[d] Tác giả cho rằng phạm trù thái bị động của tiếng Việt vẫn có đủ tư cách một phạm trù ngữ pháp với điều kiện “bắt buộc” của ngữ pháp là sự có mặt của ý nghĩa ngữ pháp phải được thể h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ KIM THU
CÁCH THỨC DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG
VIỆT SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
Trịnh Sâm
TP HỒ CHÍ MINH-2006
Trang 2DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Lịch sử ngôn ngữ học đã cho thấy rằng, giữa các ngôn ngữ có rất nhiều điểm khác nhau nhưng chúng vẫn có nhiều điểm chung để tạo thành những hiện tượng thống nhất với nhau Như đã nêu trên, câu bị động trong ngôn ngữ biến hình của châu Âu mà cụ thể là tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt hiện đang là vấn đề cần được giải quyết để nhằm đi đến một cái chung nào đó giữa hai ngôn ngữ
Không chỉ có tiếng Anh mới có câu bị động và được xem là điểm ngữ pháp đặc thù mà những ngôn ngữ khác cũng có câu bị động như tiếng Pháp, tiếng Nga… Vậy thì ngôn ngữ nào cũng sử dụng ý nghĩa bị động Nhưng xuất phát từ những đặc điểm, loại hình, từ cách thức biểu đạt mà mỗi một ngôn ngữ có cách thức biểu hiện khác nhau
Hiện nay việc dạy và học ngoại ngữ đang phát triển rất nhanh ở hầu hết các nước trên thế giới và một nhu cầu thiết yếu cần phải làm hiện nay trong lĩnh vực ngôn ngữ là tìm ra điểm chung giữa hai ngôn ngữ để tạo điều kiện thuận lợi trong việc dạy và học ngoại ngữ
Là một giáo viên tiếng Anh, qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi gặp không ít khó khăn trong công việc giảng dạy về cấu trúc câu bị động Chúng tôi nhận thấy rằng người Việt khi tiếp xúc với phạm trù ý nghĩa ngữ pháp này rất lúng túng khi tri nhận về nó cũng như người Anh khi gặp tiếng Việt do ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ nên việc diễn đạt ý nghĩa câu bị động rất ngô nghê Hơn thế nữa, việc đối dịch Anh – Việt và Việt – Anh về ý nghĩa bị động hiện nay là một vấn
đề mang tính thời sự nhằm giải quyết một số vấn đề về thực tiễn , về câu bị động nói chung và ý nghĩa bị động nói riêng cũng như góp phần nhỏ bé vào việc soi sáng về một số đặc điểm loại hình ngôn ngữ , luận văn này chọn cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 3Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tiếng Việt đều được viết trên cơ sở
lý luận của truyền thống ngôn ngữ học châu Âu, mà cụ thể là tiếng Pháp Chính
vì thế không sao tránh khỏi việc nhìn tiếng Việt qua lăng kính của các tiếng châu Âu– đó là ngôn ngữ biến hình – do đó có một số định kiến cho rằng việc
mô tả tiếng Việt ở giai đoạn đầu có tính mô phỏng , hoặc bị phê phán nặng hơn là lấy bộ máy khái niệm ngữ pháp của tiếng châu u làm cơ sở
Và vấn đề về câu bị động trong tiếng Việt đã nằm trong định kiến ấy Có thể nói rằng từ trước đến giờ cũng đã có không ít những công trình ngôn ngữ học đề cập đến vấn đề câu bị động , kể cả những công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài và trong nước Vấn đề câu bị động trong tiếng Việt được xét từ nhiều góc độ khác nhau ( ngữ nghĩa , ngữ pháp, chu cảnh , lấy từ ngữ pháp tri nhận … )
Chúng ta thấy rằng , giai đoạn cận hiện đại là giai đoạn các nhà Việt ngữ học vận dụng toàn bộ những lý thuyết hiện đại nhất của ngôn ngữ học thế giới vào việc miêu tả tiếng Việt Xét trên con đường lý luận ấy mà một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng như nước ngoài có những quan điểm khác nhau về câu bị động trong tiếng Việt
Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng tiếng Việt có câu bị động hiểu như một phạm trù ngữ pháp Nhưng cũng có một số nhà ngôn ngữ học lại cho rằng không có câu bị động trong tiếng Việt Tuy rằng quan điểm của họ có khác nhau , song đáng trân trọng nhất ở họ là làm công việc nghiên cứu ngôn ngữ , cùng tìm ra những điểm riêng về cú pháp tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với những ngôn ngữ khác , đặc biệt là những ngôn ngữ có câu bị động
2.1 Dựa trên thành quả của Việt ngữ học, có thể thấy có hai khuynh hướng
nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt
2.1.1 Nhóm 1: Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng tiếng Việt có câu
bị động
a/ Theo Diệp Quang Ban thì ý nghĩa bị động của câu cũng là một phạm trù
nghĩa như thức của câu , khác chăng là nghĩa của thức của câu gắn với đích
Trang 4ngôn trung , còn ý nghĩa bị động gắn nhiều hơn với cách nhìn sự việc được
phản ánh [9:4]
Trong các câu tiếng Việt có từ bị , được đứng ngay ở đầu phần vị ngữ thì đằng
sau một trong hai từ này tồn tại khá nhiều từ hoặc tổ hợp từ có cấu tạo khác
nhau : khác nhau về cách tổ chức , khác nhau về từ loại và khác nhau vế ý nghĩa
khái quát Tác giả cho rằng điều này cần phải được phân loại
Câu [a] và [b] tác giả cho rằng không có gì khác với câu [c] và [d] sau đây
Cái nhẫn này mà được bằng vàng thì tốt biết mấy [d]
Tác giả cho rằng phạm trù thái bị động của tiếng Việt vẫn có đủ tư cách một
phạm trù ngữ pháp với điều kiện “bắt buộc” của ngữ pháp là sự có mặt của ý
nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện (đánh dấu) bằng phương tiện hình thức theo
lối ngữ pháp, nghĩa là hoặc bằng phụ tố, hoặc bằng hư từ, hoặc bằng trật tự từ
hoặc bằng các phương thức ngữ pháp khác và những phương thức ngữ pháp đó
hoặc được dùng tách riêng hoặc được dùng phối hợp với nhau
Theo tác giả, kết cấu bị động trong tiếng Việt được xác định trên những cơ sở sau:
° Phương thức ngữ pháp thích hợp với việc diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp bị động
trong tiếng Việt
° Tính chất của động từ tham gia kết cấu bị động
° Cấu trúc nghĩa của câu bị động : Các vai nghĩa có khả năng tham gia vào việc
xác định phạm vi của ý nghĩa bị động với chức vụ chủ ngữ ngữ pháp của câu bị
động và loại hình sự thể của câu bị động
Câu bị động thuộc về kiểu câu một kết cấu chủ-vị, trong kết cấu chủ – vị này có
thể vắng mặt chủ ngữ, và chủ ngữ có thể phục hồi không khó khăn mấy
Ví dụ : Giáp được khen Hoặc Giáp được (nhà trường) khen
b/ Tác giả Vũ Đức Nghiệu [31], lấy các từ được, bị, phải để nói đến ý
nghĩa bị động, tác giả đã khẳng định rằng ý nghĩa ấy là ý nghĩa “ tự nó’’ chứ
không phải là ý nghĩa bị động do sự cấu tạo dạng bị động (passive voice) đem
đến Vì vậy được , bị , phải là những từ có ý nghĩa thụ động chứ không phải là
những từ ở dạng bị động cho động từ khác Đó là những động từ có ý nghĩa
Trang 5chân thực là ý nghĩa tiếp thụ và cả ý nghĩa tình thái , đánh giá , có thể đòi hỏi và
kết hợp với nhiều loại bổ ngữ ở phía sau Ví dụ như :
Anh ấy được ông chủ tịch khen Anh ấy bị giết Anh ấy bị Polpot giết Sarin
được ông chủ tịch gọi lên văn phòng của ông ấy Sarin được ông chủ tịch gọi
lên văn phòng của ông ấy để nhận tiền Sarin bị ông chủ tịch gọi lên văn phòng
ông ấy nói cho một trận
Hay là : Được của rơi Được điểm mười Được hút thuốc Bị mưa Phải đòn
Bị nó đánh
Thông qua các quan sát và phân tích dữ liệu , tác giả cho thấy rằng : trong tiếng
Việt , các cấu trúc cú pháp bị động có thể được tạo lập nhờ những từ có ý nghĩa
thụ động hoặc với cấu trúc có từ mang nghĩa thụ động Thế nhưng , những từ
có ý nghĩa thụ động này , lại hoàn toàn không phải là những từ được biến hình
để thể hiện dạng bị động ( được hiểu với tư cách là một phạm trù ngữ pháp ) ,
cho nên có thể nói cách khác rằng : để thể hiện cái ý nghĩa tương đương với ý
nghĩa của dạng bị động trong các ngôn ngữ biến hình châu Âu, tiếng Việt ( một
ngôn ngữ đơn lập , không biến hình ) đã sử dụng các phương thức từ vựng chứ
không phải là những phương thức thuộc về ngữ pháp
c/ Nguyễn Kim Thản lấy từ bị , được để chứng minh cho quan điểm của
mình Thực tế là bị và được có thể giữ chức năng như là những động từ hoàn
toàn thực nghĩa đã dẫn đến quan điểm thứ ba cho rằng mặc dù tiếng Việt không
sử dụng các phương tiện chức năng hay hình thái học , nhưng nó lại sử dụng các
phương tiện cú pháp ( cấu trúc ) để thể hiện ý nghĩa bị động [dẫn theo 10, 223 ]
ví dụ như :
[a]
[chủ động]
[b]
[bị động]
Theo Nguyễn Kim Thản, trong [a] Pha là kẻ gây ra hàng động , bưng là động
Trang 6được diễn đạt bằng động từ bưng Từ quan điểm cấu trúc cú pháp, cấu trúc
kiểu này có thể được các nhà ngữ pháp hình thức thể hiện như : Chủ ngữ + Vị ngữ + Tân ngữ + Trạng ngữ chỉ nơi chốn Tuy nhiên có một sự thay đổi trật tự
cú pháp trong [b] Trong [a] mâm là NP2 , đứng sau động từ bưng và đóng chức năng là tân ngữ Tuy nhiên trong [b] mâm cơm vẫn là NP2 , nhưng lại đóng
chức năng là tân ngữ và đứng trước động từ bưng Nguyễn Kim Thản khẳng
định rằng việc thay đổi trật tự của cụm danh từ diễn tả chức năng tân ngữ trong [a] để nó đóng chức năng chủ ngữ và đứng trước động từ trong [b] đã cho
ra rằng [b] là câu bị động Ông viết :
