng gà và bột đậu nành xay mịn, khẩu phần ăn tùy thuộc vào lượng cá ương nhưng thường là 3 lòng đỏ trứng +100gam bột đậu nành cho 1 vạn cá bột/ 1 ngày
Trong điều kiện nuôi thương phẩm chúng có thể sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế…
Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng nhanh, trong mật độ nuôi thâm canh ( mật độ 25 -
40 con/1m2 cỡ giống thả từ 300 - 400 con/1kg), nguồn thức ăn đầy đủ, moi trường sống phù hợp sau từ 7 - 8 tháng nuôi cá đạt trung bình từ 350 - 450gam/1con Cá tăng trưởng mạnh nhất từ 3,5 đến 6,5 tháng tuổi Từ tháng thứ 7 trở đi cá tăng trưởng rất chậm nếu gặp phải thời tiết bất lợi có thể không tăng trưởng
Trang 15 Đặc điểm sinh sản
Cá Rô đầu vuông từ lúc nở đến lúc phát dục là khoảng 7,5 - 8 tháng tuổi Trọng lượng bình quân khoảng 350 - 450gam/1con Cá sẽ mang trứng vào khoảng tháng 11 âm lịch(đối với cá nuôi trong ao khi trời trở lạnh) và vào tháng 4 - 5 âm lịch(đối với cá tự nhiên) Cách phân biệt đực cái : cá đực có thân hình thon gọn và dài hơn cá cái Cá đực khi thành thục sinh sản tinh dịch
có màu trắng, nếu dùng tay vuốt nhẹ dưới ổ bụng sẽ thấy sẹ (tinh dịch) chảy
ra Đối với cá cái khi mang trứng bụng sẽ phình to, khi sắp sinh sản nếu dùng tay vuốt nhẹ thì trứng sẽ vọt ra ngoài, đây là dấu hiệu của cá sẵn sàng cho việc sinh sản
Trong tự nhiên cá thường có thói quen bắt cặp sinh sản Sau nhưng cơn mưa rào hay có sự thay đổi về mực nước thì sẽ kích thích cá sinh sản
Bãi đẻ của cá là ven những bờ ao , nơi có nhiều rong rêu, cỏ và thực vật thủy sinh Cá cái sẽ đẻ trứng vào nước đồng thời cá đực sẽ phóng tinh trùng ra Trứng sẽ được thụ tinh ngay lập tức và nổi lên khỏi mặt nước nhờ vào những lớp dầu màu vàng được phóng ra cùng lúc với trứng
Do cá không có tập tích bảo vệ trứng sau khi sinh sản nên lượng trứng trong một lần sinh sản là tương đối nhiều(khoảng 3000/1 cá cái) Trứng sau khi thụ tinh 15 sẽ nở ra cá bột Thời gian nở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nhiệt độ, pH, dòng chảy…
Trong sinh sản nhân tạo sau khi chọn những cá thể bố mẹ đã thành thục, người ta tiến hành tiêm kích dục tố LRHa cho vào những bể đẻ đã được bịt kín hoặc cho vào các lu khạp có đậy nắp, sau khi tiêm khoảng 8 giờ thì cá sẽ sinh sản Trong điều kiên nuôi vỗ cá có thể tái phát dục sau 1,5 - 2 tháng và tiếp tục sinh sản
Ngoài tự nhiên cá có tập tính sinh sản vào mùa mưa Đầu mùa mưa cá
di chuyển từ nơi sinh sống đến nơi ngập nước sau những cơn mưa lớn đầu mùa như ao đầm, ruộng…nơi có mực nước 30 - 40cm để đẻ trứng
Trang 161.2 Tình hình phát triển của cá Rô đầu vuông
1.2.1 Tình hình nuôi cá Rô đầu vuông ở nước ta
Ở tỉnh Hậu Giang là nơi đầu tiên ở nước ta phát hiện và nuôi giống cá này Gia đình ông Nguyễn Văn Khải(huyện Vị Thủy) đã phát hiện giống cá này lẫn trong ao nuôi cá Rô đồng và sau đó đem cho sinh sản Vụ đầu tiên cá
lớ rất nhanh, hơn hẳn cá Rô đồng Sau 3 tháng nuôi cá đạt 100 - 120gam/1 con Do thấy loài cá có tốc độ tăng trưởng nhanh nên ông đã nhân giống và bán cho người dân xung quanh Đến nay đã có nhiều hộ nông dân ở tỉnh Hậu Giang và các tỉnh lân cận đã chuyển từ các loại cá truyền thống sang loại cá này Chính vì vậy diện tích nuôi cá Rô đầu vuông ngày càng được mở rộng, không chỉ ở các tỉnh miền Nam mà hiện nay đang dần được mở rộng ra các tỉnh phía Bắc như Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương…Trên thị trường hiện nay giá cá Rô đầu vuông giao động từ 40.000 - 60.000đồng/1kg Với ưu điểm vượt trội là tốc độ tăng trưởng nhanh, hệ số tiêu thụ thức ăn thấp nên đang là đối tượng được người nông dân ưa chuộng
