1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngoại giao việt nam với việc bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng giai đoạn 1945 1946

130 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hoạt đông ngoại giao đó đã khẳng định vị thế của nuớc Việt Nam mới, ngăn được những hành động phá hoại của quân Trung Hoa dân quốc, hòa hoãn với Pháp để đẩy 20 vạn quân Trung Hoa d

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và đào TạO

TR-ờng đại học vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN!

Nghiên cứu “Ngoại giao Việt Nam với việc bảo vệ và củng cố chính quyền

cách mạng giai đoạn 1945 – 1946” là một vấn đề không mới và đã thu hút rất

nhiều sự quan tâm nghiên cứu của giới sử học trong và ngoài nước, do đó ngay

từ ban đầu trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, nhất

là trong việc xử lí, tổng hợp, và nghiên cứu tư liệu Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài này, bên cạnh niềm đam mê học tập và nghiên cứu, chúng tôi đã nhận được nhiều nguồn động viên, giúp đỡ quý báu tạo điều kiện cho chúng tôi vượt qua khó khăn, hoàn thành đề tài này

Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành

sâu sắc tới TS.Trần Vũ Tài, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chu đáo, đầy

trách nhiệm và lòng nhân ái đã dưa ra nhiều hướng giải quyết giúp tôi nhanh

chóng hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Trọng

Văn, Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Hồng, Thầy giáo TS.Trần Văn Thức

và các Thầy giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo, CBCNV của khoa Đào tạo sau Đại học, khoa Lịch sử, Thư viện trường Đại học vinh, ban Giám hiệu, Tổ Sử - Địa – GDCD trường THPT Nghi Lộc 4, tỉnh Nghệ An, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

để tôi tham gia học tập lớp cao học XVIII này

Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè đã tạo mọi điều kiện cả vật chất lẫn tinh thần, để tôi hoàn thành khóa học Tôi vô cùng cảm ơn đại gia đình chúng tôi đã chịu nhiều vất vả để tôi yên tâm học tập và nghiên cứu khoa học

Cuối cùng, tôi gửi lời cảm ơn tới các thế hệ học trò của tôi, đã chăm ngoan học giỏi là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao để cô giáo của mình có thêm nghị lực trong quá trình học tập

Vinh, tháng 9 năm 2012

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 3

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu : 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu: 5

5 Đóng góp của luận văn: 5

6 Bố cục của luận văn: 6

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1945 - 1946 7

1.1 Bối cảnh lịch sử 7

1.1.1 Tình hình thế giới 7

1.1.2 Tình hình Việt Nam 10

1.2 Tham vọng của các nước đế quốc đối với Việt Nam 15

1.2.1 Đế quốc Mỹ 15

1.2.2 Đế quốc Anh 18

1.2.3 Quân Trung Hoa dân quốc 20

1.2.4 Thực dân Pháp 22

1.3.Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ngoại giao Việt Nam 30

Chương 2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚCTRONG GIAI ĐOẠN 1945 - 1946 41

2.1 Đề cao tính pháp lý của chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa 41

2.2 Hoan nghênh quân Đồng minh 49

2.3 Hòa hoãn với Trung Hoa dân quốc, tập trung đánh Pháp 55

2.4 Hòa hoãn với Pháp để đuổi quân Trung Hoa dân quốc 62

2.5 Nỗ lực cứu vãn nền hòa bình 82

Chương 3 VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN NGOẠI GIAO VỚI VIỆC BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN GIAI ĐOẠN 1945 – 1946 91

3.1.Bảo vệ chính quyền cách mạng 92

3.2 Củng cố chính quyền dân chủ nhân dân 97

3.3 Góp phần đưa cả nước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược .101

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC : 116

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài:

1.1 Chính quyền luôn là vấn đề cơ bản quyết định đến sự thắng lợi và phát triển của các cuộc cách mạng xã hội Vì vậy, việc giành chính quyền luôn luôn là mục tiêu và là nhiệm vụ hàng đầu của các cuộc cách mạng xã hội Để giành được chính quyền, cách mạng phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ và cuối cùng bằng bạo lực cách mạng của quần chúng mới có thể giành được thắng lợi Tuy nhiên, việc giành được chính quyền mới chỉ là nhiệm vụ bước đầu và cũng chưa phải là nhiệm vụ khó khăn nhất Nhiệm vụ nặng nề, khó khǎn và phức tạp nhất chính là xây dựng và bảo vệ chính quyền mới, làm cho nó thật sự là công cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ xây dựng thành công xã hội mới, vì độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Thực tiễn của tất cả các cuộc cách mạng từ trước tới nay ngày càng cho thấy rõ: Giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền lại là việc càng khó hơn

Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945 thắng lợi dẫn tới sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đây là nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Việt Nam và ở khu vực Đông Nam Á Đó là thành quả của 15 nǎm đấu tranh giành chính quyền của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do

và tiến lên chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên ngay sau ngày cách mạng thắng lợi, nhân dân ta chưa được hưởng trọn vẹn một ngày độc lập, tự do thì đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách, đe dọa nghiêm trọng đến nền độc lập, tự do vừa mới giành được của dân tộc Vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc” Bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ trở thành vấn đề hết sức cấp thiết đặt ra cho Đảng, Nhà nước và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc đó Đây là nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh dân tộc Vì vậy, để bảo vệ và củng cố nền cộng hòa dân chủ vừa mới ra đời, thì Đảng, Chính phủ và nhà nước ta đã dựa vào sự ủng hộ của người dân - những người vừa được giải phóng sau cách mạng, đồng thời đã triệt để tận dụng mặt trận đấu tranh ngoại giao làm một vũ khí đấu tranh mới của nhà nước độc lập Đảng, Chính phủ, nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những hoạt động ngoại giao đa

Trang 5

phương trực tiếp với nhiều kẻ thù ngay trên đất nước ta Đó là việc đón tiếp lực lượng quân Đồng minh, vận động ngoại giao với Mỹ, hòa hoãn với Trung Hoa dân quốc, kí kết Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp, đàm phán với Pháp ở Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Phôngtennơblô, rồi kí Tạm ước ngày 14 tháng 9 Đặc biệt là chuyến thăm nước Pháp của chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày

31 tháng 5 năm 1946 đến ngày 20 tháng 10 năm 1946 Những hoạt đông ngoại giao đó đã khẳng định vị thế của nuớc Việt Nam mới, ngăn được những hành động phá hoại của quân Trung Hoa dân quốc, hòa hoãn với Pháp để đẩy 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc về nước, đồng thời buộc chính phủ Pháp phải đàm phán, phải kí các hiệp định, tạm ước với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, thừa nhận một Chính phủ hợp pháp của nhân dân Việt Nam Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 là nỗ lực ngoại giao của Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm cứu vãn nền hòa bình cho dân tộc Những hoạt động ngoại giao đó,

dù rằng không cứu vãn được hòa bình cho dân tộc ta, nhưng nhờ đó mà cả dân tộc ta đã có được thời gian hòa bình xây dựng, bảo vệ và củng cố chính quyền, giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính và xã hội, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp với tư thế của một dân tộc chính nghĩa, kháng chiến chống ngoại bang xâm lược, như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh đêm 19-12-1946 đã viết: “ Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”

Như vậy, chỉ hơn một năm sau khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong bối cảnh chính quyền, quân đội còn non trẻ thì đấu tranh ngoại giao trở thành một mũi nhọn quan trọng trong việc giữ vững chính quyền, giải quyết những khó khăn trong nước, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng tiến lên chống Pháp Chính vì thế, khi nghiên cứu

về giai đoạn lịch sử này, đặc biệt là để làm rõ sự lãnh đạo tài tình và sáng tạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1945 đến năm 1954, thì việc cần thiết và không thể thiếu là phải nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền giai đoạn 1945 -1946

1.2 Ngày nay, đất nước ta đang có những lợi thế rất lớn, đó là tình hình chính trị, xã hội trong nước được ổn định, trên thế giới xu thế toàn cầu hóa đang

Trang 6

diễn ra mạnh mẽ, sự mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh Song chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn Trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập với phương châm “ Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Những phương châm, đường lối đối ngoại đó của ta được hình thành cùng với cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền sau cách mạng Tháng Tám Đến nay, những chính sách đó vẫn là những công cụ sắc bén giúp Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển các mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội Do vậy, tìm hiểu về ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1945 - 1946 giúp chúng ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu để vận dụng, sáng tạo trong chính sách ngoại giao hiện nay của nước ta, góp phần vào việc phát triển đất nước Đồng thời, những kiến thức mà chúng ta thu được thông qua tìm hiểu các chính sách ngoại giao, hoạt động ngoại giao, kết quả và vai trò của ngoại giao trong giai đoạn 1945 - 1946 sẽ giúp ích cho bản thân chúng ta rất nhiều trong việc giảng dạy lịch sử dân tộc và giáo dục đạo đức kĩ năng sống cho học sinh ở trường phổ thông

Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn vấn đề “ Ngoại giao Việt Nam với

việc bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng giai đoạn 1945 - 1946” làm đề

tài luận văn cao học thạc sỹ sử học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ngoại giao Việt Nam hiện đại từ những góc độ khác nhau, khẳng định nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại Việt Nam, trí tuệ và thiên tài ngoại giao Hồ Chí Minh và những hoạt động phong phú trong đấu tranh ngoại giao và vận động quốc tế qua các thời kì cách mạng Việt Nam

Tác giả TS Đặng Văn Thái trong cuốn sách “Hoạt động đối ngoại của chủ

tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp” (Nhà xuất bản Chính

trị quốc gia), đã trình bày khá cụ thể những hoạt động đối ngoại của chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo kiệt xuất của Người trong lĩnh vực ngoại giao năm đầu sau cách mạng Tháng Tám

Trang 7

Tác giả Lê Kim Hải trong cuốn sách “Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao

Việt - Pháp” (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội) đã đi sâu phân tích tư

tưởng đối ngoại của chủ tịch Hồ Chí Minh với thực dân Pháp sau cách mạng Tháng Tám

Một số cuốn sách viết về ngoại giao Việt Nam như: Ngoại giao Việt Nam

1945 - 2000, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia của tác giả Nguyễn Đình Bin)

trình bày hệ thống quan hệ đối ngoại của nước ta kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; Dưới góc độ đi sâu tìm hiểu chủ trương đường lối đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, năm 2005 tác giả, TS Vũ Quang Hiển đã cho xuất

bản cuốn “Tìm hiểu chủ trương đối ngoại của Đảng thời kì 1945 - 1946”; trong tác phẩm “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập tự do (1945

- 1975), (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2001) tác giả Nguyễn Phúc Luân

đã trình bày khá cụ thể quá trình đấu tranh ngoại giao của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ngoài ra, còn có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu dưới những góc

độ khác nhau đề cập vấn đề đấu tranh ngoại giao trong lịch sử Việt Nam Những công trình ấy đều đề cập đến đề tài chúng tôi nghiên cứu nhưng chưa có một công trình nào mang tính chuyên khảo trình bày một cách hệ thống về vai trò của ngoại giao Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền trong giai đoạn 1945 - 1946 Mặc dù vậy, tất cả những công trình nghiên cứu đã được công bố đều là những nguồn tư liệu quý giá giúp cho chúng tôi hoàn thành luận văn này Trên cơ sở kiến thức của nguồn tài liệu trên chúng tôi hệ thống hóa lại

để làm rõ về ngoại giao Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu : Ngoại giao Việt Nam trong năm đầu tiên sau

cách mạng Tháng Tám

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ bối cảnh lịch sử của nước ta sau cách mạng Tháng Tám và vấn đề đặt ra cho công tác ngoại giao Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám

- Các hoạt động đối ngoại của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ khi nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời đến trước ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ

Trang 8

- Thông qua đó đánh giá vai trò của những hoạt động ngoại giao đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền sau cách mạng tháng Tám

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm đầu sau cách mạng Tháng Tám

- Phạm vi thời gian: từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 đến ngày 19 tháng 12 năm

