Hội nghị xác định “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách m
Trang 1VŨ TẤT ĐẠT
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968 Ở HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 2
VŨ TẤT ĐẠT
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
XUÂN MẬU THÂN 1968 Ở HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 05 03 15
Cán bộ hướng dẫn khoa học: Thiếu tướng GS TS NGND HUỲNH NGHĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2007
Trang 12Chương 1
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY
MÙA XUÂN 1968 Ở HUẾ
1.1 Tình hình chiến trường Trị Thiên - Huế trước cuộc Tổng tiến cơng và nổi dậy
1.1.1 Vài nét về thành phố Huế
Thμnh phè Huế nằm cách vĩ tuyến 17 khoảng 100 km về phía Nam, có diện tích 70 km2, lμ thμnh phè lớn thứ ba ở miền Nam Việt Nam và được coi là thành phố thơ mộng, đẹp nhÊt
Sông Hương, hợp lưu của hai sơng Tả Trạch và Hữu Trạch, từ ngã ba Bằng Lạc đổ ra biển ở cửa Thuận An, chia thành phố Huế thành hai khu vực:
Khu Tả ngạn ở phía Bắc cĩ Thành nội rộng khoảng 6km2, xung quanh có hào sâu và thành xây kiên cố, mỗi chiều 2.500 mét, cao 8 mét, chân rộng
70 mét, mặt thành rộng 15 mét; có 10 cổng to và vững chắc: phía Đơng cĩ cửa Kế Trái, cửa Đông Ba; phía Nam cĩ cửa Thượng Tứ, cửa Ngăn, cửa Quảng Đức, cửa Nhà Đồ; phía Tây cĩ cửa Hữu, cửa Chánh Tây; phía Bắc
cĩ cửa An Hoà và cửa Hậu Trong Thành nội có khu Đại Nội với cung điện, đền đài của nhà Nguyễn trước đây
Trang 13Con sơng đào mang tên Ngự Hà chảy cắt ngang Thành nội, thông ra ngoài qua hai cổng Thuỷ Quan và Thanh Long Thuyền đò có thể ra vào theo đường sông này
Khu vực Tả ngạn chia thành 4 khu phố: Khu phố 1 là Thành nội; Khu phố 2 gồm các đường phố Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu và Huỳnh Thúc Kháng; Khu phố 3 có các đường Thống Nhất và Lê Văn Duyệt; Khu phố 4 là vòng cung từ sông Hương nối qua Bao Vinh, Mang Cá
Khu Hữu ngạn (thường được gọi là khu Tam giác) nằm ở phía Nam
sông Hương Tại đây có nhà máy điện, bệnh viện Huế, các trường học lớn như Đồng Khánh, Khải Định, nhà lao Thừa Phủ, khách sạn Thuận Hoá, Hương Giang Từ ngoại ô vào nội đô khu Hữu ngạn, tuy bị hai con sông Vân Dương và Vạn Lợi (An Cựu) ngăn cách nhưng cũng không trở ngại nhiều vì sông không rộng Riêng sông Vạn Lợi có đến 7 chiếc cầu bắc qua
Ở đây tập trung nhiều chùa lớn như Từ Đàm, Linh Quang, Tường Vân, Bảo Quốc, Sư Nữ Ngoài ra còn có nhà thờ lớn Phú Cam, Phước Quả
Ba huyện tiếp giáp với thành phố Huế (Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ) là vùng nơng thơn khá rộng lớn
Cư dân thành phố Huế cĩ khoảng 15 vạn người [100, tr 11], phần lớn theo Phật giáo (85%); khoảng 3 vạn người theo Thiên Chúa giáo, tập trung chủ yếu ở Phú Cam, Phước Quả; ngoài ra còn có một số người theo đạo Tin Lành, Hoà Hảo
Công chức và gia đình của họ, gia đình binh sĩ quân đội Sài Gịn cĩ gần 30.000 người Số sinh viên và học sinh có khoảng 25.000; nhân dân lao động có khoảng 70.000 người, phần đông là tiểu thương, thợ thủ công
vμ nh÷ng ng−êi lμm dịch vụ
Trang 14Thaứnh phoỏ chổ coự maỏy cụ sụỷ saỷn xuaỏt coõng nghieọp neõn taàng lụựp coõng nhaõn khoõng nhieàu, chuỷ yeỏu laứ soỏ coõng nhaõn laứm vieọc trong caực nhaứ maựy phuùc vuù sinh hoaùt nhử nhaứ maựy ủieọn, nhaứ maựy in, nhaứ maựy nửụực, sửỷa chửừa ủửụứng xaự, xaõy dửùng…
Nhaõn daõn vuứng noõng thoõn vaứ thaứnh phoỏ quan heọ chaởt cheừ vụựi nhau, neõn moói bieỏn chuyeồn quaõn sửù, chớnh trũ ụỷ noõng thoõn ủeàu aỷnh hửụỷng trửùc tieỏp vaứo thaứnh phoỏ
Thaứnh phoỏ Huế thuộc chiến trường Trị Thiờn, tiếp giỏp với miền Bắc, nờn cú vị trớ chiến lược hết sức quan trọng cả về chớnh trũ, quaõn sửù, đối với cả địch và ta trong chiến tranh Sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương
được ký kết, Hueỏ thuoọc quyeàn kieồm soaựt cuỷa Myừ - nguợ, laứ trung taõm chổ ủaùo chieỏn lửụùc cuỷa ủũch treõn khu vửùc tieỏp giaựp ủoỏi ủaàu vụựi mieàn Baộc ễÛ ủaõy coự 46 cụ quan haứnh chớnh của chớnh quyền Sài Gũn, taọp trung boùn caàm ủaàu caực ủaỷng phaựi phaỷn ủoọng nhử Quoỏc Daõn ẹaỷng, ẹaùi Vieọt, Caàn Lao Nhaõn Vũ; ủoàng thụứi laứ nụi ủũch boỏ trớ moọt boọ maựy chieỏn tranh khaự maùnh, thường xuyờn cú tửứ 2,5 ủeỏn 3 vaùn quaõn, vụựi nhieàu trang bũ, vuừ khớ hieọn đại
Thành phố Huế nổi tiếng với nhiều di tớch lịch sử, văn húa, cũn ghi nhiều chiến cụng oanh liệt của quõn và dõn ta trong quỏ trỡnh đấu tranh vỡ độc lập tự do