“ Trong cấu trúc [a] chủ thể của hoạt động và chủ ngữ trùng với nhau, và điều đó
cho phép ta khẳng định rằng động từ bưng lên có ý nghĩa chủ động
Trong câu [b], danh từ biểu thị đối tượng lại làm chủ ngữ của câu Vì vậy có thể nói rằng câu này có ý nghĩa bị động Những ý nghĩa bị động biểu thị bằng cả một cấu trúc cú pháp như vậy không phải là dạng bị động của riêng động từ mà là ý nghĩa bị động của cả câu [dẫn theo 10: 224,225]
d/ Nguyễn Minh Thuyết lấy từ bị, được để xét về nghĩa từ vựng cũng như về
thuộc tính từ loại và chức năng cú pháp Theo tác giả thì hai từ bị, được đều có tư
cách của những vị từ/động từ bình thường Nghĩa là nó có đủ những thuộc tính ngữ pháp các từ loại vị từ nói chung , và của tiểu loại vị từ ngoại động nói riêng Nếu đi tìm thêm một đặc trưng ngữ pháp đó là khả năng có những vị từ, ngữ vị từ hay tiểu cú làm bổ ngữ trực tiếp cho nó một đặc trưng cho phép nó vào cùng một
loại với các vị từ “nhận thức , nói năng” như nghĩ, thấy, biết, nói và những vị từ
tình thái như phải, muốn, chịu, đánh, nỡ, mới [dẫn theo 18:141,142]
e/ Thừa nhận thái bị động như một phạm trù ngữ pháp trong tiếng Việt, Nguyễn Phú Phong giả định một quá trình cải biến bị động hoá gồm hai thao
tác sau :
( i ) Di chuyển bổ ngữ danh tính hay cú tính (hoặc một trong hai bổ ngữ nếu có
hai) của vị từ ra đầu câu
( ii ) Đặt một vị từ phụ trợ chỉ thái bị động vào giữa bổ ngữ (đã di chuyển) và
chủ ngữ Theo cách phân tích của tác giả này, một câu như : ‘Thuốc A chế năm
1973 ‘ , có được là do lược bỏ cả chủ ngữ chủ động lẫn trợ từ bị động được bắt nguồn từ một cấu trúc vốn là kết quả của sự cải biến bị động hoá như sau :
Trang 7“ X chế thuốc A năm 1973” Và sự cải biến bị động hoá vừa nêu được ứng
dụng cho kết cấu kiểu này ở bất cứ nơi nào ta gặp nó [dẫn theo 18 :165]
2.1.2 Nhóm 2 : Tiếng Việt không có câu bị động
a/ Tiêu biểu cho nhóm hai về quan điểm tiếng Việt không có câu bị động là
tác giả Cao Xuân Hạo Tác giả thiên về cấu trúc đề thuyết , đó là cấu trúc thường lấy chủ thể của hành động, của quá trình, của trạng thái làm chủ đề và đặc trưng ngữ pháp của chủ đề trở thành những đặc trưng ngữ pháp của một vai nghĩa, thường là vai có quan hệ nghĩa trực tiếp nhất với vị từ làm trung tâm của sở thuyết Tác giả chia ra hai trường hợp
(i) Trường hợp của những ngôn ngữ có trật tự từ ngữ tự do, hay tương đối tự
do : trong các ngôn ngữ này, cấu trúc đề- thuyết có thể được đánh dấu bằng trật
tự từ ngữ trong khi hình thái “cách” đánh dấu các vai
Ví dụ : Tôi xây nhà này và Nhà này tôi xây cho phép đặt vai “đối tượng” làm chủ đề Hoặc : Nhà xây trên bờ thì trong đó không cần hoặc không thể nhắc
đến người hành động và chủ đề được coi như ở vào một trạng thái nào đó nhiều hơn là như đối tượng của một hành động : nhu cầu đó làm phát sinh một hình thái mới của vị từ – thái bị động
(ii) Trường hợp của các ngôn ngữ có trật tự cố định (hoặc đã trở thành cố định
trong khi mất dần các hình thái cách), nhu cầu về thái bị động còn bức thiết hơn nữa, vì khó có cách gì khác để đưa một đối tượng hành động vào cương vị chủ-
đề Tác giả cho rằng thái bị động của vị từ vốn không giải quyết hết nhu cầu nói trên Thường chỉ có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp mới được làm chủ ngữ của vị từ ở thái bị động và do đó có thể đặt ở vị trí chủ đề , còn những vai khác khó có khả năng này, nhất là trong các ngôn ngữ đã quy chế hoá trật tự của từ và mất ít nhiều hay mất hẳn hình thái cách thì bây giờ trở nên thừa Tác
giả cho rằng kết cấu bị động không phải lúc nào cũng dễ dùng Câu bị động rất thiếu tự nhiên và may ra chỉ có thể dùng trong những tình huống rất đặc biệt [2: 57,58 ]
Cũng theo tác giả Cao Xuân Hạo thì thái bị động của vị từ nảy sinh là để cho danh ngữ chỉ đối thể (patients) có thể làm chủ thể logich Sự phân biệt giữa người hành
Trang 8động, đối tượng hành động, công cụ, phương thức thời gian, hành động v.v thuộc bình diện nghĩa biểu hiện, chứ không thuộc bình diện nghĩa logich
b/ Theo Nguyễn Thị Anh [18] thì thứ nhất tác giả cùng thống nhất về ý
nghĩa của các từ bị, được, phải như các tác giả ở nhóm 1 Tuy nhiên tác giả có đưa ra một sự khác biệt về cách dùng các từ bị ,được Ví dụ như trong tiếng
Anh, ta có:
- Được thưởng : to obtain a prize : to be awarded
- Được một lá thư: : to receive a letter : to be sent a letter
- Bị thiệt hại nặng : to suffer severely : to be injured severely
- Bị nóng : to endure great heat : to be heated
Tác giả cho rằng cùng một sự tình có thể diễn tả bằng hai cách là Thái chủ động hay Thái bị động trong một thứ tiếng có hai thái này với tư cách là một phạm
trù ngữ pháp , chẳng hạn như tiếng Anh Vậy quyết định ở đây không phải là ngữ nghĩa, mà là hình thái ngữ pháp Những trường hợp không thể diễn đạt
được bằng thái bị động còn cho thấy thêm một điều kiện hạn chế việc sử dụng hình thái này : vị từ hữu quan phải là một vị từ [+ động] có ít nhất hai diễn tố (song trị) trong đó một chỉ vai người tác động (agent) hay lực tác động (force)
và một chỉ vai người hay vật bị tác động
Trong khi đó tiếng Việt không có một vai nghĩa nào có thể do nghĩa của vị từ phân một cách bắt buộc cho các thành phần câu như chủ ngữ trong các thứ tiếng châu Âu Vậy nói rằng tiếng Việt có thái bị động chẳng qua là do một định kiến cho rằng tiếng Việt phải có đủ các phạm trù của ngữ pháp châu Âu
Tác giả cho rằng ý nghĩa chủ động hay bị động hoàn toàn lệ thuộc vào nghĩa của vị từ làm bổ ngữ cho được hay bị trong văn cách cụ thể
Ví dụ : Được giúp Nam, được hôn cô ba, được mổ hai ủy viên Trung ương, được Nam giúp , được cô ba hôn, được một bác sĩ giỏi mổ cho ….bị gãy chân ,
bị hỏng ba cái máy, bị chết cả đàn gà , bị mất hết tiền, Bị bạn phản, bị thầy chê, bị mẹ mắng, bị Nam đánh
Qua những ví dụ trên tác giả cho rằng bị, được không có chút gì giống trợ động từ to be trong tiếng Anh Và bị, được không phải là tiêu chí nhận diện tác tử đánh dấu kết cấu bị động Do đó không có cơ sở để coi bị, được là tác
tử đánh dấu kết cấu bị động, cũng như không thể coi sự đối lập : có mặt bị,
Trang 9được >< không có mặt bị, được như nhân tố duy nhất hay đáng tin cậy nhất
đánh dấu sự đối lập bị động > < chủ động trong tiếng Việt
2.2 Bên cạnh hai quan điểm của các nhà Việt ngữ học vừa sơ lược đề cập bên
trên, từ quan điểm của ngôn ngữ học đại cương một số tác giả khác có cái nhìn riêng hơn
a/ Theo Li và Thompson [44] thì “Kết cấu bị động hoặc là hoàn toàn vắng
mặt (thí dụ trong tiếng Lahu, Lisu) hoặc xuất hiện hạn hữu, hiếm khi thấy có
(tiếng Trung Quốc ) trong các ngôn ngữ thiên chủ đề”
b/ Theo Dyvik “ Trong các ngôn ngữ thiên chủ đề , thái bị động được coi
là ngoại biên, vắng mặt [37: 47 ]
Dyvik cũng kết luận : “ coi bị, được như vị từ trung tâm là đáng tin cậy và do
đó tiếng Việt không có thái bị động như là một phạm trù ngữ pháp” [37:54]
Ông cho rằng bị, được dần dần đã được ngữ pháp hoá thành những trợ từ có
tác dụng bị động hoá [37 : 54] Ông cho rằng được, bị đã mất đi nghĩa từ vựng
và mất cương vị trung tâm Ông dùng từ rất để kiểm nghiệm lại ý tưởng mới này của mình bằng cách cho rất kết hợp với được, bị
Ví dụ :
Nam rất được Hùng thương [a]
Nam rất được thương hơn [b]
Nam rất bị Hoàng chê [c]
Nam rất bị Hoàng mắng [d]
Nam được hôn Hoàng [e]
Nam rất được hôn Hoàng [f]
Theo Dyvik thì rất có dùng được với [a, c, e] hay không dùng được với (b, d, f) là do các vị từ đi sau được, bị quyết định Thông qua cách phân tích của mình thì bị, được không hề có vai trò gì trong sự sai hay đúng của các tổ hợp
này Từ đó Dyvik kết luận rằng bị được đã ngữ pháp hoá, hư hoá thành những
trợ vị từ (auxiliary verbs) giống hệt như To be trong tiếng Anh , và cho ra kết
cấu [tác tử bị động hoá + vị từ trung tâm ] biểu thị phạm trù ngữ pháp bị động đối lập với chủ động trong tiếng Việt
Trang 102.3 Thông qua phần lịch sử vấn đề về câu bị động trong tiếng Việt của các tác
giả nêu trên, cần đúc kết lại một số nhận xét như sau :
Có hai quan điểm đối lập nhau khi cho rằng tiếng Việt có câu bị động hoặc không có câu bị động Các tác giả đại diện cho quan điểm thứ nhất như là : Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản Đó là các tác giả nêu rõ quan điểm của mình nhất
Ngoài ra còn có một số tác giả tuy có đồng quan điểm nhưng cách biện giải của
họ chưa được rõ ràng lắm Đại diện cho quan điểm thứ hai về tiếng Việt không
có câu bị động – có tác giả Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Ảnh Hai tác giả đã nêu lên quan điểm của mình mang tính riêng biệt cao
Thông qua nhiều quan điểm, phương pháp và nội dung nghiên cứu khác nhau, các tác giả đều muốn góp phần nêu lên một số kiến giải, mục tiêu của tác giả là làm sáng tỏ những gì chưa được thống nhất trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ để từ đó tạo tiền đề cho những công trình khoa học sau này được hoàn mỹ hơn