Theo phòng Quản lý Nông Lâm và Thủy Sản thuộc sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Hậu Giang, năng suất bình quân của cá Rô đầu vuông taih huyện Long Mỹ, Vị Thủy, Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang là 70 tấn/1ha, cao hơn giống cá Rô đồng tới 20 tấn/ha Qua khảo sát, ban đầu diện tích nuôi cá
Rô đầu vuông chỉ vài chục hecta nhưng đến nay đã tăng lên hàng trăm hecta
và sẽ tiếp tục tăng
Ở Thanh Hóa diện tích nuôi loại cá này đang ngày càng được mở rộng, nguồn con giống được cung cấp từ trung tâm giống thủy sản Nguyễn Hùng thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Tại Đồng Nai, gia đình ông Nguyễn Văn Khen ngụ tại xã Thái Hòa, huyện Tân Uyên đã rất thành công với loại cá này Với số lượng cá bố mẹ ban đầu chỉ là 1500con nhưng đến nay gia đình ông đã có đến 9 ao nuôi với tổng
số lượng cá là 3,5 triệu con
Trang 17Không chỉ lên ngôi ở đồng bằng sông Cửu Long mà hiện nay cá Rô đầu vuông đang được nuôi khá phổ biến ở các nơi khác như Cà Mau, Bình Dương, Đồng Tháp…
Tại Hà Tĩnh trung tâm giống thủy sản Đức Long thuộc xã Đức Long, huyện Đức Thọ đang nuôi thí điểm loại cá này bước đầu đã cho thấy cá tăng trưởng nhanh và đồng đều
Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang đã thực hiện mô hình nuôi 20.000 con cá Rô đầu vuông tại xã Song Mai - thành phố Bắc Giang và xã Quý Sơn - Lục Ngạn bước đầu cho thấy cá tăng trưởng tốt, mở ra một hướng đi mới cho ngành thủy sản tỉnh Bắc Giang
1.2.2 Tình hình nuôi cá Rô đầu vuông ở Nghệ An
Ở tỉnh Nghệ An hiên nay đã bước đầu nuôi thử nghiệm thành công ở một số hộ gia đình như hộ anh Nguyễn Văn Quỳnh thuộc khối 2 thị trấn Hưng Nguyên, trung tâm thực hành thí ngiệm trường đại học Vinh cũng đang thử nghiệm nuôi loại cá này Trung tâm giống thủy sản Nghệ An( Diễn Châu - Nghệ An) đã bước đầu cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá này nhằm phục vụ nhu cầu nuôi thương phẩm của bà con nông dân
Trung tâm giống thủy sản Nghệ An ( Diễn Châu - Nghệ An) đã bước đầu cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá này nhằm phục vụ nhu cầu nuôi thương phẩm của bà con nông dân
Hiện nay sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An cũng đang tiến hành xây dựng một số dự án nhằm đưa đối tượng này vào nuôi đại trà
1.2.3 Các hình thức nuôi cá Rô đầu vuông hiện nay
Nuôi cá Rô trong ao đất
Đây là hình thức nuôi phổ biến hiện nay, ao thường có diện tích 500 - 1000m2 với mật độ thả từ 25 - 30 con/1m2 Yêu cầu cơ bản của ao nuôi gồm có: mực nước 1,2 - 1,5m, có cống cấp và thoát nước để phục vụ cho quá trình
Trang 18nuôi Cá Rô đầu vuông có thể nuôi ghép với các loài cá truyền thống như trắm, trôi, mè… để tận dụng không gian mặt nước
Nuôi trong bể xi măng
Hình thức nuôi này có ưu điểm là có thể nuôi với mật độ cao thuận lợi cho quá trình chăm sóc và quản lý cũng như thu hoạch Tuy nhiên hình thức này cũng có một số bất cập đó là sản lưỡng thu được thường không cao, chi phí đầu tư ban đầu cao
Nuôi trong ruộng lúa
Diện tích ao nuôi từ 1000 - 1500m2, mực nước ao từ 1,2 - 1,5m, có mương bao quanh bờ ao với chiều rộng 2 - 3m tính từ bờ để cho cá có chỗ ở khi thu hoạch lúa Ngoài ra cần có hệ thống cấp thoát nước để tránh hiện tượng cạn nước vào mùa khô cũng như ngập lụt vào mùa mưa Mật độ thả phù hợp là từ 20 - 35 con/m2 cỡ giống từ 300 - 500 con/1kg
1.2.4 Một số bệnh thường gặp
Bệnh lở loét
Khi mắc bệnh cá ăn ít rồi dần dần bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, da cá