1946

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu: Để đạt được nhiệm vụ của đề tài chúng tôi sử dụng:

- Nguồn tài liệu lưu trữ, gồm có các văn kiện, chỉ thị chủ yếu của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 1945 - 1946

- Nguồn tài liệu thành văn: Là các công trình đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến nội dung chúng tôi nghiên cứu

- Nguồn tài liệu hồi kí của các vị lãnh đạo, các nhà hoạt động ngoại giao

- Nguồn tài liệu báo, tạp chí, bài viết liên quan đến ngoại giao Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám

Những tài liệu này được viết bằng tiếng Việt (hoặc đã được dịch ra tiếng Việt) Các nguồn tài liệu nói trên do chúng tôi khai thác tại Trung tâm Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện Tỉnh Nghệ An, Thư viện Quốc gia

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: dựa trên lí luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác ngoại giao

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên ngành là lôgic và lịch sử, bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên nghành bổ trợ cho việc thực hiện đề tài như phương pháp thống kê, định lượng, phương pháp phân tích, xác minh nguồn tư liệu, phương pháp đánh giá

5 Đóng góp của luận văn

- Phục dựng lại một cách hệ thống các hoạt động ngoại giao của Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau cách mạng Tháng Tám

Trang 9

- Phân tích được vai trò hoạt động đối ngoại của cách mạng Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám

- Dùng tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy phần lịch sử dân tộc ở trường phổ thông

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính được bố cục trong 3 chương

Chương 1: Bối cảnh lịch sử và vấn đề đặt ra cho hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước giai đoạn 1945 – 1946

Chương 2: Những hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 1945 - 1946

Chương 3: Vai trò của mặt trận ngoại giao với việc bảo vệ và củng cố chính quyền

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1945 - 1946

1.1 Bối cảnh lịch sử

1.1.1 Tình hình thế giới

Sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi trong bối cảnh quốc

tế và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp

Trên thế giới, ngay sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật Bản bị lực lượng các nước Đồng minh dân chủ đánh bại, bản đồ chính trị thế giới và tương quan lực lượng toàn cầu thay đổi có lợi cho xu hướng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Ngày 24 tháng 10 năm 1945, tổ chức Liên hiệp quốc ra đời đánh dấu sự nỗ lực của các quốc gia ở khắp các châu lục trong việc thiết lập một thể chế hợp tác toàn cầu nhằm giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới

Ở châu Á, phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân giành lại độc lập và tự do có bước phát triển mới Ở các nước Lào, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Philíppin, Malaixia nhân dân

đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan giành được độc lập dân tộc Ở Trung Quốc, sau cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc, lực lượng cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo ngày càng lớn mạnh, đã giải phóng được một phần lục địa phía Bắc với gần 100 triệu dân (trong tổng số 450 triệu), nhưng lực lượng phản cách mạng Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu vẫn còn khá mạnh (1,6 triệu quân) và cuộc nội chiến giữa hai lực lượng bắt đầu diễn ra quyết liệt Tuy ở mỗi nước cuộc đấu tranh diễn ra với nhiều hình thức khác nhau và đi theo những xu hướng khác nhau, nhưng đều cùng một mục tiêu nhất quán là hướng tới lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giải phóng đất nước, giành độc lập tự do, xây dựng nhà nước dân chủ, tiến bộ

Ở châu Âu, chủ nghĩa phát xít Đức, Italia bị tiêu diệt, các nước châu Âu sau khi được giải phóng và thoát khỏi hiểm họa chiến tranh phát xít đã đi theo những

Trang 11

xu hướng chính trị và mục tiêu chiến lược phát triển khác nhau Một số nước ở Đông và Nam Âu hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ chống lại sự can thiệp và áp đặt của các cường quốc tư bản phương Tây, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Trong khi đó các nước ở Tây Âu như Anh, Pháp tuy là những nước Đồng minh thắng trận nhưng đều lâm vào tình trạng kiệt quệ nên có xu hướng tập trung mọi cố gắng, kể cả liên minh và lệ thuộc vào Mỹ để khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục hệ thống thuộc địa cũ phục vụ cho nhu cầu tái thiết đất nước Còn phần lớn các nước Tây Bắc Âu đi theo con đường hợp tác trong hòa bình để khôi phục kinh tế, duy trì thể chế chính trị như trước chiến tranh Tuy nhiên về đối ngoại, một số nước này đi theo xu hướng độc lập, chống lại sự can thiệp và lệ thuộc vào Mỹ, thậm chí theo con đường “trung lập”, đứng ngoài sự liên kết với các khối chính trị và các liên minh quân sự do Mỹ khống chế đang hình thành ở bên ngoài

Sau chiến tranh, ở các nước tư bản châu Âu, phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội, đòi tự do, dân chủ, dân sinh của công nhân và nhân dân lao động đang ngày càng dâng cao, tác động mạnh mẽ đến chính sách đối nội và đối ngoại của các thế lực đang cầm quyền trong hệ thống các nước tư bản Ở một số nước như Pháp, Italia Đảng cộng sản có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước

Quan hệ quốc tế thời kì sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng có nhiều biến chuyển từ cục diện chiến tranh chuyển sang hòa bình, các nước lớn điều chỉnh chiến lược phát triển theo tương quan về tiềm lực kinh tế, quân sự của mỗi nước Trong khi các nước Đồng minh thắng trận và các nước phát xít chiến bại đều bị kiệt quệ về kinh tế, do hậu quả của chiến tranh để lại, thì nước Mỹ lại giàu lên nhanh chóng trở thành đế quốc lớn nhất, giàu mạnh nhất: Mỹ chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp thế giới, chiếm hơn 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới, Mỹ nắm hơn ¾ dự trữ vàng của thế giới, nắm trong tay độc quyền vũ khí nguyên tử, chi phối hệ thống tư bản chủ nghĩa Chính vì thế, dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự của mình Mỹ ra sức tìm kiếm vai trò lãnh đạo thế giới, loại bỏ dần ảnh hưởng của các cường quốc cũ Đồng thời tập hợp lực lượng đồng minh, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, từng bước bao vây cô lập tiến tới ngăn chặn và tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện

Trang 12

tham vọng bá chủ thế giới và trở thành sen đầm quốc tế Ngày 6 tháng 4 năm

1946, Tổng thống Tơ ru man tuyên bố: “Ngày nay Hoa Kì là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới” [36; 15]

Chiến tranh thế giới hai kết thúc, Liên Xô trở thành cường quốc hàng đầu ở châu Âu Liên Xô bước vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả của chiến tranh, tập trung tăng cường tiềm lực quân sự và phát triển khoa học kĩ thuật để củng cố và khẳng định vai trò cường quốc của mình Chính

vì thế trong chính sách đối ngoại, nhà nước Liên Xô ưu tiên cho việc tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình Liên Xô

ưu tiên cho việc củng cố khu vực ảnh hưởng và vành đai an toàn tiếp giáp với Liên Xô ở phía Tây và phía Đông châu Âu Liên Xô đã nhanh chóng vươn lên thành cường quốc sau chiến tranh, trở thành thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, có vai trò quyết định cùng Mỹ giải quyết những vấn

đề lớn về hòa bình an ninh thé giới

So với Mỹ và Liên Xô, thì Anh, Pháp đã suy yếu hơn nhiều: kinh tế suy giảm, chính trị không ổn định Vì vậy trong mục tiêu chiến lược phát triển các nước này có yêu cầu nhất quan là bảo vệ hệ thống thuộc địa và khu vực ảnh hưởng của mình Nhưng do thế và lực khác nhau nên chính sách của Anh và Pháp cũng khác nhau trong việc bảo vệ quyền lợi và các vùng lãnh thổ ở bên ngoài có được từ trước và trong chiến tranh Anh và Pháp có chung lợi ích, tuy ở mức độ khác nhau, từng nơi, từng lúc, trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên

Xô, đặc biệt là ở châu Âu và chống lại phong trào cách mạng ở Á, Phi, Mỹ la tinh, đồng thời kiềm chế Mỹ trong mưu đồ lấn chiếm thuộc địa và khu vực ảnh hưởng của họ

Anh dựa vào sự liên minh với Mỹ để khôi phục kinh tế, tạo thế duy trì thuộc địa, khu vực ảnh hưởng ở bên ngoài bằng hình thức Liên hiệp Anh Còn nước Pháp thực hiện đường lối đối ngoại tương đối độc lập trong quan hệ với

Mỹ - Anh về vấn đề châu Âu, và thiên về chính sách dùng vũ lực để bảo vệ lợi ích thuộc địa

Sự thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước lớn sau chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ la

Trang 13

tinh, và sự tham gia tích cực của phong trào cộng sản vào chính quyền ở các nước châu Âu và châu Á, đã làm cho quan hệ quốc tế ngày càng phát triển theo chiều hướng phức tạp Các nước trong phe Đồng minh thắng trận tồn tại những

xu hướng, chính sách khác nhau trong việc giải quyết những vấn đề về hậu quả chiến tranh, phân chia khu vực ảnh hưởng và trong việc kiến tạo trật tự thế giới mới sau chiến tranh, giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới Đấu tranh và thỏa hiệp giữa các nước tham gia chiến tranh chống phát xít diễn ra gay gắt trên cơ sở của Hiến chương Đại Tây Dương và những thỏa hiệp Oasinhton, Ianta, Pôtxđam Cuộc đấu tranh giành phạm vi ảnh hưởng và vị trí cường quốc của các cường quốc lớn trên thế giới đã tạo ra những khuôn khổ mới cho việc hình thành trật tự thế giới hai cực, phá vỡ liên minh chống phát xít trong chiến tranh, hình thành những liên minh kinh tế, chính trị, quân sự mới, làm nảy sinh những mầm mống của cuộc chiến tranh lạnh

Có thể thấy, lịch sử thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp, chằng chéo Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng, mâu thuẫn giữa phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa thực dân, mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc cũ và các thế lực

đế quốc mới Những mâu thuẫn đó quy định nội dung chính của tiến trình lịch

sử thế giới kể từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và nó tác động sâu sắc đến cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập của nhân dân Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám

1.1.2 Tình hình Việt Nam

Theo sự cam kết với các nước Đồng minh, sau khi đánh bại phát xít Đức ở mặt trận Châu Âu, Hồng quân Liên Xô chuyển sang tấn công quân đội Nhật Bản

ở mặt trận Viễn Đông Sau những đòn tấn công mạnh mẽ của Hồng quân Liên

Xô, đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc bị đánh tan, nước Nhật bị tàn phá nặng nề bởi hậu quả của hai quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản vào ngày 6 và ngày 9 tháng 8 năm 1945 Trước tình thế đó, trưa ngày 15 tháng 8 năm 1945 phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện Chiến thắng của phe Đồng minh trong cuộc chiến tranh tiêu diệt phát xít, đã tạo thời cơ khách quan vô cùng thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc Ở Việt Nam, Đảng

Trang 14

cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng chớp thời cơ, lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc Tổng khởi Tháng Tám

Ngay từ khi được tin Nhật sắp tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc 23 giờ ngày 12 tháng 8 năm 1945 Ủy ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: “Giờ Tổng khỏi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà! Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cả, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”

Từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào đã quyết định ban bố lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, đề ra một số chính sách đối nội và đối ngoại để thực hiện sau khi Tổng khởi nghĩa thành công Tiếp đó, trong hai ngày 16 và ngày 17 tháng 8 năm 1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào đã nhất trí tán thành lệnh Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, quyết định đặt tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hòa, quốc kì là cờ đỏ sao vàng năm cánh, quốc ca là bài hát Tiến quân ca