Thông qua phần nghiên cứu lịch sử vấn đề cũng như qua thực tế nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt, tác giả của luận văn này xin nêu lên một vài thiển
Phương tiện để diễn đạt ý bị động trong tiếng Việt là những từ bị, được, phải
Ba từ này đóng vai trò không nhỏ để cấu tạo nên câu bị động trong tiếng Việt
Và khi nghiên cứu về câu bị động cũng không thể không chú ý đến yếu tố ngữ pháp, ngôn cảnh, ngữ cảnh, sự nhận biết …
Rõ ràng nói như M.A.K Halliday vấn đề không phải ở chỗ ngôn ngữ nó nói cái
gì mà nó nói như thế nào Quả đúng vậy , các hình thức biểu đạt khác nhau sẽ là
cơ sở để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ Hơn nữa xét về nội dung ngữ pháp thì có thể nói ý nghĩa bị động là một phổ niệm ngôn ngữ ,
Trang 11vấn đề là chúng được biểu hiện như thế nào trong từng ngôn ngữ cụ thể Liên quan đến vấn đề đang bàn , cần thiết phải nhắc đến ý kiến của P.Brown và S.C.Levinson khi lý giải về ý nghĩa bị động trên ngữ liệu tiếng Anh Theo các tác giả nghĩa của bị động nằm trong cơ chế gồm ba điểm cơ chế sau : cơ chế thăng cấp bổ ngữ chính là vị trí chủ ngữ ; cơ chế giáng cấp chủ ngữ chính là cơ chế đánh dấu bị động và các quy tắc kết hợp [ P.Brown và S.C.Levinson] và tất
cả đều liên quan đến phép lịch sự Luận văn này trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước , sẽ tiến hành xem xét sự biểu hiện của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh
3 - Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng khảo sát của luận văn này là ý nghĩa bị động Tuy nhiên như đã
nói , nghĩa là một phạm trù tình thái rất phức tạp, do vậy trước hết cần thiết phải trình bày những vấn đề liên quan đến nó Thứ đến phải tiến hành một số biểu hiện bằng các mô hình câu hoặc bằng từ vựng nhất là trong ngôn ngữ tiếng Anh
cũng như trong tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ cơ bản của luận văn này là nhận diện, miêu tả một cách trung
thực và có hệ thống về sự biểu hiện câu bị động trong tiếng Việt trên hai bình diện là hình thức và nội dung Tác giả cũng xin trình bày rằng vấn đề chỉ được xét ở một số khía cạnh thuộc ngữ nghĩa và ngữ dụng Trên cơ sở đó chúng tôi
so sánh với tiếng Anh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt
Để làm được điều này , luận văn có nhiệm vụ liệt kê, phân loại và miêu tả những từ mà người Việt dùng để diễn đạt về câu bị động chứ không phải là những gì đã được ngữ pháp hoá của ngôn ngữ châu Âu Vì thái bị động không
đa dạng và phức tạp, do đó những từ để diễn đạt nó cũng hạn hẹp trong một số quan sát của chúng tôi
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Chng ta đều hiểu câu chủ động / bị động trong tiếng Anh là một phạm trù ngữ pháp quan yếu Trong khi đó trong tiếng Việt , hầu như các sách vở viết về dạy
và học tiếng Việt lại rất ít đề cập đến vấn đề này Do vậy chúng tôi tự giới hạn phạm vi nghiên cứu chương này như sau :
a/ Trong tiếng Anh , tập trung miêu tả một số mẫu câu tương đối tiêu biểu cho câu bị động
b/ Trong tiếng Việt , lưu ý hơn cả các ý nghĩa bị động có thể có ,nhưng khảo sát
chung quanh một số từ chuyên chỉ ý nghĩa bị động nhiều nhất như bị , được , phải
4 - Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương php nghin cứu
Câu bị động đã và đang được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ lâu, đặc biệt
là các ngôn ngữ biến hình của Châu Âu Và vấn đề về câu bị động có thể được xem như một phạm trù ứng dụng trong công việc nghiên cứu ngôn ngữ trong
đó có cả tiếng Việt
Như chúng ta đều biết, trong thực tế hoạt động ngôn ngữ, các ngôn ngữ khác nhau có thể sử dụng những phương tiện, hình thức khác nhau để diễn đạt chứ không bắt buộc phải giống nhau Cũng như M.A.K Halliday cho rằng , những đòi hỏi của xã hội đã giúp ngôn ngữ hình thành nên cấu trúc của nó, do đó “ Ngôn ngữ đã tiến hoá để thỏa mãn các nhu cầu của con người , và liên quan đến các nhu cầu này , cái phương thức mà nó được tổ chức là chức năng – nó không phải là võ đoán” [Dẫn luận NPCN:16]
Vậy thì để nghiên cứu về câu bị động, đặc biệt là trong tiếng Việt, cần phải xét đến nhiều yếu tố khác nhau , không chỉ về khía cạnh là phạm trù ngữ pháp mà còn về yếu tố ngữ nghĩa, chu cảnh, tình huống , tâm lý Và điều cần thiết của luận văn này là tìm hiểu những cách thức diễn đạt ý bị động trong tiếng Việt sao cho phù hợp và đúng với tiếng Việt
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa, phân tích ngữ dụng và so sánh đối chiếu Ngoài ra luận văn cịn sử dụng
Trang 13một số thủ php quen thuộc như sưu tập tài liệu, miêu tả, phân loại, thống kê Thủ pháp phân tích ngôn ngữ trong luận văn này là sự kết hợp giữa ngữ pháp truyến thống với ngôn ngữ học hiện đại và điều cốt lõi là phân tích ngôn ngữ dựa trên bình diện ngữ nghĩa Bởi vì, nghĩa là một phạm trù tinh thần , là sự nhận thức không phải riêng của một cá nhân mà là của cộng đồng ngôn ngữ
và ngôn ngữ nào cũng có thể diễn đạt bất kỳ điều gì nó muốn
4.2 Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu mà luận văn sử dụng là sách truyện nổi tiếng thế giới (tiếng Anh và tiếng Việt) để áp dụng cho việc so sánh đối chiếu Ngoài ra luận văn cịn sử dụng những bi chọn lọc từ sch tiếng Anh Trn cơ sở nguồn ngữ liệu như vậy, luận văn đ trích dẫn những câu ở dạng thức bị động để tiến hành làm khảo sát
5 Đóng góp của luận văn
Phạm trù ngữ pháp, trong đó câu bị động trong tiếng Việt là vấn đề hết sức phức tạp, đụng chạm đến nhiều vấn đề lý luận ngôn ngữ học Do vậy tác giả xin bộc bạch rằng luận văn này không có tham vọng giải quyết những vấn đề phức tạp liên quan đến lý thuyết ấy Thông qua những mô tả cụ thể, xác lập các đặc điểm tương đồng và khác biệt, cùng với sự nổ lực của cá nhân, luận văn muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công trình ngôn ngữ học mà cụ thể là câu bị động trong tiếng Việt như sau :
(i) Góp phần tìm hiểu sự diễn đạt câu bị động trong phát ngôn của người Việt (ii) Xác lập nên bức tranh ngữ nghĩa về câu bị động trong tiếng Việt
(iii) Để tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài học tiếng Việt cũng như
người Việt học tiếng Anh thì việc nắm bắt câu bị động giữa hai ngôn ngữ là hết sức quan trọng Hơn thế nữa, vấn đề nghiên cứu ở đây còn góp phần trong việc chuyển dịch ý nghĩa bị động Anh – Việt và Việt Anh
Như vậy đề tài này có ý nghĩa ứng dụng cụ thể là góp phần nâng cao việc
giảng dạy tiếng Anh cho người Việt cũng như tiếng Việt cho người Anh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, nội dung chính của luận văn tập trung trong ba chương chính :
Trang 14CHƯƠNG MỘT Câu bị động tiếng Việt
Trong chương này chúng tôi đề cập đến sự biểu hiện của câu bị động trong tiếng Việt Tại đây cịn đưa ra sự cấu tạo của thể chủ động và bị động trong tiếng Việt Phần tiếp theo là một số phương thức biểu thị câu bị động Ngoài ra trong chương này cũng đưa ra ý nghĩa câu bị động tiếng Việt
CHƯƠNG HAI Câu bị động trong tiếng Anh
Trong chương hai, luận văn trình by về sự biểu hiện của cu bị động tiếng Anh,
và đi sâu hơn nữa là phân tích về cấu tạo cũng như những biến thể về thì của
câu bị động Cũng trong chương hai này, luận văn sẽ nêu lên ý nghĩa của câu bị động tiếng Anh cng với sự phân loại câu bị động tiếng Anh
CHƯƠNG BA
So sánh cách diễn đạt câu bị động và vấn đề đối dịch ý nghĩa bị động
trong tiếng Việt với tiếng Anh
Trong chương này, luận văn tiến hành làm công việc so sánh giữa câu bị động tiếng Anh và tiếng Việt So sánh về hình thức đánh dấu và không đánh dấu, cũng như đưa ra sự so sánh cấu tạo và ý nghĩa của câu bị động tiếng Anh
V cũng trong chương ba, luận văn cũng đưa ra một công trình khảo st nho nhỏ
về cu bị động Anh – Việt thơng qua thực tế giữa người nước ngồi v người Việt Ngồi ra, luận văn cịn tiến hnh việc khảo st thơng qua văn bản từ truyện dịch nổi tiếng thế giới
Mong rằng những đúc kết từ việc khảo st sẽ gĩp phần ý nghĩa no đó về câu bị động trong tiếng Việt
Trang 15Câu bị động là câu mà chủ thể hành động không đóng vai trò chủ ngữ trong câu
Ở loại câu này, chủ ngữ của câu thường chỉ kết quả hành động hoặc là cái được hưởng lợi ích từ hành động của chủ thể Khi đó, chủ thể của hành động thường đóng vai trò bổ ngữ trong câu
Cho đến nay vấn đề câu bị động trong tiếng Việt đã được bàn đến khá nhiều nhưng vẫn chưa đi đến một thống nhất chung về nó Vấn đề câu bị động nằm
trong một hiện tượng rộng hơn là cách dùng các từ bị, được, phải Nói chung
trong câu tiếng Việt về sự có mặt của kết cấu cú pháp có danh từ chỉ thực thể làm đối tượng đứng trước động từ chỉ hành động tác động lên thực thể là đối tượng đó Vậy thì trong tiếng Việt câu bị động có tồn tại hay không?