Ngày 23-8-1945, Huế quật khởi giành chớnh quyền trong Cỏch mạng thỏng Tỏm Cả Huế chứng kiến lễ thoỏi vị của Bảo Đại, chấm dứt chế độ quõn chủ chuyờn chế hàng nghỡn năm trong lịch sử dõn tộc Hơn một năm sau, thỏng 12-1946, hưởng ứng lời kờu gọi thiờng liờng của Chủ tịch Hồ Chớ Minh, Huế đó cựng cả nước hiờn ngang đi vào cuộc khỏng chiến trường kỳ chống thực dõn Phỏp
Trang 15Cũng như các thành phố ở miền Nam, Huế là nơi cĩ phong trào đấu tranh hợp pháp cơng khai của các tầng lớp nhân dân chống chế độ Mỹ - ngụy
từ nửa sau những năm 50 và những năm 60 của thế kỷ XX
Tháng 10-1956, nổ ra phong trào xuống đường của hàng chục vạn người trong thành phố và các thơn xã lân cận, lơi kéo một số sĩ quan và binh
sĩ quân đội Sài Gịn tham gia, nêu cao các khẩu hiệu: cứu đĩi, chống khủng bố, chống Mỹ - Diệm phá họai Hiệp định Giơnevơ, địi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà
Những năm 1960, từ sau khi cĩ phong trào Đồng Khởi, khí thế cách mạng của quần chúng càng lên cao, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Huế càng phát triển Năm 1963, bùng nổ phong trào chống chế độ độc tài, phát xít, gia đình trị của Ngơ Đình Diệm, lơi cuốn sự tham gia của hàng vạn quần chúng thuộc nhiều tầng lớp xã hội, nhất là học sinh, sinh viên, phật tử , với những hình thức phong phú: biểu tình, thị uy, bãi thị… nhiều nhà sư ở chùa Từ Đàm, Phước Duyên đã tự thiêu để phản đối chế độ Mỹ - Diệm Ngày 2-6-1963, hàng vạn quần chúng biểu tình ngồi giữa đường phố lớn tuyệt thực; chính quyền ngụy đưa cảnh sát dã chiến tới đàn áp, nhưng bị quần chúng, thanh niên, Phật tử chống lại quyết liệt Địch càng tăng cường đàn áp thì phong trào càng lên cao, làm chính quyền Diệm chùn bước, phải cử Phĩ tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ hiệp thương với Phật giáo
Tiếp đĩ là những cuộc đấu tranh chống DiƯm – Nhu (1963), Khánh - Hương (1964), chống Mỹ - Thiệu - Kú những năm 1965-1966; nổi lên các phong trào của học sinh, sinh viên vạch mặt Mỹ cướp nước, bọn tay sai bán nước và phong trào ly khai của binh lính quân đội Sài Gịn Trong phong trào đấu tranh chính trị “một trăm ngày” (từ tháng 2 đến tháng 6-1966), “thanh niên, sinh viên, học sinh Huế đã thành lập những đội quân bán vũ trang với tên gọi là Đồn sinh viên quyết tử Trong những ngày cuối cùng của phong
Trang 16trào, hàng ngàn bàn thờ Phật được đưa ra đường để chống trả sự đàn áp quyết liệt của kẻ thù Một số nhà nghiên cứu đã gọi phong trào chính trị trên đây là
“Sự kiện bàn thờ xuống đường”” [14, tr 168] Quần chúng xuống đường đòi
hòa bình, chống chiến tranh, đòi lật đổ Thiệu - Kỳ Học sinh bãi khóa, tiểu thương bãi chợ, công chức bãi việc, đồng bào theo đạo Phật hăng hái xuống đường, các tầng lớp nhân dân tổ chức tuần lễ “tẩy chay quân Mỹ” như “bỏ việc các sở Mỹ”, “không bán hàng cho Mỹ”, “không giao tiếp với Mỹ” Chính phong trào quần chúng và sự lục đục, cắn xé lẫn nhau giữa bọn tay sai Mỹ đã dẫn đến sự kiện sĩ quan, binh lính sư đoàn 1 ngụy tuyên bố ly khai Nhân dân Huế hỗ trợ đời sống cho hơn 5.000 anh em sĩ quan, binh lính để họ có điều kiện ly khai Thanh niên Huế lập đoàn sinh viên quyết tử, được binh lính, sĩ quan ly khai huấn luyện và trang bị súng 1074 binh sĩ bỏ ngũ, một số xin gia nhập hàng ngũ kháng chiến [95, tr 157] Nhiều sinh viên, học sinh Huế thoát
ly lên chiến khu với ước mơ sớm có ngày trở về giải phóng quê hương
Ngày 27-5-1966, hàng nghìn quần chuùng xuống đường bao vây, đốt sở thông tin Mỹ Ngày 31-5-1966, quần chúng lại đến vây, đập phá nhà tỉnh trưởng Phan Văn Khoa Ngày 15-7-1966, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành
ủy, Ủy ban sinh viên tranh thủ cách mạng cho ra đời tuần báo Sinh viên quật
khởi, tuyên truyền đường lối của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam, kêu gọi nhân dân Huế vững tin vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình; đồng thời vạch trần bản chất tay sai bán nước của chính quyền Sài Gòn
Qua thực tiễn đấu tranh, lực lượng chính trị trong thành phố được xây dựng và củng cố Ở nội thành có 8 chi bộ đảng, khoảng 100 cơ sở và đông đảo quần chúng hướng về cách mạng và sẵn sàng tham gia các cuộc đấu tranh,
có thể huy động từ 3.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm [100, tr 13]
