1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong trào đông kinh nghĩa thục trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc

127 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục Trong Tiến Trình Lịch Sử Văn Hóa Dân Tộc
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Vy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hiệu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, do đó, cũng góp phần tìm hiểu văn hóa Việt Nam trong buổi đầu tiếp xúc có tính chủ động với văn hóa phương Tây để nhận diện thêm một số đặc tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN VĂN HOÁ HỌC

-ooOoo -

NGUYỄN THỊ THÚY VY

PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ DÂN TỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60 31 70

TS Nguyễn Văn Hiệu

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, tháng10 năm 2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 4

3.1 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Lịch sử - Chính trị 5

3.2 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Văn học - Tư tưởng 10

3.3 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Văn hóa - Giáo dục…………11

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu……… 15

4.1 Quan điểm nghiên cứu 15

4.2 Phương pháp nghiên cứu 16

4.3 Nguồn tư liệu 16

5 Đóng góp của luận văn 16

6 Bố cục của luận văn 17

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ- VĂN HÓA 1.1 Những tiền đề cơ bản 18

1.1.1 Tiền đề lịch sử – xã hội 18

1.1.2 Tiền đề văn hóa- xã hội 22

1.2 Khái quát về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục 33

1.2.1 Quá trình hình thành trường Đông Kinh Nghĩa Thục 34

Trang 3

1.2.2 Tổ chức của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục 37

1.3 Nhận xét chung 38

CHƯƠNG 2 CÁC BÌNH DIỆN VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC 2.1 Những hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nhận thức 42

2.2 Những hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa - Giáo dục 47

2.3 Những hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa - Kinh doanh 65

2.4 Những hoạt động trong lĩnh vực vận động cải cách phong tục, tập quán 69

2.5 Sự phát triển của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục 73

2.6 Nhận xét chung 78

CHƯƠNG 3 ĐÓNG GÓP VÀ VỊ TRÍ CỦA ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM 3.1 Nhận thức về văn hóa và văn hóa Việt Nam 80

3.2 Ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục về Văn hóa - Giáo dục 90

3.3 Vị trí của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử văn hóa dân tộc 102

3.4 Nhận xét chung 109

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.1 Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) là một trường học, đồng thời là phong

trào vận động cải cách văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Nghiên cứu Đông Kinh Nghĩa Thục để tìm hiểu, đánh giá vai trò của phong trào này đối với tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc là việc làm có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.2 Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cho đến nay phong trào

Đông Kinh Nghĩa Thục hầu như chỉ được nhìn nhận, đánh giá chủ yếu trên các phương diện lịch sử, tư tưởng, chính trị, văn học, giáo dục mà chưa được quan tâm nhiều trên bình diện văn hóa Trên cơ sở khảo sát, trình bày những hoạt động cải cách văn hoá của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, luận văn muốn góp phần xác định vị trí văn hoá sử của phong trào trong tiến trình lịch sử văn hoá của dân tộc

1.3 Trên phương diện văn hoá sử, văn hóa Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX - và

rõ nhất là từ đầu thế kỷ XX – có bước chuyển biến mạnh mẽ, trong đó nổi lên xu hướng tiếp nhận thành tựu văn hóa, văn minh phương Tây để hiện đại hóa mà hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những biểu hiện tiêu biểu Nghiên cứu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, do đó, cũng góp phần tìm hiểu văn hóa Việt Nam trong buổi đầu tiếp xúc có tính chủ động với văn hóa phương Tây để nhận diện thêm một số đặc trưng của quá trình hiện đại hoá nền văn hoá dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này

Trang 5

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phong trào Đông Kinh Nghĩa

Thục ở nước ta vào đầu thế kỷ XX

2.2 Về phạm vi nghiên cứu, Đông Kinh Nghĩa Thục là một phong trào có ý

nghĩa về nhiều mặt và hoạt động trên nhiều lĩnh vực Trong luận văn này, chúng tôi chỉ chủ yếu tập trung vào những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa của Đông Kinh Nghĩa Thục, cụ thể là qua hoạt động của nhóm tổ chức trường Đông Kinh Nghĩa Thục với tôn chỉ, mục đích, cách thức tổ chức trường và tài liệu tuyên truyền, giảng dạy của họ

2.3 Để làm rõ thêm về đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục trên lĩnh vực

văn hóa, chúng tôi cũng chú ý khảo sát tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc, chủ yếu

từ nửa cuối thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX, và ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục đối với đương thời và đối với các giai đoạn sau

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cho đến nay, Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn chưa được nghiên cứu nhiều về phương diện văn hóa Tuy nhiên, với tư cách là một phong trào vận động cải cách văn hóa vô cùng sôi nổi và có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều ngành khoa học khác nhau

Có thể nói, không có một công trình nghiên cứu nào về giai đoạn đầu thế kỷ

XX ở Việt Nam lại không nhắc đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cho dù đó

là công trình nghiên cứu về văn học, lịch sử hay tư tưởng… Vì vậy, để cho dễ hình dung lịch sử vấn đề, chúng tôi chia các công trình nghiên cứu về Đông Kinh Nghĩa Thục ra làm ba nhóm: Lịch sử - Chính trị; Văn học - tư tưởng và Văn hóa - giáo dục Tuy nhiên, sự phân chia như vậy chỉ mang ý nghĩa tương đối vì các mảng luôn

có mối quan hệ khăng khít với nhau

Trang 6

3.1 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Lịch sử - Chính trị

Với quan điểm dùng văn hóa như một phương tiện hữu hiệu giành lại độc lập cho dân tộc, Đông Kinh Nghĩa Thục đã tạo nên một phong trào cải cách văn hóa vô cùng sôi nổi trên phạm vi cả nước và đồng thời, cũng tạo nên sự lo ngại nơi nhà cầm quyền nên chỉ sau một thời gian ngắn cho phép Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động, lấy cớ rằng Đông Kinh Nghĩa Thục có thể làm cho lòng dân náo động, chính quyền thuộc địa đã chính thức thu hồi giấy phép, tiến hành khám xét, tịch thu sách

vở, tài liệu của nhà trường và cấm dân chúng không được lưu hành, tàng trữ những tài liệu ấy Chính vì thế mà mãi đến năm 1938 Đào Trinh Nhất mới cho xuất bản

quyển sách đầu tiên nghiên cứu về phong trào với tiêu đề: Đông Kinh Nghĩa Thục

Tuy quyển sách mang tên là Đông Kinh Nghĩa Thục nhưng tác giả chỉ chủ yếu viết

về Nguyễn Quyền - vị giám học - và hầu như không nhắc gì nhiều đến những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục

Tại miền Nam, năm 1956 Nguyễn Hiến Lê cũng đã cho ra mắt quyển Đông

Kinh Nghĩa Thục với nội dung và tư liệu về Đông Kinh Nghĩa Thục tương đối đầy

đủ so với công trình của Đào Trinh Nhất Từ công trình Đông Kinh Nghĩa Thục của

Nguyễn Hiến Lê, người đọc mới bước đầu có được một số thông tin về hoàn cảnh ra đời cùng một số hoạt động cơ bản của Đông Kinh Nghĩa Thục - nhất là những hoạt

động trên bình diện văn hóa Tuy nhiên, Đông Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Hiến

Lê cũng chỉ là tập sách mỏng nhằm giới thiệu những sự kiện, những sử liệu còn tản mạn chứ chưa thực sự là công trình nghiên cứu về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục - như chính Nguyễn Hiến Lê thừa nhận: “cuốn sách nhỏ mà độc giả đương đọc đây không phải là một cuốn sử, nó chỉ chứa những tài liệu về sử thôi” [Nguyễn Hiến Lê 2002: 8]

Tại miền Bắc sau 1954, do hoàn cảnh lịch sử - chính trị đặc biệt của Việt Nam lúc đó nên vấn đề Đông Kinh Nghĩa Thục được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Nhiều vấn đề xung quanh Đông Kinh Nghĩa Thục được đề cập trên các báo

Trang 7

chí; các sách giáo khoa; các giáo trình giảng dạy ở bậc trung, đại học; trong các sách chuyên khảo; trong các công trình nghiên cứu về văn học, sử học, triết học Trong số các ngành nghiên cứu, sử học là ngành khoa học đi tiên phong trong việc nghiên cứu về Đông Kinh Nghĩa Thục Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (NCLS) của Viện sử học đã mở ra một cuộc thảo luận kéo dài suốt năm 1961 để giải quyết một

số vấn đề quan trọng như tính chất, mục đích, thực chất và xu hướng của Đông Kinh Nghĩa Thục Nhận định về Đông Kinh Nghĩa Thục, các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau ở một số điểm: Đông Kinh Nghĩa Thục là do các sĩ phu đứng ra

tổ chức hoạt động và phong trào này mang tính chất dân tộc dân chủ nhưng chưa triệt để Tuy nhiên, do tính đa diện của phong trào nên còn rất nhiều vấn đề của Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn chưa được các sử gia thống nhất Trong bài viết “Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc, dân chủ đầu tiên ở nước ta” (1961), tác giả Đặng Việt Thanh đã cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục “là một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ mở đầu cho thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản của tầng lớp tư sản mới ra đời ở nước ta” [Đặng Việt Thanh 1961: 14], thậm chí tác giả còn “so sánh phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục với phong trào văn hóa Phục Hưng ở Pháp và ở Ý vào thế kỷ XV, XVI” [Đặng Việt Thanh 1961: 24] Tác giả cho rằng, sở dĩ gọi Đông Kinh Nghĩa Thục là một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ vì “Đông Kinh Nghĩa Thục không những chỉ phủ định tư tưởng văn hóa cũ mà còn đề ra những nhiệm vụ có tính chất cương lĩnh để xây dựng văn hóa mới” [Đặng Việt Thanh 1961: 18]

Phản bác lại ý kiến trên của nhà nghiên cứu Đặng Việt Thanh, trong bài viết

“phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục một cuộc vận động cải cách xã hội đầu tiên”

đăng trên NCLS số 29.1961, tác giả Tô Trung đã cho rằng: “Đông Kinh Nghĩa Thục không có gì khác hơn là một phong trào dân tộc mang tính chất tư sản và nó chỉ là một cuộc vận động cải cách xã hội đầu tiên Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chưa đạt đến trình độ vận động cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ vì nó chưa chứa

Trang 8

đựng một nội dung phản đế và phản phong triệt để Nói Đông Kinh Nghĩa Thục là cuộc cải cách xã hội đầu tiên vì trước nó không có cuộc cải cách nào như thế” [Tô Trung 1961: 56]

