1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm chủ nghĩa mác-lenin về tôn giáo liên hệ vs việt nam

17 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 35,82 KB
File đính kèm quandiem.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm chủ nghĩa mác-lenin về tôn giáo với Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm không chỉ đối với Việt Nam

mà còn nhiều nước trên thế giới Vì thế luôn cần có những hiểu biết thấu đáo trước khi giải quyết các vấn đề này

Vấn đề tôn giáo đã từng bị chủ nghĩa đế quốc tìm cách lợi dụng phục

vụ cho âm mưu xâm lược và chống phá cách mạng ở Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung Chúng sử dụng tôn giáo như là một chiêu bài trong âm mưu diễn biến hòa bình hòng chống phá sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như các nước khác

Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau và đang có chiều hướng phát triển trên phạm vi cả nước Vì vậy,

để tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới ở nước ta, trước hết đòi hỏi Đảng

và Nhà nước cần phải có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lí luận và thực tiễn

về vấn đề tôn giáo cũng như có những chính sách một cách phù hợp và linh hoạt trong tình hình hiện nay

Xuất phát từ lý do trên và để phục vụ cho việc học tập môn Chủ nghĩa

Xã Hội Khoa Học, trong phạm vi nhỏ của một bài tiểu luận, em sẽ tập trung phân tích những vấn đề chung nhất về tôn giáo , đồng thời đưa ra phương hướng giải quyết vấn đề tôn giáo theo ý kiến cá nhân của mình

NỘI DUNG

Trang 2

I. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo.

1. Khái niệm và bản chất của tôn giáo

a) Khái nệm

- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên trở thành siêu tự nhiên, thần bí,…

-Tôn giáo khác với mê tín dị đoan

b) Bản chất

- Tôn giáo là một hiện tượng xã hội-văn hóa

- Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan

- Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định

- Tín hiện niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng

có tính thần thánh, linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ

- Mê tín là chỉ những niềm tin trong một mối quan hệ nhân quả siêu nhiên: một trong những sự kiện hay hành động sẽ dẫn đến các sự kiện hay hành động khác mà không có bất kỳ quá trình vật lý nào liên kết hai sự kiện như điềm báo, phù phép

- Mê tín mâu thuẫn với khoa học tự nhiên hay phản khoa học

- Dị đoan là sự suy đoán, hành động một cách tùy tiện, sai lệch những điều bình thường, chuẩn mực trong cuộc sống

- Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự dẫn tới hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản và có thể cả tính mạng con người

2 Nguồn gốc của tôn giáo

a) Nguồn gốc kinh tế- xã hội của tôn giáo

- Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh

Trang 3

hóa những sức mạnh đó Từ đó, họ xây dựng nên những biểu hiện tôn giáo

để thờ cúng

- Khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội ác … tất cả họ quy về số phận và định mệnh

- Họ đã thần thành hóa một số người thành những thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn giáo

=> Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức, bóc lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc sâu xa của

b) Nguồn gốc nhận thức

- Ở một giai đoạnh lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn

- Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào ảo tưởng, thần thành hóa đối tượng

- Trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa học chưa khám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo

- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh

c) Nguồn gốc tâm lý

- Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra tôn giáo”

- Lênin cũng cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản … sự phá sản “đột ngột” “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong …, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại

Trang 4

- Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được thể hiện qua tôn giáo

3 Tính chất của tốn giáo

a) Tính lịch sử của tôn giáo

- Con người sáng tạo ra tôn giáo Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù lịch sử Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất định

- Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử Trong từng giai đoạn lịch sử, tôn giáo

có sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo

- Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên,

xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn

- Khi các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo

Trong quá trình vận động của các tôn giáo, chính các điều kiện kinh tế

-xã hội, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau

- Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên,

xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn

Trang 5

b) Tính quần chúng của tôn giáo.

- Tôn giáo là nơi sinh hoặt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động Hiện nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thế giới

- Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bát ái … Bởi

vì, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo hướng thiện Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội

- Nhiều tôn giáo có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều người ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động, tin theo

c) Tính chính trị của tôn giáo

- Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chi giai cấp, các giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình

- Trong nội bộ tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính chính trị Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp, nên tôn giáo mang tính chính trị

- Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục

vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ

- Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ ở quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế

- Sự xuất hiện các tổ chức quốc tế của tôn giáo với thế lực lớn đã tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, cần nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thõa mãn nhu cầu

Trang 6

tinh thần; song trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng để thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ

4 Chức năng của tôn giáo

a) Chức năng đền bù hư ảo

- Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” , tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống

- Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn

là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền

bù hư ảo

- Mặc dù là chức năng chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo

b) Chức năng thế giới quan

- Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực

- Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung

quanh

c) Chức năng điều chỉnh

- Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành của những con người có đạo