Phong trào đấu tranh chính trị ở Huế, cùng với phong trào đô thị miền Nam nói chung đã làm rối loạn sào huyệt kẻ thù, góp phần quan trọng làm thất bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ Qua thực tiễn đấu tranh, ý
Trang 17thức độc lập dân tộc và thống nhất đất nước được củng cố và tăng cường, tinh thần chống Mỹ ngày càng cao Đó là cơ sở để tiếp tục đưa quần chúng tiến lên đấu tranh quyết liệt hơn
1.1.2 Tình hình chiến trường Trị Thiên - Huế trước mùa Xuân Mậu Thân 1968
Trước năm 1966, thành phố Huế nằm trong Phân khu Bắc, thuộc Quân khu V Tháng 4-1966, Bộ Chính Trị quyết định thành lập Khu và Quân khu Trị - Thiên - Huế (tách khỏi Khu V) trực thuộc Trung ương và Bộ Quốc phòng “Từ một khu đệm, không đánh lớn, đã chuyeån thành một mặt trận tiến công địch, cùng với Mặt trận Đường số 9 - Bắc Quảng Trị, là một hướng chiến lược quan trọng, một chiến trường tiêu diệt, thu hút địch, nhất là Mỹ; có khả năng phối hợp tác chiến với các chiến trường khác để đưa cuộc chiến tranh cách mạng lên một bước mới” Năm 1966, Khu ủy và Quân khu ủy “chủ trương đẩy mạnh tiến công địch, xây dựng và củng cố bàn đạp vững chắc trên vùng rừng núi, đưa chiến tranh xuống đồng bằng, chiếm lĩnh vùng giáp ranh, xây dựng cơ sở vùng ven để chuẩn bị đánh thẳng vào đô thị” [100, tr 20] Thành phố Huế có vị trí rất quan trọng trong mặt trận đô thị miền Nam Nghị quyết thường trực Quân ủy Trung ướng tháng 4-1966, chủ trương “đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở Huế và các đô thị khác” [95, tr 159]
Thực hiện những chủ trương trên, giữa năm 1966 bộ đội ta đã tiến công xuống đồng bằng đánh những trận diệt gọn địch ở Lương Mai (Phong Điền), Nam Giảng, Phong Lai (Quảng Điền) Tháng 11-1966, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch ở căn cứ An Lỗ Trong thành phố Huế, ta cũng đánh vào căn cứ vận tải
Lê Lai của địch ở An Cựu
Từ tháng 1 đến tháng 5-1967, Khu ủy chỉ đạo mở tiếp đợt hoạt động
mùa Xuân, đánh thẳng vào các căn cứ La Vang, thị xã Quảng Trị, Từ Hạ, Phú Bài, rồi thọc vào thành phố Huế, đánh khách sạn Hương Giang, căn cứ Long Thọ, Nam Giao, trường Bắn tập (trường Bia)
Trang 18Tại ba huyện tiếp giáp với thành phố Huế (Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang), phong trào đấu tranh vũ trang ngày càng phát triển, giải phĩng 86/271 thơn, với 72.000 dân, lực lượng cách mạng được xây dựng từng bước
Huyện Hương Trà cĩ 7 thơn giành được quyền làm chủ về ban đêm, có
5 đội biệt động, 1 đội an ninh và 99 du kích
Huyện Hương Thuỷ có 25/87 thôn được giải phĩng, với 20.000 dân; có 25 chi bộ với 210 đảng viên; 5 đội biệt động, 1 đội đặc công và gần 500 đdu kích Các tổ chức quần chúng như nông hội, thanh niên, phụ nữ thu hút gần 24.000 hội viên, đoàn thanh niên có 300 đoàn viên
Huyện Phú Vang, phong trào khá hơn cả, có 61 thôn được giải phóng và làm chủ, trong đó có 6 xã được giải phóng hoàn toàn, có 5 chi bộ Đảng,
1 đại đội bộ đội địa phương, 4 đội biệt động, 3 tổ trinh sát vũ trang và 600
du kích trang bị đủ súng [100, tr 14]
“Vùng giải phĩng được mở rộng, chiến tranh du kích phát triển khá mạnh, lực lượng vũ trang địa phương trưởng thành, nhất là trên những địa bàn quan trọng Những bàn đạp sát vùng ven thành phố được thiết lập, lực lượng
chủ lực, các đội biệt động đứng chân ở đây đánh vào thành phố thuận lợi,
thường xuyên hơn” [100, tr 20]
Đến tháng 8-1967, lực lượng chủ lực Quân khu Trị Thiên - Huế mới cĩ
1 trung đồn và 4 tiểu đồn bộ binh lẻ, 2 tiểu đồn đặc cơng; từ tháng 8-1967,
cĩ thêm trung đồn 9 và một số tiểu đồn lẻ nữa Nhưng với tinh thần tích cực tiến cơng theo phương châm chỉ đạo của Khu ủy, cĩ sự phối hợp chiến trường tồn Miền, nhất là hướng Đường số 9, nên vào những tháng cuối năm 1967, thế bố trí lực lượng quân sự và chính trị ở Trị Thiên nĩi chung và trên mặt trận Huế nĩi riêng đã cĩ sự chuyển biến cĩ lợi cho ta, nhưng lực lượng chủ
Trang 19lực và trang bị của ta cũn yếu, nờn “để bảo đảm cho cuộc tiến cụng vào thành giành được thắng lợi cần phải cú sự bổ sung tăng cường của Bộ một cỏch đỏng kể và khẩn trương” [100, tr 21]
Trước ngày Tổng tiến cụng và nổi dậy ở Huế, thực hiện quyết tõm của Thường vụ Khu ủy Trị Thiên, một đợt hoạt động ngắn từ ngày 7 đến ngày 27-1-1968 được tiến hμnh trờn mặt trận Nam Quảng Trị và Phỳ Lộc, vừa để tạo thế, vừa để nghi binh đỏnh lạc hướng địch, đồng thời để phối hợp với Mặt trận Đường số 9 đang làm nhiệm vụ đỏnh trước toàn Miền