Khác với Tô Trung, nhà nghiên cứu Nguyễn Anh trong bài viết “Đông Kinh Nghĩa Thục có phải là một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ hay

không?” lại cho rằng: “Đông Kinh Nghĩa Thục về cơ bản chưa đủ điều kiện để được

coi là một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ, nó mới chỉ là một phong trào cách mạng, nhuốm mùi tư sản, xuất hiện trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng” [Nguyễn Anh 1961: 45] Tuy nhiên, qua chủ trương và đường lối hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục, tác giả lại thấy “toát ra từ đó một màu sắc đậm nét hơn

và bao trùm hơn, đó là màu sắc của cải cách hòa bình” và tác giả kết luận: “hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục nằm trong phạm vi ảnh hưởng của xu hướng cải lương lưu hành trong cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX mà Phan Chu Trinh là người tiêu biểu” [Nguyễn Anh 1961: 45]

Nếu như Nguyễn Anh xếp hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục vào phạm

vi ảnh hưởng của xu hướng cải lương do Phan Chu Trinh khởi xướng thì Nguyễn

Văn Kiệm trong tập giáo trình Lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX – 1918, quyển III,

tập II lại cho rằng: “Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập là để thực hiện chủ trương và kế hoạch hoạt động mà Phan Bội Châu đã bàn bạc với các bạn đồng chí” [Nguyễn văn Kiệm 1979:76] Ý kiến này được ông nhắc lại một lần nữa trong bài viết: “Tìm hiểu xu hướng và thực chất của Đông Kinh Nghĩa Thục” đăng trên NCLS tháng 10.1964: “Xu hướng của Đông Kinh Nghĩa Thục là đi theo đường lối cách mạng của Phan Bội Châu, và việc làm của Đông Kinh Nghĩa Thục là để phục

vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bằng vũ trang do Phan Bội Châu đứng đầu” [Nguyễn Văn Kiệm 1964: 36] Đối với ý kiến cho rằng Đông Kinh Nghĩa Thục là một cuộc vận động cải cách văn hóa - xã hội, Nguyễn Văn Kiệm cho rằng: “Đông Kinh Nghĩa Thục không phải là một phong trào văn hóa tư tưởng đơn thuần và không thể đánh giá Đông Kinh Nghĩa Thục với tính cách chỉ là một phong trào văn

Trang 9

hóa được Hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục tuy trong khuôn khổ công khai hợp pháp và nổi bật về mặt văn hóa, nhưng đó chỉ là bề ngoài, là nhất thời Còn trong thực chất, mặt chủ yếu của phong trào là hoạt động cách mạng, là một cuộc vận động tổ chức quần chúng tiến tới bạo động” [Nguyễn Văn Kiệm 1964: 44]

Để điều hòa hai luồng ý kiến trái ngược nhau của Nguyễn Anh và Nguyễn Văn Kiệm, Trần Minh Thư trong bài viết “Cố gắng tiến tới thống nhất nhận định về Đông Kinh Nghĩa Thục” đăng trên NCLS số 81 tháng 12.1965 đã đưa ra luận điểm:

“Đông Kinh Nghĩa Thục là một bộ phận của phong trào dân tộc có khuynh hướng

tư sản ở nước ta vào đầu thế kỷ XX Đây là một phong trào hoạt động chủ yếu trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, chịu ảnh hưởng cả hai xu hướng bạo động và cải lương, nhưng ảnh hưởng của xu hướng bạo động có phần đậm nét hơn” và: “Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ là một cuộc vận động cải cách về văn hóa chứ chưa đạt tới một cuộc vận động cách mạng về văn hóa” [Trần Minh Thư 1965: 37]

Như vậy là trước năm 1975, những đánh giá, nhận định giữa các nhà nghiên cứu về tính chất, thực chất, vị trí, xu hướng tư tưởng của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục còn có quá nhiều sự khác biệt và hầu như các nhà nghiên cứu chỉ quan tâm nhiều đến khía cạnh chính trị mà chưa quan tâm đúng mức đến những đóng góp

về mặt văn hóa của phong trào

Sau 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất, hòa bình, các nhà nghiên cứu

có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc nghiên cứu và đánh giá những cống hiến của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Người có công trình nghiên cứu sớm nhất

về Đông Kinh Nghĩa Thục sau ngày đất nước thống nhất là Chương Thâu với Đông

Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX (1982) Trong công

trình này, tác giả đã cung cấp thêm cho người đọc nhiều tài liệu xác thực về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục để qua đó đánh giá lại những vấn đề mà các sử gia đã tranh luận với nhau trong suốt thập niên 60 của thế kỷ XX Tuy tiêu đề của công

trình là Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX thế

nhưng tác giả lại cũng xem xét phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chủ yếu ở

Trang 10

Năm 1997, nhân kỷ niệm 90 năm thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục,

một lần nữa tạp chí Nghiên cứu lịch sử lại mở ra một cuộc thảo luận kéo dài suốt

năm 1997 sang đầu năm 1998 về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Trong cuộc thảo luận lần này, các nhà nghiên cứu không còn đề cập đến những vấn đề mục đích, tính chất, thực chất và xu hướng của Đông Kinh Nghĩa Thục như trước nữa,

mà lần này, các nhà nghiên cứu chủ yếu cung cấp thêm cho độc giả nhiều tư liệu mới về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục như: mối quan hệ giữa “Đông Kinh Nghĩa Thục và Đại Nam (Đăng cổ tùng báo)” của tác giả Nguyễn Thành (NCLS số

293.1997); “Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và phong trào nghĩa thục ở các địa phương” của nhà nghiên cứu Chương Thâu (NCLS số 293.1997); “Góp thêm vào sự

đánh giá Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Văn Kiệm (NCLS số 293.1997);

“Đông Kinh Nghĩa Thục trong phong trào Duy tân ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX" của Hồ Song (NCLS số 295.1997 và 296.1998) Chính nhờ cuộc thảo luận lần này

mà độc giả đã có thêm nhiều thông tin xác thực hơn về cơ cấu tổ chức cũng như về những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục

Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu trực tiếp về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, trước và sau 1975 tại hai miền Nam - Bắc cũng đã xuất hiện những bài viết, những công trình nghiên cứu khác nhưng ít nhiều có liên

quan đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục như: Phong trào Duy Tân của nguyễn Văn Xuân (1970); tập biên khảo về Phong trào Duy tân ở Bắc – Trung – Nam của

Trang 11

3.2 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Văn học - Tư tưởng

Trên lĩnh vực văn học, trước 1975, một số công trình nghiên cứu có liên quan đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đã ra đời ở cả hai miền Nam -

Bắc Việt Nam như: Sơ tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng của hai nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Phách, Huỳnh Lý (1959), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ

XX của Đặng Thai Mai (1961), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm

Thế Ngũ (1965), tập giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930

của hai tác giả Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (tập giáo trình này năm 1988 được in thành sách) Tất cả các tác giả của các công trình nghiên cứu này đều khẳng định đóng góp to lớn của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Nếu như Đặng Thai Mai cho Đông Kinh Nghĩa Thục là một “cuộc vận động văn học”, làm cho “văn học nước nhà trở nên hồng hào tươi khỏe” [Đặng Thai Mai 1961: 5] thì Phạm Thế Ngũ

Trang 12

Năm 1996, các tài liệu giảng dạy cùng một số tác phẩm văn thơ của Đông Kinh Nghĩa Thục đã được nhóm tác giả Chương Thâu, Xuân Hưng, Hà Quân sưu

tầm và giới thiệu trong phần Thơ Văn yêu nước của phái Duy tân ở đầu thế kỷ XX -

tập 21, Tổng tập văn học Việt Nam Tiếp theo đó, năm 1997, trên tinh thần “tìm tòi thêm và đính chính để dựng lại bộ mặt chân thật của văn chương thời đại này và trả lại cho cuộc vận động Đông Kinh Nghĩa Thục phần cống hiến của nó vào văn học nước nhà”, nhóm nghiên cứu Vũ Văn Sạch, Vũ Thị Minh Hương, Philippe Papin đã

sưu tầm, biên soạn và cho ra mắt quyển Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục Mặc dù

theo như lời của nhóm biên soạn thì quyển sách này “không phải là “Toàn tập” hay

“Tuyển tập” mà chỉ hạn chế trong một số tài liệu mới sưu tầm được tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I - Hà Nội” [Vũ Văn Sạch, Vũ Thị Minh Hương, Philippe Papin

1997: 5] thế nhưng, quyển Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục này cũng đã cung cấp

thêm một số tư liệu gốc giúp cho người đọc, các nhà nghiên cứu có thêm những tư liệu mới để tìm hiểu, đánh giá phong trào và đồng thời, góp phần bổ sung vào nguồn tư liệu về văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục

3.3 Các công trình nghiên cứu trên bình diện Văn hóa - Giáo dục

Người đầu tiên thực sự xem phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục là một

“phong trào văn hóa” và chính phong trào này đã làm cho Việt Nam “rẽ sang một con đường khác trong lịch sử phát triển” là Trần Đình Hượu Trong bài viết nhân kỷ

Trang 13

Người thứ hai sau Trần Đình Hượu cũng xem xét phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục trên bình diện văn hóa (tư tưởng học thuật) là Nguyễn Văn Hiệu Trong bài viết “Diện mạo và đặc điểm cơ bản của văn hóa Việt Nam trong buổi đầu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây” (2003), tác giả đã cho rằng chính các nhà Duy tân trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã “đặt nền móng và xác lập những đường hướng cơ bản của tư tưởng học thuật mới” [Nguyễn Văn Hiệu 2003: 158] và nền học thuật ấy theo ông, “sẽ là nền học thuật ( ) có những đặc trưng cơ bản là tính dân chủ với tư tưởng dân quyền, tính khoa học với tư duy phân tích trên tinh thần thực học và tính quốc tế thể hiện trong mối giao lưu học thuật Đông – Tây vượt hẳn tầm quan hệ có tính khu vực truyền thống” [Nguyễn Văn Hiệu 2003: 160] Cũng trong bài viết này, tác giả đã trình bày quan niệm về văn minh của các nhà Nho Đông Kinh Nghĩa Thục đầu thế kỷ XX và theo ông, “nhận thức về văn minh trên quan điểm tiến hóa của các nhà Đông Kinh Nghĩa Thục không khác cách hiểu chúng ta ngày nay là bao” [Nguyễn Văn Hiệu 2003: 159] Sau khi phân tích, nhận định về hoạt động tiếp nhận những yếu tố văn hóa phương Tây của các nhà duy tân trong Đông Kinh Nghĩa Thục tác giả đã kết luận: “phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn hóa – tư tưởng dân tộc” [Nguyễn Văn Hiệu 2003: 160]

