Mục đích nghiên cứu
Nhu cầu sử dụng tiếng Hán hiện đại ngày càng tăng, đặc biệt trong lĩnh vực dịch thuật Những người làm công tác dịch thuật và thư ký tại các công ty nước ngoài không chỉ cần dịch nói mà còn phải dịch và soạn thảo văn bản Để đáp ứng yêu cầu này, họ cần nắm vững ngôn ngữ và văn phong của cả tiếng Hán và tiếng Việt, cùng với quy trình soạn thảo văn bản Luận văn này được thực hiện nhằm hỗ trợ những người làm dịch thuật, giảng dạy và sinh viên học tiếng Hán, giúp họ hiểu rõ hơn về cách sử dụng, so sánh và đối chiếu văn bản giữa hai ngôn ngữ Điều này tạo điều kiện cho họ tiếp cận tốt hơn với các lĩnh vực văn hóa, lịch sử và kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó diễn đạt và phiên dịch chính xác, chuyển tải những giá trị văn hóa và ngôn ngữ đặc sắc của hai dân tộc.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
Văn bản, đặc biệt là văn bản hành chính (VBHC), đã từ lâu được công nhận là một đơn vị ngôn ngữ quan trọng và là đối tượng nghiên cứu chính trong ngôn ngữ học Theo tác giả Nguyễn Thế Quyền, lĩnh vực VBHC mang nhiều đặc điểm riêng biệt, đáng để nghiên cứu sâu hơn.
Giáo trình kĩ thuật xây dựng văn bản hành chính (VBHC) là tài liệu cần thiết cho công vụ hành chính, nghiên cứu quy trình, ngôn ngữ, kiểm tra và xử lý VBHC Tác giả Đồng Thị Thanh Phương đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này thông qua các nghiên cứu sâu sắc trong quyển sách của mình.
Nghiên cứu về soạn thảo văn bản và công tác văn thư, lưu trữ đã cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình soạn thảo, kỹ thuật và quản lý văn bản Ngoài ra, các công trình nghiên cứu liên quan đến phương pháp soạn thảo văn bản trong quản lý, giao dịch và kinh doanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác này.
Nguyễn Huy Thông và Hồ Quang Chính đã nghiên cứu Luật hành chính Việt Nam, trong khi Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu đã đóng góp vào lĩnh vực này với các tác phẩm như Tuyển tập các mẫu thư tín Hoa – Anh trong giao dịch thương mại của Tô Cẩm Duy và Quản lý hành chính văn phòng của Nguyễn Hữu Thân Ở Trung Quốc, nghiên cứu về văn bản hành chính (VBHC) đã phát triển sớm hơn, với tác giả Trương Hạo trong quyển Soạn thảo công văn hành chính toàn tập đã chỉ ra sự đa dạng của VBHC qua các lĩnh vực như pháp định, quy chế, sự vụ, hội nghị và giao tiếp Tác phẩm của Chu Duyệt Hùng, Soạn thảo văn bản ứng dụng mới, khảo sát nhiều loại VBHC và cung cấp kiến thức chi tiết về cách soạn thảo văn bản tiếng Hán, cũng như phân tích và giải thích kết cấu văn bản hành chính Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác như Trung Quốc công văn học của Miêu Phong Lâm và Trung Quốc hiện đại công văn tả tác nguyên lý - phương pháp của Chu Sâm Giáp Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào so sánh giữa VBHC tiếng Hán và tiếng Việt.
- Đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính thông dụng tiếng Hán
Đề tài "So sánh với văn bản hành chính thông dụng tiếng Việt" thể hiện sự liên kết giữa tiếng Hán và tiếng Việt, yêu cầu kiến thức về văn bản hành chính và các lĩnh vực ngôn ngữ học như ngôn ngữ học so sánh, tiếp xúc ngôn ngữ Nó cũng cần tham khảo các nghiên cứu về từ Hán – Việt từ các nhà Việt ngữ học, cũng như các thành quả nghiên cứu về loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng Hán trong ngôn ngữ học đại cương, lý thuyết dịch và ngữ pháp học.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng các phương pháp chủ yếu như thống kê – phân loại, so sánh – đối chiếu, và phân tích – tổng hợp để đảm bảo tính chính xác và toàn diện của kết quả.
Phương pháp thống kê – phân loại là quá trình liệt kê toàn bộ văn bản hành chính (VBHC) từ nhiều lĩnh vực khác nhau, sau đó phân loại để xác định những loại nào cần được định hướng cho việc khảo sát và nghiên cứu sâu hơn.
Phương pháp so sánh – đối chiếu giữa VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt là rất cần thiết để nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt, hỗ trợ cho việc dịch thuật và giao tiếp hành chính giữa hai quốc gia Đồng thời, phương pháp phân tích – tổng hợp giúp làm rõ thể thức, ngữ nghĩa và ngữ pháp của VBHCTD, từ đó rút ra những từ ngữ chuyên biệt mà người sử dụng thường gặp lỗi trong quá trình giao tiếp.
Kết hợp ba phương pháp này sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc áp dụng thành quả của lý thuyết ngôn ngữ và dịch thuật vào nghiên cứu đề tài.
- và đương nhiên công việc tra cứu từ điển là sự hỗ trợ không thể thiếu cho các phương pháp này
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
VBHCTD là một công cụ giao tiếp văn bản phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề và giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức xã hội Nó không chỉ phục vụ cho việc trao đổi thông tin mà còn thể hiện đặc trưng văn hóa xã hội của cộng đồng.
Ngôn ngữ trong VBHCTD phản ánh những nét văn hóa độc đáo của Trung Quốc và Việt Nam, qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ văn hóa giữa hai quốc gia Tên gọi của VBHCTD cũng thể hiện tính khoa học, tính đại chúng, tính công quyền và tính khả thi, cho thấy sự đa dạng và phong phú trong cách tiếp cận văn hóa.