Từ tháng 3 năm 1945 nhân dân cả nước ta đã thực hiện chỉ thị “Nhật –

Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng và chỉ thị

“Kháng Nhật cứu nước” của Mặt trận Việt Minh, nhiều địa phương đã tiến hành

đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, thực hiện khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận, sẵn sàng tiến lên Tổng khởi nghĩa khi có điều kiện Từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 8 năm 1945 nhiều địa phương đã nổi dậy giành chính quyền Sau ngày Đại hội quốc dân, Việt Nam giải phóng quân cùng với quần chúng nhân dân đã nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 25 tháng 8 năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Ngày mồng 2 tháng 9, tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, long trọng tuyên bố với nhân dân cả nước và nhân dân thế giới về thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám, sự sụp đổ của chế độ thực dân phong kiến và ách thống trị của đế quốc Pháp cùng phát xít Nhật trên đất nước Việt Nam Tuyên bố từ ngày

Trang 15

2/9/1945 trên thế giới đã có thêm một dân tộc giành được độc lập đó là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Đối với dân tộc Việt Nam, đây là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại Nó đã phá

ta hai xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 mươi năm, của phát xít Nhật gần

5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám

1945, dân tộc Việt Nam bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập tự do Nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại Hơn bao giờ hết, lúc này người dân Việt Nam hiểu rõ giá trị thiêng liêng của độc lập tự do mà họ đã phải đấu tranh gian khổ mới giành được, vì vậy họ một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho Nhà nước cách mạng còn đang trong thời kì trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Sau Cách mạng Tháng Tám, các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh chóng Các Hội Cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được thành lập từ thời kì trước cách mạng, nay đươc tổ chức thống nhất trong cả nước Ngoài ra nhiều Hội Cứu quốc mới ra đời, tập hợp thêm những tầng lớp yêu nước còn đứng ngoài Mặt trận, như Hội công thương Cứu quốc, Hội Phật giáo Cứu quốc, Đoàn Hướng đạo Cứu quốc, Đoàn sinh viên Cứu quốc Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng Lực lượng vũ trang phát triển nhanh chóng, mặc dù trang bị vũ khí còn rất thô sơ và thiếu thốn, kinh nghiệm chiến đấu còn ít, song đây là lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng

Trải qua 15 năm đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo (1930 - 1945), lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc ta càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt rễ sâu vào quần chúng và thêm dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo Sau khi đất nước được độc lập, Đảng cộng sản Đông Dương trở thành đảng cầm quyền kịp thời mở rộng đội ngũ, đạo tạo cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới

Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là vị lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong toàn dân Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của

Trang 16

dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam, Người là ngọn

cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ

Đất nước Việt Nam có thêm những điều kiện thuận lợi mới để bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam độc lập ra đời đúng vào lúc giao thời giữa chiến tranh và hòa bình, giữa lúc phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực đang dấy lên nhưng chưa tạo ra được mối liên hoàn cách mạng cần thiết Nước Việt Nam lại ở cách xa trung tâm cách mạng và lực lượng đồng minh chiến lược là Liên Xô Trong khi đó ngay sau khi

ra đời, nhà nước Việt Nam độc lập đã phải đối mặt với những thách thức tồn vong đó là sự suy kiệt về kinh tế, văn hóa xã hội và tiềm ẩn những nguy cơ về chính trị, ngoại giao

Về kinh tế tài chính: Chế độ mới vừa ra đời trên một đống hoang tàn đổ nát

của chế độ thực dân phong kiến, chính quyền cách mạng chỉ tiếp nhận được một gia tài cũ kĩ và rách nát Đó là nạn đói năm 1945 đã cướp đi trên 2 triệu sinh mạng đồng bào Việt Nam Nạn lụt tháng 8 năm 1945 đã làm vỡ đê 9 tỉnh đồng bằng sông Hồng, và tiếp đó là nạn hạn hán kéo dài, đồng ruộng không cày cấy được phải bỏ hoang nên nạn đói tiếp tục hoành hành Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp, các cơ sở công nghiệp chưa phục hồi được sản xuất Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trong cách mạng Tháng Tám, quần chúng nhân dân không chiếm được Ngân hàng Đông Dương, tài chính của nhà nước trống rỗng, kho bạc chỉ còn hơn 1,2 triệu đồng, trong số đó hơn một nửa là rách nát không sử dụng được Trong lúc đó quân Trung Hoa dân quốc lại tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá làm cho tài chính nước ta thêm rối loạn Do đó chế độ mới gặp khó khăn về tài chính

Về xã hội: Hậu quả nặng nề của chế độ thực dân phong kiến còn lan tràn

khắp mọi nơi trên đất nước ta Nhân dân ta trên 90% không biết chữ, các tệ nạn

xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan vẫn hoành hành Điều này làm cản trở đến việc phát huy quyền làm chủ của người dân, đồng thời kẻ

thù dễ lợi dụng để phá hoại, lôi kéo nhân dân chống chính quyền cách mạng

Về chính trị, ngoại giao: Chính quyền dân chủ nhân dân vừa mới thành lập

còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm trong tổ chức quản lí nhà nước , lực lượng vũ

Trang 17

trang còn non yếu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đang là chính phủ lâm thời nên kẻ thù dễ lợi dụng tấn công phá hoại Mặc dù bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nền độc lập của dân tộc ta, nhưng thực tế nước ta chưa có sự công nhận

về ngoại giao của các nước Nền độc lập không được công nhận thì việc xâm lược trở lại của các nước thực dân và đế quốc là không vi phạm luật pháp quốc

tế Việt Nam có nguy cơ trở thành nước thuộc địa một lần nữa mà không có cơ

sở pháp lý nào để chống đỡ

Ngay sau khi vừa tuyên bố độc lập trên đất nước ta đã có mặt bốn tập đoàn

đế quốc, đó là Anh, Pháp, Trung Hoa dân quốc và Nhật Bản

Theo hiệp ước Pôtxđam, quân đội Anh được kéo vào miền Nam nước ta từ

vĩ tuyến 16 trở vào để giải giáp quân đội Nhật Thế nhưng núp dưới danh nghĩa

là quân đội Đồng minh, quân Anh đã che chở và dọn đường cho quân Pháp kéo vào nước ta để tiến hành chiến tranh xâm lược Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945 quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn chính thức trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai

Cũng theo hiệp ước Pôtxđam, 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc được kéo vào miền Bắc nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra để giải giáp quân đội Nhật Khi kéo vào nước ta, quân Trung Hoa dân quốc còn kéo theo bọn tay sai người Việt trong các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân đảng( Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội( Việt Cách) Ngay khi vào biên giới lãnh thổ nước ta, quân Trung Hoa dân quốc đã giúp cho bọn tay sai Việt Quốc và Việt Cách nổ súng lật đổ chính quyền cách mạng ở Lạng Sơn, Móng Cái, Vĩnh Yên Khi vào đến Hà Nội chúng ngang nhiên đòi đốt quốc kì, chúng yêu cầu cải tổ chính phủ, đòi các bộ trưởng là đảng viên cộng sản phải từ chức, chúng yêu cầu nhà nước ta phải cấp cho chúng một khối lượng lương thực, thực phẩm lớn và bắt ta phải tiêu tiền quan kim, quốc tệ đã mất giá Dựa vào quân Trung Hoa dân quốc, hàng ngày bọn phản động Việt quốc và Việt cách còn gây nên lắm điều rắc rối như quấy phá trật tự an ninh xã hội, bắt cóc, tống tiền, tuyên truyền, kích động, lôi kéo một số người đi theo chúng chống lại chính quyền

Trong lúc này trên đất nước Việt Nam còn có hàng vạn tên lính Nhật chưa

về nước, sẵn sàng theo lệnh quân Anh đánh vào lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ

Trang 18

Nhân lúc các tập đoàn đế quốc dưới danh nghĩa Đồng minh kéo vào nước

ta, các đảng phái phản động trong nước ngóc đầu dậy ráo riết hoạt động trở lại, chúng cùng giống nhau một mục đích là lật đổ chế độ mới

Thách thức lớn nhất, đe dọa trực tiếp đến nền độc lập của Việt Nam là thực dân xâm lược Pháp, dựa vào quân Anh và sự có mặt của đại diện các thế lực Đồng minh khác ở Đông Dương, đưa quân đội vào đánh chiếm các thành phố lớn, các hải cảng, sân bay lớn … từng bước lật đổ chính quyền cách mạng bằng

vũ lực, lập lại ách thống trị của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta

Có thể nói, chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều kẻ thù đến như vậy,

giống như lời nhận xét của đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các quân đội nước

ngoài từ bốn phương cùng dồn dập kéo tới Bọn ở gần, bọn ở xa, chúng khác nhau về màu da, về tiếng nói, nhưng rất giống nhau ở dã tâm muốn thôn tính đất nước chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về cuộc sống nô lệ”

Tình hình nước ta sau cách mạng Tháng Tám như một người Pháp đánh giá: không có quân đội, không có đồng minh, không có tiền, không có vũ khí Trong hoàn cảnh ấy hoàn toàn có thể xảy ra khả năng chính quyền dân chủ nhân dân không đứng vững, nền độc lập dân tộc vừa mới giành được có nguy cơ bị

Trang 19

của mình đối với Việt Nam và Đông Dương Khi phát xít Nhật đưa quân vào xâm chiếm Đông Dương, Mỹ đã cương quyết phản đối đòi Nhật Bản phải rút quân khỏi Đông Dương Điều đó cho thấy Mỹ đã có những quan tâm đặc biệt đối với khu vực này Một điều dặc biệt là, trong khi phản đối Nhật xâm chiếm Đông Dương thì Mỹ cũng tỏ ra không sẵn sàng giúp đỡ và ủng Pháp trước sức ép tấn công của Nhật Phải chăng đế quốc Mỹ đang có tham vọng loại bỏ các nước đế quốc cũ ra khỏi hệ thống thuộc địa của mình ở châu Á để chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ từng bước thay thế Theo đuổi tham vọng này, tại Hội nghị Tê hê ran vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1943, tổng thống Mỹ Ru dơ ven đã đưa ra ý định thiết lập chế độ “ quản thác quốc tế” ở một số thuộc địa cũ của các nước đế quốc, trong khi chờ các dân tộc đó có trình độ tự quản để trao trả độc lập Đối với Đông Dương, Ru dơ ven chủ trương không giao Đông Dương cho Pháp, mà đặt các nước này dưới một sự quản trị quốc tế để chuẩn bị trao trả độc lập cho Đông Dương sau này Việc đặt Đông Dương dưới một sự quản trị quốc tế không

có nghĩa là Mỹ ủng hộ nhân dân Đông Dương giành độc lập Thực chất Mỹ chủ trương “quản thác quốc tế” là nhằm thực hiện ý đồ gạt bỏ sự thống trị của Pháp ở Đông Dương và ngăn chặn đà tiến tới xâm lược Đông Dương của phát xít Nhật, dọn đường cho chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, tạo điều kiện để Mỹ có thể nắm được các thuộc địa, trong đó có Đông Dương Làm như vậy Mỹ sẽ từng bước gây ảnh hưởng ở Đông Dương khi chưa có điều kiện can thiệp trực tiếp Chính

vì thế cho nên mãi tới tháng 3 năm 1945, Bộ tham mưu Mỹ ở châu Á vẫn được lệnh không liên hệ với bất cứ tổ chức kháng chiến nào của Việt Nam [15; 62] Mãi cho tới khi Nhật đảo chính lật đổ Pháp ở Đông Dương vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, một số quan chức tình báo Mỹ ở Trung Quốc mới được lệnh bắt liên lạc với Việt Minh [45; 61] Tuy nhiên sự liên lạc này cũng còn rất hạn chế, phía

họ nhờ ta cung cấp tin tức về tình hình hình quân Nhật ở Đông Dương, phía ta nhờ họ chuyển cho một số vũ khí, điện đài và huấn luyện quân sự cho bộ đội Việt Minh Điều đó có nghĩa là Mỹ vẫn không công nhận chính thức đối với tổ chức Việt Minh

Chủ trương “quản thác quốc tế” của Mỹ đã vấp phải sự phản đối kích liệt từ phía Anh và Pháp buộc Mỹ phải thay đổi Tại hội nghị Pốtxđam vào tháng 7 năm