có màu sẫm, có vết mòn màu xám hoặc các đốm đỏ ở phần đầu, thân và đuôi Các bộ phận bên ngoài của cá có dấu hiệu xuất huyết tuy nhiên cơ quan nội tạng của cá hầu như không biến đổi
Cách phòng và trị bệnh : Trước khi thả cá cần cải tạo ao một cách kỹ càng để hạn chế các mầm bệnh xâm nhập, khi cá mắc bệnh có thể dùng thuốc tím với liều lượng 10mg/1m3 tắm cho cá trong thời gian từ 15 - 30 phút, dùng vôi tạt xuống ao với liều lượng 2kg/100m2 mặt nước Dùng kháng sinh có chứa Oxytetracyline trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục trong 5 ngày
Trang 19Dấu hiệu bệnh lý : khi cá mắc bệnh trên da cá xuất hiện những vùng trắng xám tua tủa có thể nhìn thấy bằng mắt thường
Cách phòng và chữa trị : Dùng xanh malachite liều lượng 15 - 20ppm tắm cho cá trong thời gian 30 phút, hoặc dùng xanh Metylen 10ppm tắm cho
cá trong 15 phút Khi cải tạo ao nuôi cần tẩy dọn thật kỹ, bón vôi sát trùng trước khi thả cá
1.3 Một số nét về cây cao su và giá trị dinh dưỡng của hạt cao su
1.3.1 Tình hình trồng cao su trên thế giới
Hình 1.2 Hoa và quả của cây cao su
Cây cao su thiên nhiên (Hevea brasiliensis) có nguồn gốc từ Brasil là
cây có giá trị kinh tế lớn nhất trong chi Hevea Chất nhựa của cây (nhựa mủ - latex) là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên Khi cây đạt độ tuổi 5 -
6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ cho đến khi đạt độ tuổi 26 - 30 năm Ngoài ra, gỗ cao su được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ có giá trị cao, được coi là loại gỗ "thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ [49]
Trang 20Cây cao su cho quả khi được 4 tuổi Quả cây cao su là một nang có 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt Khi chín, quả sẽ nổ ra, phóng thích ra hạt Một
ha cây cao su cho khoảng 300 - 400kg hạt mỗi năm Tỷ lệ nhân chiếm 51% tổng khối lượng hạt [13]
Các nước trồng nhiều cao su trên thế giới như Brazil, Trung Quốc, Thái Lan… Hiện nay nhân hạt cao su chủ yếu được thu gom tận dụng bằng hính thức ép lấy dầu dùng trong chạy máy hoặc ép lấy dầu làm hỗn hợp pha với sơn Tiềm năng về hạt cao su là rất lớn cần có nhiều nghiên cứu mới nữa về việc sử dụng hạt cao su nhằm tận dụng hạt cao su đồng thời nâng cao năng suất cho người trồng cao su
1.3.2 Tình hình trồng cao su tại Việt Nam
Cây cao su được du nhập vào Việt Nam được trên 110 năm (năm 1897) Thờì kỳ 1920 - 1940 là thời kỳ cây cao su được trồng nhiều ở nước
ta Năm 1930 đã khai thác trên 10.000 ha, sản xuất 11.000 tấn Năm 1950, sản xuất 92.000 tấn, trên diện tích khai thác gần 70.000 ha Nhờ chính sách khuyến khích của chính quyền thuộc địa (chính sách đất đai và chính sách cho vay lãi suất thấp), Pháp đã thiết lập các đồn điền lớn như Công ty Đất đỏ (Compagnie des Terres rouges), SIPH, Công ty đồn điền Michelin, ở các tỉnh miền Đông và Tây Nguyên Xuất khẩu cao su và gạo lúc đó là “hai vú sữa cho nền kinh tế Việt Nam”
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2009 tổng diện tích cây cao su đạt 674.20 ha, tăng 42.70 ha (13,5%) so với năm 2008 Trong đó, diện tích cho khai thác là 421.60 ha (chiếm 62,5% tổng diện tích), với sản lượng đạt 723.70 tấn, tăng 9,70 % so năm 2008 Diện tích trồng cao su tập trung chủ yếu ở Đông Nam bộ (64%), Tây Nguyên (24,5%) và duyên hải miền Trung (10 %) Diện tích cây cao su ở vùng Tây Bắc mới đạt khoảng 10.200 ha (chiếm 1,5%)[49]
Trang 21Cây cao su phát triển tốt trên đất bazan, do vậy chúng được trồng nhiều