Ở hướng Nam Quảng Trị, 4 tiểu đoàn đặc cụng, 1 đại đội súng cối 82mm và ĐKB, bắn phỏo vào căn cứ AÙi Tử, tiờu hao nặng 1 tiểu đoàn thủy quõn lục chiến Mỹ, tập kớch Xúm Bỳng diệt đại đội thủy quõn lục chiến Mỹ, phỏ 1 ủaứi ra đa vμ một kho ủaùn Dọc theo quốc lộ 1, ta tổ chức phỏ cầu, phỏ đường, bắn cối vào quận lỵ Hải Lăng để hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và quần chỳng diệt ỏc, phỏ kìm
Ở hướng Phỳ Lộc, toàn bộ lực lượng sẵn cú gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1
đại đội đặc cụng, 1 đại đội cụng binh đỏnh giao thụng, 1 đại đội cối 82 mm và
ĐKB, trong 2 ngày 6 và 7 thỏng 1-1968, tiến cụng quận lỵ Phỳ Lộc ở Cầu Hai, diệt 1 đại đội bảo an, 1 đại đội dõn vệ, đập tan bộ mỏy ngụy quyền quận Phỳ Lộc, giết quận trưởng, loại 400 lớnh ngụy Trong suốt 3 tuần lễ, đụng đảo nhõn dõn cựng với lực lượng vũ trang phỏ một đoạn đường dài 20 km làm cho giao thụng bộ của địch giữa Huế đi Đó Nẵng bị cắt 2 thỏng
Phối hợp với hai đầu, xung quanh Huế lực lượng vũ trang địa phương
tớch cực hoạt động, diệt ỏc, trừ gian, giết và bắt 300 tờn ỏc ụn, dõn vệ, xõy dựng bàn đạp tiến cụng vào Huế Quần chỳng được huy động phỏ đường từ
An Lỗ đi Sịa Một số căn cứ ngoại ụ thành phố như Ấp Năm, Động Tũa cũng
bị ta bắn phỏo, tiờu hao, kỡm chõn địch
Trang 20Đợt hoạt động từ ngày 7 đến ngày 27 tháng 1-1968 cã t¸c dơng thu hút địch ra hai đầu Quảng Trị và Phú Lộc, tạo được thế áp sát lực lượng ta vào thành phố Huế
Nửa tháng trước Tết Mậu Thân 1968, Mỹ và quân đội Sài Gịn đã tăng viện ra Trị - Thiên 12 tiểu đồn, đưa lực lượng địch trên chiến trường này lên tới 76.917 quân (49.800 quân Mỹ); gồm 43 tiểu đồn cơ động (25 tiểu đồn Mỹ); thành phần binh chủng gồm 12 tiểu đồn pháo, 12 chi đồn xe tăng, thiết giáp, 4 tiểu đồn cơng binh, 130 máy bay các loại; ngồi ra cịn cĩ 2 tiểu đồn cảnh sát dã chiến, 19 đại đội bảo an, 155 trung đội dân vệ, 34 đồn bình định Tư lệnh phĩ quân Mỹ ở miền Nam là Abơram trực tiếp ra điều khiển quân Mỹ tại chiến trường này
Do Huế cĩ vị trí chiến lược rất quan trọng, Mỹ - Thiệu đã thiết lập ở đây một hệ thống phịng ngự vững chắc, với những căn cứ và đồn bốt dày đặc, cĩ lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng kìm kẹp gồm cĩ cơ quan
hành chính, bọn chỉ điểm, gián điệp ngầm, đảng phái phản động, nhằm:
hướng ra phía Bắc chặn địn tiến cơng của chủ lực ta; chốt chặn ta từ rừng núi, giáp ranh tiến cơng xuống, đồng thời bảo vệ giao thơng và căn cứ lớn của chúng; kết hợp lực lượng chủ lực cơ động cả Mỹ và ngụy, thường được khơng quân và hải quân từ biển chi viện hỏa lực rất cao; kết hợp giữa quân chiếm đĩng, chủ lực của vùng và của khu chiến thuật cùng lực lượng kìm kẹp càn quét “bình định” chống phong trào quần chúng và chiến tranh du kích của ta
Ngày 16-1-1968, chủ lực của Bộ nổ súng tiến cơng Khe Sanh Bọn địch
hý hửng tưởng rằng “cái bẫy” (đĩng giữ chốt Khe Sanh địch cĩ 5000 lính Mỹ) mà chúng căng ra để đưa lực lượng ta vào tiêu diệt đã đặt đúng chỗ nhưng khi chi khu quân sự Hương Hố lọt vào tay Quân Giải phĩng thì Hoa Thịnh Đốn hoảng hốt chỉ thị cho Oétmolen phải “bằng mọi giá cố giữ cho được Khe Sanh’’ Do vậy lực lượng ở Trị Thiên của địch phải tập trung lên Đường số 9 và Quảng Trị, cịn ở Huế và Phú Lộc lại tương đối sơ hở hơn
Trang 21Khi ta mở mặt trận Đường số 9 - Bắc Quảng Trị, địch tăng cường lực lượng và đẩy mạnh hoạt động ở Trị - Thiên - Huế, đưa tồn bộ sư địan 3 thuỷ
quân lục chiến Mỹ ra đây, cùng 15 tiểu đồn ngụy và các đơn vị bảo an, dân
vệ, hình thành thế bố trí chiến lược trên hai hướng:
- Hướng Đường số 9 - Quảng Trị chủ yếu là quân Mỹ và một bộ phận quan trọng quân ngụy phụ trách, chiếm 54% tổng số quân của chúng ở Trị Thiên
- Hướng Thừa Thiên - Huế, do sư địan 1 bộ binh ngụy đặt ở góc Bắc của kinh thành Mang Cá kết hợp với một bộ phận quân Mỹ phụ trách, chiếm 46% tồn bộ lực lượng của chúng
Tại Huế, địch cĩ khoảng 25.000 đến 30.000 quân, nịng cốt là Sư đồn
1 bộ binh Cả Mỹ và nguỵ cĩ 13 tiểu đồn bộ binh (5 tiểu đồn Mỹ), 4 chi đồn thiết giáp, 4 tiểu đồn pháo, 2 tiểu đồn cảnh sát, 2 tiểu đồn cơng binh cùng các đơn vị thơng tin, vận tải, quân y, sửa chữa quân cụ, 23 đại đội bảo
an, 100 trung đội dân vệ, 18 đoàn bình định Không quân chỉ có các đơn vị máy bay lên thẳng, trinh sát với 100 chiếc [100, tr 16] Lực lượng đĩ được
bố trí như sau:
- Ở phía Bắc (Tả ngạn sơng Hương): đồn Mang Cá cĩ sở chỉ huy Sư
đoàn 1 bộ binh, quân số khoảng 700 tên thuộc cơ quan sư đồn bộ và các đại đội bảo vệ, đại đội quân y, đại đội chiến tranh tâm lý