Trang 20

Dương ở vĩ tuyến 16 mà không hề đả động đến quyền tự trị của Việt Nam Tuy nhiên, Mỹ vẫn giữ phía bắc Đông Dương cho quân Trung Hoa dân quốc, và chưa thừa nhận Pháp có một danh nghĩa chính thức nào để trở lại Đông Dương Thực chất việc chấp nhận đó chính là một hình thức dùng quân Trung Hoa dân quốc

để thăm dò, chú ý đến nội tình Đông Dương tạo điều kiện cho Trung Hoa dân quốc thực hiện ý đồ “Tiêu diệt cộng sản, phá tan Việt minh” nhằm từng bước gạt Pháp để thiết lập sự thống trị của Mỹ ở Đông Dương

Sau khi chiến tranh thế giới hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, các nước tư bản Tây Âu bị suy yếu, trong khi đó xu hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển ở Châu Âu, phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ ở Châu Á dẫn đến sự ra đời của nhiều quốc gia độc lập Đặc biệt Đông Nam Á trở thành tiêu điểm của phong trào giải phóng dân tộc và Việt Nam là một trong những nước đầu tiên giành độc lập ở Đông nam Á Mỹ luôn giữ tham vọng bá chủ thế giới, cảm thấy lo ngại về sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội, đe dọa đến vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ Vì vậy, khi đó nước Mỹ dưới thời chính quyền tổng thống Tơruman đã triển khai Chiến lược toàn cầu,với mục tiêu bao trùm là: Ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tập trung vào đối thủ chủ yếu

là Liên Xô và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc; khống chế nô dịch các nước tư bản đồng minh Trong đó nhấn mạnh “cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương” Để thực hiện chiến lược đó, Mỹ cần tập hợp lực lượng, trước hết là lôi kéo Anh, Pháp nhằm cô lập Liên Xô Vì vậy, Mỹ buộc phải thay đổi chính sách đối với Pháp trong vấn đề Đông Dương Từ chủ trương ngăn chặn, Mỹ chuyển sang khuyến khích, thỏa thuận giúp Pháp quay trở lại Đông Dương Ý đố của Mỹ là muốn dùng Pháp chống phá phong trào cách mạng của Việt Nam và ba nước Đông Dương, ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Tơ ru man chính thức thừa nhận bằng văn bản chủ quyền của Pháp ở Đông Dương Những sĩ quan OSS – Cục nghiên cứu chiến lược Mỹ ở Nam Trung Quốc, đã không được cộng tác với Việt Minh nữa và những người Mỹ biểu thị cảm tình với cách mạng Việt Nam cũng được đưa về nước Sau đó Mỹ đã cung cấp tàu chiến giúp cho Pháp chuyên chở đủ quân lính tới Sài Gòn để đánh bại các lực lượng vũ trang và phong trào cách mạng ở miền Nam, giúp Pháp mở rộng xâm lược miền Nam

Trang 21

Việt Nam Đến đầu năm 1946, tình hình Đông Dương phát triển không có lợi cho quân Trung Hoa dân quốc, hơn nữa quân Trung Hoa dân quốc còn phải lo đối phó với cách mạng Trung Quốc đang phát triển mạnh Đồng thời Mỹ cần tranh thủ Pháp để bao vây Liên Xô và ngăn chặn cách mạng ở thuộc địa Vì vậy

Mỹ đã từ bỏ chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương và ủng hộ Pháp mở rộng chiến tranh xâm chiếm miền Bắc Việt Nam Tháng 3 năm 1946, khi Anh rút quân khỏi miền nam Đông Dương, Tơ ru man đồng ý để cho Anh giao lại cho Pháp nhiều trang bị quân sự với lí do là các trang thiết bị này không thể di chuyển được ra khỏi Việt Nam Chính vì có sự ủng hộ của Mỹ nên Pháp đã được quân Trung Hoa dân quốc thỏa hiệp giúp Pháp có được quyền kiểm soát thay thế quân Trung Hoa dân quốc ở phía bắc Việt Nam

Như vậy, Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung là nơi có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược toàn cầu làm bá chủ thế giới của Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai Chính vì vậy, qua sự thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đông Dương từ chủ trương của tổng thống Ru dơ ven đã đặt Đông Dương dưới sự ủy thác của quốc tế nhằm âm mưu gạt Pháp ra khỏi Đông Dương, đến thái độ trung lập rồi thỏa hiệp, ủng hộ Pháp trở lại xâm lược Việt Nam của tổng thống Tơ ru man, điều này đã thể hiện rõ những toan tính của Mỹ nhằm tạo ra những điều kiện mới cho việc từng bước thiết lập chế độ thực dân mới ở Việt Nam, biến Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ khi có điều kiện

1.2.2 Đế quốc Anh

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Anh là nước đế quốc có nhiều thuộc địa nhất ở khu vực Nam Á, bao gồm Án Độ, Malay và Miến Điện Vì vậy khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, việc phát xít Nhật bành trướng xuống phía Nam

đã xâm phạm đến quyền lợi của Anh Để bảo vệ quyền lợi của mình, thủ tướng Anh Sớcsin đã cùng với tổng thống Mỹ Rudơven ra bản tuyên bố về chính sách dân tộc của hai nước, mà sau này gọi là Hiến chương Đại Tây Dương Mục đích của bản Hiến chương là bằng những lời hứa về quyền tự quyết và khôi phục lại chủ quyền của các dân tộc, lôi kéo các dân tộc đứng về phía mình trong cuộc chiến chống sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít Tuy nhiên ngay sau đó đã thấy sự mâu thuẫn giữa Anh và Mỹ về vấn đề thuộc địa Trong khi thủ tướng Anh Sơcsin cố gắng khẳng định giá trị của bản Hiến chương Đại Tây Dương chỉ

Trang 22

có tác dụng đối với các thuộc địa ở châu Âu bị Đức quốc xã chiếm đóng, thì Mỹ lại cho rằng nó có giá trị đối với toàn thế giới Tại các hội nghị quốc tế của phe Đồng minh chống phát xít, trong khi Mỹ chủ trương đặt các thuộc địa dưới chế

độ quản thác quốc tế, thì Anh đều kịch liệt phản đối chế độ quản thác quốc tế của

Mỹ, và đề xuất chủ trương giữ nguyên trạng như trước chiến tranh: sau khi thắng Nhật, thuộc địa của đế quốc nào phải được trả lại cho đế quốc ấy Anh đã được nước Pháp ủng hộ trong cuộc đấu tranh bảo vệ những quyền lợi thực dân của mình Chính vì vậy cùng với việc bác bỏ kế hoạch quản thác của tế của Mỹ, nước Anh từng bước ủng hộ việc khôi phục chủ quyền của Pháp ở Đông Dương

Ý đồ của Anh là thông qua việc ủng hộ Pháp để lôi kéo Pháp đối phó lại chế độ

“quản thác quốc tê” của Mỹ, nhằm ngăn chặn việc những thuộc địa của mình rơi vào ảnh hưởng của Mỹ Ủng hộ Pháp để Đông Dương tiếp tục là thuộc địa của Pháp và các nước thuộc địa của Anh trong khu vực vẫn tiếp tục là thuộc địa của Anh Anh đã vận động các nước Đồng minh cho phép quân đội Pháp được tham chiến ở vùng Viễn Đông, giúp Pháp vận chuyển vũ khí và quân đội đến khu vực này Anh cho Pháp đặt phái bộ quân sự và sĩ quan tình báo bên cạnh Bộ chỉ huy quân đội Anh ở Đông Nam Á Tại các hội nghị quốc tế của phe Đồng minh, Anh luôn thể hiện quan điểm lập trường bênh vực Pháp về các vấn đề thuộc địa Ngày

24 tháng 8 năm 1945, Anh kí với Pháp một thỏa thuận về những nguyên tắc và cách thức khôi phục quyền hành của Pháp ở Đông Dương

Khi được hội nghị Pôtxđam giao cho việc giải giáp quân Nhật ở phía nam

vĩ tuyến 16 của Việt Nam, Anh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Pháp khôi phục lại nền thống trị thực dân ở Đông Dương Chính vì vậy, khi thực dân Anh vào Sài Gòn (để giải giáp quân đội Phát xít Nhật theo sự thỏa thuận của các nước Đồng minh tại hội nghị Potxđam) thì có cả quân đội Pháp Quân Anh đã mở các trại giam quân Pháp và trang bị vũ khí lại cho quân Pháp Máy bay Hoàng gia Anh đã chở các tướng tá Pháp nhảy dù xuống nhiều nơi ở Việt Nam Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945 được sự bảo vệ và che chở của thực dân Anh, quân Pháp đã nổ súng chính thức trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Ngày 9 tháng 10 năm 1945, Anh lại kí với Pháp Hiệp định quy định “quyền hành chính” của Pháp ở Việt Nam Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Anh kí tiếp với Pháp Hiệp định nhường quyền tiếp phòng cho quân đội Pháp ở vùng Nam Đông Dương Việc

Trang 23

Anh giúp Pháp trở lại xâm lược Đông Dương chính là để dùng Pháp đàn áp các phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương, ngăn chặn ảnh hưởng của nó tới các thuộc địa của Anh ở khu vực Đông Nam Á

1.2.3 Quân Trung Hoa dân quốc

Cũng như các triều đại phong kiến trước kia, chính quyền Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch đều coi Việt Nam là một nước chư hầu Trong thời

kì chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Tưởng Giới Thạch nuôi không ít tham vọng trong vấn đề Đông Dương Từ cuối năm 1940, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã bắt đầu chuẩn bị kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” Vào năm 1941,

trong cuốn sách Số phận của nước Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch đã kể cả Việt

Nam vào lãnh thổ Trung Quốc Chính quyền Tưởng Giới Thạch ngày càng xúc tiến mạnh mẽ những hoạt động chuẩn bị cho âm mưu gạt Pháp ra khỏi Đông Dương nhằm xác lập ảnh hưởng của mình ở khu vực này, tiến tới thực hiện vai trò lãnh đạo Châu Á

Để thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, mưu toan gạt Pháp ra khỏi Đông Dương, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã ủng hộ chế dộ quản thác quốc

tế của Mỹ, đồng thời nuôi dưỡng, đùm bọc và tập hợp một số nhóm người Việt trước đó sống lưu vong tại Trung Hoa thành lập các đảng phái chính trị của người Việt như Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần đứng đầu Theo thông báo, mục tiêu của Việt cách là thống nhất lực lượng, liên kết với Trung Hoa chống Nhật nhằm giải phóng đất nước, nhưng thực tế tổ chức này chỉ là một con rối trong tay chính quyền Tưởng Giới Thạch Còn về phía Mỹ thì tìm mọi cách dàn xếp cho quân Trung Hoa dân quốc vào Việt Nam Tại hội nghị Pôtxđam, Mỹ và các nước lớn đã đồng ý giao cho quân Trung Hoa dân quốc vào giải giáp quân đội Nhật ở Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Mỹ muốn dùng quân Trung Hoa dân quốc để tiêu diệt phong trào cách mạng ở Đông Dương, đồng thời dùng quân Trung Hoa dân quốc để khống chế buộc Pháp đi theo quỹ đạo của Mỹ Âm mưu này của Mỹ phù hợp với ý đồ

và tham vọng của quân Trung Hoa dân quốc đối với Đông Dương Nhân cơ hội này, Trung Hoa dân quốc vơ vét lực lượng đưa vào miền Bắc Việt Nam với 20 vạn quân – một lực lượng quân sự đông quá mức cần thiết cùng với bọn tay sai

Trang 24

Việt Quốc và Việt Cách với hy vọng nhanh chóng dựng lên một chính phủ bù nhìn Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1945, quân đội Trung Hoa dân quốc do tướng Lư Hán chỉ huy đã đóng quân tại Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã

từ biên giới Việt – Trung đến vĩ tuyến 16 Ngày 11 tháng 9 năm 1945, tướng Lư Hán tuyên bố thời gian quân Trung Hoa dân quốc ở Việt Nam là không hạn định,

tự cho mình quyền kiểm soát trật tự, an ninh trong thành phố Tiêu Vǎn, nhân vật được chính quyền Tưởng Giới Thạch giao trách nhiệm xếp đặt chế độ chính trị ở Việt Nam, mà thực chất là thực hiện âm mưu lật đổ đã sớm có mặt ở Hà Nội Tuy nhiên, việc đã quá muộn, ngày 2 tháng 9 năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố Việt Nam độc lập Trước tình thế này, quân Trung Hoa dân quốc chuyển sang kế sách ép Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nhượng một số quyền lợi về chính trị cho nhóm phản động lưu vong người Việt và dùng chúng như một đạo quân trong chính sách xâm nhập bành trướng vào Việt Nam