ở các tỉnh Đông Nam Bộ, như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, một số huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, và phía tây Nghệ An như huyện Nghĩa Đàn Theo viện nghiên cứu cao su Việt Nam tổng sản lượng cây cao su tính đến năm 2010 là 715.000 ha Dự kiến diện tích cây cao su của Việt Nam năm 2015 là 800.000ha [49]
1.3.3 Tình hình trồng cao su ở địa bàn Nghệ An
Nghệ An là một trong những tỉnh có điều kiện đất đai khí hậu thuận lợi cho phát triển cây cao su, đặc biệt là các huyện miền núi phía tây Tại Nghệ
An cây cao su được trồng tại các nông trường Phủ Quỳ từ những năm 1960, đến năm 1995 diện tích 1.560 ha Cuối năm 2005, toàn tỉnh có 3.383 ha cao
su, trong đó 2.103 ha kinh doanh (chủ yếu cao su trồng từ vốn dự án 327 (1992 - 1997) và được phân bố trên 3 huyện Nghĩa Đàn (2.094 ha), Quỳ Hợp (570 ha), Tân Kỳ (719 ha) Năm 2007 tổng diện tích cây cao su toàn tỉnh đạt trên 4.700 ha, diện tích cho sản phẩm gần 1.700 ha [49] Định hướng trước mắt của tỉnh Nghệ An là tập trung vào phát triển vùng đất thuộc các công ty nông lâm nghiệp, nông trường quốc doanh và một số diện tích cao su tiêu điền thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ Sự phát triển cây cao su
ở Nghệ An có những thuận lơi: diện tích đất đai khí hậu thời tiết phù hợp với cây cao su, tương đồng với điều kiện khí hậu của các vùng trồng cao su tập trung ở Vân Nam - Trung Quốc Do cơ cấu cây trồng trên đất đồi núi còn chưa phát triển ổn định, hiệu quả chưa cao vì vậy cây cao su có lợi thế so sánh hơn Bên cạnh đó việc phát triển trồng cây cao su ở Nghệ An còn có một số khó khăn như: Ngoại trừ khối kinh tế Quốc doanh, những vùng phát triển cao
su tiểu điền kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn đối với cao su ở vùng này con rất hạn chế, địa hình chia cắt, qui mô diện tích đất của nông hộ nhỏ, trình độ thâm canh còn hạn chế, cơ sở hạ tầng trong vùng nhất là giao thông phục vụ cho sản xuất và chế biến còn hạn chế [49]
Trang 221.3.4 Giá trị dinh dưỡng của hạt cao su
Theo tiêu chuẩn của FAO hạt cao su có thành phần dinh dưỡng như sau:
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng hạt cao su
đã sấy khô
Bánh dầu hạt cao su
Theo FAO, hạt cao su có thành phần các axitamin như sau:
Bảng 1.2 Thành phần các axitamin trong nhân hạt cao su
FAO
Bột nhân hạt cao su
Trang 23Qua bảng 1.4 nhận thấy, bột nhân hạt cao su có mặt 8 axit amin thiết yếu cho động vật nói chung đặc biệt là 7 axit amin tối cần thiết cho hoạt động của động vật gồm: Lysine, Phenylalanine, Isoleusine, Valanine, Threonine, Methionine, Leucine
Trong đó, Lysine là loại axit amin thường thiếu trong nhiều thực phẩm nhất là những thực phẩm từ ngũ cốc như gạo, ngô, khoai, sắn… nhưng trong bột nhân hạt cao su thì hàm lượng Lysine cao hơn tiêu chuẩn của FAO Đây
là axit amin đóng vai trò quan trọng trong sinh tổng hợp hemoglobin, axit nucleic, ảnh hưởng đến tiêu hóa, thần kinh, sự hình thành mô xương cải thiện tốt chức năng của các cơ quan nội tạng, thiếu axit amin này gây thiếu máu và ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của động vật [8]
Phenylalanine là tiền chất dẫn truyền thần kinh, kích thích hormon tăng trưởng, đẩy mạnh hoạt động miễn dịch Hàm lượng axit amin này trong bột nhân hạt cao su cũng khá cao so với tiêu chẩn của FAO [36]
Valine ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến tụy Nếu thiếu axit amin này trong thức ăn sẽ gây rối loạn trong phối hợp hoạt động Hàm lượng của axit amin Valine trong protein nhân hạt cao su cao hơn tiêu chuẩn của FAO