Sân bay Tây Lộc cĩ khoảng 250 đến 350 tên địch, bao gồm một đại đội
vận tải với 40 máy bay lên thẳng và 100 xe các loại, một bộ phận nhân viên
kỹ thuật và lính bảo vệ
Khu Đại Nội cĩ một đại đội thám báo ngụy, khoảng 120 tên Ngồi ra cịn cĩ 8 trung đội cảnh sát được trang bị tương đối hiện đại đĩng rải rác ở các khu phố, làm nhiệm vụ trấn áp quần chúng nhân dân
Trang 22Khu Tàng Thơ (bảo tàng của triều đình nhà Nguyễn, lúc này được địch
làm trại tra khảo cán bộ ta bị chúng bắt) cĩ một số vị trí, lơ cốt cỡ trung đội Ngồi
ra, cịn cĩ 8 trung đội cảnh sát đĩng rải rác trên các khu phố, cĩ trang bị phương tiện đàn áp quần chúng nhân dân
Lực lượng cơ động của địch dùng chi viện cho hướng Bắc cĩ 6 tiểu đồn (bốn tiểu đồn ngụy, hai tiểu đồn Mỹ) đĩng ở ngoại thành, kết hợp với các lực lượng phịng thủ cứ điểm, tập trung căn cứ Đồng Lâm (hai tiểu đồn
kỵ binh khơng vận Mỹ, một chiến đồn thiết giáp và một tiểu đồn pháo); An
Lỗ (cĩ một tiểu đồn thuộc Chiến đồn 2 ngụy và một đại đội pháo); căn cứ
Rú Lầu - La Chữ - Từ Hạ (một tiểu đồn bộ binh, một chi đồn thiết giáp, một
đại đội pháo); căn cứ Sịa (một tiểu đồn thuộc Chiến đồn 2 ngụy); Văn
Thánh (tiểu địan 3 bộ binh và 2 khẩu pháo) [102, tr 88]
- Ở phía Nam thành phố (Hữu ngạn sơng Hương): cĩ sở chỉ huy tiểu
khu Thừa Thiên đặt tại khu Phan Sào Nam Các khách sạn Thuận Hĩa, Hương Giang là nơi ở của các cố vấn và tình báo Mỹ Đài ra đa được bố trí ở sân vận động Huế Các Tịa khâm sứ cũ, Tịa tỉnh trưởng Thừa Thiên, Nhà lao Thừa Phủ, khu cơ quan đại diện Trung phần, khu biệt kích, Trường sắc tộc, các kho, xưởng đều cĩ lực lượng bảo an canh giữ nghiêm ngặt Bốt Cị cũ cĩ tiểu đồn bộ của hai tiểu địan cảnh sát dã chiến
Lực lượng cơ động của địch ở hướng này cĩ sáu tiểu đồn (hai tiểu đồn Mỹ, bốn tiểu đồn ngụy)
Căn cứ lớn Phú Bài cĩ hai tiểu đồn bộ binh Mỹ, một tiểu đồn pháo
hỗn hợp và một chi đồn xe tăng Ở đây, cịn cĩ sân bay dùng cho máy bay vận tải lên, xuống vận chuyển vật chất và binh lính Trung tâm huấn luyện
lính mới Đống Đa, thường xuyên cĩ hai tiểu đồn trở lên; Tam Thai là hậu cứ
trung đồn bộ Trung đồn 7 thiết giáp ngụy, thường xuyên cĩ từ 2 chi đồn xe
Trang 23tăng sẵn sàng cơ động chiến đấu; Khu Phước Quả, Phuù Cam là hang ổ của bọn đầu sỏ phản động đội lốt Công giáo, có lực lượng biệt kích bảo vệ
Các tiểu đòan bộ binh ngụy, các đại đội bảo an và hỏa lực pháo thường đóng ở vùng ven, các cửa ngõ ra vào thành phố như Đồng Di, Tam Đông, Xuân Hòa, quận lỵ Nam Hòa…
Quân Mỹ còn đóng dọc theo quốc lộ 1, từ Huế về Phú Bài để giữ
đường giao thông huyết mạch; ở cửa Thuận An để bảo vệ kho xăng, dầu và
cửa ngõ từ biển theo sông Hương vào Huế
- Ở các hướng liên quan phối hợp:
Nam Quảng trị có hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, Trung đoàn 1 (Sư đoàn 1 bộ binh ngụy), hai chi đoàn thiết giáp và hai tiểu đoàn pháo cùng lực lượng bảo an, cảnh sát, dân vệ (tổng cộng khoảng 10.000 tên) Quân chủ lực của chúng cũng sẵn sàng cơ động chi viện cho bọn ở Huế khi bị tiến công
Phú Lộc (nam Thừa Thiên) có một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ cùng lực lượng bảo an, dân vệ, nhằm giữ giao thông quốc lộ 1 và bình định kìm kẹp quần chúng [100, tr 16-18]
Cùng với việc tăng quân, Mỹ - ngụy gấp rút củng cố đường giao thông thuỷ bộ, thường xuyên mở các cuộc hành quân, càn quét, phục kích ở đồng bằng, dọc đường giao thông, đồng thời cố lấn vào vùng rừng núi; bình định dần dần để vừa bảo vệ hậu cứ, các đường giao thông, vừa để đề phòng bộ đội
ta tấn công vào đô thị Hàng ngày chúng còn tăng cường lực lượng biệt kích, thám báo; cho quân đi tuần tra các vùng phụ cận thành phố như: Hương Thủy, Hương Trà, đường số 12; cho quân án ngữ ở phía Tây Bắc sông Bồ, vùng An Thủy, Bích Thủy
Trong nội thành, Mỹ - Ngụy tăng cường lực lượng cảnh sát, gián điệp; đặt tại Huế một chi nhánh CIA Chúng dựng lại tất cả bọn việt gian tay sai cũ như Quốc dân Đảng, Cần lao Nhân vị, Đại Việt; tăng cường hoạt động mật
vụ, gián điệp, nhất là trong các tổ chức Công giáo, Phật giáo; tuyên truyền
Trang 24văn hóa phản động, đồi trụy Địch còn tăng cường dùng phi pháo, chất độc hoá học, chiến tranh tâm lý, đánh phá rừng núi, những nơi có căn cứ của ta nhằm phá hoại tiềm lực kháng chiến của quân và dân ta
Nhìn chung, lực lượng địch ở Huế khá đông (gồm cả quân cơ động và