Ngôn ngữ trong VBHCTD cần mang phong cách hành chính công vụ, dễ hiểu và dễ nhớ, phù hợp với trình độ dân trí Điều này giúp phản ánh nguyện vọng của nhân dân khi tham gia vào công vụ hành chính.
VBHCTD cung cấp thông tin hữu ích về từ ngữ và thuật ngữ hành chính, giúp người dùng dễ dàng giao tiếp và học ngoại ngữ Điều này đặc biệt quan trọng cho những ai làm việc trong lĩnh vực dịch thuật, văn thư, giao dịch và thư ký tại các cơ quan nhà nước và công ty nước ngoài sử dụng tiếng Hán.
Luận văn gồm: Mở đầu, Ba chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo
Mở đầu của bài nghiên cứu nêu rõ mục đích và lý do lựa chọn đề tài, đồng thời trình bày lịch sử nghiên cứu liên quan, phạm vi và phương pháp nghiên cứu được áp dụng Bên cạnh đó, phần này cũng đề cập đến nguồn tư liệu sử dụng, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu, cùng với những đóng góp của luận văn đối với lĩnh vực nghiên cứu.
Chương 1: Khái niệm và thể thức văn bản hành chính thông dụng tiếng
Hán (So sánh với văn bản hành chính thông dụng tiếng Việt)
1.1 Khái niệm VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt
1.2 Đặc trưng VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt
1.3 Chức năng của VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt
1.4 Thể thức VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt
1.5 Một số phương pháp thường dùng xây dựng thể thức VBHCTD
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính thông dụng tiếng
2.1 Vấn đề ngôn ngữ VBHCTD tiếng Hán và tiếng Việt
2.2 Cách sử dụng ngôn ngữ VBHCTD tiếng Hán
- Sử dụng thuật ngữ hành chính công vụ chuyên biệt
2.3 Cách sử dụng ngôn ngữ VBHCTD tiếng Việt
- Những yêu cầu về hành văn
Chương 3: So sánh một số mẫu văn bản hành chính thông dụng tiếng
Hán với các loại tương ứng trong tiếng Việt
Phần Kết luận tóm lại những ý chính của luận văn, những kết quả nghiên cứu và ý kiến của bản thân
KHÁI NIỆM VÀ THỂ THỨC VĂN BẢN HÀNH CHÍNH THÔNG
(SO SÁNH VỚI VĂN BẢN HÀNH CHÍNH THÔNG DỤNG TIẾNG VIỆT)
1.1 Khái niệm văn bản hành chính thông dụng tiếng Hán và tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm văn bản hành chính thông dụng tiếng Hán
VBHCTD tiếng Hán, hay còn gọi là “通用行政公文”, là loại văn thư công vụ có hiệu lực pháp định, được sử dụng trong quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước Loại văn bản này có cách thức riêng biệt, chuyên dùng cho hoạt động công vụ của nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội VBHCTD là công cụ giao dịch quan trọng, giúp giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước, cũng như giữa các cơ quan này với tổ chức xã hội và công dân.
[43, tr 112] VBHCTD tiếng Hán bao gồm các loại :Mệnh lệnh 命令, Nghị án
議案, Quyết định 決定, Chỉ thị 指示, Công báo 公告, Thông báo 通知 (通報),
- Thông cáo 通告, Xin chỉ thị 請示, Báo cáo 報告, Trả lời 批復, Công hàm 函, Biên bản 會議記錄 v.v
1.1.2 Khái niệm văn bản hành chính thông dụng tiếng Việt
VBHCTD tiếng Việt được chia thành hai loại chính: loại không có tên loại cụ thể, thường là công văn, và loại có tên loại rõ ràng như thông báo, báo cáo, biên bản, tờ trình, giấy giới thiệu và giấy xin phép.
Theo Nguyễn Văn Thâm, công văn là loại văn bản hành chính không có tên loại, được sử dụng để thông tin trong các hoạt động giao dịch và trao đổi công tác giữa các chủ thể có thẩm quyền nhằm giải quyết nhiệm vụ liên quan Công văn có thể là văn bản nội bộ hoặc văn bản đến và đi, chứa đựng các nội dung chủ yếu cần thiết.
- Thông báo một (hoặc một vài) vấn đề trong hoạt động công vụ được tạo nên do một văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành;
- Hướng dẫn thực hiện văn bản của cấp trên;
- Thông báo một số hoạt động dự kiến xảy ra, thí dụ như về việc mở lớp đào tạo, bồi dưỡng…
- Xin ý kiến về vấn đề nào đó trong họat động của cơ quan;
- Trình kế hoạch mới, đề nghị mới lên cấp trên;
- Xác nhận vấn đề có liên quan đến họat động của cơ quan;
- Thăm hỏi, cảm ơn, phúc đáp v.v
Các loại công văn phù hợp với từng nội dung bao gồm: hướng dẫn, giải thích, phúc đáp, đôn đốc, giao dịch, đề nghị, đề xuất, thăm hỏi, cảm ơn và chối từ.
Khi làm việc với nội dung đa dạng, cần phân biệt rõ ràng giữa công văn thông báo và thông báo, cũng như giữa công văn đề xuất và các đề án, dự án hay tờ trình.
1.2 Đặc trưng văn bản hành chính thông dụng tiếng Hán và tiếng Việt
1 2.1 Tính chính trò ( 政 治 性)
VBHCTD tiếng Hán là công cụ truyền tải đường lối, phương châm và chính sách của nhà nước, mang đậm sắc thái chính trị và thể hiện ý chí của chính quyền.