Arginine kích thích sản xuất hormon tăng trưởng và tham gia vào quá trình chuyển hóa cơ thể Arginine giữ vai trò quan trọng trong sinh sản của động vật Hàm lượng axit amin này trong nhân hạt cao su cũng cao hơn so với tiêu chuẩn của FAO [36]
Như vậy hạt cao su có thành phần dinh dưỡng khá cao so với những nguyên liệu khác, đặc biệt là thành phần Protein Các axit amin trong nhân hạt cao su cũng khá cao, các axit amin quan trọng khác ở mức chấp nhận được Do vậy bột nhân hạt cao su có thành phần các loại axit amin phù hợp
và có khả năng thay thế bột cá trong khẩu phần ăn của cá Rô phi với một lượng phù hợp
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hình 2.1 Cá Rô đầu vuông
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Nguyên liệu chế biến thức ăn
Thành phần nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn thí nghiệm gồm: Bột cá, bột nhân hạt cao su, bột ngô, bột sắn, cám gạo primex Vitamin và primex khoáng
Hình 2.2 Bột nhân hạt cao su Hình 2.3 Nhân hạt cao su
Trang 252.2.2 Công thức thức ăn
Thiết lập 3 khẩu phần ăn:
+ Khẩu phần sử dụng 0% protein bột nhân hạt cao su(CT1) + Khẩu phần thay thế 10% protein bột nhân hạt cao su (CT2) + Khẩu phần thay thế 20% protein bột nhân hạt cao su (CT3)
Hình 2.4 Viên thức ăn thì nghiệm
Quy trình sản xuất thức ăn thí nghiệm được thể hiện ở sơ đồ sau:
Hình 2.5 Sơ đồ sản xuất thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu Cân các nguyên liệu Trộn đều nguyên liệu
Ép viên thức ăn Cắt sợi thức ăn Sấy thức ăn Bảo quản
Trang 262.2.3 Dụng cụ thí nghiệm
+ Máy làm thức ăn viên
+ Giai hình chữ nhật, kích thước 1 x 1 x 2m, cỡ mắt lưới 2a=6mm + Các dụng cụ đo môi trường:
* Máy đo pH hiệu metrohm
* Máy đo DO metter
* Nhiệt kế bách phân (độ chính xác 10
C) + Cân điện tử Model AND Gx - 600 (với độ chính xác 0,01g)
+ Giấy kẻ ô ly với mỗi vạch trên giấy cách nhau 1mm
+ Thước đo palme (với độ chính xác 0,1mm)
+ Các dụng cụ khác: Xô, vợt, sàng cho ăn, cốc đong cho ăn,…
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Hình 2.6 Sơ đố khối nghiên cứu
Cá Rô đầu vuông (Anabas sp) nuôi trong giai
Kết luận
Tốc độ tăng trưởng
Hệ số chuyển đổi thức ăn
Tỷ lệ sống
Trang 28Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của cá theo khối lượng
Khối lượng cá (g) 3 - 10 10 - 30 30 - 120 120 - 350
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
- Xác định nhiệt độ bằng nhiệt kế bách phân
- Xác định pH bằng máy đo pH meter
- Xác định oxy hoà tan bằng máy đo DO meter
Hàng ngày theo dõi các yếu tố vào lúc 6h và 14h
+ Xác định tốc độ tăng trưởng cá Rô đầu vuông: Định kì 1 tuần tiến hành cân trọng lượng cá xác định khối lượng trung bình (1con/lần/lô thí nghiệm) bằng cân điện tử và đo chiều dài toàn thân bằng giấy ô ly đã qua kiểm tra bằng thước palme
+ Phương pháp xác định tỷ lệ sống
Xác định tỷ lệ sống theo từng thời điểm tích luỹ (1tuần/lần) bằng cách đếm số lượng cá thể trong giai
+ Phương pháp phân tích dinh dưỡng của thức ăn và nguyên liệu
Các chỉ tiêu phân tích gồm có vật chất khô, protein thô, lipid thô và khoáng tổng số theo các phương pháp sau:
Vật chất khô: Được xác định theo phương pháp sấy khô, TCVN 4328 - 2001 Protein thô: Được xác định theo phương pháp Kjeldahl, TCVN 4331 - 2001 Lipid thô: Được xác định theo phương pháp chiết phân đoạn ete, TCVN 4331 - 2001
Tro tổng số: Được xác định theo phương pháp đốt khô, TCVN 4327 - 86
Trang 292.3.4 Phương pháp xử lí số liệu
Trong đó:
S
W : Là khối lượng ở thời điểm sau (g)
Wt: Là khối lượng ở thời điểm trước (g)