Trang 7

- Hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người

d) Chức năng giao tiếp

- Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng

- Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn

có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình làm củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ

e) Chức năng liên kết

- Tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội

- Trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời

5 Nguyên tắc giải quyết các vấn đề trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

- Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với cuộc vận động đoàn kết các tín đồ tôn giáo trong quá trình cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới

- Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân

Trang 8

- Phát huy mặt tích cực, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

- Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo

- Cần phân biệt rõ ràng hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo

- Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tôn giáo

II Liên hệ vấn đề này với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

1.Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam

a) Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo

- Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo Nó được hình thành không chỉ trong nước mà còn có sự du nhập từ các nước phương Đông, phương Tây tạo nên sự đa dạng, phong phú

- Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn của thế giới là Trung Hoa và Ấn Độ

- Nước ta có 54 dân tộc ở nhiều khu vực khác nhau, với điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau

b) Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen nhau, chung sống hoà bình, không

có xung đột, chiến tranh tôn giáo.

Đều được thể hiện ở:

- Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần, thánh, tiên, phật của nhiều tôn giáo

Trang 9

- Về phía giáo sĩ: ở Việt Nam có nhiều tăng ni, phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời cũng triết thuyết Khổng Mạnh và nghiên cứu cả đạo giáo

c) Các tôn giáo ở Việt Nam nói chung luôn đồng hành cùng dân tộc, có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước

- Dân tộc Việt Nam luôn có một long nồng nàn yêu nước với những đức tính phẩm chất quý báu như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,…

- Gia đình là tế bào của xã hội, dù hoàn cảnh gia đình có ra sao nhưng luôn có bát hương, bàn thờ cúng tổ tiên và những người đã khuất

- Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ Mỗi làng có phong tục, lối sống riêng Trong phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở nhiều tộc người

- Những con người có công với đất nước đều được tôn sùng, thờ cúng để tưởng nhớ

- Là một quốc gia với nghề lúa nước là chính: Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hiểu giáo lý không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm

Trang 10

d) Hàng ngũ chức sắc các tôn giáo có vai trò, vị trí quan trọng trong giáo hội, có uy tín, ảnh hưởng với tín đồ

e) Các tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo

ở nước ngoài

- Tôn giáo ở Việt Nam đã dần dần được mở rộng và phát triển theo mức hiện đại hóa

f, Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động lợi dụng

- Sự đối lập về thế giới quan của tôn giáo và thế giới quan duy vật biện chứng trong nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở để chúng lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với tôn giáo

- Lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng nước ta

- Triệt để tận dụng những bất cập, sơ hở của các cấp chính quyền trong quản

lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để kích động quần chúng gây mất

ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các địa phương

- Dựa vào đặc điểm địa lý, khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo để phát triển tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

2 Tình hình thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội

=> Việc đề ra chính sách và thực hiện chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề khó khăn, phức tạp, phải hết sức thận trọng

Trang 11

a) Về ưu điểm.

- Tôn giáo ở nước ta luôn chung sống hòa bình, ít xảy ra những mâu thuẫn

về sắc tộc, tôn giáo Đa số là do thế lực thù địch lợi dụng lòng tin

- Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật bình đẳng trước pháp luật

- Chính sách tôn giáo của ta ngày càng được cụ thể hoá, đáp ứng ngày càng tốt hơn nguyện vọng của chức sắc và tín đồ

- Luôn tuyên truyền giáo dục, tổ chức những hoạt động lễ hội về tôn giáo

để người dân tham gia, cầu nguyện để mang tới điều an vui, an lành

- Nhờ chính sách phát triển kinh tế phù hợp đã làm cho đời sống vật chất

và tinh thần của chức sắc, tín đồ được nâng lên

- Chúng ta đã ngăn chặn, hạn chế, phá vỡ được những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo vì mục đích kinh tế, chính trị

- Củng cố đoàn kết những người có tín ngưỡng, tôn giáo với nhau, có niềm tin vào Đảng, vào công cuộc đổi mới ở nước ta

b) Về hạn chế

- Vẫn luôn có một số bộ phận cán bộ, người dân bị u mê, nghe theo lời của các thế lực thù địch dẫn đến những cuộc phản động, chống phá,…

- Các thế lực thù địch đan ra sức lợi dụng tôn giáo để thục hiện chiến lược

“Diễn biến hòa bình” đối với nước ta

- Chính sách tôn giáo của ta vẫn còn chung chung, chưa được cụ thể hóa

- Một bộ phận không nhỏ chức sắc, tín đồ còn nghi ngờ, dao động hoang mang trước sự xuyên tạc của các thế lực thù địch

Ngày đăng: 16/09/2021, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w