Trang 14

Tháng 5 năm 2007, nhân kỷ niệm 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục 2007), Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã

(1907-tổ chức hội thảo “100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục và công cuộc cải cách giáo dục

ở Việt Nam hiện nay” nhằm đánh giá vai trò, vị trí, ý nghĩa lịch sử của Đông Kinh Nghĩa Thục trong lịch sử cận đại Việt Nam Tham gia cuộc hội thảo lần này, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục trên lĩnh vực giáo dục nước nhà như: “Đông Kinh Nghĩa Thục đã để lại dấu ấu sâu đậm trong lịch sử văn hóa và giáo dục nước nhà” của Nguyễn Văn Khánh; ““Quốc dân độc bản” của Đông Kinh Nghĩa Thục – gương chiếu hậu nền khoa cử nho học Việt Nam” của Nguyễn Hải Kế; “100 năm nghiên cứu Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam: Kết quả và triển vọng” của Trương Bích Hạnh; “Đông Kinh Nghĩa Thục một trăm năm trước đây và bài học quản lý giáo dục cho phát triển hiện nay” của Đặng Quốc Bảo; “Đông Kinh Nghĩa Thục tiếp cận từ phương diện văn hóa tư tưởng” của Phạm Xanh; “Vai trò, tác động của Đông Kinh Nghĩa Thục và liên hệ với cải cách giáo dục hiện nay” của Nguyễn Hải Trừng; “Vài ý kiến sơ lược về tài liệu giáo khoa của Đông Kinh Nghĩa Thục” của Chương Thâu; “Đông Kinh Nghĩa Thục với việc giáo dục tinh thần dân tộc cho nhân dân” của Phan Ngọc Liên; “Xây dựng mô hình xã hội học tập ở nước ta và suy nghĩ về bài học từ Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Như Ất; “Vấn đề giáo dục quốc dân trong đường lối duy tân cứu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Đại Đồng; “Đông Kinh Nghĩa Thục – mô hình trường đa ngành, đa cấp đầu tiên ở Việt Nam” của Phạm Xanh và Lê Thị Huyền Trang; “Chữ Quốc ngữ; Đông Kinh Nghĩa Thục và vấn đề cải cách chữ Việt trong thế kỷ XX ” của Nguyễn Chí Công; “Từ tư tưởng duy tân yêu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục đầu thế kỷ XX nghĩ về tư duy đổi mới vì sự nghiệp chấn hưng dân tộc hiện nay” của Đoàn Minh Tuấn và Vũ Thành Lâm; “Về giáo dục lịch sử ở Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Đình Lễ; “Tiếng trống cải cách giáo dục điểm

từ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục còn vang vọng” của Lê Thanh Bình; “Đường

Trang 15

Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21-9-2007 Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức Hội thảo khoa học “Đông Kinh Nghĩa Thục một thế kỷ nhìn lại” Trong cuộc hội thảo này, các nhà nghiên cứu một lần nữa lại khẳng định những đóng góp to lớn của Đông Kinh Nghĩa Thục trên nhiều phương diện: lịch sử, tư tưởng, văn học, văn hóa, giáo dục… như: “Đông Kinh Nghĩa Thục” của GS Hoàng Như Mai; “Đông Kinh Nghĩa Thục trong dòng chảy của tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX” của Đinh Ngọc Thạch; “Đông Kinh Nghĩa Thục nhìn từ phong trào Duy tân” của Đào Ngọc Chương; “Ai là tác giả đích thực của bài thơ Á Tế Á ca?” của Đoàn

Lê Giang; “Nhìn lại sự nghiệp của Đông Kinh Nghĩa Thục” của Hà Minh Hồng;

“Đông Kinh Nghĩa Thục và nội dung giáo dục theo xu hướng Duy tân” và “Những bài học giáo dục từ Đông Kinh Nghĩa Thục” của Huỳnh Bá Lộc; “Lương Văn Can - người kế tục tinh thần Đông Kinh Nghĩa Thục trong kinh doanh” và “Đông Kinh Nghĩa Thục - tiếng vang và dư âm” của Lý Tùng Hiếu; “Đông Kinh Nghĩa Thục với công cuộc cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Công Lý; “Triết lý giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Khắc Mai; “Thực chất phong trào Duy tân ở Việt Nam - Quảng Nam và tiếng vang của nó” của Nguyễn Q.Thắng;

“Nhận thức về vai trò của văn hóa đối với quá trình phát triển đất nước của Đông Kinh Nghĩa Thục” của Nguyễn Thị Thúy Vy; “Đông Kinh Nghĩa Thục với mô hình giáo dục mới và tinh thần tự phê phán dân tộc” của Nguyễn Văn Hạnh; “Sau 10 năm, nghĩ về Đông Kinh Nghĩa Thục” của Trần Hữu Tá; “Thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục, những bức thư đầy huyết lệ qua 100 năm” của Trần Thanh Đạm;

“Đông Kinh Nghĩa Thục với vấn đề giải phóng dân tộc của Việt Nam đầu thế kỷ XX” của Trần Thị Thu Lương; “Những đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục – 100 năm nhìn lại” của Trần Thị Mai; “Suy nghĩ thêm về Đông Kinh Nghĩa Thục” của Trần Viết Ngạc; “Tư tưởng chính trị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX

Trang 16

*

* * Như đã trình bày, hầu như không có công trình nghiên cứu nào dù trước hay sau 1975 có liên quan đến giai đoạn đầu thế kỷ XX ở Việt Nam lại không ít nhiều nhắc đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Tuy rằng một số công trình nghiên cứu về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã ra đời, thế nhưng trên bình diện văn hóa học vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đối tượng này nên chưa có cơ sở cho việc xác định vị trí văn hóa sử cho phong trào trong tiến trình lịch

sử văn hóa của dân tộc Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước đã thực sự giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

4.1 Quan điểm nghiên cứu

+ Luận văn vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể của triết học Marx-Lenin và phương pháp tiếp cận liên ngành trong văn hóa học để nghiên cứu đối tượng

+ Luận văn vận dụng quan điểm tính hệ thống, không tách rời phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục khỏi các phong trào Duy tân trong cả nước vào đầu thế kỷ

XX và đồng thời, không tách rời hoạt động ở lĩnh vực văn hóa với những hoạt động

ở các lĩnh vực khác trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

Trang 17

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử để

mô tả, giải thích nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản của quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây vào Việt Nam của Đông Kinh Nghĩa Thục trong giai đoạn đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, chúng tôi cũng vận dụng những phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp so sánh… Luận văn sẽ so sánh hoạt động cải cách văn hoá của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục với hoạt động cải cách văn hoá của những phong trào trước và sau đó để làm nổi bật những đặc điểm riêng của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

4.3 Nguồn tư liệu

+ Tư liệu khảo sát: các sách giáo khoa, các tài liệu giảng dạy, các tài liệu thơ văn cổ động của Đông Kinh Nghĩa Thục

+ Tư liệu tham khảo: các sách nghiên cứu về văn hóa, về lịch sử và văn hóa Việt Nam gắn với Đông Kinh Nghĩa Thục hoặc liên quan đến Đông Kinh Nghĩa Thục như các tài liệu về phong trào Duy Tân hoặc có liên quan với phong trào Duy Tân như các sáng tác của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…

+ Các tư liệu, hình ảnh, được tập hợp từ các thư viện, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng và trên mạng Internet…

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Luận văn khảo sát tương đối có hệ thống phong trào Đông Kinh Nghĩa

Thục trên bình diện văn hóa và bước đầu phân tích, đánh giá nhằm xác định vị trí văn hóa sử cho phong trào trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc

5.2 Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham

khảo cho những người quan tâm đến nền văn hoá Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ

XX và là cơ sở góp phần nghiên cứu các bình diện khác của Đông Kinh Nghĩa Thục

Trang 18

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

- Chương Một: Bối cảnh lịch sử - văn hóa Trong chương này luận văn sẽ

trình bày những biến động của lịch sử, của văn hóa xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Chính những biến đổi này đã làm thành những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Bên cạnh đó, trong chương 1 luận văn cũng giới thiệu một cách khái quát về quá trình hình thành cũng như cơ cấu tổ chức của trường Đông Kinh Nghĩa Thục

- Chương Hai: Các bình diện văn hóa trong hoạt động của Đông Kinh

Nghĩa Thục Trong chương này luận văn sẽ nêu rõ về nhận thức, tôn chỉ và đường

hướng hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục Đồng thời, trong chương 2 luận văn cũng sẽ trình bày cụ thể những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục trên các bình diện văn hóa: từ nhận thức về văn hóa và vai trò của nó trong quá trình phát triển đất nước và giành lại độc lập cho dân tộc đến các hoạt động nhằm làm biến đổi một số phương diện của văn hóa truyền thống Việt Nam như giáo dục, kinh doanh, phong tục tập quán,…

- Chương Ba: Đóng góp và vị trí của Đông Kinh Nghĩa Thục trong tiến

trình văn hóa Việt Nam Trên cơ sở những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục

đã được trình bày trong chương 2, trong chương 3 luận văn rút ra những đóng góp

cụ thể của Đông Kinh Nghĩa Thục cho nền văn hóa nước nhà Bên cạnh đó, thông qua việc so sánh hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục với những hoạt động của các phong trào trước và sau đó, luận văn tiến hành xác định vị trí văn hóa sử cho phong trào trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc

Trang 19

CHƯƠNG 1

BỐI CẢNH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN

1.1.1 Tiền đề lịch sử – xã hội

1.1.1.1 Đến những năm cuối của thế kỷ XIX, sau gần 40 năm đấu tranh vũ

trang một cách kiên cường, bất khuất (1858 - 1897), cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống lại sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp đã suy yếu dần để rồi tan rã: tiếng súng Cần Vương đã tắt hẳn, cứ điểm Yên Thế tuy vẫn còn nhưng nghĩa quân Yên Thế đã bước vào thời kỳ hòa hoãn với thực dân Pháp (13.11.1897), kết thúc thời kỳ đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta trên mặt trận

vũ trang

Sự thất bại của cuộc kháng chiến đã bộc lộ một tình trạng khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước cũng như về tư tưởng chính trị của nhân dân ta, đặc biệt là ở các sĩ phu yêu nước Khi thực dân Pháp vừa mới đặt bước chân xâm lược đến Việt Nam, trong khi triều đình còn lúng túng chưa biết xử trí ra sao thì chính các sĩ phu đã lãnh đạo nhân dân chống lại những cuộc tấn công chiếm đóng của giặc Thế nhưng, sau gần 40 năm đọ sức với sức mạnh khoa học kỹ thuật của phương Tây, một bộ phận sĩ phu đã trở nên nhụt chí trước sức mạnh vũ khí của kẻ địch Tuy vẫn tiếp tục truyền thống khởi nghĩa vũ trang nhưng do phải chiến đấu trong tình trạng phần thắng luôn nghiêng về phía đối phương nên họ luôn mang trong mình tâm lý bi quan, thất bại chủ nghĩa Một bộ phận sĩ phu khác, do bi quan với thời cuộc và hoàn toàn không tin tưởng vào cuộc kháng chiến đã lui về ở ẩn, chọn lối sống thanh bạch để giữ khí tiết Tình hình này đã khiến cho nhiều chí sĩ, nhiều nhà Nho yêu nước khác nhận ra phương thức đấu tranh vũ trang nay đã