1.2 Sự biểu hiện của câu bị động trong tiếng Việt
1.2.1.Từ trứơc đến nay, ai cũng có thể hiểu rằng câu bị động là câu mà chủ thể
hành động, nói đúng hơn ,là người làm chủ hành động đó hoặc gây ra hành
Trang 16động đó không làm chủ ngữ trong câu Và bản thân chủ thể hành động (tác thể)
ấy trở thành bổ ngữ trong câu
Đại đa số các nhà Việt ngữ học cho rằng tiếng Việt có câu bị động và họ cho
rằng các từ bị, được, phải trong tiếng Việt mang ý nghĩa bị động, về một khía
cạnh ngữ pháp thì họ cũng cho rằng những từ ấy là tiêu chí để nhận diện câu bị động
Hãy khảo sát các ví dụ sau:
[6] a Tôi đã hoàn tất luận văn [chủ động]
b Luận văn đã được hoàn tất [bị động]
[7] a Anh thợ máy đã sửa xong chiếc xe [chủ động]
[8]a Người ta kê một chiếc tủ và một cái bàn trong phòng [chủ động]
b Phòng được kê một chiếc tủ và một cái bàn [bị động]
[9] a Chủ nhà treo đầy tranh trên tường [chủ động]
[10]a Người ta đã trả tiền cho nó [chủ động]
Mười ví dụ đã nêu ở cu b là đại diện cho loại mẫu câu mà các nhà Việt ngữ học gọi là câu bị động Xét trên 10 ví dụ ấy, chúng ta thấy rằng chúng không phải là
Trang 17một mô hình duy nhất , mà là khác nhau các mô hình Đó là chưa kể loại câu
văn bị phê phán là :Tôi bị cắn bởi con rắn lục
Hãy tìm hiểu các nhà ngữ pháp tiếng Việt đã kiến giải vấn đề này ra sao
Như chúng ta đều biết, bản chất từ loại của một đơn vị từ vựng vừa mang đặc điểm ngữ pháp, vừa mang đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa Ý nghĩa từ vựng khái quát chỉ có thể rút ra được trên cơ sở các ý nghĩa từ vựng cụ thể trong các ngữ cảnh cụ thể của từ Mà nghĩa của từ chính là khả năng hoạt động của từ hay nói đúng hơn là khả năng tổ hợp ngữ pháp và khả năng tổ hợp ngữ nghĩa của từ trong câu
Như vậy bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có khả năng diễn đạt ý nghĩa bị động Nhưng tùy theo đặc thù riêng của từng ngôn ngữ mà cách diễn đạt khác nhau Như vậy có nghĩa rằng thái bị động trong tiếng Việt đã có rồi, duy có điều chúng ta đã chấp nhận nó ở mặt ngữ nghĩa hay ngữ pháp mà thôi Về mặt ngữ nghĩa thì không có gì để bàn luận nữa bởi vì đã từ lâu các nhà ngôn ngữ học đã thống nhất rằng tiếng Việt có câu bị động Thế thì về mặt ngữ pháp thì sao ? Tại sao chúng ta không thử nghĩ rằng sắc thái bị động trong tiếng Việt còn thể hiện ngay trong phạm trù ngữ pháp
Một số học giả cho rằng “với một ngôn ngữ thiên chủ ngữ, thái bị động được
mô hình hóa, ngữ pháp hóa thành một phạm trù được biểu đạt bằng một hình
thái riêng có tính cưỡng bức tuyệt đối, trong khi tiếng Việt, một ngôn ngữ thiên
chủ đề thì ý nghĩa bị động không hề có một hình thái biểu đạt nào mang tính
cưỡng bức như thế [18 : 140 ] và họ cũng cho rằng trợ động từ đánh dấu bị động trong tiếng Việt không hề giống với trợ từ trong các ngôn ngữ châu Âu ví dụ
như to be trong tiếng Anh chẳng hạn
Một điều mà những nhà nghiên cứu ngôn ngữ cần phải nhận biết rằng giữa các ngôn ngữ có rất nhiều điểm khác nhau nhưng chúng vẫn có nhiều điểm chung để tạo thành những hiện tượng thống nhất với nhau
1.2.2 Để góp phần tìm hiểu bản chất của những từ làm nên vai trò quan trọng
trong việc hình thành nên kết cấu bị động của tiếng Việt Chúng ta buộc lòng
phải xem xét đến chức năng của bị ,được , phải
Trang 18Bị, được, phải đựơc xem như là những từ thực thụ và sự có mặt của những hư
từ này chỉ mang tính cách là điều kiện cần mà thôi, thêm vào đó là sự hỗ trợ của các điều kiện khác và không thể thiếu điều kiện về nghĩa
Có thể nói rằng tuy không có loại câu bị động hoàn toàn tương ứng với câu bị động trong các ngôn ngữ biến hình nhưng trong tiếng Việt vẫn có loại câu có thể gọi là câu bị động, gồm những đặc điểm sau:
(i ) Chủ ngữ trong câu biểu thị người hoặc vật tiếp nhận (hưởng thụ ) một hành
động hướng tới mình Hay nói khác đi là chủ ngữ trong câu biểu thị đối tượng của hoạt động chứ không phải chủ thể của hoạt động
(ii) Vị ngữ trong câu là do các từ bị, được, phải biểu thị, những từ này mang ý
nghĩa bị động Và nghĩa của những từ này là khác nhau, từ được hàm ý chỉ điều
tốt, có lợi, còn bị, phải là hàm ý rủi ro, không tốt (Sắc thái nghĩa của những từ
này sẽ trình bày ở phần sau)
(iii) Theo sau các từ bị, được là danh từ, cụm danh từ, động từ và cũng có thể là
cụm chủ – vị Và trong cụm chủ – vị thì chủ ngữ là chủ thể hoạt động, còn vị ngữ là một động từ ngoại động
Ví dụ :
[11 ] a Em bé được chú cho quà
b Tùng được cô giáo khen
c Khánh được Nga hôn một cái
Trong [11], sau được là cụm chủ – vị và chú, cô giáo, Nga là chủ thể hoạt động
trong cụm chủ – vị đó Thế thì hãy xét ví dụ sau :
[12] a Em bé được cho quà
b Tùng được khen
c Khánh được hôn một cái
Trong [12] theo sau được là một động từ Về mặt hình thức thì [11], [12] khác
nhau nhưng về nghĩa thì [11] và [12] không có gì khác nhau cả Ở [12] sau
được chỉ mất đi chủ thể hoạt động Điều này cho thấy rằng chủ thể hoạt động
được hiểu ngầm và chủ thể này có thể phục hồi lại không có gì là khó khăn
[13] a Em bé được quà
b Tùng được điểm 10
c Khánh được chiếc áo mới
Trang 19Trong [13] sau được không thấy sự xuất hiện của chủ thể hoạt động cũng như động
từ, mà sau được là một tiếng danh từ Thế thì [13] có gì khác với [11] và [12] Xét [14] sau :
[14] a Em bé được cô giáo cho quà
b Tùng được cô giáo cho điểm 10
c Khánh được mẹ cho chiếc áo mới
Vậy thì có thể nói rằng [11], [12], [13] và [14] là không có gì khác nhau và cũng không có gì khó hiểu về nghĩa Cái khó ở đây là nếu chủ thể vắng mặt thì không xác định chủ thể một cách cụ thể rõ ràng là ai, người nào Để xác định được chủ thể thì dĩ nhiên chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh Vậy thì sự có mặt hay vắng mặt của chủ thể không ảnh hưởng gì đến nghĩa của câu Còn sự vắng
mặt của động từ thì sao? Ba danh từ quà, điểm 10, chiếc áo mới, bản thân nghĩa
của ba danh từ này đã là tốt rồi do đó không thể nói rằng : [a] Em bé được mở quà Trong trường hợp này thì sự vắng mặt của động từ rất quan trọng Ở một
ngữ cảnh khác thì câu này được hiểu là :
Em bé được phép mở quà
Em bé được cô giáo cho phép mở quà
Nhưng không thể nói rằng:
Em bé được cô giáo mở quà
Trong [b] sự kiện Tùng và điểm mười chỉ xảy ra trong lớp học Vậy điểm, lớp
lại liên quan đến sự kiện cô giáo Mà chỉ có cô giáo là người quyết định việc
cho điểm học sinh
Chính vì vậy sự vắng mặt của động từ trong [b] cũng không gây nguy hại cho nghĩa của câu
Hãy xét ví dụ 15 sau đây đối với từ bị
b.Thằng bé bị người ta đánh gãy chân
c.Nó bị công ty cho thôi việc
Trang 20Trên cơ sở phân tích ở [11] [12] và [13] thì tương tự như vậy [16] có sự hiện
diện của chủ thể hoạt động đó là nó, người ta, công ty Đây là cấu trúc bị + chủ
vị Thế nhưng nếu trong [16b] không có sự hiện diện của cụm C – V là (người
ta / đánh) thì lúc này nghĩa của câu sẽ khác đi, trở lại [15b], chủ thể hoạt động không còn được hiểu ngầm như ở [16a] và [16c] nữa, mà chủ thể hoạt động ở đây là sự vô tình, không chủ ý, nói chung chủ thể không phải là người mà là
một tác nhân khác, có thể Thằng bé sơ ý trượt té và bị gãy chân Điều này
chứng minh rằng ngữ cảnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên kết
cấu câu bị động
Hãy xét ví dụ 17 đối với từ phải
[17] a Nó phải đi tù
b Nó phải đòn
c Nó phải cho lợn ăn
Xét ví dụ [17], chúng ta thấy rằng trong [a] đi tù là điều không ai muốn hoặc
thích Vậy thì nó đã rơi vào tình thế bắt buộc, sự việc xảy ra ngoài ý muốn
Trong [b] cũng thế, đòn roi là hình phạt, chẳng ai thích bị phạt Như vậy ở đây
nó đã rơi vào tình thế phải chịu đòn là ngoài ý muốn Khác với [a] và [b] thì
trong [c], đối với việc cho lợn ăn là một việc làm thường ngày như bao việc khác, có người thích công việc chăn nuôi và họ cho rằng việc cho lợn ăn là bình
thường và rộng hơn nữa là sự yêu thích nghề nghiệp Do đó trong ngữ cảnh phải
nói như sau : Nó thích cho lợn ăn Nhưng trái lại, có những người không thích
công việc chăn nuôi, nếu làm thì đó là chuyện miễn cưỡng đối với họ Và trong
[c] đã thể hiện ý nghĩa đó Nó không thích cho lợn ăn nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc nó phải cho lợn ăn
Tương đương [17] ta có :
[18] a Nó bị đi tù
b Nó bị đòn
c Nó bị bắt cho lợn ăn
Nghĩa giữa [17 ] và [18] không có gì thay đổi, có nghĩa rằng [17] và [18] tương
đương nhau Nhưng không phải lúc nào phải cũng được thay thế bằng bị như
trong [18]
Ví dụ:
[19] a Cô ấy lấy phải thằng chồng vũ phu
b Nó phải thổ lộ mọi chuyện với mẹ
Trang 21c Họ phải tôn trọng cảnh bà không chồng