Lt: Là kích thước ở thời điểm trước (cm)
Trang 30- Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn
Khối lượng thức ăn sử dụng (kg)
FCR =
Tăng trọng cá trong thí nghiệm (kg)
- Toàn bộ số liệu thí nghiệm được xử lí thống kê trên phần mềm Microsoft Excel 2003 và phần mềm SPSS 13.0 Prodution
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.4.1 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 15/04/2012 đến ngày 30/06/2012
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu
Trại thực nghiệm nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Hưng Nguyên (Khối 2
- thị trấn Hưng Nguyên - Nghệ An)
Các chỉ tiêu dinh dưỡng của nhân hạt cao su và thức ăn thí nghiệm được xác định tại: trung tâm khiểm dịch DTTP va môi trường
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng
3.1.1 Kết quả phân tích nguyên liệu
Thành phần của hạt cao su sau khi phân tích được dẫn ra ở bảng sau:
Bảng 3.1 Thành phần của nhân hạt cao su
(%)
Protein (%)
Lipit (%)
Tro (%)
HCN (mg/kg)
Nhân cao su đã xử lý nhiệt 4,60 23,81 26,12 3,20 227,56
Kết quả phân tích cho thấy:
- Bột nhân hạt cao su sau khi xử lý có độ ẩm đạt yêu cầu của nguyên liệu sản xuất thức ăn Bột có mùi thơm đặc trưng, có khả năng phối trộn làm thức ăn cho vật nuôi nói chung và động vật thủy sản nói riêng
- Thành phần protein trong bột nhân hạt cao su làm thí nghiệm tương đối thấp 22,81% đối với hạt khô thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn của FAO là 27,00% Sự khác biệt này có thể do chất lượng của cây khi trồng ở trên vùng đất có điều kiện khác
- Thành phần Lipit trong bột nhân hạt đã sấy khô (26,12%) gần bằng
so với tiêu chuẩn của FAO
- Hàm lượng HCN trong nhân hạt cao su sấy khô còn cao (227,56mg/kg) Đây là một hạn chế của đề tài vì hàm lượng HCN trong nguyên liệu cao sẽ ảnh hưởng tới quá trình chuyển hóa hấp thu thức ăn của cá
Trang 32Bảng 3.2 Thành phần một số nguyên liệu sử dụng trong
sản xuất thức ăn thí nghiệm
3.1.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm
Thành phần dinh dưỡng của thức ăn sau khi phân tích được dẫn
Lipid (%)
Tro (%)
Độ ẩm (%)
Trang 33Độ ẩm trong thức ăn là đạt yêu cầu đối với thức ăn công nghiệp (<10%) Độ ẩm trong thức ăn không được quá cao và nếu quá cao dễ gây ra hiện tượng mốc thức ăn và tạo ra các chất độc đối với động vật nuôi như: Aplatoxin, Peroxit…
Hàm lượng lipit trong thức ăn dao động từ 6,40 - 12,61% Hàm lượng lipit trong thức ăn không được quá cao vì đối với cá thì nhu cầu lipit thấp Điều đáng quan tâm hơn là chất lượng của lipit trong thức ăn Hàm lượng lipit quá cao sẽ dẫn tới việc khó bảo quản thức ăn thức ăn dễ bị oxy hóa tạo thành peroxit gây mùi khét và vì vậy mất tính hấp dẫn của thức ăn đối với cá
3.2 Sự biến động của các yếu tố môi trường
Biến động của yếu tố nhiệt độ môi trường nước trong thời gian thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Biến động của nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm
Trang 34nghiệm không phải là thời gian thích hợp nhất cho nuôi cá Rô đầu vuông thương phẩm Thời gian thích hợp nhất cho nuôi cá Rô đầu vuông thương phẩm là từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm do đây là thời gian có lượng nhiệt tương đối ổn định và nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá Trong thời gian làm thí nghiệm thì nhiệt độ dao động ngày đêm tương đối lớn nên có ảnh hưỏng tới tốc độ tăng trưởng của cá nuôi Điều này giải thích vì sao miền Nam khi nuôi cá lại cho kết quả tốt hơn vì điều kiện khí hậu ở miền Nam sự dao động nhiệt ngày đêm là không lớn như miền Bắc và miền Trung cơ thể cá không mất nhiều năng lượng cho quá trình điều hòa thân nhiệt vì cá là loài