Trang 20

không còn phù hợp nữa Muốn giành lại chủ quyền, dân tộc ta phải tìm một đường lối, một phương cách khác trước

Trong khi các sĩ phu Việt Nam đang tìm cho mình một phương thức đấu tranh mới thì trên thế giới cũng xảy ra rất nhiều sự thay đổi - đặc biệt là ở Đông Á: Trung Quốc đang bị các cường quốc phương Tây xâu xé, Nhật Bản sau gần nửa thế kỷ canh tân đã vươn lên như một cường quốc ở Á châu Sự thành công của quá trình duy tân ở Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế, đã mở ra cho các sĩ phu Việt Nam một hướng

đi mới: phải canh tân đất nước, trong đó “khai dân trí” là một trong những mục tiêu cơ bản, đầu tiên

1.1.1.2 Sau khi tạm thời trấn áp được các cuộc khởi nghĩa, Pháp bắt đầu

tiến hành khai thác thuộc địa Để có thể khai thác thuộc địa một cách hiệu quả nhất, Pháp đã chú ý xây dựng hệ thống cơ sở vật chất mới ở Việt Nam đặc biệt là xây dựng hệ thống đường sắt, đường nhựa, cầu cống

Điều mới mẻ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX là sự xuất hiện một cách ồ ạt của các đô thị mang chức năng kinh tế Từ thế kỷ XIX trở về trước, vì là một quốc gia nông nghiệp mang tính chất tự cấp tự túc, không coi trọng thương nghiệp nên nói

chung “Về mặt chức năng, đô thị Việt Nam có hai chức năng là chức năng hành

chính và chức năng kinh tế, trong đó chức năng hành chính là chủ yếu Đô thị là

do nhà nước đặt ra với mục đích để làm một trung tâm quản lý hành chính Chức năng kinh tế chỉ là thứ yếu” [Trần Ngọc Thêm 2004: 220] Giờ đây, vào đầu thế

kỷ XX, các tỉnh lỵ phần lớn đã trở thành những trung tâm thương mại, một số trung tâm công nghiệp lần lượt xuất hiện, tuy quy mô còn khiêm tốn: Hòn Gai, Cẩm Phả, Hải Phòng, Nam Định, trong đó Sài Gòn, Hải Phòng đã trở thành những hải cảng quan trọng có hàng trăm tàu lớn ra vào mỗi năm, xuất nhập hàng triệu tấn hàng

Trang 21

Sự xuất hiện của các trung tâm thương mại và sự tiếp xúc dồn dập hàng ngày với những cái mới do phương Tây mang đến, cùng với những chính sách, chủ trương của nhà cầm quyền Pháp, sự chuyển biến trong nhận thức của người Việt - đặc biệt là của giới sĩ phu - về xu hướng phát triển có tính tất yếu của thời đại đã làm cho đời sống văn hoá xã hội Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến mạnh mẽ

1.1.1.3 Chính trên đà phát triển đó, từ những năm đầu thế kỷ XX, trong

những điều kiện lịch sử đã đổi khác, những cuộc vận động yêu nước đã có bước tiến mới với sự xuất hiện của xu hướng duy tân trên nền tảng tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây Tuy cùng tiếp nhận hệ tư tưởng dân chủ tư sản, cùng đứng chung trên một lập trường là phải kết hợp cứu nước với duy tân, cải cách đất nước nhưng giữa các sĩ phu yêu nước đương thời vẫn có những nhận thức khác nhau về thứ tự

ưu tiên giữa hai nhiệm vụ nêu trên Những người giành vị trí ưu tiên cho việc đánh

đổ thực dân Pháp bằng đấu tranh quân sự, giành độc lập cho dân tộc được gọi là phái bạo động mà người đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu (1867- 1941) Những người giành vị trí ưu tiên cho việc vận động duy tân, tạo tiềm lực nội tại về lâu dài cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc được gọi là phái cải cách với đại diện tiêu

biểu là Phan Chu Trinh (1872- 1926)

Đối với Phan Bội Châu, phương châm hoạt động mà ông theo đuổi đó là: “Giáo dục dữ bạo động thời tịnh hành” (giáo dục và bạo động cùng tiến hành song song) [Phan Bội Châu 2001: 124] Để thực hiện được mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc, đầu năm 1905 Phan Bội Châu đã lên đường sang Nhật tìm kiếm sự giúp đỡ

về quân sự từ quốc gia này Điều này cho thấy, phương thức

mà Phan Bội Châu chọn lựa để giành lại độc lập cho dân tộc về cơ bản vẫn chưa

có sự khác biệt nhiều so với phương thức mà các sĩ phu chống Pháp thời kỳ Cần Vương đã chọn, và cũng chính vì thế mà không tạo được sức hấp dẫn đối với Phan Bội Châu

(1867- 1941)

Trang 22

những người theo phái cải cách Tuy nhiên, khi được tận mắt chứng kiến sự phát triển của Nhật Bản, Phan Bội Châu đã nhận ra: để có thể giải phóng dân tộc trước hết người Việt cần phải có thực lực của chính mình và ông đã chuyển hướng sang việc gửi thanh niên sang Nhật Bản du học, tranh thủ học tập tri thức mới của các nước phương Tây để tăng cường thực lực, chờ thời cơ tiến hành bạo động về sau Việc cầu viện quân sự đến đây đã trở thành phong trào xuất dương du học, mở đầu

cho phong trào Đông du

Trái ngược với Phan Bội Châu, phương châm hoạt động của Phan Châu Trinh là: “Chỉ nên trông cậy ở chính mình, chớ vọng ngoại vì vọng ngoại ắt là chết Hãy coi trọng nền hòa bình của đất nước nếu chúng ta không muốn mua lấy cái chết Những sự giải thoát của

chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ” [Lê Thị Kinh 2001:155] Sự thất bại liên tiếp của phong trào Cần Vương đã làm cho Phan Châu Trinh thay đổi nhận định của mình

về con đường vũ trang bạo động và hiệu quả của nó trong những điều kiện lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX Ông đã nhất trí cùng một số nhà Nho cùng chí hướng như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp là trước mắt cần phát động một cuộc vận động duy tân rộng khắp trong nhân dân, không thể nôn nóng bạo động vì chưa đủ điều kiện Sau khi sang Nhật (1906), tận mắt chứng kiến sự phát triển của quốc gia này, Phan Châu Trinh đã cùng các nhà Nho khác tiến hành công cuộc vận động cải cách văn hóa: “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Ông chủ trương trước hết phải dựa vào người Pháp để có thể tiến hành những cải cách cần thiết, đánh đổ quân chủ, xây dựng dân quyền Nhờ đáp ứng được yêu cầu bức thiết của quần chúng và của thời đại, phong trào Duy tân đã nhanh chóng lan rộng trong tỉnh Quảng Nam, các nông hội, hội buôn, xưởng dệt, trường học theo lối mới ra đời ngày càng nhiều, mọi người đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, bỏ rượu chè, bài trừ hủ tục, dị đoan, cổ động dùng hàng nội hoá…

Phan Chu Trinh

(1872-1926)

Trang 23

Như vậy, về hình thức, phương pháp, tổ chức và tính hợp pháp thì giữa hai phái cải cách và bạo động có một khoảng cách nhất định Tuy nhiên, ranh giới giữa hai phái không phải lúc nào cũng nghiêm ngặt mà dường như đã có sự phân công, phối hợp với nhau cùng hoạt động giữa các sĩ phu, trong phái cải cách vẫn

có người ngầm trợ giúp cho phái bạo động và ngược lại Và trên hết, hai phong trào Đông du và Duy tân vẫn thống nhất với nhau ở một điểm cơ bản đó là cần phải nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, chấn hưng kinh tế để tạo tiềm lực nội tại cho đất nước Chính sự thống nhất chung này của hai phái đã làm nên một trong những tiền đề cơ bản cho sự xuất hiện của Đông Kinh Nghĩa Thục sau này

1.1.2 Tiền đề văn hóa - xã hội

1.1.2.1 Ngay từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX, bên cạnh xu

hướng chống Pháp trên mặt trận vũ trang, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện xu hướng chống Pháp bằng con đường canh tân, cải cách đất nước Hàng loạt những đề nghị canh tân, học tập văn minh, kỹ thuật phương Tây để phát triển đất nước của các nhà cải cách: Đặng Huy Trứ (1825-1874), Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), Phạm Phú Thứ (1821-1882), Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898), Bùi Viện (1844-1878), Đặng Xuân Bảng (1828-1910), … đã được đưa ra trình bày trước triều đình Trong những đề nghị cải cách ấy, việc chỉnh đốn lại nền học thuật, xem trọng cái học gắn liền với cuộc sống thực tế được các nhà canh tân nhất loạt đề ra Các đề nghị cải cách trên tuy cũng được triều đình quan tâm và đem ra thực thi đôi chỗ, thế nhưng,

do thiếu quyết đoán và sự thực là cũng không đủ năng lực để thực hiện một cách toàn diện nên cùng với thời gian, khi đất nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân pháp sau hiệp ước Patenôtre (1884), các đề nghị canh tân ấy cũng không còn điều kiện để thực hiện nữa đúng như lời của Nguyễn Lộ Trạch: “Đại thế ngày nay không còn là đại thế như ngày trước Ngày trước còn có thể làm mà không làm, ngày nay muốn làm mà không còn thì giờ và làm không kịp” [Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang 1995: 105]