Mặt khác, khi vào Việt Nam quân Trung Hoa dân quốc lợi dụng vị thế là lực lượng Đồng minh nên tìm mọi cách thương lượng, mặc cả với Pháp về việc

để cho Pháp thay thế chúng sau khi quân đội của chúng rút khỏi miền Bắc nước

ta Chính sự mặc cả này đã đến việc chính phủ Pháp và chính phủ Trùng Khánh

kí Hiệp ước Hoa – Pháp ngày 28 tháng 2 năm 1946 Theo hiệp ước này, quân Trung Hoa dân quốc sẽ rút khỏi phía Bắc vĩ tuyến 16 ở Việt Nam, đổi lại Trung Hoa dân quốc được Pháp trả lại một số quyền lợi ở Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Hoa Nam mà không phải đóng thuế Như vậy là thêm một cường quốc Đồng minh nữa lợi dụng danh nghĩa quân Đồng minh mở đường cho thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương

Nhận định về ý đồ của quân Trung Hoa dân quốc, Bản chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của ban chấp hành trung ương Đảng vào nước ta nêu rõ: “Tàu trước kia kéo vào nước ta là để lật đổ chính quyền do Việt Minh tổ chức ra để đặt một chính phủ bù nhìn lên thay Nhưng sang ta, họ thấy toàn dân đoàn kết và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh nên họ đành phải giao thiệp với Chính phủ ấy Nhưng họ vẫn sợ Việt Minh là cộng sản và sợ “ Cộng sản Đông Dương liên minh với cộng sản Tàu xích hóa Hoa Nam”, nên họ vẫn ôm cái ý định cải tổ Chính phủ lâm thời, cho “tay chân” của họ vào Vì vậy mà gần đây họ cho Vũ Hồng Khanh ( Việt Nam quốc dân đảng) hiệp lực với Nguyễn Hải Thần quấy rối

Trang 25

Chính phủ ta và yêu sách đòi sửa sang nội chính, cải tổ chính phủ Song có tin rằng, trước sau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tàu nhiều quyền lợi quan trọng” [11; 29 - 30]

Như vậy, núp dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội phát xít Nhật, được sự hậu thuẫn của Mỹ quân Trung Hoa dân quốc nuôi dã tâm tiêu diệt Đảng cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng lập chính quyền phản động làm tay sai của chúng, thực hiện mưu đồ “diệt cộng, cầm Hồ” Đồng thời thỏa hiệp với Pháp nhằm có được những quyền lợi cả

ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam Vì vậy, mà quân Trung Hoa dân quốc đã tạo điều kiện cho quân Pháp có mặt ở miền Bắc Việt Nam, để đổi lấy những quyền lợi kinh tế to lớn của Pháp

1.2.4 Thực dân Pháp

Pháp đã thiết lập nền cai trị ở Đông Dương từ cuối thế kỉ XIX, Đông Dương đã đóng góp một vai trò vị trí quan trọng đối với nền kinh tế, chính trị của nước Pháp Vì vậy, thuộc địa Đông Dương được chính phủ Pháp đặc biệt quan tâm chú ý đến Bước vào cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản bành trướng về châu Á – Thái Bình Dương, Nhật muốn xâm chiếm thuộc địa ở khu vực Đông Nam Á, nhưng lo ngại vấp phải các cường quốc

Âu – Mỹ Đến khi Nhật mở cuộc tiến công xuống Đông Nam Á thì các nước thực dân phương Tây đều bỏ chạy Riêng ở Đông Dương, do sự thất bại đầu hàng của nước Pháp trước sự xâm lược của phát xít Đức, cho nên chính quyền Pháp ở Đông Dương phải thực hiện chính sách nhân nhượng với phát xít Nhật Bằng nhiều sức ép về chính trị và quân sự, trong đó có cuộc tấn công vào Lạng Sơn (tháng 9 năm 1940), Nhật từng bước buộc chính quyền Pháp ở Đông Dương phải biến Đông Dương thành căn cứ phục vụ cuộc chiến tranh của Nhật Tháng 7 năm 1941, Pháp phải kí với Nhật Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, Nhật

có thể đóng quân tại các vị trí trọng yếu, sử dụng sân bay, hải cảng, đường sắt để chuyển quân tấn công vào phía Nam Trung Quốc hoặc mở rộng chiến tranh xuống vùng hải đảo Đông Nam Á Hơn nữa Pháp phải cung cấp tiền bạc, lương thực và các vật dụng cần thiết cho đội quân Nhật đóng ở Đông Dương Tính đến trước ngày 9 tháng 3 năm 1945, trên danh nghĩa Pháp vẫn cai trị Đông Dương, nhưng thực ra Pháp đã phải lùi bước và phục vụ các đòi hỏi của quân Nhật

Trang 26

Tuy nhiên, lực lượng lãnh đạo kháng chiến Pháp ở hải ngoại do tướng Đờ gôn đứng đầu, đã không chịu chấp nhận sự thực này Đờ Gôn luôn luôn chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của nước Pháp ở Đông Dương Ngay sau khi Nhật tấn công Trân Châu cảng của Mỹ ở Haoai, ngày 9 tháng 12 năm 1941, Đờ gôn tuyên bố “tình trạng chiến tranh” với Nhật và kêu gọi các thuộc địa của Pháp

ở Viễn Đông chống lại quân Nhật Trong quan niệm của ĐờGôn và những người cộng sự, việc giải phóng nước Pháp khỏi chủ nghĩa phát xít đồng nghĩa với việc

“giải phòng” toàn bộ đế quốc Pháp và các thuộc địa Pháp Họ cho rằng Pháp là

“mẫu quốc” có trách nhiệm đối với “các đứa con” thuộc địa của mình và các thuộc địa cũng có nghĩa vụ đối với “mẫu quốc” ĐờGôn không ngừng tuyên bố quyết tâm giải phóng Đông Dương, khôi phục chế độ thuộc địa của Pháp Ngày

8 tháng 12 năm 1943, Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp đóng tại An giê ri đã công

bố về chính sách đối với Đông Dương: “Nước Pháp thỏa thuận ban hành trong nội bộ khối cộng đồng Pháp một quy chế chính trị mới, theo đó, trong khuôn khổ của tổ chức Liên bang, những quyền tự do của các nước trong Liên bang sẽ được nới rộng và khẳng định; tính chất tự do rộng rãi của các tổ chức sẽ được nổi bật

mà không hề mất đi dấu hiệu của nền văn minh va truyền thống Đông Dương” [52; 41] Tiếp theo là những hứa hẹn về việc cải cách kinh tế trên cơ sở chế độ tự

trị về hải quan và thuế khóa Từ bản công bố này có thể thấy hai điều: một là, Pháp sẽ ban hành cho các nước Đông Dương tự do; hai là, sự nới rộng đó vẫn ràng buộc các quốc gia nằm trong một tổ chức Liên bang Liên bang này là thuộc khối cộng đồng Pháp Nói cách khác, ĐờGôn khẳng định quyết tâm của nước Pháp sẽ chiến đấu giải phóng các lãnh thổ Đông Dương khỏi ách thống trị của phát xít Nhật, tái lập quyền thống trị của nước Pháp tại Đông Dương với sự nới

lỏng thể chế thuộc địa trên mảnh đất này Trong cuốn sách Pari – Sài Gòn – Hà

Nội, tác giả Philip Đờvile đưa ra nhận định về sự kiện này như sau: “Vậy là cái

quan điểm quán triệt trong toàn bộ các dự kiến “trở lại” Đông Dương, “khôi phục” chủ quyền, toàn vẹn đất đai hay toàn vẹn đế quốc Pháp, chính là cái tư tưởng “Nước Pháp là trung tâm” tuyệt đối, ít nhiều không thích hợp với bối cảnh châu Á”

Trang 27

Tiếp sau đó, vào ngày 24 tháng 3 năm 1945 sau khi Nhật đảo chính lật đổ chế độ cai trị của Pháp ở Đông Dương, thì tướng Đờ gôn đã ra Tuyên bố về vấn

đề Đông Dương Nội dung của bản Tuyên bố bao gồm những ý cơ bản sau đây:

“1 Các nước thuộc địa ở Đông Dương (Bắc kì, Trung kì, Nam kì, Cao Miên, Ai Lao) sẽ có một chính phủ Liên bang Đông Dương do Toàn quyền đứng đầu, các bộ trưởng được chọn trong số những người Đông Dương hoặc trong số những người Pháp cư trú ở Đông Dương Các nước thuộc Liên bang Đông Dương vẫn được giữ bản sắc riêng của mình trong liên bang

2.Một quốc hội của Liên bang được bầu theo cách thức nào thích hợp nhất đối với từng nước, trong đó có đại diện lợi ích của nước Pháp Quốc hội được quyền biểu quyết các khoản thuế, ngân sách Liên bang và thảo luận các dự án luật Các quyền tự do dân chủ về tư tưởng báo chí, lập hội, hội họp, tín ngưỡng

sẽ tạo thành nền tảng của luật lệ Đông Dương

3 Trong Liên bang Đông Dương, Toàn quyền là người trọng tài của tất cả lợi ích các nước Các chức vụ trong chính phủ mỗi nước sẽ do người thuộc quốc tịch nước đó đảm nhận

4 Liên bang Đông Dương cùng với nước Pháp và các thuộc địa của Pháp thành lập Liên hiệp Pháp, ở đó nước Pháp là người đại diện trong quan hệ với bên ngoài Liên bang Đông Dương được hưởng quy chế tự trị về kinh tế Những người có quốc tịch Liên bang Đông Dương sẽ vừa là công dân Đông Dương vừa

là công dân Pháp” [52; 42]

Có thể thấy bản Tuyên bố về vấn đề Đông Dương của Đơ – gôn đã phản ánh tham vọng lập lại ách thống trị thực dân của Pháp cả về chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao trên toàn lãnh thổ Đông Dương Theo bản tuyên bố thì Đông Dương vẫn gồm 5 xứ ( Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai lao, và Cao Miên), hợp thành chính phủ Liên bang do một viên toàn quyền đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Chính phủ Pháp Các nước Liên bang Đông Dương không có quyền đối ngoại, không có tiếng nói của mình trên trường quốc tế

Những văn bản tuyên bố đó thực chất là nhằm đối phó với sự thất bại của Pháp ở Đông Dương, tiếp tục chính sách mị dân để giành giật với Nhật về ảnh hưởng trong dân chúng Đông Dương Mặt khác, nó còn nhằm chống lại tham vọng của Mỹ và Trung Hoa dân quốc ở Đông Dương, đồng thời thể hiện tham

Trang 28

vọng của Pháp nhằm dựng lại chế độ thực dân cũ trên toàn cõi Đông Dương Nhận xét về những việc làm trên đây của Đờ gôn, nhiều sử gia đã đánh giá rằng, bản Tuyên bố lạc hậu ít nhất 15 năm so với tình hình thực tế

Trước sự thất bại của quân Pháp sau đòn tấn công của phát xít Nhật ở Lạng Sơn vào tháng 9 năm 1940, ĐờGôn đã tính chuyện củng cố lực lượng của Pháp ở Đông Dương nhằm chuẩn bị cho công cuộc khôi phục lại quyền lực sau này Ông ta tuyên bố khẳng định quyền của nước Pháp ở Đông Dương và kêu gọi nhân dân Đông Dương tiến hành đấu tranh chống Nhật Việc “giải phóng Đông Dương” được xếp vào ưu tiên hàng đầu trong hoạt động quân sự của lực lượng kháng chiến Pháp ở bên ngoài chính quốc Cuối năm 1941, Đờ - gôn thành lập