Trang 35- Sự biến động của yếu tố hàm lượng oxy hoà tan của môi trường trong suốt thời gian nuôi thí nghiệm được thể hiện ra ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Biến động của hàm lượng oxy hoà tan trong thời gian thí nghiệm
Như vậy các yếu tố pH, nhiệt độ, DO trong thí nghiệm tương đối phù hợp cho cá Rô đầu vuông sinh trưởng và phát triển
Trang 363.3 Ảnh hưởng của các mức thay thế protein bột cá bằng protein bột
nhân hạt cao su tới sự tăng trưởng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp)
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trọng trung bình của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức
Bảng 3.7 So sánh khối lượng trung bình giữa các công thức thí nghiệm
Trang 37Từ tuần nuôi thứ nhất cho tới tuần nuôi thứ 6 có sự sai khác giữa các CT với nhau tuy nhiên sự sai khác là không có ý nghĩa thống kê với p>0.05 Từ tuần nuôi đầu cho tới tuần nuôi thứ 2 tốc độ tăng trưởng đều từ tuần nuôi 3,4,5 ,6có
sự thay đổi về khối lượng
Tốc độ tăng trung bình của CT1 là lớn nhất tiếp đến là CT2, CT3Có sự sai khác này là do trong quá trình cá sử dụng thức ăn có thay thế một phần protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su Trong thành phần bột nhân hạt cao su có các chất kháng dinh dưỡng và độc tố HCN đã làm kìm hãm và ức chế quá trình tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng của cá khi sử dụng thức ăn
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức
Bảng 3.8 So sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối
của cá thí nghiệm về khối lượng
Trang 38Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng
của cá cá Rô đầu vuông
Từ tuần nuôi thứ nhất cho tới tuần nuôi thứ 4 có sự sai khác giữa các CT với nhau tuy nhiên sự sai khác là không có ý nghĩa thống kê với p>0.05 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của CT1 là lớn nhất tiếp đến là CT2, CT3 Có sự sai khác này là do trong quá trình cá sử dụng thức ăn có thay thế một phần protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su Trong thành phần bột nhân hạt cao su có các chất kháng dinh dưỡng và độc tố HCN đã làm kìm hãm và ức chế quá trình tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng của cá khi sử dụng thức ăn
Tuần nuôi 5 có sự sai khác có ý nghĩa giữa các CT với nhau về mặt thống kê với p>0,05 Giữa CT1 và CT3 có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Giữa CT1 và CT2 không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê Giữa 2
và CT3 không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Điều này chứng tỏ khả năng thay thế protein bột cá bằng protein bột nhân hạt cao su ở tỷ lệ 0% là đảm bảo cho cá sinh trưởng và phát triển bình thường Tỷ lệ thay thế 10%, 20% tác động không tốt đến sinh trưởng và phát triển của cá
Trang 393.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá Rô đầu vuông (Anabas sp) ở 3 công thức
Bảng 3.9 So sánh tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng
của cá Rô đầu vuông (Anabas sp)
(Theo hàng các nghiệm thức có chứa chữ cái giống nhau sai khác
không có ý nghĩa thống kê (P > 0.05)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Hình 3.3 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng
theo thời gian nuôi)
Trong 5 tuần nuôi đầu không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các CT thí nghiệm với nhau Tốc độ tăng trưởng tương đối