Trang 24

Mặc dù các đề nghị canh tân đất nước trong nửa cuối thế kỷ XIX chưa đủ sức làm thay đổi cục diện đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ đó nhưng các đề nghị canh tân này cũng đã góp phần tạo nên một tiền đề, một cơ sở để các nhà duy tân Việt Nam đầu thế kỷ XX - trong điều kiện lịch sử đã đổi khác, trên cơ sở tiếp thu ý thức hệ dân chủ tư sản từ sách báo nước ngoài (Tân thư) - dựa vào đó phát động nên phong trào vận động cải cách văn hóa nước nhà vô cùng sôi nổi trên phạm vi toàn quốc

1.1.2.2 Một trong những sự kiện có tác động rất lớn đến nhận thức của giới

sĩ phu Việt Nam đầu thế kỷ XX là sự xuất hiện của các Tân thư Tân thư là các sách báo chủ yếu được dịch tóm tắt lấy nội dung chính nhằm giới thiệu những kiến thức mới về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội của phương Tây Phần lớn Tân thư ở Việt Nam được viết bằng chữ Hán vốn được dịch từ các sách Nhật Bản hoặc

từ sách báo phương Tây

Xét từ nội dung, Tân thư có thể được chia thành ba loại:

+ Các sách có nội dung mở rộng kiến thức, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình lịch sử, địa lý, kỹ thuật, chế độ chính trị… của các nước ngoài phương Đông để hiểu và tự đánh giá về thực trạng đất nước mình của một số tác giả Trung Quốc

thời kỳ nhà Thanh như quyển Tứ châu chí (1841) của Lâm Tắc Từ, Hải quốc đồ

chí (1852) của Ngụy Nguyên… Có lẽ đây là những sách tân thư đầu tiên của

Trung Quốc nói riêng và phương Đông nói chung thời cận đại Từ những quyển sách này, lần đầu tiên lý thuyết Trung Quốc là trung tâm đã bị đem ra xét lại, đặt Trung Quốc vào vị trí chỉ là một thành viên của thế giới, thậm chí là một thành

viên yếu kém Với Hải quốc đồ chí, lần đầu tiên tư tưởng “sư Di trường kỹ dĩ chế

Di” (tôn người phương Tây làm thầy về kỹ thuật, học họ để chống lại họ) xuất

hiện Thế nhưng nếu như Hải quốc đồ chí nhanh chóng được truyền vào Nhật Bản,

góp phần kích thích những nhà duy tân Nhật thì nó lại bị thờ ơ lạnh nhạt ngay trên chính quê hương mình

Trang 25

Cùng nằm trong loại sách tìm hiểu phương Tây còn có các sách dịch giới thiệu những kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội của phương Tây như thuyết tiến hóa xã hội của Darwin, Lịch sử cách mạng Pháp, Lịch sử thống nhất nước Đức, nước Ý, Lịch sử duy tân nước Nhật, Lịch sử tư tưởng Tây Âu Tư tưởng Tây Âu, đặc biệt là triết học Ánh Sáng thế kỷ XVIII với những tác gia tiêu biểu như Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Tất cả những sách này đều được dịch ra chữ Hán bởi những nhà Tây học Nhật Bản, Trung Quốc như Phúc Trạch

Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Trung Giang Triệu Dân (Nakae Chômin), Quách Sùng Đào, Ngụy Nguyên, Nghiêm Phục,

+ Các sách mang nội dung đòi hỏi đổi mới, phê phán tư tưởng bảo thủ, không chịu chấp nhận cái mới Tiêu biểu cho loại này là các tác phẩm của các nhà

cải cách Trung Hoa trong đó nổi bật nhất là Tân học ngụy kinh khảo, Khổng Tử

cải chế khảo – hai tác phẩm quan trọng của Khang Hữu Vi Các tác phẩm này

mượn cớ khảo cứu, bàn luận về sách cổ để tấn công vào tư tưởng, thể chế phong kiến tạo nên phong trào duy tân Cùng nằm trong loại Tân thư này còn có một số

Tân báo như Vạn quốc công báo, Tân dân tùng báo… chính các Tân thư và Tân

báo này đã được truyền sang Việt Nam, khuyến khích các nhà Nho Việt Nam mạnh dạn tiến vào con đường duy tân

+ Ngoài ra, Tân thư ở Việt Nam còn có một số sách của một số trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX để lại Đứng trước nguy cơ bị các cường quốc phương Tây xâu xé, một số trí thức Việt Nam đã đề ra biện pháp cứu nguy cho dân tộc và biện pháp mà họ đề ra không có gì khác hơn là Việt Nam phải nhanh chóng học tập phương tây để canh tân đất nước Loại Tân thư này thường là các loại tấu, cáo, thư

từ gửi lên vua như các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch

Như vậy, nhìn một cách toàn diện, Tân thư phản ánh hiện tượng gặp gỡ giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây và hiện tượng này không giới hạn ở một quốc gia nào mà nó phổ biến ở tất cả các quốc gia phương Đông có điều

Trang 26

kiện văn hóa tương đồng Quá trình du nhập những tư tưởng văn minh phương Tây vào Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một quá trình phức tạp, nhiều tầng nấc và trong quá trình này, Nhật Bản đã chiếm giữ một vị trí cực kỳ quan trọng

Để phục vụ cho quá trình cải cách đất nước theo mô hình các nước phương Tây, các nhà canh tân Nhật Bản đã dịch hàng loạt sách của các học giả Âu - Mỹ Trong giai đoạn đầu, các sách thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật được ưu tiên chọn dịch nhưng sau đó người Nhật đã giành sự chú ý thích đáng cho các sách tư tưởng, triết học, xã hội và dần dần mở rộng ra đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật nổi tiếng

Ngoài các sách dịch, các tác giả Nhật Bản cũng góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền phổ biến tư tưởng văn minh hiện đại phương Tây Trong những tác phẩm của mình, các học giả Nhật Bản đã nhận định một cách xác thực và khách quan về sức mạnh của phương Tây Họ cho rằng những đặc tính như tinh thần khoa học, óc cầu tiến, tính tự lập, tinh thần dân chủ, biết chấp nhận cái mới chính là lý do sâu xa đã làm nên sức mạnh cho các nước phương Tây Trong số các tác giả này, Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát: 1835-1901) là người có ảnh hưởng rất lớn, ông viết nhiều sách giới thiệu phương Tây, giới thiệu tính cá nhân của con người phương Tây và qua đó chỉ ra con đường giữ vững nền độc lập quốc gia Khi so sánh sự khác biệt giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, Fukuzawa cho rằng vì văn hóa phương Đông và phương Tây dựa trên những giá trị đạo đức và quan niệm về kinh tế rất khác nhau nên cả hai nền văn hóa đều

có những “sở trường, sở đoản riêng biệt” [Fukuzawa Yukichi 2005: 292] Mặc dù vậy, “nếu xét về sức mạnh của một quốc gia, về phú quốc cường binh và vấn đề hạnh phúc của người dân thì các quốc gia ở phương Đông phải chịu lùi bước trước các quốc gia phương Tây” [Fukuzawa Yukichi 2005: 292] Theo Fukuzawa, sở dĩ

có sự chậm trễ này là do nền văn hóa phương Đông “về mặt hữu hình, thiếu các khoa học tự nhiên và về mặt vô hình, thiếu tinh thần độc lập” [Fukuzawa Yukichi

Trang 27

2005: 292] Để giữ vững chủ quyền quốc gia, Fukuzawa cho rằng Nhật Bản trước hết phải tiếp thu văn hóa phương Tây và phải tiếp thu trong một thời gian ngắn nhất Ông khẳng định: “phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ra ngoài văn minh ( ) Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh của quốc dân chính

là phương tiện để đạt mục tiêu đó” [Fukuzawa Yukichi 2005: 18] Như vậy, phương sách hữu hiệu nhất để giữ vững nền độc lập quốc gia theo Fukuzawa không phải là bằng súng đạn mà bằng cách tiếp thu văn hóa phương Tây để đuổi kịp họ và khi tiếp thu văn hóa phương Tây, điều quan trọng và khó khăn nhất là phải tiếp thu tinh thần khoa học và tính cá nhân tự lập của họ - vốn là những thứ

mà phương Đông còn thiếu - còn những thứ bên ngoài của văn hóa phương Tây như áo quần, nhà cửa, đồ ăn thức uống chỉ là thứ yếu mà thôi Có thể nói, khi xem văn hóa như một phương tiện hữu hiệu để giữ vững nền độc lập quốc gia, Fukuzawa đã đưa ra một cách nhìn, một chiến lược vô cùng mới mẻ, chưa hề có ở các quốc gia phương Đông vốn có nền văn hóa lâu đời

Sau thất bại thảm hại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895), sự nhục nhã đã lay chuyển lòng tin người Trung Hoa vào sức mạnh văn hóa của mình Những sĩ phu Trung Quốc theo khuynh hướng cải lương như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu chủ trương rằng Trung Quốc nếu muốn sống còn phải sớm canh tân theo gương Nhật Bản Khi Chính biến Mậu Tuất (1898) thất bại, phong trào Đông Du (du học bên Nhật) ở Trung Quốc nổi lên rầm rộ Lý

do người Trung Quốc chọn Nhật Bản là nơi du học lý tưởng cho mình theo Trương Chi Động là “sang Nhật du học so với đi Âu-Mỹ đường gần và ít tốn kém , văn hóa Nhật Bản gần gũi với văn hóa Trung Quốc, dễ hiểu, sách Tây rất phức tạp, những gì không thiết thực người Nhật đã lược bỏ rồi Phong tục Nhật Bản gần gũi với phong tục Trung Quốc, dễ học tập, dễ tiếp thu” [Trường ĐH KHXH & NV 1997: 16]

Cùng với phong trào Đông Du là phong trào dịch thuật sách tiếng Nhật sang tiếng Hán Sách được dịch có nhiều loại: từ triết học, khoa học xã hội, khoa

Trang 28

học tự nhiên cho đến những loại sách thường thức hàng ngày Nhận định về phong trào dịch sách Nhật sang Trung Quốc đầu thế kỷ XX, Lương Khải Siêu cho biết:

“có hàng chục tập san chuyên xuất bản những bài dịch từ tiếng Nhật Cứ mỗi lần

có một cuốn sách mới xuất hiện ở Nhật lại có vài ba dịch giả Các tư tưởng mới lan tràn như đám cháy” [dẫn theo Vĩnh Sính 2001: 172]