Ủy ban Viễn Đông đặt trụ sở ở Xingapo để thu thập tin tức về Đông Dương Đô đốc Đăcgiăngliơ được bổ nhiệm chức vụ Cao ủy Pháp ở Thái Bình Dương là người lãnh đạo chính trị của tổ chức này Mùa hè năm 1942 thành lập Văn phòng thống kê quân sự Pháp ở Trùng Khánh để liên hệ với Chính phủ Tưởng Giới Thạch Cơ quan này còn có nhiệm vụ bí mật chỉ đạo các hoạt động ở vùng Côn Minh ( Quảng Tây) Tháng 8 năm 1943 Phái bộ quân sự Pháp do tướng Bledô phụ trách được thành lập đặt bên cạnh Bộ chỉ huy Đông nam á của quân đội Anh

do Đô đốc Maobatton chỉ huy, đóng trụ sở ở Sri lan ca

Bước sang năm 1944, chính phủ Đờ gôn đã thành lập phái đoàn quân sự Pháp ở Côn Minh – Trung Quốc, gọi là Phái đoàn 5 nhằm để tổ chức các hoạt động tình báo vào Đông Dương, thành lập các tổ chức chính trị, các đạo quân viễn chinh ở Cancuta và Mađagaxca nhằm chuẩn bị cho việc đưa quân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương Cuối năm 1944, Đờ gôn thành lập Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương bao gồm các thành phần là Tổng tham mưu Bộ quốc phòng, Tổng thư kí ngoại vụ, một đài phát thanh tuyên truyền của Pháp đặt tại Côn Minh,v.v

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp ( ngày 9 tháng 3 năm 1945), lực lượng quân Pháp tháo chạy qua biên giới Trung Quốc được tổ chức lại dưới quyền chỉ huy của tướng Sabattien sẵn sàng trở lại Đông Dương khi cần thiết Đồng thời 2 sư đoàn quân viễn chinh cũng được thành lập do tướng Lơcơlec chỉ huy sẵn sàng cùng lực lượng quân Đồng minh tiến vào Đông Dương đánh Nhật

Trang 29

Giữa tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, theo quyết định của hội nghị Pốt xđam, quân Trung Hoa dân quốc vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, còn quân Anh tiến vào phía Nam Pháp dễ dàng nhận thấy ý đồ và tham vọng của Trung hoa dân quốc đối với Đông Dương, vì vậy Pháp bám vào Anh hối hả chạy đua với Trung Hoa dân quốc để kịp đến Hà Nội trước, nắm lấy chính quyền ở Đông Dương

Ngày 17 tháng 8 năm 1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định thành lập lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (sau đổi là đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông) đưa sang Đông Dương Tướng Lơcơlec được cử làm Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông Đô đốc Đácgiăng liơ được cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh Hải quân Pháp ở Viễn Đông Uỷ ban hành động giải phóng Đông Dương được cải tổ thành Uỷ ban Đông Dương do Đờ Gôn làm Chủ tịch Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước Thực dân Pháp không còn chỗ đứng ở Đông Dương nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu đặt lại ách thống trị thực dân kiểu cũ trên bán đảo này Ngay từ ngày 13 tháng 8 năm 1945 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, chính phủ Pháp đã cho quân nhảy dù xuống 3 miền của nước Việt Nam, trong đó

ở mỗi miền có một người đứng đầu mang theo giấy ủy nhiệm được cử làm Ủy viên Cộng hòa Pháp ở mỗi miền của Việt Nam Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Xanh tơ ni cùng với một số sĩ quan Pháp từ Côn Minh – Trung Quốc theo phái đoàn đầu tiên của cơ quan tình báo chiến lược (OSS) của Mĩ (do Trung uý Patti cầm đầu) đến Hà Nội Cao uỷ Đácgiăngliơ và Tư lệnh tối cao các lực lượng Pháp Lơcơlec đã được lệnh của Đờ Gôn phải tìm cách khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ liên bang Đông Dương mà không được cam kết bất cứ điều gì đối với phía Việt Minh Ngày 19 tháng 8 năm 1945, đúng vào lúc cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Hà Nội giành thắng lợi, chính phủ

Đờ gôn đã công bố Thông điệp gửi Đông Dương tuyên bố chủ quyền của Pháp ở Đông Dương

Chính phủ Pháp cũng nỗ lực thực hiện các hoạt động ngoại giao tích cực vận động Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc và Liên Xô ủng hộ và giúp đỡ quân Pháp thiết lập lại ách nô dịch thuộc địa ở Đông Dương

Trang 30

Đối với Liên Xô, để ngăn cản sự phản đối của Liên Xô đối với hoạt động của Pháp ở Đông Dương, cuối năm 1944 chính phủ Pháp kí với Liên Xô “Hiệp định liên minh và giúp đỡ lẫn nhau”, trong đó cam kết hai bên không can dự vào công việc nội bộ của nhau Có thể những cam kết này là một trong những lí do Liên Xô giữ im lặng trước ý đồ tái chiếm Đông Dương của Pháp

Đối với Mỹ, ngày 18 tháng 9 năm 1943, ĐơGôn đã giử một công hàm cho các vị nguyên thủ các nước Mỹ, Anh, Liên Xô đề xuất việc quân Pháp được tham gia vào việc giải phóng Đông Dương Nhưng Pháp vấp phải sự phản đối của Tổng thống Rơduven về việc trở lại Đông Dương Rudơven nhấn mạnh:

“Nước Pháp đã vắt sữa Đông Dương 100 năm rồi Người Đông Dương có quyền được hưởng những điều tốt đẹp hơn thế Tôi muốn không có một người Pháp

nào được trở lại Đông Dương”[7; 33] Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc,

nước Mỹ dưới thời tổng thống mới Tru man đã thay đổi quan điểm lập trường về Đông Dương, Chính phủ Pháp nhân cơ hội này đã gửi công hàm đến 4 cường quốc là Mỹ, Anh, Trung Hoa và Liên Xô đề nghị nước Pháp được có đại diện trong Ủy ban đình chiến của Đồng minh, có đại diện quân sự bên cạnh các tư lệnh Đồng minh Nhưng đề nghị này vẫn không được chấp thuận Tổng thống

Đờ gôn đã đến Oa sinh tơn vận động Tổng thống Tơru man làm ngơ trước việc quân Pháp trở lại thuộc địa cũ Những nỗ lực đó của tổng thống Đờ gôn đã gặt hái được kết quả bước đầu, Mỹ đã tỏ thái độ trung lập không ủng hộ, cũng không phản đối việc Pháp quay trở lại Đông Dương Khi Pháp đề nghị với chính phủ Trung Hoa dân quốc cho quân Pháp tham gia lực lượng Đồng minh giải giáp quân Nhật ở Đông Dương và đề nghị Chính phủ Anh để cho quân Pháp tiếp nhận

lễ đầu hàng của quân Nhật ở miền Nam Đông Dương dưới danh nghĩa của Anh Phía Mỹ một mặt khẳng định, Pháp không thể đi ngược lại những quyết định của hội nghị Pốtxđam, mặt khác lại mập mờ tuyên bố Pháp có thể dàn xếp với Anh

và thỏa thuận với Trung Hoa dân quốc Như thế, Chính phủ Mỹ đã để ngỏ cửa cho Pháp trở lại Đông Dương Chính phủ Pháp đã tiến một bước quan trọng trong việc khắc phục trở ngại từ phía nước Mỹ

Đối với Trung Hoa dân quốc, ngày 14 tháng 8, đại diện Chính phủ Pháp ở Trùng Khánh là tướng Pếchkhốp xin cử 5000 lính Pháp tham gia lực lượng quân Đồng minh giải giáp quân Nhật ở Đông Dương Sau đó ông ta nhận được câu trả

Trang 31

lời: “sẵn sàng cho 5000 lính Pháp trở lại Đông Dương nhưng phải đặt dưới quyền chỉ huy của các tướng lĩnh Trung Hoa dân quốc” Có thể nói nước Pháp

đã tạo ra nhiều biện pháp để nhằm được tham dự vào những hoạt động của Đồng minh ở Đông Dương, nhũng tay vào công việc hậu chiến ở Đông Dương để chuẩn bị cho những bước tiếp theo Với sự thay đổi chính sách trong vấn đề Đông Dương của Mỹ, cho nên Mỹ đã tỏ thái độ mập mờ , rằng Pháp không thể thay đổi quyết định của hội nghị Pốtxđam, nhưng có thể dàn xếp với Anh và thỏa thuận với Trung Hoa dân quốc Vì thế, ngày 19 tháng 9 trong cuộc gặp Tống Tử Văn - thủ tướng chính phủ Trung Hoa dân quốc, Đờ gôn đặt vấn đề thương lượng việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa dân quốc ở miền Bắc Việt Nam Thủ tướng Trung Hoa đã tuyên bố Trung Hoa không có tham vọng lãnh thổ ở Đông Dương và nếu có thể thì sẵn sàng yểm trở Pháp trở lại Đông Dương

Đối với Anh, ngay trong thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, Anh và Pháp

đã câu kết với nhau để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai của Pháp Tháng 4 năm 1945 trên đường đưa quân sang Đông Dương, tướng

Lơ cơ léc đã tranh thủ đề nghị Đô đốc Hoàng gia Anh Mao bát tơn tạo mọi điều kiện cho quân Pháp núp dưới cờ quân Anh để vào Sài gòn Ngày 6 tháng 9 năm

1945, quân đội Anh vào Sài Gòn, Gờ ra xây - tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương - đòi giải giáp quân đội Việt Nam Ngày 12 tháng 9 năm 1945, quân Anh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, che chở cho lực lượng của Pháp biểu tình khiêu khích ở Sài Gòn Chúng tự ý duy trì trật tự trong thành phố, giao cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát, thả 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ trước đây và trang bị cho lực lượng này, đồng thời trắng trợn đòi lực lượng vũ trang Việt Nam nộp vũ khí Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh và quân Nhật giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương Ngày 8 tháng 10 năm 1945, tại Luân Đôn, Anh và Pháp kí Tạm ước về việc Anh giao quyền quản lí hành chính và tư pháp ở phía Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp Chính phủ Anh cũng công khai tuyên bố chính sách yểm trợ Pháp tái chiếm Việt Nam

Trang 32

Rõ ràng thực dân Pháp đã bằng mọi cách thực hiện quyết tâm dùng sức mạnh quân sự để thiết lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam, thực hiện việc trở lại tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai

Như vậy có thể thấy rằng, Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung là khu vực có tầm ảnh hưởng quan trọng trong mục tiêu chiến lược phát triển của các nước đế quốc Giống như Hội nghị cán bộ Trung ương từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1946 đã nhận định: “ Địa vị của Đông Dương hiện nay trở nên rất quan trọng trên trường cách mạng:

a, Bên cạnh nách trung tâm điểm cách mạng Á châu

b, Trong phạm vi trung tâm điểm những mâu thuẫn giữa các nước đế quốc chủ nghĩa ( trước ở Trung Quốc, nay chuyển xuống Đông Nam Á)

c, Là nơi đế quốc Anh, Mỹ, Pháp chú trọng dàn xếp để bố trí tuyến chống cộng và uy hiếp phong trào cách mạng giải phóng của các nhược tiểu dân tộc”

[14; 99]

Chính vì thế, ngay trong thời kì chiến tranh thế giới thứ hai, nơi đây đã trở thành đối tượng tranh chấp của các nước đế quốc Vào thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, dựa vào quyết định của các nước lớn ở hội nghị Pốtxđam (Tháng 7 năm 1945), lực lượng quân Đồng minh liên hiệp lại, dùng quân sự để