quân chiếm đóng, cả bọn cầm súng công khai và bí mật), khi bị ta tiến công, lực lượng dự bị chiến lược có thể nhanh chóng tăng cường ứng cứu, phản kích Lục quân của địch có lực lượng thiết giáp lớn, có khả năng cơ động đối phó nhanh, lại được không quân, pháo binh (kể cả pháo hạm) chi viện rất cao,
do đó khi ta tiến công địch, cần có biện pháp tốt đánh địch phản kích liên tục,
đánh trả máy bay, xe tăng, phòng không, phòng pháo
Hệ thống phòng thủ vòng ngoài khá chặt, thành nhiều lớp, lại có mạng lưới gián điệp, thám báo chìm, nổi Bên trong thành phố là nơi tập trung cơ quan chỉ huy đầu não, nhưng lại có phố xá dân cư đông đúc, khó kiểm soát, nên thường xuyên sơ hở Dù bên ngoài có mạnh, nhưng nếu ta đánh được vào bên trong sẽ gây tổn thất lớn cho địch
Bắc, Nam thành phố bị ngăn cách bởi sông Hương nên ứng cứu chi
viện cho nhau khó
Địch ở vòng ngoài tuy đông quân, có lực lượng thiết giáp, hỏa lực mạnh, nhưng vẫn bị phân tán một phần làm nhiệm vụ chiếm đóng để làm chỗ dựa cho lực lượng bình định, nên lực lượng cơ động của địch không lớn Nếu
bị đánh rộng khắp đồng loạt, quân chủ lực của chúng sẽ bị giằng kéo, hiệu lực
hỗ trợ cho thành phố sẽ bị hạn chế
Nhìn chung, trên toàn miền Nam “địch hết sức coi trọng chiến trường Trị Thiên, chúng bố trí ở đây 1/3 lực lượng Mỹ-nguỵ Nhưng trong vùng này địch lại dồn lực lượng ở phía Bắc, tức là tập trung phòng ngự ở hướng Quảng Trị và Đường số 9 Vì chúng phán đoán ta đánh lớn ở đây Cho nên, tuy địch
có chú ý phòng thủ Huế và Phú Lộc, nhưng những nơi này vẫn là nơi sơ hở nhất của chúng” [97, tr 8]
Trang 251.2 Chủ trương tổng công kích, tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân
1968 của Đảng trên toàn miền Nam
Ngay từ khi đế quốc Mỹ chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) đã phân tích tình hình và khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ với tinh thần: “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà” [25, tr 634]
Biến quyết tâm của Đảng thành hành động cách mạng của quần chúng, ngay trong năm 1965, quân và dân ta ở miền Nam kiên quyết giữ vững thế chiến lược tiến công, giành được những thắng lợi trong các chiến dịch Núi Thành (Quảng Nam) và Vạn Tường (Quảng Ngãi), tiến lên đập tan các cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của địch
Từ đầu năm 1967, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam nhận thấy: “Những thắng lợi của ta trong Đông - Xuân 1966-1967 đã tạo ra một tình thế mới có lợi cho ta, bất lợi cho địch” [22, tr 192] Tháng 4-1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã bàn chủ trương giành thắng lợi quyết định Kế hoạch chiến lược Đông - Xuân 1967-1968, được khởi thảo nhằm mục đích tận dụng tình thế mới có lợi đó để đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tiếp tục tiến lên
Tháng 5-1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đánh giá tình hình, xem xét dự thảo kế hoạch Đông-Xuân 1967-1968 Bộ Chính trị cho rằng thắng lợi của quân và dân ta giành được trên hai miền Nam, Bắc là to lớn, toàn diện, làm thất bại một bước rất cơ bản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đẩy Mỹ vào thế lúng túng, bị động cả về chiến lược lẫn chiến dịch Về phía ta, cả thế và lực đang
có những tiến bộ, cho phép ta “trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy
Trang 26mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn” [103, tr 384-385] Bộ Chính trị dự kiến sẽ
giành thắng lợi quyết định trong năm 1968, theo phương hướng đánh lớn Muốn vậy, nhiệm vụ quân sự của ta là phải tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, làm thất bại khả năng tiến công của chúng, đồng thời phải tiêu diệt và làm tan
rã đại bộ phận quân ngụy, khiến cho chúng không còn là lực lượng chiến lược trong tiến công và phòng ngự mà Mỹ dựa vào đó để tiến hành chiến tranh
Về phương thức đấu tranh, Bộ Chính trị xác định trong khi kiên trì tiến công địch toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao, cần chuẩn bị đánh những trận quy mô lớn, có hiệu quả cao, tạo điều kiện để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao
Sau Hội nghị này, từ tháng 7 đến tháng 10-1967, phương án tác chiến chiến lược tiếp tục được bổ sung Bộ Tổng hành dinh quyết định: “Hướng sức mạnh chủ yếu của chiến tranh cách mạng vào các thành phố, thị xã, thị trấn, vào trung tâm đầu não của địch” [22, tr 194] trên toàn miền Nam