Ngoài việc dịch sách, những trí thức Trung Quốc khi đứng trước sự suy vong của đất nước đã viết nhiều tân thư để thổi vào Trung Quốc luồng gió duy tân, tấn công vào tư tưởng, thể chế phong kiến; nhấn mạnh nhân quyền, quyền bình đẳng của con người; nghiên cứu lịch sử dân tộc nhằm thức tỉnh tinh thần yêu nước, chống chuyên chế, đề cao ý thức chống ngoại xâm, ý thức dân chủ Tiêu

biểu cho những tân thư này là Đại đồng thư, Thực lý công pháp toàn thư của Khang Hữu Vi; Mậu tuất chính biến, Trung Quốc hồn, Tân dân tùng báo, Tân tiểu

thuyết, Ẩm băng thất thi thoại… của Lương Khải Siêu… Những Tân thư này đã

góp phần thổi bùng lên ngọn lửa duy tân ở Trung Quốc trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Nếu như phong trào dịch thuật, giới thiệu nền văn minh phương Tây được diễn ra một cách sôi nổi ở Nhật Bản, Trung Quốc thì ở Việt Nam, việc tuyên truyền, phổ biến Tân thư lại phải tiến hành một cách bí mật, con đường sách vào

vô cùng khó khăn, phải vượt qua hàng rào kiểm duyệt rất khắt khe Tân thư vào Việt Nam có hai nguồn: một nguồn Tân thư trong nước do một số trí thức cuối thế

kỷ XIX để lại và một nguồn từ nước ngoài đưa vào

Theo các tài liệu còn giữ lại được cho đến hiện nay, có lẽ người đầu tiên tiếp xúc và mang Tân thư vào Việt Nam là Nguyễn Trường Tộ - một trí thức Thiên chúa giáo xuất thân từ Hán học và được tiếp cận với tri thức phương Tây từ rất sớm Xác nhận việc Nguyễn Trường Tộ tiếp xúc với Tân Thư, nhà nghiên cứu Trương Bá Cần đã viết:

Trang 29

Ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Tây phương, trước tiên có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp chủ yếu là giám mục Gauthier Nguyễn Trường

Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây

Âu, thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc các sách báo của Tây phương, bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và nhất là đọc các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách chữ Hán thuộc loại Tân Thư Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có được một số kiến thức khá rộng lớn về khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội của Tây Phương [Trương Bá Cần 2002: 23]

Từ những kiến thức Tây học có được từ Tân thư cộng thêm những trải nghiệm cá nhân từ thực tế, Nguyễn Trường Tộ đã nhận thức sâu sắc đâu là xu hướng văn minh trên thế giới lúc bấy giờ Ông cho rằng, sở dĩ phương Tây hùng mạnh là nhờ nền văn minh của họ, thế mạnh của phương Tây là tinh vi và “học thuật tinh vi thì sinh ra kỹ xảo Kỹ xảo đến cực điểm thì trở nên mạnh và làm thay đổi hẳn cái hèn kém mông muội trước kia” [Trương Bá Cần 2002: 157] Từ nhận thức đó, trong mười năm ông đã miệt mài gửi cho vua Tự Đức 58 bản điều trần (1861-1871) xin cải cách mọi mặt: chính trị, giáo dục, kinh tế, xã hội, ngoại giao thế nhưng, như đã biết, Nguyễn Trường Tộ đã chẳng bao giờ được thực hiện được ý tưởng của mình

Người có công đưa những kế hoạch cải cách cùng với những Tân thư của Nguyễn Trường Tộ đến với các sĩ phu Việt Nam đầu thế kỷ XX là Nguyễn Lộ Trạch (1853 -1898) Ông vốn là con rể của Trần Tiễn Thành - quan Phụ Chính đại thần và là người có mối quan hệ mật thiết vói Nguyễn Trường Tộ khi ông này còn

Trang 30

sống Nguyễn Lộ Trạch đã có cơ hội tiếp xúc với các bản điều trần của Nguyễn

Trường Tộ cùng với những sách báo viết bằng chữ Hán như Doanh hoàn chí lược,

Bác vật tân biên, Hàng hải kim châm là những Tân thư nổi tiếng ở Nhật Bản và

Trung Quốc lúc bấy giờ Chính nhờ những Tân Thư ấy mà Nguyễn Lộ Trạch quyết định tiếp tục con đường canh tân đất nước mà Nguyễn Trường Tộ đã vạch

ra Ông đã trình bày những dự tính canh tân đất nước của mình trong những bài

viết gởi cho vua Tự Đức như Thời vụ sách thượng, Thời vụ sách hạ và đặc biệt là

Thiên hạ đại thế luận Mặc dù bị triều đình bỏ qua nhưng những bài viết của ông

đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của một số trí thức cùng thời trong đó có Nguyễn Thượng Hiền - người đỗ Hoàng Giáp trong kỳ thi Đình năm 1892 và đồng thời là bạn của Nguyễn Lộ Trạch Chính Nguyễn Thượng Hiền đã đem văn

chương của Nguyễn Lộ Trạch cùng một số Tân thư Trung Quốc như Trung Đông

chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ, Doanh hoàn chí lược và một số tác phẩm khác của

Lương Khải Siêu vừa mới được truyền sang nước ta sau Mậu Tuất chính biến cho Phan Bội Châu và những nhà Nho quen biết khác xem Điều này đã được chính Phan Bội Châu xác nhận: “Tiên sinh (Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền) có tàng trữ những văn chương của ông Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch xưa nay chưa cho ai xem

Tôi được đọc bài “Thiên hạ đại thể luận” của ông Kỳ Am mà nhân đó tư tưởng mới măng mầm nơi tôi Tiên sinh lại cho tôi mượn mấy pho sách như “Trung

đông chiến kỷ”, “Phổ Pháp chiến kỷ” cùng pho “Dinh hoàn chí lược” Tôi về

xem những pho sách ấy mới hiểu qua được thời trạng cạnh tranh ở trong hoàn hải” [Phan Bội Châu 2001: 59]

Tân thư ở Việt Nam còn có một nguồn cung cấp khác đến từ bên ngoài đó

là những Tân thư, Tân báo được đưa từ Trung Quốc sang Những Tân thư Trung Quốc được đưa vào nước ta từ những năm cuối thế kỷ XIX qua các cửa cảng Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, là những nơi có đông đảo người Hoa cư trú làm

ăn Trong hồi ký của mình, ông Đặng Thai Mai cho biết: “qua trung gian của các phố buôn tàu ở Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn, Huế, có thể mua được khá nhiều báo

Trang 31

chí, tân thư, sách dịch của nhóm Lương Khải Siêu xuất bản từ bên Nhật - một dịp thuận lợi để các nhà Nho tìm hiểu tình hình chính trị văn hóa các cường quốc Âu

1.1.2.3 Bên cạnh sự tác động từ Tân thư, quá trình vận động cải cách văn

hóa nước nhà sang chiều hướng hiện đại không thể không nhắc đến tính chất hai mặt của quá trình đồng hóa mà nhà cầm quyền Pháp đã thực hiện ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Để cắt đứt những ảnh hưởng văn hóa truyền thống của dân tộc và khu vực đồng thời để Pháp hoá Việt Nam, người Pháp chủ trương loại bỏ hẳn chữ Hán

và nền Hán học ở đây và đồng thời ra sức thiết lập một hệ thống giáo dục mới Trong hệ thống giáo dục mới này, chữ Pháp được dùng như là ngôn ngữ chính và chữ Quốc ngữ - vốn trước đây chỉ là một phương tiện truyền đạo của các thừa sai trong việc tiếp xúc và rao giảng Thánh kinh cho người bản xứ - nay được xem là một công cụ đắc lực cho công cuộc đồng hoá và được truyền bá rộng rãi Sau khi chiếm đóng Nam kỳ năm 1867, hải quân đô đốc De Lagrandière liền cho mở ở mỗi tỉnh lỵ một trường tiểu học, chương trình lúc đầu chỉ có học đọc, học viết chữ

Trang 32

Đi đôi với phương án mở trường học, nhà cầm quyền Pháp còn ra những nghị định bắt buộc người dân Việt Nam đến năm 1882 phải dùng chữ Quốc ngữ để soạn thảo công văn thư từ thay cho chữ Hán Nghị định ngày 6.4.1878 ghi rõ:

“không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép, trong ngạch phủ, huyện, tổng, đối với bất cứ ai không ở trong tình trạng viết được chữ quốc ngữ” [Nguyễn Văn Trung 1974: 12] Ngày 17.3.1879, Pháp thiết

lập Sở học chính Nam kỳ (Service de l’ Instruction Publique) và đặt chương trình

giáo dục hệ Pháp -Việt tại vùng này, đánh dấu sự mất địa vị chính thống của Hán học ở đây Tiếp theo, ngày 30.1.1882 Pháp lại ra nghị định: “Kể từ ngày hôm nay (30.1.1882), việc chỉ dùng những mẫu tự Pháp trở thành bắt buộc trên toàn cõi Nam kỳ thuộc Pháp, trong những giấy tờ chính thức viết bằng tiếng An-nam” [Nguyễn Văn Trung 1974: 16-17] nghĩa là từ đây, mọi công văn phải được viết bằng tiếng Pháp hoặc phải kèm theo bản dịch bằng tiếng Pháp nếu như viết bằng tiếng Việt Với nghị định này, Pháp đã thủ tiêu hoàn toàn tư cách ngôn ngữ – văn

tự chính thức của cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ Latin (từ nay xin gọi là chữ Quốc ngữ) ở Nam kỳ

Sau khi triệt tiêu được nền Hán học ở Nam kỳ, Pháp liền đem hệ giáo dục Pháp-Việt ra Bắc và Trung kỳ Ngày 27.4.1904 nhà cầm quyền Pháp ra nghị định chính thức thiết lập chương trình giáo dục hệ Pháp -Việt ở Bắc kỳ, chủ yếu sử dụng tiếng Pháp nhằm loại bỏ dần nền Hán học ở đây

1 Nay là trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Q3, Tp.HCM

Trang 33

Những chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa Việt Nam của Pháp trên thực

tế đã tạo ra những tác động rất lớn đến xã hội Việt Nam vào những năm cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Có thể nói, với những chính sách trên, người Pháp đã từng bước tạo nên một “dấu lặng”, một sự đứt gãy trong mối quan hệ văn hoá Việt

- Trung đã từng tồn tại hàng ngàn năm qua ở Việt Nam Thế nhưng, xét từ một phương diện khác, việc thiết lập nên hệ thống giáo dục mới lại có những tác động tích cực nhất định đến quá trình vận động và phát triển văn hóa Việt Nam theo chiều hướng hiện đại hóa Tuy rằng chưa bao giờ Pháp xem chữ Quốc ngữ là thứ chữ văn hóa thế nhưng, cũng chính từ quá trình thực hiện từng bước việc thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ và sau đó là chữ Pháp như đề nghị của giám mục Puginier [xem Nguyễn Văn Trung 1974: 8-9] mà vô hình trung, Pháp đã góp phần quan trọng trong việc “xã hội hóa chữ Quốc ngữ” [Nguyễn Văn Hiệu 2002: 22] vốn đã có từ trước nhưng vẫn còn xa lạ với đại đa số người Việt