đè bẹp chính quyền cách mạng, áp đặt cho được dưới một hình thức nào đó sự thống trị của các cường quốc phương Tây đối với Đông Dương Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhà nước Việt Nam độc lập ra đời trước lúc quân Đồng minh triển khai lực lượng đã làm cho quyết định của hội nghị Pốtxđam trở nên lỗi thời Quân đội Anh và Trung Hoa dân quốc không còn đóng vai trò giải phóng Việt Nam và Đông Dương khỏi ách thống trị của phát xít Nhật nữa, họ cũng không thể thực hiện vai trò quản lí chính trị và hành chính, vì điều đó đã có nhà nước mới ra đời đảm nhiệm Chính vì thế quân Đồng minh chỉ có nhiệm vụ duy nhất

là tước khí giới và đưa quân đội Nhật về nước Các nước đế quốc lâm vào tình thế lưỡng nan Nếu sử dụng biện pháp quân sự để phủ nhận thành quả của cách mạng Tháng Tám thì sẽ gây ra phản ứng bất lợi và sẽ làm cho tình hình thêm phức tạp khi quân đội Nhật chưa được giải giáp Nếu thừa nhận sự tồn tại của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì lợi ích của các nước đế quốc trong quyết định của hội nghị Pốtxđam không còn nữa Điều đó sẽ dẫn đến việc phải

Trang 33

xem xét lại những quyết định liên quan đến hòa bình, an ninh, và sự phân chia khu vực ảnh hưởng khác trên thế giới sau chiến tranh giữa các nước đế quốc với nhau, một điều mà các nước lớn trong Đồng minh rất lo ngại Chính vì thế, để đảm bảo lợi ích của mình ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung, mỗi nước đế quốc đều nuôi những tham vọng riêng:

- Thực dân Pháp quyết tâm phục hồi chế độ thực dân ở Việt Nam và Đông Dương Anh tích cực ủng hộ, giúp đỡ quyết tâm đó của Pháp

- Để lôi kéo Pháp và tập hợp lực lượng đồng minh ở Tây Âu thành lập mặt trận bao vây Liên Xô, Mỹ đã từ bỏ chủ trương chống lại Pháp phục hồi sự thống trị ở Đông Dương, chuyển sang chủ trương trung lập không chống cũng không

hỗ trợ, song về lâu dài Mỹ sẵn sàng hy sinh quyền lợi bộ phận ở Đông Nam Á ngầm giúp Pháp trở lại Đông Dương

- Quân Trung Hoa dân quốc vào Việt Nam cùng một lập trường chống cộng sản, song đó là một đạo quân ô hợp thuộc nhiều phe phái khác nhau nên có nhiều mâu thuẫn về quyền lợi và chủ trương Quân Trung Hoa dân quốc cũng có mâu thuẫn về lợi ích ở Đông Dương và Trung Quốc

Song nước nào cũng vì tham vọng thực hiện quyết định Pốtxđam và có ý đồ xóa bỏ thành quả cách mạng Tháng Tám, nên cuối cùng các nước đế quốc đều đã chọn giải pháp nhân nhượng thỏa hiệp với Pháp để cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Trong điều kiện lịch sử mới Việt Nam phải cùng một lúc đương đầu với quá nhiều kẻ thù trên lãnh thổ của mình: thái độ gây sức ép và âm mưu lật đổ chính quyền của quân Trung Hoa dân quốc ở phía Bắc, cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp ở Việt Nam

1.3.Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ngoại giao Việt Nam.

Thực tế lịch sử trên đã đặt nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đứng trước những nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách Đó là:

Thứ nhất, phải bảo vệ thành quả cách mạng Tháng Tám, xây dựng và củng

cố chính quyền cách mạng trong cả nước, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, mở rộng tăng cường khối đoàn kết dân tộc

Thứ hai, giải quyết nạn đói, nạn dốt, khôi phục phát triển sản xuất, khắc phục khó khăn về tài chính, cải thiện đời sống nhân dân

Trang 34

Thứ ba, phải đối phó với lực lượng quân Đồng minh, đặc biệt là chống lại đội quân viễn chinh Pháp kéo vào xâm lược, đi đôi với việc chống bọn tay sai phản động chống phá chính quyền nhà nước

Trong đó bảo vệ nền độc lập dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ và có sự công nhận của thế giới là nhiệm vụ hàng đầu quan trọng nhất của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc bấy giờ

Đứng trước tình thế gay go và phức tạp của đất nước lúc này rõ ràng nước

ta không thể lấy sức mạnh kinh tế, quân sự mà chiến đấu bảo vệ dân tộc được,

mà vũ khí hiệu quả nhất không có gì khác chính là vũ khí ngoại giao Chúng ta phải thực hiện đấu tranh ngoại giao trực tiếp với nhiều kẻ thù ngay trên đất nước của mình nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền của đất nước và sự tồn tại của Nhà nước non trẻ Nhưng vấn đề đặt ra đối với đấu tranh ngoại giao là muốn thành công phải tùy thuộc vào việc sáng suốt phân tích tình thế, chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên thế giới và sức mạnh mới của dân tộc trên cơ sở đó để vạch ra chủ trương và giải pháp đấu tranh giữ vững chính quyền, bảo vệ nền độc lập tự do

Yêu cầu và nhiệm vụ lớn nhất đặt ra cho đối ngoại của nước ta lúc này là: Làm sao duy trì hòa bình càng lâu càng tốt trên phần lớn đất nước để “tập trung ngọn lửa” vào kẻ thù chính là thực dân Pháp; Cần phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo để tranh thủ thêm đồng minh và phân hóa cô lập kẻ thù nhằm giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân; Tranh thủ thời gian để có thể tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp về sau; Đồng thời cũng mở cuộc vận động ngoại giao để các nước trên thế giới thừa nhận vị thế hợp pháp của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Xét trên phương diện quốc tê, đấu tranh ngoại giao của nước Việt Nam lúc

đó có thuận lợi cơ bản là đã giành được chính quyền trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật Vì vậy nước Việt Nam có tư thế tự chủ của một nhà nước độc lập để đón tiếp các lực lượng Đồng minh và đấu tranh chống mọi mưu toan xâm phạm đến độc lập dân tộc của đất nước Để có đường lối ngoại giao đúng đắn, phù hợp với tình hình lúc này, đòi hỏi Đảng, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, phải đánh giá đúng những toan tính của đối phương, phát hiện chính xác những điểm tương đồng và dị biệt

Trang 35

nhằm lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng, xử lí một cách khéo léo mối quan hệ với các nước lớn có mặt tại Việt Nam Nguyên tắc cơ bản của ngoại giao trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng là nắm vững lợi ích dân tộc, độc lập,

tự chủ, không chịu sức ép, tác động của bất cứ ai Độc lập tự chủ tức là dựa vào sức mình là chính, tự mình phải tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những chủ trương chính sách nhằm tự giải quyết các công việc của nước mình, không chấp nhận bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài, không để biến nước mình thành con bài trong tay nước khác Tuy nhiên cũng phải nhận thức được rằng mức độ độc lập,

tự chủ trong hoạt động ngoại giao phụ thuộc vào sức mạnh chính trị, kinh tế, quân sự của đất nước, vào trình độ tư duy, trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm, phương pháp, khả năng ứng xử của những người lãnh đạo nhà nước trong hoạt động và chỉ đạo ngoại giao Trong điều kiện nước ta ở vào một tình thế thù trong, giặc ngoài, chế độ mới như “ngàn cân treo sợi tóc” thì đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải linh hoạt trong đấu tranh ngoại giao, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc

để vừa đảm bảo giữ vững được nguyên tắc, vừa thực hiện được lợi ích của quốc gia dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải giữ vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” hay là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Muốn vậy phải đánh giá đúng về mình và về đối phương, về chiều hướng chuyển biến của so sánh lực lượng trong từng thời điểm cụ thể, để từ đó xác định bước

đi thích hợp, ứng phó mau lẹ và kịp thời với từng hoàn cảnh, từng tình thế, từng đối tượng trong từng trường hợp và vấn đề cụ thể Trong đấu tranh ngoại giao cũng phải phối hợp giữa mặt trận ngoại giao của nhà nước với ngoại giao của nhân dân, phối hợp mặt trận ngoại giao với mặt trận chính trị, xây dựng chính quyền phải đi đôi với bảo vệ chính quyền, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi Điều đó cũng có nghĩa là muốn đấu tranh ngoại giao giành thắng lợi thì chúng ta phải có thực lực, như lời chủ tịch Hồ Chí Minh nói: cây có cao thì bóng mới dài, ý nói thực lực cách mạng có mạnh mới có thắng lợi trong đấu trường ngoại giao Hoặc: thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng, chiêng có to, tiếng mới lớn Trong tình hình đặc biệt nghiêm trọng này, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ, chúng ta không chỉ đơn thuần hòa hoãn

mà phải biết sống chung với kẻ thù để kiềm chế chúng Đó chính là sự vận dụng

Trang 36

linh hoạt, sáng tạo sách lược của chủ nghĩa Mác Lê – nin về tranh thủ khả năng hòa hoãn với kẻ thù, là sự thỏa hiệp có nguyên tắc trong hoạt động ngoại giao Trong điều điện phải đấu tranh ngoại giao cùng một lúc với nhiều kẻ thù như vậy, đòi hỏi Đảng, Chính phủ và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải thực hiện những giải pháp ngoại giao khác nhau đối với từng đối tượng kẻ thù Đối với Mỹ, trên danh nghĩa Mỹ là nước đứng đầu các nước Đồng minh và

họ tuyên bố sẵn sàng ủng hộ nền độc lập của các dân tộc, nhưng thực chất đối với Đông Dương, Mỹ ngầm giúp Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương Vì vậy trong đấu tranh ngoại giao với Mỹ, chúng ta phải giữ vững những quan hệ đã có từ trước chiến tranh, tranh thủ những mặt tích cực trong thái độ của Mỹ vì Mỹ có tiếng nói quan trọng trong diễn đàn của Liên hợp quốc, tranh thủ tối đa ảnh hưởng của Mỹ đối với Pháp và Trung Hoa dân quốc nhằm tạo lợi thế cho nước ta

Đối với quân Trung Hoa dân quốc phải tranh thủ mâu thuẫn trong nội bộ của chúng và những khó khăn của chính quyền Tưởng Giới Thạch cùng sự mâu thuẫn về quyền lợi của chúng với Pháp ở Đông Dương, sử dụng mọi biện pháp linh hoạt, khôn khéo, hòa hoãn làm cho chúng rút quân ra khỏi miền Bắc nước ta càng nhanh càng tốt Đồng thời phải kiềm chế, tránh xung đột, giao thiệp thân thiện để chúng không có cớ nổ súng lật đổ chính quyền của nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diệt cộng cầm Hồ” của chúng

Đối với quân Anh, là nước có danh nghĩa Đồng minh làm nhiệm vụ quốc tế nên phải giao thiệp, hợp tác thể hiện tư thế của một nhà nước độc lập, song phải kiên quyết phải đối những hành động của quân Anh dung túng cho quân Pháp xâm lược Việt Nam

Đối với Pháp, Pháp là kẻ thù chính phải đấu tranh lâu dài với chúng Vì vậy phải tập trung ngọn lửa đấu tranh với Pháp để bảo vệ độc lập dân tộc Tuy nhiên trong quá trình đấu tranh với Pháp phải hết sức tránh trường hợp Pháp cùng các nước đế quốc câu kết với nhau cô lập nước ta, buộc nước ta phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc Do đó để phá tan được âm mưu của các nước đế quốc, bảo toàn lực lượng, có thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài chống Pháp, chúng ta phải hòa hoãn với Pháp để duy trì càng lâu càng tốt mối quan hệ hòa bình với Pháp

Trang 37

Lần theo các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta thời kì trước và sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, có thể thấy chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng đã sớm vạch ra đường lối và chính sách ngoại giao cho cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền cách mạng ở nước ta

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp ở Pắc Pó vào tháng 5 năm 1941, Đảng đã đề ra một chính sách ngoại giao toàn diện với tinh thần cơ bản: “Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền và lợi ích của Việt Nam Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hòa bình ” Thực chất thì đó

là chính sách kiên quyết bảo vệ lợi ích chính đáng của các dân tộc, đồng thời giữ vững hòa bình và sự hợp tác bình đẳng, đó là nguyên tác cơ bản trong quan hệ quốc tế