Tháng 10-1967, Bộ Chính trị tiếp tục bàn cụ thể hơn về chủ trương và
kế hoạch chiến lược năm 1968 Bộ Chính trị nhận định rằng Mỹ đang thất bại lớn, vì có tăng quân cũng không giải quyết được gì, mà tình hình càng bế tắc, càng bị cô lập hơn, mâu thuẫn càng sâu sắc Tuy nhiên, Mỹ còn ngoan cố, trong nội bộ còn đấu tranh, mâu thuẫn xâu xé Do đó, Mỹ đang cố gắng tăng cường lực lượng để giữ cho tình hình không xấu đi, cố gắng cho khỏi bị cô lập hơn nữa Bộ Chính trị quyết định: thực hiện một phương thức tiến công, một cách đánh mới có hiệu lực cao nhằm “làm thay đổi tình hình, thay đổi cục diện, chuyển biến chiến lược” [44, tr 56] trên chiến trường miền Nam và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta Tháng 12-1967,
Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời
kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”
Trang 27Tháng 1-1968, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ
14, thông qua Nghị quyết “Anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và
tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”
Hội nghị nhận định: “Do những thất bại có tính chất chiến lược của Mỹ
ở miền Nam và do những thắng lợi to lớn của ta, trong Đông - Xuân này, địch
khó có khả năng mở cuộc “phản công mùa khô” lần thứ ba Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách
bị động hơn trước” Trong khi đó “chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược lẫn chiến thuật và thế lực của ta phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết” Tuy
“chúng ta còn một số nhược điểm trong các vấn đề bổ sung tại chỗ lực lượng
vũ trang, đánh tiêu diệt những đơn vị lớn của Mỹ, xây dựng thực lực chính trị
và chỉ đạo phong trào ở thành thị Chúng ta cũng còn những khó khăn nhất định về hậu cần, về giao thông vận tải, về công tác ngụy vận, địch vận Nhưng điểm cơ bản của tình hình vẫn là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và
thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn Tình hình ấy cho phép
ta chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định” [26, tr 48-50]
Hội nghị xác định “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời
kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân, toàn dân cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, đạt tới mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra là:
a) Tiêu diệt và làm tan ra tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân
b) Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và
quân sự của chúng ở Việt Nam
Trang 28c) Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn
ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà” [26, tr 50]
Trung ương Đảng cho rằng: “Giai đoạn tổng công kích và tổng khởi nghĩa sẽ kéo dài trong một thời gian nào đó hoặc có thể rút ngắn hơn, điều ấy tùy thuộc và sự cố gắng chủ quan của ta và sự đối phó của địch Nhưng trong tình hình địch phải chuyển vào thế bị động phòng ngự và đang tiến thoái lưỡng nan về chiến lược như hiên nay thì những cố gắng chủ quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của ta có tác dụng quyết định trực tiếp”
Về điều kiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa, Trung ương Đảng phân
tích “ta tiến hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc chiến tranh thế giới (như trong trường hợp Cách mạng Tháng Mười Nga, hoặc Cách mạng Tháng Tám của ta), mà là trong những điều kiện như sau: về mặt quân sự, địch còn trên một triệu quân
và một tiềm lực chiến tranh lớn, nhưng đội quân đó đã liên tiếp thất bại về chiến lược và chiến thuật, quân số tuy đông nhưng tinh thần bạc nhược và bắt đầu suy sụp; về mặt chính trị, địch đang lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng, chúng tỏ ra không thể thống trị nhân dân miền Nam được nữa và nhân dân miền Nam cũng không chịu sống dưới ách thống trị của chúng nữa; trong khi đó, ta đang trên thế thắng và đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường; lực lượng vũ trang của ta đã lớn mạnh về mọi mặt, đội quân chính trị quần chúng của ta hùng hậu; đại bộ phận quần chúng nhân dân trong các vùng tạm bị chiếm đã được rèn luyện và thử thách qua nhiều năm đấu tranh gay go và đã tỏ rõ quyết tâm cách mạng rất cao”[26, tr 52]
Về phương pháp, trong điều kiện trên, Trung ương Đảng chủ trương
“không chỉ phát động tổng công kích, mà còn đồng thời phát động tổng khởi