Quá trình xã hội hóa chữ Quốc ngữ ở Việt Nam được diễn ra trước hết ở Nam kỳ là phần đất do Pháp trực tiếp cai trị Thông qua những tác động từ phía nhà cầm quyền cùng với hoạt động của những người đầu tiên truyền bá học thuật

và tư tưởng Âu -Tây bằng chữ Quốc ngữ như: Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Huỳnh Tịnh Của (1830-1907), Trương Minh Ký (1855-1900), Nguyễn Trọng Quản (1865-1911)… mà đến những năm đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đã trở nên phổ biến ở Nam kỳ và thể hiện được tính ưu việt của mình: hệ thống, tiện lợi, chỉ cần “mất không tới sáu tháng mà học ngay được văn tự của tiếng mình” đúng như nhận xét của các nhà Nho trong Đông Kinh Nghĩa Thục [Chương Thâu (chủ biên) 1996: 451]

Tình hình cũng tương tự như vậy ở Bắc kỳ, theo thống kê của G Dumoutier thì: “ngay từ 1885 Brière de l’ Isle đã tổ chức được 2 trường học ở Hà Nội và Lạng Sơn, đến năm 1886, Paul Bert sang Bắc kỳ và chỉ một năm sau ông

đã tổ chức được 9 trường Tiểu học con trai và 7 trường Tiểu học con gái dạy theo chương trình Tiểu học Nam kỳ và 117 lớp dạy chữ Quốc ngữ ở hầu khắp các tỉnh

Trang 34

Bắc kỳ Từ năm 1887 trở đi, chính quyền Pháp đã tổ chức trường học đến vùng thượng lưu sông Hồng như Sơn Tây, Thanh Ba (Phú Thọ), Tuần Quán… trường học cũng được tổ chức tới vùng biên giới Việt - Trung thu hút con em của các dân tộc ít người như Tày, Thái, Cao Lan đến học Riêng ở Hà Nội, số trường học dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ đến đầu thế kỷ XX đã có 15 trường Tiểu học với 380 học sinh” [Dẫn theo Phan Trọng Báu 1999: 93] Đây chính là tiền đề quan trọng

để các nhà Duy tân nhận ra vai trò của chữ Quốc ngữ trong công cuộc cải cách nền văn hóa nước nhà để qua đó tiến hành mở trường học, vận động phổ biến chữ Quốc ngữ trong phạm vi toàn quốc

1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Trong bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội nêu trên, đầu năm 1907 một nhóm nhà Nho yêu nước có tư tưởng duy tân đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục2 tại Hà Nội

Đông Kinh Nghĩa Thục hoàn toàn khác hẳn những trường dạy chữ Nho cũ, cũng không giống các trường Pháp - Việt đương thời Trường chủ trương dạy bằng chữ Quốc ngữ là chính, kèm thêm chữ Hán, chữ Pháp Chương trình học chú trọng vào những môn khoa học thường thức và thực nghiệp Trường áp dụng một phương pháp giảng dạy mới với nhiều hình thức sinh động: giảng sách, đọc báo, bình văn, diễn thuyết và những buổi sinh hoạt ngoại khoá nói chuyện thời sự hoặc khoa học

Được xây dựng theo mô hình trường Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio Gijuku) do Fukuzawa Yukichi sáng lập năm 1858, tuy nhiên, do hoàn cảnh hai nước Việt - Nhật hoàn toàn khác nhau nên mục tiêu mà Đông Kinh Nghĩa Thục

2 Tên Đông Kinh Nghĩa Thục có rất nhiều ý nghĩa: Đông Kinh vừa là tên gọi của Hà Nội thời nhà Hồ (Đông Đô), vừa là cái tên mà người Pháp dùng để gọi Bắc Kỳ (Tonkin) và đồng thời, Đông Kinh cũng lại là phiên âm chữ Hán của thủ đô Tokyo (Nhật Bản), nơi Khánh Ứng Nghĩa Thục ra đời; Nghĩa thục: trường dạy học không lấy tiền

Trang 35

hướng đến có khác với Khánh Ứng Nghĩa Thục Tuy mang danh nghĩa là một trường học nhưng thực chất Đông Kinh Nghĩa Thục là một trung tâm vận động cải cách văn hóa Thông qua nội dung giảng dạy và các hoạt động ngoại khoá, nhà trường đã tạo ra một phong trào cách tân văn hóa nước nhà, mở mang dân trí, làm cho xã hội văn minh, tiến bộ để nhắm đến mục đích cuối cùng là giành độc lập cho đất nước

1.2.1 Quá trình hình thành trường Đông Kinh Nghĩa Thục

Theo những tư liệu lịch sử, sau khi sang Nhật vào năm 1906, cùng với Phan Bội Châu tham quan trường Khánh Ứng Nghĩa Thục ở Đông Kinh (Tokyo) trở về, Phan Châu Trinh đã tìm gặp Lương Văn Can - một sĩ phu Bắc Hà - bàn kế hoạch lập ra một nghĩa thục theo mô hình trường Khánh Ứng Nghĩa Thục để mở mang dân trí Một thời gian sau, khi Phan Bội Châu về nước và “nhân cơ hội đó, hai cụ Phan, cụ Lương, cụ Tăng (Tăng Bạt Hổ) họp nhau ở phố Hàng Đào, và trong cuộc hội họp ấy, Đông Kinh Nghĩa Thục được quyết định mở, gây nổi một phong trào duy tân trong nước” [Nguyễn Hiến Lê 2002: 44]

Cũng theo Nguyễn Hiến Lê, chỉ ít lâu sau cuộc họp trên, các sĩ phu lại họp một lần nữa “để tổ chức nghĩa thục và phân phối công việc Lần này vắng mặt cụ Tăng và cụ Sào Nam, nhưng thêm nhiều nhà Nho khác như Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hải Thần… và vài nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… Hết thảy đều cử cụ Lương Văn Can làm thục trưởng, cụ Nguyễn Quyền làm học Giám; cụ Tây Hồ không lãnh chức gì cả vì cụ muốn về Trung gõ chuông thức tỉnh đồng bào trong đó (…) Các cụ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn tự đảm nhiệm việc việc xin giấy phép mở trường, và tức thì thảo đơn gởi phủ Thống sứ (… ) Chương trình của hội là hãy lập một trường ở Hà Thành rồi tuyên truyền về các vùng lân cận bằng các cuộc diễn thuyết; khi nào công việc tấn triển khả quan sẽ lập chi nhánh ở khắp nơi” [Nguyễn Hiến Lê 2002:

51, 52] Địa điểm được chọn để mở trường là ngôi nhà số 4 phố Hàng Đào của

Trang 36

Lương Văn Can và “khi nào số học sinh đông, sẽ mướn thêm ngôi nhà số 10 ở bên cạnh” [Nguyễn Hiến Lê 2002:52]

Mặc dù chưa được giấy phép nhưng khoảng tháng 3.1907, trường vẫn tạm thời mở hai lớp chuyên dạy chữ Quốc ngữ: một nam, một nữ, học sinh theo học hai lớp này theo Nguyễn Hiến Lê là khoảng 60-70 người, phần đông là con cháu của các hội viên [Nguyễn Hiến Lê 2002: 55] Đến tháng 5, Thống sứ Bắc kỳ mới cấp giấy phép cho trường, từ đó trường chính thức họat động

Qua những điều vừa trình bày, có thể nói quá trình hình thành Đông Kinh Nghĩa Thục gắn liền với tên tuổi của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Lương Văn Can Chính Phan Châu Trinh là người đã đóng vai trò là chiếc cầu nối nối kết Đông Kinh Nghĩa Thục với phong trào Duy tân đang phát triển rầm rộ ở miền Trung Chính Phan Chu Trinh đã giới thiệu mô hình Khánh Ứng Nghĩa Thục để các sáng lập viên Đông Kinh Nghĩa Thục dựa vào đó vạch ra chương trình và phương thức hoạt động cho trường Lương Văn Can là người chịu trách nhiệm chính trong Đông Kinh Nghĩa Thục đồng thời ông lại có mối quan hệ mật thiết với cả hai phái bạo động và cải cách Theo Đào Trinh Nhất, Lương Văn Can là “một danh vọng to tát trong giới cách mệnh ở Thăng Long, phàm văn thân chí sĩ trong nước đã hoạt động chống thực dân không ai không biết tiếng” [Đào Trinh Nhất 1957: 9,10] Chính Lương Văn Can là một trong những người đầu tiên hưởng ứng phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng bằng việc cho hai người con là Lương

Lương Văn Can (1854-1927)

Trang 37

Ngọc Quyến, Lương Ngọc Nhiễm và bốn người học trò khác sang Nhật vào năm 1905; cũng chính ông là người được Phan Châu Trinh tìm đến để bàn kế hoạch mở trường dạy học vào tháng 8.1906 Qua mối quan hệ giữa Phan Bội Châu - Lương Văn Can - Phan Châu Trinh, chúng ta phần nào hình dung được mối quan hệ giữa Đông Kinh Nghĩa Thục với hai phái Bạo động và Cải cách Có thể nói, Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập phần lớn là nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của cả hai phái, trong cuộc họp đầu tiên quyết định thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục các thành viên của cả hai phái Bạo Động và Cải Cách đều có mặt và đóng góp ý kiến Tuy nhiên, dù nhận sự giúp đỡ của Phan Bội Châu nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ hưởng ứng phong trào xuất dương du học của Phan Bội Châu mà thôi; nhận sự giúp đỡ của Phan Châu Trinh nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục không ảo tưởng như Phan Châu Trinh khi chủ trương dựa vào người Pháp Đông Kinh Nghĩa Thục phát triển theo đường hướng riêng của mình: không bạo động, không dựa vào người Pháp, xem văn hóa như một phương tiện hữu hiệu để giành độc lập cho dân tộc, dùng giáo dục, tuyên truyền để khai thông dân trí, xoá bỏ hủ tục, khuyến khích các hoạt động kinh doanh để nâng cao đời sống của nhân dân, tạo tiềm lực về lâu dài cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc

1.2.2 Tổ chức của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục

Trường được tổ chức thành bốn ban: Giáo dục, Tu Thư, Tài chính, Cổ động chuyên trách bốn mặt hoạt động chính của trường Hầu hết các thành viên tham gia vào hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục đều được phân phối vào bốn ban này