Nếu thay thế phải bằng bị ta có :
[20] *a Cô ấy lấy bị thằng chồng vũ phu
*b Nó bị thổ lộ mọi chuyện với mẹ
*c Họ bị tôn trọng cảnh bà không chồng
[20] không thể xảy ra trong tiếng Việt Như vậy phải có thể thay thế bị tuỳ
thuộc vào cấu trúc câu và nghĩa của câu, mà nghĩa của câu thì lại phụ thuộc vào ngữ cảnh Lại một lần nữa cho thấy rằng ngữ cảnh là một yếu tố tạo nên thái bị động trong tiếng Việt
Trở lại [19], tình huống trong [a] cho thấy rằng đó là tình huống xấu, không phải cô ấy thích hay bị ép buộc lấy chồng vũ phu mà sự việc bỗng nhiên đến, sau này cô ấy mới biết Trong [b] cũng thế, nó rơi vào tình huống không thể chối cải được và đành lòng thổ lộ với mẹ, dù rằng nó không có ý định nói cho mẹ biết [c] cũng thế, lẽ ra bà không được họ tôn trọng, bà đã làm họ không hài lòng nhưng vì nghĩ đến tình cảnh neo đơn của bà, họ đành phải tôn trọng bà
Có thể kết luận nghĩa của ba từ bị, được, phải như sau:
Từ được mang tính dương, diễn đạt ý có lợi, có sắc thái may mắn, hưởng lợi
Bị mang tính âm, diễn đạt ý chịu thiệt thòi, mang sắc thái rủi ro, không có lợi Riêng từ phải thì thường gắn chặt với ngữ cảnh, mang nghĩa tiếp nhận thụ
động, người nói cho rằng không có lợi, không phù hợp với yêu cầu của chủ thể
Và đối với phải có hai nhóm nghĩa mà khó xác định là có quan hệ phái sinh
với nhau : Một là nhóm ý nghĩa hình thành, phát sinh trên cơ sở của nghĩa tiếp thụ và hai là nhóm nghĩa hình thành, phát sinh trên cơ sở của nghĩa đúng, phù hợp Ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu đến nhóm nghĩa thứ nhất
(ii) Cần thiết Thoạt nhìn thì nghĩa này không liên quan đến nghĩa tiếp thụ
Nhưng thực ra thì ý nghĩa “cần thiết” này mang ý tiếp thụ một cách không chủ
Trang 22động vào chủ thể và từ đó buộc chủ thể phải tiếp thu sự việc, sự vật cần phải có,
để rồi buộc chủ thể thực hiện hành động dù là không muốn
Ví dụ : Phải ăn để lấy sức ; Phải đi thôi, không kịp rồi Thôi bây giờ đã đến lúc anh em mình phải về nhà Đáng lý mẹ không nên nói điều này với con nhưng mẹ nghĩ cần phải nói Vì anh chưa đủ 21 tuổi nên anh phải nghe lời cha Tất cả đều đi trễ, vậy tất cả phải bị phạt 6 roi Phải gắng sức cho qua đợt này
(iii) Chắc chắn Ý nghĩa này cũng bao hàm nét nghĩa là không chủ ý, dù muốn
hay không thì sự việc vẫn cứ xảy ra, vẫn cứ đến với chủ thể và chủ thể phải tiếp thụ
Ví dụ : Đã bảo thì phải nghe Uống thuốc này thì khỏi phải bệnh Đã đi là đến
đã bàn phải thông
Ngoài những từ bị, được, phải đã nêu trên thì trật tự từ trong câu bị động có thể
nói đến vị trí sau đây:
Điều kiện về trật tự từ đầu tiên là danh từ, với cương vị chủ ngữ ngữ pháp
không chỉ người tạo ra hành động được nêu ở động từ đứng sau các từ bị, được
Và vai nghĩa cụ thể của thực thể nêu ở danh từ
Điều kiện tiếp theo là sau danh từ – chủ ngữ là vị trí của các từ bị, được
Sau từ bị, được là một kết cấu chủ – vị, trong kết cấu này chủ ngữ có thể vắng
mặt và nó có thể phục hồi lại
1.2.3 Tính chất của động từ tham gia kết cấu bị động
Đó chính là động từ trong kết cấu chủ – vị, đứng sau từ bị / được Động từ này
phải là động từ ngoại động và có quan hệ nghĩa với thực thể nêu ở danh từ làm
chủ ngữ của câu, đứng trứơc từ bị / được Mối quan hệ nghĩa này sẽ góp phần
quyết định vai nghĩa của thực thể nêu ở danh từ – chủ ngữ trong câu bị động
1.2.4 Cấu trúc nghĩa của câu bị động
Trong câu bị động, các vai nghĩa giữ chức vụ chủ ngữ ngữ pháp Trong đó có
một danh từ đứng trước từ bị / được làm chủ ngữ Chức vụ chủ ngữ ngữ pháp
trong câu bị động là những danh từ chỉ các thực thể diễn đạt những vai nghĩa
nhất định trong mối quan hệ nghĩa với động từ ngoại động đứng sau các từ bị/ được Số lượng những vai nghĩa được diễn đạt ở chức vụ ngữ pháp này là hạn
Trang 23hữu Chính sự hạn hữu này góp phần vào việc xác định phạm vi của câu bị động nói chung
Xét về các hiện tượng vật lý, thực thể nêu ở chủ ngữ ngữ pháp trong câu bị động có thể giữ những vai nghĩa trong quan hệ với động từ chỉ hành động vật lý trong kết cấu chủ – vị Ta có thể chia thành ba nghĩa như sau:
Nghĩa tiếp nhận
Nam được (cô giáo) cho quà Cô giáo cho quà Nam
Nhà được (thợ) quét vôi trắng Thợ quét nhà vôi trắng
Nó đã được trả tiền Người ta đã trả tiền cho nó
Chiếc xe đã sửa xong Người ta đã sửa xong chiếc xe
Sách đã in xong Người ta đã in xong sách
Luận văn đã được hoàn tất Tôi đã hoàn tất luận văn
Hàng đã chuyển lên tàu Họ đã chuyển hàng lên tàu
Thửa ruộng đã cày xong Người ta đã cày xong thửa ruộng
Nghĩa tác hại
Thằng bé bị đánh gãy chân Người ta đánh thằng bé gãy chân
Tường treo đầy tranh Chủ nhà treo đầy tranh trên tường
Phòng được kê một chiếc tủ Người ta kê một chiếc tủ và một cái
bàn trong phòng
1.3 Thể trong câu chủ động và bị động
Thoạt nhìn, vấn đề câu bị động không hề có liên quan đến thời gian Thực ra, nhìn từ quá trình mọi tương tác đều xảy ra trong thời gian Do vậy, tại đây sẽ
Trang 24đề cập một cách sơ lược về vai trò của thời gian trong việc tri nhận câu chủ động / bị động
Trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với thời gian có một ý nghĩa đặc biệt Quá trình phát triển của nhân loại gắn với dòng lịch sử thời gian Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này được phản ánh theo những hình thức biểu hiện riêng biệt của từng ngôn ngữ Vậy có thể nói rằng ngôn ngữ là một trong những công cụ tri nhận về thời gian của loài người
Trong lĩnh vực ý nghĩa của ngôn ngữ và tương ứng với nó là lĩnh vực khái niệm, việc xác lập một số phạm trù ngữ nghĩa cơ bản nhất là một điều hết sức cần thiết để có thể xây dựng được một hệ thống ngữ nghĩa có tính chất đầy đủ
và khoa học Cũng như các phạm trù khác chẳng hạn như “không gian”, “tư duy”, “vật chất”…., phạm trù thời gian trong tiếng Việt cần được ngữ nghĩa hóa một cách có hệ thống dựa trên cơ sở phân tích ý nghĩa và phân loại các thành tố ngôn ngữ nằm trong phạm trù này
Nói về ngôn ngữ thì Thời gian là một phạm trù ngữ nghĩa phổ quát của ngôn
ngữ Thời gian phản ánh phạm vi thời gian của hiện thực gắn với sự tồn tại của
sự vật nói chung Như vậy định vị thời gian là xác định vị trí của thời gian trong
sự kiện mà người phát ngôn phản ánh Như vậy vị trí của thời gian đóng vai trò không kém phần quan trọng trong câu nói, nếu không có vị trí thời gian, thì chúng ta không thể xác định được hành động ấy xảy ra khi nào, vào thời điểm nào để từ đó đi đến một kết luận chính xác cho hành động đó
Trước khi bàn về thể của câu chủ động, chúng ta sơ lược qua về thể nói chung
trong tiếng Việt
1.3.1 Ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt mang đậm tính chất ngữ nghĩa Trong
hầu hết các trường hợp phát ngôn thì các chỉ tố thời gian trong tiếng Việt chủ
yếu ở yếu tố từ vựng – ngữ nghĩa Nói cách khác, việc biểu hiện ý nghĩa thời gian
trong tiếng Việt là do các đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa đảm nhiệm Và đây cũng chính là điểm khác biệt giữa một bên là ngôn ngữ có thì trong ngôn ngữ biến hình
và một bên là ngôn ngữ vô thì trong tiếng Việt
Trang 25Tiếng Việt là ngôn ngữ không có phạm trù thì với tư cách là một phạm trù ngữ
pháp Tuy nhiên, là một ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt cũng thể hiện sự định vị thời gian theo cách riêng của tiếng Việt
Để định vị thời gian một sự tình của một phát ngôn, tiếng Việt dùng phương
tiện từ vựng như : danh từ, danh ngữ có ý nghĩa thời gian : sáng, trưa, chiều,
tối, ngày, tuần tháng, năm, bây giờ, trước đây … những danh từ, danh ngữ này
thường được sử dụng với chức năng ngữ pháp là trạng ngữ chỉ thời gian.Ngoài
ra còn có các từ như : đang, đã, sẽ, xong … những từ này được gọi là phụ từ
tính thái
Để phân biệt thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai, người Việt lấy cái mốc thời
điểm quy chiếu là “bây giờ” làm chuẩn Vì vậy, bây giờ chỉ thời gian của hiện tại, trước bây giờ là nói đến quá khứ và sau bây giờ là chỉ tương lai Như vậy
có thể biểu diễn lược đồ sau để minh họa cho quá khứ, hiện tại và tương lai
Trước bây giờ Bây giờ Sau bây giờ
===x==================x===============x=======>
Việc định vị thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai được thể hiện trong bài ca dao sau:
Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất, anh thương
Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang
Bốn góc thì anh thếp vàng
Bốn chân thếp bạc, tám thang chạm rồng
Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng phí cả công anh !