Bên thềm của cuộc cách mạng Tháng Tám, tại Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào ( từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945) trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, phân tích đúng tính toán của các nước lớn đối với vấn đề Việt Nam, Đảng

đã nhận định: “Hiện nay về chính sách ngoại giao chúng ta phải nhận rõ được hai điều: 1/ Sự mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh – Pháp và Mỹ - Trung Quốc về vấn đề Đông Dương, là một điều chúng ta cần lợi dụng 2/ Sự mâu thuẫn giữa Mỹ - Anh – Pháp với Liên Xô có thể làm cho Anh – Mỹ nhân nhượng với Pháp để cho Pháp trở lại Đông Dương

- Chính sách của ta là phải tránh các trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng đồng minh như Trung Quốc, Pháp, Mỹ tràn vào nước ta và đặt chính phủ, mà đặc biệt là Pháp sẽ đưa chính phủ Đờ gôn hoặc chính phủ bù nhìn khác, đi ngược lại với ý nguyện của dân tộc

- Vì vậy, chúng ta phải tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô để chống lại mưu mô của Pháp, định khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương và chống lại mưu

mô của bọn Trung Quốc định chiếm nước ta

- Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi của ta Đảng ta còn chủ trương, đối với các nước nhược tiểu và nhân dân Trung Quốc,

nhân dân Pháp chúng ta phải liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ của họ.” [14; 5,6]

Đường lối ngoại giao đó đã góp phần đưa cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi trong thời gian 15 ngày từ ngày 14 tháng 8 năm 1945 đến ngày 28 tháng 8 năm 1945

Trang 38

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình, sự thay đổi trong chính sách và ý đồ của các nước đế quốc đối với nước ta, trên cơ sở phân tích và dự đoán tình hình, xác định tương quan giữa các thế lực thù địch với cách mạng trong nước, chủ tịch Hồ Chí Minh

và Trung ương Đảng đã có những định hướng đúng đắn cho hoạt động ngoại giao của Việt Nam và những chính sách đối ngoại mới được xây dựng không phải với tư cách là một nước thuộc địa nữa mà là một nước độc lập, có chủ quyền quốc gia

Đường lối hoạt động của nước Việt Nam mới được thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập với tinh thần: “Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tât cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giũ vững quyền tự do, độc lập ấy”

Sau ngày tuyên bố độc lập, tại Hội nghị cán bộ Bắc kì, Đảng tiếp tục phân tích đánh giá, nhận định về tình hình thế giới và tình hình Đông Dương, đề ra chủ trương chính sách đối ngoại của Đảng đối với từng đối tượng cụ thể:

“ – Đối với Pháp Đờ Gôn đã mưu mô chiếm lại Đông Dương nên chúng ta cương quyết hành động chống và chỉ giao thiệp khi nào bọn thực dân Pháp đã bỏ

dã tâm xâm lược Đông Dương và chính thức công nhận nền độc lập nước Việt Nam Tuy vậy đối với Pháp kiều chúng ta nên tỏ lượng khoan hồng và bảo đảm tính mệnh của họ cả tài sản họ, nhưng bao vây, giám thị và đề phòng họ

- Đối với Tàu từ trước đến giờ thất bại, tuy vậy chúng ta cần phải lôi họ về ta; nhưng nếu ngoại giao trong lúc đầu không có kết quả hoặc quân đội Tàu có những hành động khiêu khích thì chúng ta cũng nên tránh xung đột quân sự mà chỉ xung đột bằng chính trị (tổ chức quần chúng biểu tình phản đối, Chính phủ thì dùng ngoại giao) và thi hành chính sách vườn không nhà trống Cần phải tổ chức tiểu ban vận động Hoa kiều và binh lính Tàu

- Đối với Mỹ việc ngoại giao mới có đôi phần kết quả còn cần phải tiến tới

để Mỹ chóng chính thức công nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và giao hòa với chúng ta

Trang 39

- Đối với Anh chúng ta chưa giao thiệp gì và thái độ của họ giúp bọn thực dân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương (việc Nam Bộ nên ta phải phải phản đối thái độ của họ)

- Đối với Nhật họ hoàn toàn thay đổi thái độ với chúng ta, họ không còn là

kẻ thù nữa nên chúng ta càng phải biết lợi dụng họ để có lợi cho ta

- Đối với các dân tộc nhược tiểu Á Đông, ta phải tìm cách ủng hộ phong trào độc lập bằng cách dùng những hình thức mít tinh, biểu tình, đánh điện tín,v.v

Nói tóm lại về ngoại giao chúng ta phải lợi dụng những mâu thuẫn giữa Tàu, Mỹ, và Anh để có lợi cho chúng ta” [14; 6]

Tinh thần của các văn kiện lịch sử trên đã được tiếp tục và phát triển thành chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được công bố dưới hình thức một văn kiện nhà nước Đó

là “Thông cáo về Chính sách ngoại giao của nước Cộng hòa dân chủ Việt Nam", công bố ngày 3 tháng 10 năm 1945

Thông cáo nêu rõ “cơ sở để hoạch định chính sách ngoại giao” là “căn cứ vào tình hình quốc tế và hiện trạng nước Việt Nam ta”, “căn cứ vào thái độ của các liệt quốc” và “lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương làm nền tảng”

Thông cáo khẳng định mục tiêu của chính sách ngoại giao của nước Việt Nam lúc đó là góp phần “đưa nước nhà đến độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn”,

“nước Việt Nam còn đương ở giai đoạn đấu tranh kịch liệt, tất cả chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay cương quyết” Thông cáo cũng khẳng định cam kết của Việt Nam là sẽ cùng các nước Đồng minh “xây đắp lại nền hòa bình của thế giới”

Xuất phát từ mục tiêu đó, Thông cáo thể hiện rõ quan điểm ngoại giao đa phương của Việt Nam trong chính sách cụ thể đối với 4 đối tượng chủ yếu trong quan hệ quốc tế của nước ta khi đó như sau:

- Đối với các nước lớn, các nước trong Đồng minh chống phát xít, Việt Nam mong muốn duy trì hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng nền hòa bình thế giới lâu dài

Trang 40

- Đối với Pháp, chính sách là: bảo vệ tính mạng, tài sản kiều dân Pháp theo đúng luật pháp quốc tế, miễn là họ yên ổn sống và tôn trọng pháp luật, chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam; nhưng kiên quyết chống lại bọn thực dân Pháp đang chuẩn bị và bắt đầu chiến tranh xâm lược Việt Nam Đối với nước Pháp, Việt Nam muốn xây dựng quan hệ hữu nghị dựa trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau

- Với các nước láng giềng, Thông cáo khẳng định một phương hướng mới trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, nhấn mạnh đến hữu nghị hợp tác và bình đẳng Trong đó, với Trung Hoa, chủ trương của ta là thành thực hợp tác trên tinh thần bình đẳng, nhằm “thắt chặt tình thân ái khiến hai dân tộc Việt – Hoa tương trợ mà cùng tiến hóa” Đặc biệt đối với nhân dân Khơ me và Lào, Việt Nam đặt quan hệ dựa trên nguyên tắc dân tộc tự quyết Nhân dân Việt Nam cùng với nhân dân Khơ me và nhân dân Lào đã từng chịu ách đô hộ của thực dân Pháp, lẽ

dĩ nhiên nhân dân ba nước phải cùng nhau đấu tranh để thoát khỏi ách đô hộ đó, giúp đỡ lẫn nhau giành lại và duy trì nền độc lập của mình Hơn nữa Khơ me, Lào và Việt Nam có quan hệ kinh tế chặt chẽ, ba nước sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc kiến thiết và cùng nhau tiến bộ

- Với các nước nhược tiểu, Việt Nam sẵn sàng thắt chặt mối thân thiện và hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng để giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau duy trì và củng cố độc lập dân tộc [1; 3]

Như vậy đây là một văn kiện ngoại giao nhà nước tương đối hoàn chỉnh và toàn diện đề cập đến mục tiêu chính sách đối ngoại, đến các sách lược ngoại giao

cụ thể như lợi dụng mâu thuẫn đối phương, kết hợp ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân Đó là một đường lối ngoại giao đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ và cùng cố chính quyền trong giai đoạn còn nhiều khó khăn

và thử thách

Vì tầm quan trọng và tính cấp thiết của mặt trận ngoại giao đối với nước ta sau cách mạng Tháng Tám, cho nên ngày 6 tháng 10 năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ giới báo chí trong và ngoài nước giải thích thêm về chính sách ngoại giao của nước ta đối với các nước lớn Mỹ, Trung Hoa và Pháp Người tiếp tục khẳng định chính sách tranh thủ Mỹ, hòa hoãn với Trung Hoa và đòi Pháp

Ngày đăng: 16/09/2021, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Báo cáo của phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa về công tác ngoại giao và tuyên truyền ở Pháp từ năm 1945 đến năm1949, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, phòng Thủ Tướng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa về công tác ngoại giao và tuyên truyền ở Pháp từ năm 1945 đến năm1949
[5]. Bộ ngoại giao, Lược ghi các bài nói chuyện của chủ tịch Hồ Chí Minh với Hội nghị các bộ nghành ngoại giao, Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược ghi các bài nói chuyện của chủ tịch Hồ Chí Minh với Hội nghị các bộ nghành ngoại giao
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao
[6]. Nguyễn Lương Bích (2003), Lược sử ngoại giao Việt Nam các thơì trước, Nhà xuất bản, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thơì trước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 2003
[7]. Nguyễn Đình Bin (2002), Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000), Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000)
Tác giả: Nguyễn Đình Bin
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 2002
[8]. Lê Huy Bình (2003), Chủ tịch Hồ Chí Minh với sách lược Hoa – Việt thân thiện thời kì 1945 – 1946, Nhà xuất bản, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sách lược Hoa – Việt thân thiện thời kì 1945 – 1946
Tác giả: Lê Huy Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 2003
[9]. Lê Duẩn (1975), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới, Nhà xuất bản, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 1975
[10]. Lê Duẩn (1981), Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta, Nhà xuất bản, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng ta
Tác giả: Lê Duẩn
Năm: 1981
[11]. Đảng cộng sản Việt Nam (1985), Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1 (1945 – 1950), Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1 (1945 – 1950)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 1985
[12]. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[13]. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[14]. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[15]. Trần Hữu Đính, Lê Trung Dũng (1997), Quan hệ Việt – Mỹ trong cách mạng Tháng Tám, Nhà xuất bản, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt – Mỹ trong cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Trần Hữu Đính, Lê Trung Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 1997
[16]. Nguyễn Kiến Giang (1961), Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám, Nhà xuất bản, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam năm đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiến Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1961
[17]. Lương Lê Giang (bản dịch) (2006), OSS và Hồ Chí Minh – Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến tranh chống phát xít Nhật, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: OSS và Hồ Chí Minh – Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến tranh chống phát xít Nhật
Tác giả: Lương Lê Giang (bản dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2006
[18]. Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chặng đường lịch sử
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 1977
[19]. Võ Nguyên Giáp (1995), Chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến đấu trong vòng vây
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Năm: 1995
[20]. Lê Kim Hải, Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt – Pháp thời kì 1945 – 1946, Nhà xuất bản, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt – Pháp thời kì 1945 – 1946
Tác giả: Lê Kim Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản
[21]. Nguyễn Trọng Hậu (2004), Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kì 1945 – 1950, Nhà xuất bản, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kì 1945 – 1950
Tác giả: Nguyễn Trọng Hậu
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 2004
[22]. Vũ Quang Hiển (2005), Tìm hiểu chủ trương đối ngoại của Đảng thời lì 1945 – 1954, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chủ trương đối ngoại của Đảng thời lì 1945 – 1954
Tác giả: Vũ Quang Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
[23]. Vũ Dương Huân (2001), Công tác đối ngoại với sự nghiệp cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước, Nhà xuất bản, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đối ngoại với sự nghiệp cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước
Tác giả: Vũ Dương Huân
Nhà XB: Nhà xuất bản
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w