+ Ban giáo dục: phụ trách việc chiêu sinh và giảng dạy của nhà trường

Chương trình học của Đông Kinh Nghĩa Thục gồm có: môn Việt văn và Pháp văn

do Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Bùi Đình Tá và hai nữ giáo viên đảm nhiệm; môn Hán văn do Nguyễn Quyền, Vũ Trác, Hoàng Tích Phụng, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm, Đào Nguyên Phổ,

Trang 38

Nguyễn Hải Thần phụ trách; các môn lịch sử, địa lý và toán pháp do Trần Đình Đức, Phan Đình Đối giảng dạy

+ Ban tu thư: chịu trách nhiệm biên soạn tài liệu giảng dạy và học tập cho

giáo viên và học sinh, biên soạn tài liệu tuyên truyền cổ động cho nhà trường Theo Chương Thâu thì Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Chu Trinh và Ngô Đức Kế là “những biên tập viên chính” của trường [Chương Thâu 1997: 46] Ban tu thư lại chia thành hai ngành riêng: ngành Biên soạn với các thành viên: Phạm Tư Trực, Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Phương Sơn (Nguyễn Côn); Ngành phiên dịch với các dịch giả: Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Hoàng Tích Phụng

+ Ban tài chính: phụ trách các khoản thu chi của nhà trường Nguồn tài

chính chủ yếu của trường là do các hội viên quyên góp và đóng góp của các gia đình có con em theo học ở trường Theo Nguyễn Hiến Lê thì “tiền do cụ Lương xuất phát, nhưng sổ sách do cụ Nguyễn Quyền giữ” [Nguyễn Hiến Lê 2002: 52]

+ Ban cổ động: chịu trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chủ trương của

Đông Kinh Nghĩa Thục đến với mọi người dân Ban cổ động tổ chức bình văn, diễn thuyết, cổ động nhân dân tiếp thu những hình thức văn hoá mới: cắt búi tóc, mặc áo ngắn, để răng trắng, dùng hàng nội, xem trọng thực nghiệp, phát triển kinh doanh, bỏ hương ẩm, bỏ lối học chỉ chú trọng thi cử,… địa bàn hoạt động chính là

Hà Nội và các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây Nằm trong ban cổ động là các diễn giả nổi tiếng như Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Trần Tán Bình, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Trúc Đàm và tất nhiên là không thể thiếu sự cộng tác nhiệt tình của Phan Châu Trinh

Về cơ sở vật chất, ngoài ngôi nhà số 4 Hàng Đào của Lương Văn Can được huy động làm trụ sở chính, trường còn mở thêm các lớp học ở các đình, chùa hoặc thuê, mượn thêm nhà của tư nhân Đúng theo tinh thần “nghĩa thục”, tất cả học

Trang 39

sinh đến trường đều không phải đóng học phí (trừ môn tiếng Pháp), giấy bút, sách

vở cũng được phát không, học sinh theo học gồm nhiều độ tuổi, có cả lớp ban đêm dành cho người không có thời gian học ban ngày Những ngày rằm, mùng một âm lịch, trường tổ chức các hoạt động ngoại khoá như bình văn, đọc báo, diễn thuyết,… Ngoài ra, trường còn có một thư viện riêng và cơ quan ngôn luận là hai

tờ báo sử dụng cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ: Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút phần quốc văn và Đại Việt Tân Báo do Đào

Nguyên Phổ làm chủ bút

Như vậy, những điều kiện lịch sử, văn hóa xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ

XX như đã trình bày đã tạo thành những tiền đề cho các sĩ phu yêu nước nhận ra đường hướng phát triển mới cho dân tộc Trên cơ sở đó, họ đã phối hợp cùng nhau

mở ra một trường học duy tân hợp pháp ngay tại trung tâm xứ Bắc Cùng với việc

mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục, các sĩ phu Việt Nam đã đặt viên gạch đầu tiên chuẩn bị cho một thời kỳ mới trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc: thời kỳ văn hóa hiện đại

1.3 NHẬN XÉT CHUNG

“Bước sang thế kỷ XX, đối với Việt Nam không chỉ là bước qua một cột mốc thời gian, đi thêm một quãng đường lịch sử, mà còn là rẽ sang một con đường khác trong lịch sử phát triển” [Trần Đình Hượu 1995: 181]

Nếu như từ thế kỷ XIX trở về trước, Việt Nam có mối quan hệ mật thiết, gần như là duy nhất và chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi nền văn hóa Trung Hoa thì giờ đây, dưới tác động trực tiếp của tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội từ sau cuộc tấn công của thực dân Pháp ở Việt Nam, cộng với sự xuất hiện của các yếu tố văn hóa phương Tây cùng với tính ưu việt của nó đã làm cho mối quan hệ văn hóa Việt - Trung dần trở nên lỏng lẻo Cùng với việc rời khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, một đặc trưng khác của văn hóa Việt Nam thời kỳ này là sự

Trang 40

chuyển hướng từ quan hệ văn hóa mang tính khu vực sang tính quốc tế với những mối quan hệ văn hóa rộng lớn hơn qua sự xuất hiện của Tân thư ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Những năm đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, nông dân vẫn chiếm tuyệt đại đa

số Tư tưởng “sĩ - nông - công - thương” vẫn còn sâu nặng; tư tưởng làm giàu bằng thương mãi vẫn còn bị khinh rẻ Trong tình hình đó, những người có đủ uy tín nhất để đi tiên phong trong cuộc vận động tiếp thu văn hóa phương Tây vẫn là những trí thức yêu nước mà ta thường gọi là các sĩ phu mà số đông đứng đầu vẫn

là những nhà khoa bảng xuất thân

Chưa bao giờ trong đời sống văn hóa Việt Nam lại có không khí náo nhiệt như những năm đầu thế kỷ XX này Trào lưu tư tưởng phương Tây theo Tân thư tràn vào đã hoàn toàn khuấy động đời sống vốn tĩnh lặng của một quốc gia nông nghiệp Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên tuy cùng tiếp nhận, cùng chịu ảnh hưởng bởi Tân thư nhưng cùng một lúc ở Việt Nam lại xuất hiện hai xu hướng khác nhau, bổ trợ cho nhau cùng hoạt động: ôn hòa và bạo động mà thời đó còn gọi là “Minh xã” và “Ám xã” Sự khác nhau giữa Minh xã và

Ám xã là chủ trương giành độc lập bằng phương cách gì: bằng đấu tranh vũ trang hay bằng cải cách văn hóa, giáo dục? Tuy mỗi bên đều chọn cho mình một phương cách riêng phù hợp với tình thế hoạt động của mình thế nhưng họ đều thống nhất với nhau ở một điểm, đó là phải nỗ lực nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, phải đào tạo cho được những người yêu nước có tri thức mới: tri thức khoa học và thực nghiệp Từ cái nền chung ấy, trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã được xây dựng Cùng với hoạt động của các nhà Duy tân ở Trung và Nam kỳ, Đông Kinh Nghĩa Thục - với phương châm, đường lối hoạt động riêng của mình -

đã tạo nên một phong trào cải cách văn hóa có tính toàn quốc và thống nhất, góp phần đưa văn hóa Việt Nam đi vào một quá trình phát triển mới trong tiến trình lịch sử văn hóa của dân tộc

Ngày đăng: 16/09/2021, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bằng Giang 1992: Văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-193- Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-193
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1992
2. Bằng Giang 1994: Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký – Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Belik A.A 2000: Văn hóa học - những lý thuyết nhân học văn hóa – Hà Nội: Tạp chí văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học - những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: Belik A.A
Nhà XB: Tạp chí văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000
4. Boudarel Georges 1998: Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông – Hà Nội: Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
5. Braudel Fernand 2004: Tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới – Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới
Tác giả: Fernand Braudel
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
6. Bùi Văn Vượng (chủ biên) 2004: Phan Kế Bính Tác giả - tác phẩm – Hà Nội: Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Kế Bính Tác giả - tác phẩm
Nhà XB: Nxb Thanh niên
7. Cao Huy Thuần 2003: Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914) – Hà Nội: Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914)
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
8. Cao Xuân Huy 1995: Tư tưởng phương đông gợi những điểm nhìn tham chiếu – HN: Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương đông gợi những điểm nhìn tham chiếu
Nhà XB: Nxb Văn Học
9. Chương Thâu 1990: Ngục trung thư (in trong Phan Bội Châu toàn tập, T3) – Huế : Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngục trung thư
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
10. Chương Thâu (Chủ Biên) 1996: Văn Thơ Đông Kinh Nghĩa Thục – in trong Tổng tập văn học Việt Nam số 21 – HN: Nxb Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Thơ Đông Kinh Nghĩa Thục
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 1996
11. Chương Thâu 1997 (a): Đông kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX – HN: Nxb Văn Hoá - Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Văn Hoá - Thông Tin
12. Chương Thâu 1997 (b): Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và phong trào nghĩa thục ở các địa phương – in trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 293.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) và phong trào nghĩa thục ở các địa phương
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Năm: 1997
13. Chương Thâu 2003: Một số nhân vật lịch sử Việt Nam – Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhân vật lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14. Chương Thâu 2004: Nghiên cứu Phan Bội Châu – Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. Chương Thâu (chủ biên) 2005 (a): Phan Chu Trinh toàn tập, T1 – Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Chu Trinh toàn tập, T1
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
16. Chương Thâu 2005 (b): Phan Bội Châu nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn – Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn
Tác giả: Chương Thâu
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
17. Đăng Huy Vận, Chương Thâu 1961: Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ nửa cuối thế kỷ XIX – Hà Nội: Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ nửa cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Đăng Huy Vận, Chương Thâu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1961
18. Đặng Thai Mai 1961: Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900 - 1925) –HN: Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900 - 1925)
Nhà XB: Nxb Văn Học
19. Đặng Thai Mai 1985: Hồi ký – Hà Nội: Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký
Tác giả: Đặng Thai Mai
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1985
20. Đặng Việt Thanh 1961: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc, dân chủ đầu tiên ở nước ta – in trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 25.1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục một cuộc vận động cách mạng văn hóa dân tộc, dân chủ đầu tiên ở nước ta

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh em bé mang quả địa cầu trên vai là biểu tượng được in trên nhiều sách giáo khoa do Đông Kinh Nghĩa Thục ấn hành   - Phong trào đông kinh nghĩa thục trong tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc
nh ảnh em bé mang quả địa cầu trên vai là biểu tượng được in trên nhiều sách giáo khoa do Đông Kinh Nghĩa Thục ấn hành (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w