(Ca dao Việt Nam)
Trong bài ca dao ta bắt gặp hôm qua có nghĩa là trứơc bây giờ, là chỉ thời gian
quá khứ Còn bây giờ là nói đến thời gian của hiện tại
Ngoài những danh từ, danh ngữ nêu trên để nhận diện thời gian, người Việt thường dùng những cụm từ, câu mang tính hình ảnh, ẩn dụ để nói về thời gian
ví dụ như : Khi nói về buổi sáng, tiếng Việt có thể nói thế này : Khi bình minh bắt đầu, khi ông mặt trời ló dạng, khi trời còn mờ sương, những tia nắng đầu
Trang 26bóng, giờ ngọ, buổi chiều thì có : mặt trời khuất núi, hoàng hôn, mặt trời gác
núi, bóng ngã về tây … Ví dụ như trong bài ca dao sau:
Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngắm lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan) Trong tiếng Việt muốn ngầm ý là đúng 12 giờ trưa thì có : giữa trưa, đứng bóng, nửa buổi …
Ví dụ : Sáng đi bóng hãy còn dài
Chiều về bóng đã nghe ai bóng tròn
Như vậy bóng dài có nghĩa là buổi sáng và bóng tròn là chỉ về buổi chiều Điều
này muốn nói lên rằng người Việt đã biết phản ánh tri thức vào ngôn ngữ của mình
Đây cũng chính là tri thức thơ ngộ dân gian, nhằm diễn đạt sự thay đổi quá
nhanh, quá đột ngột về thời gian trên cơ sở sử dùng biện pháp đối lập “sáng đi
” và “chiều về”
Điểm qua việc định vị thời gian, chúng ta nhận thấy rằng việc định vị thời gian
trong tiếng Việt là khá đa dạng Chính điều này đã góp phần để tạo nên cách định dạng cho câu chủ động trong tiếng Việt thêm rõ nét, giúp chúng ta xác định được thời điểm mà hành động đã tham gia
1.3.1.1 Để khảo sát về thời trong tiếng Việt, người ta dựa vào hai loại thời điểm khác nhau để định vị thời của một phát ngôn Đó là thời điểm phát ngôn (ngay lúc nói) thời điểm của sự tình (sự kiện) Nếu như thời điểm phát ngôn trùng với thời điểm sự tình thì câu phát ngôn ở thời hiện tại và nếu hai thời điểm này không trùng nhau thì câu phát ngôn hoặc ở thời quá khứ hoặc ở thời
tương lai Dựa vào cách định vị như thế, theo mọi quan niệm phổ biến , tiếng Việt có ba thời : hiện tại, quá khứ và tương lai Nhưng xét trên bình diện ngữ
nghĩa, các từ làm chỉ tố thời gian của một phát ngôn lại có hai ý nghĩa: xác định
Trang 27và phiếm định Những danh từ, danh ngữ như : hôm nay, mai, ngày mai, sáng nay, hôm qua, năm 1975… có ý nghĩa thời gian xác định Những danh từ, tổ hợp từ như : trứơc đây, sau này, khi còn nhỏ, dạo trứơc, từ trước …có ý nghĩa
thời gian không xác định và việc này có liên quan đến việc nhận diện câu bị động trong tiếng Việt
1.3.1.2 Ý nghĩa thời gian trong hiện tại
Tiếng Việt sử dụng phương tiện từ vựng bao gồm những từ như : thường, thường thường, thỉnh thoảng, đôi khi, luôn luôn, hiếm khi … để diễn tả một sự
tình trong hiện tại
Ví dụ :
[1] a Nó thường tặng quà cho tôi [chủ động]
b Tôi thường được tặng quà [bị động]
[2] a Hiếm khi thấy mẹ trách nó [chủ động]
b Hiếm khi thấy nó bị mẹ trách [bị động]
Trong [1a] vị trí thường đứng trước động từ chính của câu là tặng và đứng liền
sau chủ thể hoạt động (tác thể) Còn [1b] mặc dù có sự chuyển đổi về ngôi là
tiếp thể đã đứng hàng đầu trong câu có thêm từ được,thế nhưng từ thường vẫn
đứng ở vị trí cố định là sau chủ ngữ mới (tiếp thể) và vẫn đứng trước được tặng Trong [2a] thì hiếm khi không còn đứng sau tác thể nữa mà xuất hiện ngay đầu
câu, cả [2b] cũng thế Mặc dù thế nhưng nó vẫn không làm cho nghĩa của [2] thay đổi
Nói đến ý nghĩa thời gian trong hiện tại, đó chính là thì hiện tại, từ đây chúng ta lại có cái thì tiếp diễn, là sự việc đang xảy ra trong hiện tại, tiếng Việt thường dùng từ đang để diễn tả sự tình đang ở trong tiến trình tiếp diễn ở hiện tại
Trong [3] hành động mẹ trách ở trong quá trình tiếp diễn, vào thời điểm nào đó
tôi nhìn thấy, có nghĩa rằng tôi chỉ nhìn thấy mẹ đang nói những lời không hay với nó trong khoảng thời gian nào đó chẳng hạn tại thời điểm 2g – 21g15’ là thời điểm tôi nhìn thấy sự việc
[4] a Hắn đang đánh thằng bé [chủ động]
Trang 28Tác thể làm chủ hành động đánh trong [4] cho thấy rằng không phải chủ thể
hành động (tác thể) đánh đứa bé chỉ có một roi mà là năm roi, hành động cái
roi được đưa lên rồi hạ xuống vào mông thằng bé đó chính là đang xảy ra hoặc đang tiếp diễn
Như vậy vừa,mới là những từ định vị thời gian không hiện rõ ràng hay đúng
hơn là không xác định cho một hành động vừa được hoàn tất trong hiện tại
Tương tự như vừa, mới tiếng Việt thường dùng tổ hợp từ như tuần này, trong tháng này, năm nay, trước đây, trước kia … đây là những tổ hợp từ hàm ý chỉ
thời gian kết thúc trọn vẹn
Ví dụ:
[7] a Trong tuần này hắn đánh thằng bé đến hai lần
b Trong tuần này, thằng bé bị đánh hai lần
Khi phát ngôn [7] thì tại thời điểm phát ngôn chưa kết thúc tuần, còn hai ngày nữa là hết tuần, có thể hắn sẽ còn đánh thằng bé nữa, thêm lần ba hay lần bốn Điều này cho thấy hành động này hàm ý chưa hẳn đã kết thúc hoàn toàn
1.3.1.3 Ý nghĩa thời gian trong quá khứ
Ở tiếng Việt thường thấy xuất hiện chỉ tố đã để chỉ một sự việc đã rồi, đã
xong, đã hoàn tất, hàm ý chỉ quá khứ Nhưng từ đã mang tính phiếm định,
không xác định rõ thời gian
Ví dụ : [8] a Hắn đã đánh thằng bé [chủ động]
b Thằng bé đã bị hắn đánh [bị động] Hoặc
Trang 29[9] a Hôm qua hắn đã đánh thằng bé [chủ động]
b Hôm qua thằng bé đã bị hắn đánh [bị động] Hay
[10] a Cách đây hai ngày, hắn đã đánh thằng bé [chủ động]
b Cách đây hai ngày, thằng bé đã bị đánh [bị động]
Xét [9] và [10] nếu không có từ đã thì việc định vị thời gian của câu vẫn hiểu được, nhờ vào tổ hợp từ hôm qua, cách đây hai ngày, đó là những trạng ngữ thời gian mang tính xác định, ngoài ra còn có những trạng ngữ như tuần trước, tháng trước, năm ngoái, cách đây ba tháng, hôm kia …
Trở lại [9] và [10 ] ta thấy rằng hành động đánh đã xong và chấm dứt trong ngày hôm qua hoặc cách đây hai ngày
Như vậy, có thể nói rằng một hành động đã xảy ra và chấm dứt trong quá khứ
có thời gian xác định rõ ràng thì đó chính quá khứ đơn và được xác định bằng
trạng ngữ thời gian đã nêu ở trên
Trở lại [9] thêm vào tổ hợp từ lúc tôi đến ta có :
[11] a Hôm qua, lúc tôi đến thì hắn đang đánh thằng bé [chủ động]
b Hôm qua, lúc tôi đến thì thằng bé đang bị đánh [bị động]
Như vậy xét [9] và [11] khi thêm vào tổ hợp từ “lúc tôi đến”thì đã mất đi và
thay vào đó bằng đang Mà đang như đã phân tích ở trên là để diễn tả sự tình đang tiếp diễn Nhưng trong [11] lại có sự hiện diện của hôm qua, chỉ quá khứ
Một sự việc đang diễn ra vào thời điểm xác định trong quá khứ thì đó là quá
khứ tiếp diễn
1.3.1.4 Ý nghĩa thời gian trong tương lai
Trong tiếng Việt có chỉ tố thời gian sẽ hàm ý chỉ tương lai, đây là chỉ tố phiếm
định, không rõ ràng
Ví dụ :
[12] a Ngày mai hắn sẽ đánh thằng bé [chủ động]
b Ngày mai thằng bé sẽ bị đánh [bị động]
Trong [12] nếu như không có chỉ tố thời gian ngày mai thì hiểu như cách nói của
người Việt thì hành động cũng xảy ra trong tương lai duy có điều không biết chính
xác là khi nào, nhờ vào chỉ tố se, sẽ là chỉ tố thời gian phiếm định Đồng với sẽ còn
có sắp ,mai sau , mai này , mai kia , mốt nọ , sau này , hôm nào …
Trang 30Bên cạnh đó, người Việt còn diễn đạt ý nghĩa thời gian tương lai qua những vị
từ tình thái như : định, dự định, tính, dự tính
Ví dụ : Hắn định đánh thằng bé
Ngoài ra trong tiếng Việt còn có những chỉ tố thời gian mang tính xác định để
chỉ tương lai như : ngày mai, ngày mốt, ngày kia, tuần tới, tháng tới, hai ngày nữa, bốn tháng nữa … đây là những trạng ngữ chỉ thời gian
Như vậy, có thể đúc kết lại rằng khi diễn đạt ý nghĩa chủ động hay ý nghĩa
bị động, để xác định được thời điểm mà chủ thể hoạt động thực thi hành động
ấy thì phải cần đến yếu tố thời gian Vì tiếng Việt là một ngôn ngữ vô thì, không
có một phạm trù ngữ pháp cho riêng nó nhưng bù lại các phương tiện từ vựng
có thể lấp đầy tất cả ý nghĩa mà người nói muốn diễn đạt Đối với câu chủ động
và bị động , thời gian không tham gia trực tiếp vào việc hình thành ý nghĩa chủ thể hay đối thể nhưng rõ ràng nó giúp cho việc nhận hiểu được rõ ràng hơn
1.4 Một số phương thức biểu thị câu bị động trong tiếng Việt
1.4.1 Có thể kết luận rằng câu bị động tiếng Việt lấy từ bị,được,và phải làm
phương thức biểu thị câu bị động, nhưng không thể thiếu điều kiện về nghĩa và ngữ cảnh Bất cứ ở đâu, ngữ cảnh góp phần tạo nên nghĩa của câu.Về mặt ngữ
pháp, câu bị động thuộc kiểu câu phức, có chứa các từ bị, được, phải Sau bị,
được, là một kết cấu chủ– vị đầy đủ hoặc chủ ngữ đã được tỉnh lược Xét về mặt
ngữ pháp là thế
1.4.2 Về mặt nghĩa, câu bị động thuộc loại câu diễn đạt sự thể hành động, vì là
câu diễn đạt hành động nên động từ trong câu bị động là động từ chỉ hành động, chỉ tác động Hành động nêu ở vị ngữ có quan hệ nghĩa với thực thể nêu ở chủ
ngữ của toàn câu đó là chủ ngữ đứng trước các từ bị, được Chủ ngữ của toàn
câu giữ những vai nghĩa khác nhau và không đóng vai trò gì trong việc tạo ra
hành động ở sau bị, được
1.4.3.Sự xuất hiện của từ bị, được, và kết cấu chủ – vị cùng với vai nghĩa của
chủ ngữ ngữ pháp là những điều kiện phối hợp đồng đều, thiếu một trong ba điều kiện này thì không thể là câu bị động tiếng Việt
1.5 Ý nghĩa câu bị động tiếng Việt
Trang 311.5.1 Về mặt nghĩa, câu bị động thuộc loại câu diễn đạt sự thể hành động với
hai đặc trưng [+ động] và [+ chủ động] Vì là câu diễn đạt hành động nên động
từ trong câu bị động là động từ chỉ hành động và hơn nữa hành động trong kiểu câu này là hành động ngoại động (tác động) Hành động nêu ở vị ngữ có quan
hệ nghĩa với thực thể nêu ở chủ ngữ của toàn câu (tức chủ ngữ đứng trước các
từ bị / được) Thực thể nêu ở chủ ngữ (của toàn câu) giữ những vai nghĩa khác
nhau, tuy nhiên cũng là hữu hạn, trong số đó không có vai nghĩa chỉ thực thể tạo
ra hành động nêu ở động từ đứng sau bị / được
1.5.2 Điều kiện về khả năng xuất hiện từ bị hay từ được và kết cấu chủ - vị,
cùng với điều kiện về vai nghĩa của chủ ngữ ngữ pháp, là những điều kiện có tác dụng đồng thời, nghĩa là không thể thiếu một trong những điều kiện đó khi
tạo câu bị động tiếng Việt Những câu chứa từ bị hay từ được mà không thỏa
mãn những điều kiện này thì không thuộc vào phạm trù câu bị động
Từ bị thường được dùng với tính âm (người nói coi là không tốt, không thuận
lợi) từ được thường được dùng với tính dương (tốt, thuận lợi) đối với thực thể
nêu ở chủ ngữ, xét trong quan hệ với sự diễn đạt bằng kết cấu chủ - vị đứng sau
hai từ này Hai ý nghĩa này của các từ bị và được nói chung, và của chúng trong câu bị động nói riêng, làm cho thái bị động của tiếng Việt có màu sắc riêng khi
dịch sang tiếng Anh không thể bỏ qua
1.6 Tiểu kết
Như những gì đã trình bày ở trên, thái bị động trong tiếng Việt được biểu hiện khá rõ nét Thái bị động trong tiếng Việt thể hiện qua mặt ngữ nghĩa ngũ dụng
mà cụ thể được đánh dấu bằng một số chỉ tố từ vựng, phổ biến nhất là sự có mặt
của các từ bị, được, phải Bên cạnh một số từ ngữ đã được xác lập ở trên, trong
một số trường hợp thì nghĩa bị động này nằm ngay trong bản thân từ vựng, ví
dụ : Con trâu buộc ở bụi tre, hoặc các tác tố thời gian như : Bàn lau sạch rồi
Có thể thấy rằng việc mô tả ý nghĩa bị động trong tiếng Việt là rất khó khăn Mục đích của chương này là thử chỉ ra một số bình diện ngôn ngữ có liên quan đến câu bị động tiếng Việt, đồng thời cũng xác lập nên bức tranh thời gian, thông qua những chỉ tố thời gian để góp phần hình thành nên ngữ cảnh trong tiếng Việt
Trang 32CHƯƠNG HAI CÂU BỊ ĐỘNG TIẾNG ANH
Câu bị động trong ngôn ngữ biến hình đã được giới ngôn ngữ học thế giới chú ý
từ lâu, nhưng chủ yếu từ góc độ ngữ pháp Gần đây từ góc độ ngữ dụng, các nhà
ngôn ngữ học đã cố gắng giải thích sự giáng cấp chủ ngữ hay thăng cấp bổ
ngữ trong câu bị động gắn liền với cơ chế vô nhân xưng (impersonalization)
Trang 33không chỉ thuần túy là sự di dời chủ ngữ mà quan hệ mật thiết đến ngữ nghĩa
(E.L Keenan 1975,Comrie 1977) Do vậy , bên cạnh việc chú ý đến cấu trúc
hình thức, cần thiết phải xem xét cả bình diện nội dung , mặc dù đây là một vấn
đề rất phức tạp Nhưng trước hết, chúng ta thử xem sự biểu hiện của câu bị
động trong ngôn ngữ biến hình như thế nào
2.1 Sự biểu hiện của câu bị động trong tiếng Anh
2.1.1 Thuật ngữ voice chỉ áp dụng cho những cấu trúc mang tính đối chiếu
nhau, trên phương diện là vai trò ngữ nghĩa được liên kết với chức năng ngữ
pháp, và thông thường đi kèm với việc định dạng động từ
Còn thuật ngữ Active và Passive chỉ áp dụng cho việc định dạng vai trò với
chức năng trong câu mà nó diễn đạt hành động đó
Ví dụ 1 : a Oswald assassinated Kennedy [active]
b Kenneny was assassinated by Oswald [passive]
Trong [a] thì Oswald được gắn với vai trò chủ động (active role) và đó là vai trò
của tác nhân (the role of agent) có nghĩa là Oswald thực hiện hành động
assassinate Còn trong [b] thì Kennedy là chủ ngữ nhưng với vai bị động, là người
chịu tác động đó (the role of patient) và Kennedy là người có liên quan đến động
từ assassinate Do đó [1a] được gọi là active và [1b] được gọi là passive
Như vậy, theo Givon thì “Bị động hóa” là một thao tác ngữ pháp mà ở đó các
tác thể không được giữ vai trò để dẫn chính của câu” [39 : 186]
Tương tự như [1] ta có các câu sau :
[1.1] a His brother moves the car [active]
(Anh trai anh ấy đẩy chiếc xe.)
b The car is moved by his brother [passive]
(Chiếc xe được anh trai anh ấy đẩy đi )
[1.2] a Lan cleans the room [active]
(Lan lau phòng.)
b The room is cleaned by Lan [passive] ( Phòng này do Lan lau )
[1.3] a Mr David solved the problems [active]
( Ông David đã giải quyết vấn đề này)
b The problem was solved by Mr David [passive]
Trang 34[1.4] a Our new accountants prepared the figures [active]
( Những nhân viên kế toán đã chuẩn bị bảng thống kê.)
b The figures were prepared by our new accountants [passive] ( Bảng thống kê đã được nhân viên kế toán chuẩn bị rồi )
[1.5] a Jane arranged a lot of meetings [active]
(Jane đã sắp xếp các cuộc họp.)
b A lot of meetings were arranged by Jane [passive]
( Các cuộc đều được cô Jane sắp xếp )
[1.6] a The lawyers looked through the contract [active]
(Các luật sư đã xem qua bảng hợp đồng )
b The contract was looked through by the lawyers [passive] ( Hợp đồng này đã được các luật sư xem qua )
Xét [1.1] đến [1.6] ta nhận thấy rằng bỗ ngữ trong [a] không phải chỉ người như trong [1a] mà là những ngữ đoạn danh từ hay cụm danh từ Nhưng về ngữ pháp thì nó vẫn thuộc về [vd1a] Do đó chúng được nhận diện là câu chủ động và bị động
Ví dụ 2 : a Most members of the cabinet hated the premier [active]
(Hầu hết các thành viên nội các ghét Thủ Tướng )
b The premier was hated by most members of the cabinet [passive] ( Thủ Tướng bị các thành viên nội các ghét )
Trong [2] ta nhận thấy rằng most members of the cabinet được gắn với vai trò là người có cảm xúc (experiencer) hơn là vai tác thể và the premier được gắn với
vai trò là xúc tác (stimulus) hơn là vai bị chịu tác động (patient) Mặc dù vai trò
khác nhau nhưng xét về mặt ngữ pháp (Syntactics) thì [2a] thuộc về cấu trúc [1a] và [2b] là [1b], cho nên [2] được xem như là Active và Passive Và những nhận xét như thế là dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của các tác nhân không phải áp dụng cho tất cả các thành phần câu Đặc điểm ngữ nghĩa liên kết chặt chẽ với đặc điểm ngữ pháp Tuy thế, một câu trong tiếng Anh được gọi là chủ động hay bị động là do đặc điểm ngữ pháp quyết định Vậy
thì có thể kết luận như sau : Yếu tố quyết định loại hình câu chủ động hay bị động trong tiếng Anh là đặc điểm ngữ pháp
Như Dyvik đã định nghĩa “thái bị động” là một phạm trù ngữ pháp được thể
hiện bằng một hình thái vị từ hoặc một ngữ đoạn vị từ (thông qua một phụ tố,
Trang 35một vị từ phụ tố hoặc một phương tiện khác” [37:69] Và thay vào đó, ông cũng
đã xác định chức năng của thái bị động như sau: “là thay đổi cách phân vai, làm
cho cái vai nghĩa vốn được phân cho chủ ngữ của vị từ (hay của vị ngữ) trong
câu chủ động bây giờ không còn được phân cho nó nữa, nhưng cái vai đó vẫn
có thể được phân cho một thành tố danh từ tính khác” [37: 69]
Ví dụ 3: a Workers in China make these telephones [active]
b These telephones are made in China [ passive]
[3a] giống với [1.1a] bổ ngữ là một danh từ, nhưng [3b] thì không giống với
[1.1b] Workers trong [3a] là tác thể đã mất đi, không xuất hiện trở lại trong
[3b] để đảm nhận vai trò patient nữa Thế nhưng [3b] vẫn được nhận diện là
một passive trong ngữ pháp tiếng Anh Hãy xem những ví dụ b tương tự như [3]
và đều được xem là passive
[3.1] a Employers pay many manual workers weekly [active]
b Many manual workers are paid weekly [passive]
[3.2] a They keep a large amount of gold at Fort Knox [active]
b A large amount of gold is kept at Fort Knox [passive]
[3.3] a People don’t use this road very often [active]
b.This road isn’t used very often [passive]
[3.4] a Workers build a lot of the world’s super tankers in South Korea [active]
b A lot of the world’s super tankers are built in South Korea [passive]
[3.5] a Farmers grow a third of the world’s cocoa on the Ivory Coast [active]
b A third of the world’s cocoa is grown on the Ivory Coast [passive]
[3.6] a Countries store most nuclear waste underground [active]
b Most nuclear waste is stored underground [passive]
[3.7] a Scientists test more new drugs extensively before they go on sale [active] b.Before they go on sale,most new drugs are tested extensively [passive]
[3.8] a They built a new ring – road round the city [active]
b A new ring road was built round the city [passive]
[3.9] a They knocked down these old houses [active]
b These houses were knocked down [passive]
[3.10] a We recruited a new Production Manager [active]
b A new Production Manager was recruited [passive]
Trang 36Sở dĩ phải liệt kê nhiều ví dụ như vậy là vì , xét riêng về vấn đề tác thể và đối thể , mối quan hệ giữa câu bị động và câu chủ động không chỉ thuần tuý là việc chuyển đổi chủ ngữ , không chỉ là mối quan hệ giữa chủ ngữ và bổ ngữ mà còn
lệ thuộc vào các tác thể cụ thể
Như đã thấy trong một số trường hợp vai tác thể (agent) không được đề cập đến nữa, nó đã vắng mặt hoàn toàn Nhưng có thể hiểu được qua ngữ cảnh.Theo Jespersen [41 : 167, 168] : Chủ ngữ “chủ động” (vai tác thể) thì không được đề cập đến hoặc không còn được đứng ở vị trí đầu câu Sự vắng mặt ấy có thể có một lý do đặc biệt nào đó, tuy nhiên nó (vai tác thể) có thể
nhận rõ nhờ ngôn cảnh Ngay cả khi chủ ngữ “chủ động” được đề cập thì nó
cũng không thể thu hút được sự chú ý của người nói / nghe như chủ ngữ “bị
động” Và cuối cùng là cái ý nghĩa có tính ngữ dụng của thái bị động là nó góp
phần, bảo đảm sự liên kết giữa một câu với các câu khác trong văn bản
Như vậy, xét [3] ta có thể thấy rằng tác thể trong câu chủ động bị lược bỏ trong câu bị động, lý do của sự lược bỏ được hiểu như sau:
(i) Tác thể thể hiện là người hoặc vật nói chung như trong [3.1], [3.3], [3.4]
(ii) Trong ngữ cảnh rõ ràng, cụ thể
Ví dụ : He was killed in the Second World War
(Anh ấy bị chết/tử nạn trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.)
(iii) Vì lý do riêng nào đó, người ta không muốn nhắc đến tác thể (tác nhân gây
ra hành động đó)
Ví dụ :
a.Over 36% of Guatemalan workers are employed in the agriculture sector (Hơn 36% công nhân Guatemalan được thuê ở vùng nông nghiệp)
b Cheese is made from milk (Bơ được làm từ sữa)
c Many of the world’s diamonds are mined in South Africa
(Rất nhiều loại kim cương được khai thác ở Nam Phi.)
d The Stones are sent to Amsterdam, where they are sold to international dealers
(Các loại đá quý được chuyển đến Amsterdam và tại đây nó sẽ được bán cho các nhà buôn quốc tế)
Vậy thì, việc xác định câu bị động là hoàn toàn dựa vào chủ ngữ và đó không phải là vấn đề thuật ngữ nữa , bởi vì tiêu chí trung tâm cho việc phân vai cho chủ ngữ là nòng cốt cho việc xác định này Do đó việc phân vai nghĩa cho chủ
Trang 37ngữ đóng vai trò quan trọng trong thái bị động, kết cấu bị động có thể được
xem là một trong những đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, có nghĩa
trong ngôn ngữ biến hình trong đó có tiếng Anh
Trong kết cấu chủ động, điểm xuất phát trùng với chủ ngữ do tham tố ở vai tác thể đóng vai trong khi đối thể ( bổ ngữ) được đặt sau vị từ hạt nhân (động từ)
Trong [1a] : Oswald assassinated Kennedy [active]
Chủ ngữ Bổ ngữ trực tiếp
Trong [1b] : Kennedy was assassinated by Oswald [passive]
Đối thể Tác thể Chủ ngữ
Nhưng trong kết cấu bị động, sự tương ứng này ngược lại, đối thể trở thành chủ
ngữ, còn tác thể thì trở thành túc từ nội hóa (internalised complement) đặt sau
giới từ by
Rõ ràng một đặc điểm được phản ánh trong câu bị động thường liên quan đến hai hoặc ba tham tố (hai hay ba đối thể) Và việc đưa tham tố này hay tham tố khác làm vị trí đầu câu làm điểm xuất phát được thực hiện bằng sự lựa chọn
thái chủ động hay thái bị động trong tiếng Anh
2.1.2.Trong tiếng Anh có một số động từ đòi hỏi hai tham tố, ngoài ra tác thể
(chủ ngữ), còn có một vai đối thể (bổ ngữ trực tiếp) và vai tiếp thể (bổ ngữ gián
tiếp) Trong trường hợp này thì đối thể hay tiếp thể đều có thể được đưa lên cương vị hàng đầu để đảm nhận vai trò chủ ngữ trong câu bị động
Ví dụ 4:
[4.1] a My aunt gave Ed a pair of shoes [active]
(Cô tôi tặng Ed một đôi giày.)
b Ed was given a pair of shoes by my aunt [passive]
(Ed được cô tôi tặng một đôi giày.)
c A pair of shoes was given Ed by my aunt
(Đôi giày này là cô tôi tặng cho Ed.)
Ta có :
[4.1a] My aunt gave Ed a pair of shoes [active]
Tác thể Tiếp thể Đối thể
Chủ ngữ BNGT BNTT
Trang 38Trong tiếng Anh, câu chủ động mà có hai bổ ngữ như trong [4.1a] và [4.2a] thì
bổ ngữ gián tiếp (tiếp thể) được gọi là túc từ ngoại hóa (indirect object externalised), còn bổ ngữ trực tiếp (đối thể) được gọi l tc từ nội hĩa (direct
object externalised) (như trong [4.1a] và [4.2a]
Nếu như tiếp thể (bổ ngữ gián tiếp) được đưa lên hàng đầu làm chủ ngữ trong
câu bị động thì cấu trúc bị động này gọi là first passive (I), còn đối thể (bổ ngữ
trực tiếp) được đưa lên hàng đầu làm chủ ngữ trong câu bị động thì gọi là
second passive (II) Điều này phụ thuộc vào vị trí tuyến tính của hai bổ ngữ đã
xuất hiện trong câu chủ động Trường hợp (I) xuất hiện nhiều hơn trường hợp (II) Trường hợp (II) chỉ được chấp nhận trong một số ngữ cảnh nhất định nào
đó mà thôi
Những động từ đại diện cho [4]mà thừơng gặp là offer, give,show, lend, bring, pass, send … đây là những động từ luôn theo sau hai bổ ngữ
Ví dụ :
[4.3] a My mother brings me a cup of coffee [active]
(Mẹ tôi mang cho tôi tách cà phê.)
b I am brought a cup of coffee by my mother [passive]
(Tôi được mẹ mang cho tách cà phê)
Trang 39[4.4] a The shop assisstant showed me the shoes in the window [active]
(Người bán hàng cho tôi xem đôi giày trong tủ kính.)
b I was shown the shoes in the window by the shop assistant [passive]
(Tôi được người bán hàng cho xem đôi giày trong tủ kính.)
[4.5] a My best friend lent me some money [active]
(Bạn thân tôi đã cho tôi mượn một ít tiền )
b I was lent some money by my best friend [passive]
(Tôi được bạn thân cho mượn một ít tiền )
Cấu trúc bị động quả thực giữ một vai trò rất quan trọng đối với các ngôn ngữ
thiên chủ ngữ, bởi lẽ, nói như Fillmore : “Chủ ngữ là khái niệm cơ bản đến
mức nếu một danh từ (hay một ngữ danh từ) khác với danh từ mà một danh từ
đã cho chỉ định làm chủ ngữ lại trở thành chủ ngữ thì động từ ấy phải đựơc
đánh dấu để báo hiệu sự lựa chọn cái chủ ngữ “không bình thường” nói trên [dẫn theo 18: 138] Cụ thể hơn, Fillmore nhấn mạnh điều kiện cần thiết này như
sau: :đối với động từ to give (cho) trong tiếng Anh : “Sự lựa chọn ‘bình thường’ chủ ngữ cho các câu bao gồm vai ‘người hành động’ là A Động từ to
give cũng cho phép hoặc một đối thể hoặc một tiếp thể xuất hiện với tư cách chủ ngữ như là sự lựa chọn không bình thường này đã “đăng ký” ở động từ to
give Sự ‘đăng ký’ một chủ ngữ “không bình thường” xảy ra thông qua việc
liên kết thuộc tính [bị động] với động từ nói trên [dẫn theo 18:138]
2.1.3 Thông qua sự biểu hiện của câu bị động trong tiếng Anh như đã trình bày
trên đây, có thể đúc kết như sau:
(i) Trong câu chủ động thì bổ ngữ là một phần của Verb Phrase nhưng trong
câu bị động thì bổ ngữ đã trở thành chủ ngữ, là tách khỏi Verb phrase
(ii) Đối với Verb phrase có hai bổ ngữ đi kèm đó là bổ ngữ trực tiếp và bổ ngữ
gián tiếp thì chỉ một trong hai bổ ngữ ấy là trở thành chủ ngữ trong câu bị
động Vậy hệ quả của việc này là bổ ngữ trực tiếp ở câu chủ động không phải
lúc nào cũng là chủ ngữ ở câu bị động
Tiểu mục này chỉ trình bày sơ lược về một số biến thể của câu bị động cũng như mối quan hệ giữa chủ thể và đối thể trong câu chủ động với câu bị động Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở phần sau của chương hai
2.2 Thể của câu chủ động trong tiếng Anh
Trang 40Nhìn một cách khái quát , có thể nói ý nghĩa thời gian trong tiếng Anh giàu tính
chất ngữ pháp, luôn được biểu hiện bằng hình thức thì : “Thì là cách định vị được ngữ pháp hóa của một sự kiện trong thời gian - Tense is a
grammarticalized location of an event in time (Comrie, 1985)” Tuy nhiên trong
tiếng Anh vẫn có những chỉ tố thời gian đi kèm với thì để làm tăng thêm tính xác định của nó Bởi vì không phải mỗi thì ( được biểu hiện bằng một hình
thức riêng) trong tiếng Anh đều điễn đạt ý nghĩa thời gian riêng biệt mà có khi
một thì có thể diễn đạt cùng một lúc cho cả hai ý nghĩa thời gian ví dụ thì hiện
tại tiếp diễn có thể diễn đạt cho ý nghĩa thời gian trong hiện tại và tương lai Nói thế, nhưng nếu không có sự hiện diện của chỉ tố thời gian thì sẽ căn cứ vào ngữ
cảnh và đặc biệt là thì để xác định thời gian mà hành động được thực thi
Khác với tiếng Việt, trong tiếng Anh trước khi đề cập đến thì thì phải nói đến
thể (Aspects) Trong tiếng Anh, chia làm ba thể: Thể đơn, thể liên tiến (tiếp diễn) và thể hoàn thành Trong mỗi thể gồm có những thì khác nhau
2.2.1 Thể đơn
Gồm có những thì như : Simple present (hiện tại đơn), simple past (quá khứ đơn), present perfect simple (hiện tại hoàn thành), Simple Future (tương lai đơn)
a/ Simple present – Thì hiện tại đơn
(i ) Để diễn tả một thói quen hay một hành động được lặp đi lặp lại, trong tiếng
Anh người ta dùng thì Simple present (hiện tại đơn) Điều này cần phải hiểu rằng hành động này xảy ra hôm qua, hôm nay và ngày mai cũng thế (đó là thói
quen) và được thể hiện bằng hình thức ngữ pháp là infinitive (động từ nguyên mẫu, không to) theo sau chủ thể hoạt động (tác thể) và dĩ nhiên infinitive sẽ chia
theo vai tác thể ở phía trứơc nó Nếu như vai tác thể ở số ít (chỉ một người) thì động từ theo sau tác thể sẽ có “S” Có thể trình bày như sau:
Subject + Verb (s) + Complement
Ví dụ :
[1] a They clean the room every day
b He cleans the room every day
c Her brother moves the car
d.Employers pay many manual workers weekly
Trong [1a-b] có sự xuất hiện của every day, một chỉ tố thời gian (hàng ngày) Như vậy ngoài việc biểu hiện bằng thì riêng biệt, tiếng Anh còn dùng đến