Trang 29nghĩa, tức là dùng lực lượng vũ trang mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực
của địch, đánh mạnh vào “đô thành” và các thành phố khác, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng nông thôn còn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với lực lượng vũ trang của ta để tiêu diệt và làm tan rã quân địch, đánh đổ các cơ quan đầu não của ngụy quyền, làm rối loạn và tê liệt đến tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ và ngụy, biến hậu phương và dự trữ chiến lược của địch thành hậu phương và dự trữ chiến lược của ta, vừa liên tục tiến công tiêu diệt địch, vừa không ngừng phát triển lực lượng ta về chính trị và quân sự, làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh một cách có lợi cho ta, không có lợi
cho địch và giành thắng lợi quyết định về ta” [26, tr 53]
Về hướng tiến công chiến lược, Trung ương Đảng xác định:
Một mặt, phải sử dụng tốt nhất lực lượng vũ trang của ta, căng địch ra khắp chiến trường, phải biết điều động lực lượng quân sự của địch ra các
chiến trường quan trọng và sử dụng những quả đấm mạnh đánh quỵ các binh đoàn chủ lực của địch, đồng thời biết kịp thời phản công tiêu diệt địch, bẻ gãy
các cuộc phản kích của chúng
Mặt khác, đòn chính của ta phải nhằm vào các thành thị quan trọng,
kết hợp lực lượng xung kích về quân sự với lực lượng chính trị của quần chúng ở các thành thị và vùng nông thôn kế cận, vùng dậy đánh sụp các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy, đánh phá các hậu cứ, các cơ sở hậu cần, các trung tâm thông tin và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch
là những yếu tố vật chất không thể thiếu được trong bản thân sức mạnh của quân đội chính quy và hiện đại của Mỹ, đồng thời kêu gọi binh lính ngụy quay lại
cùng với nhân dân khởi nghĩa “Đó là đòn ác liệt nhất đánh vào óc, tim, mạch
máu của địch và cũng là cách đánh tốt nhất để thực hiện ba mũi giáp công trong
cả ba vùng chiến lược, để tiêu diệt sinh lực địch đến mức cao nhất, làm sụp đổ
chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng” [26, tr 53-54]
Trang 30Nguyên tắc cơ bản trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa
là: “Tập trung lực lượng quân sự và lực lượng chính trị đến mức cao nhất, một cách hợp lý nhất, tiến công mãnh liệt vào những hướng chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công, nhằm đúng vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, giành cho kỳ được thắng lợi ở những nơi quyết định, phải tuyệt đối giữ cho được nhân tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản kích của địch và truy kích địch đến cùng để giành
thắng lợi cao nhất” [26, tr 55]
Tổng công kích và tổng khởi nghĩa là một giai đoạn, một quá trình tiến
công chiến lược rất ác liệt và phức tạp Do tính chất đó, Trung ương Đảng dự
đoán tình hình có thể diễn biến theo ba khả năng:
1- Ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, những cuộc công kich và khởi nghĩa của ta cuối cùng thành công ở các thành thị lớn
và ta lần lượt đập tan được những cuộc phản kích của địch, làm cho địch thất bại đến mức không thể gượng lại được nữa, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng, đi đến kết thúc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta
2- Tuy ta giành được nhữnh thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng địch cố gắng tập trung và tăng viện thêm lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ vững được những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn , nhất
là “đô thành” và dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta
3- Mỹ động viên và tăng viện thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc Việt Nam, sang Campuchia và Lào, hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh và gỡ thế thua của chúng
Trung ương Đảng chủ trương: “Chúng ta phải nỗ lực phi thường, đem hết
tinh thần và lực lượng, quyết chiến đấu giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo
khả năng thứ nhất”; sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai; trước mắt, “khả năng
Trang 31thứ ba có rất ít, nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn
sàng để chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra” [26, tr 56-57]
Các nhiệm vụ cụ thể của quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc là:
Về đấu tranh quân sự, phải phối hợp chặt chẽ giữa tổng công kích và
tổng khởi nghĩa giữa các chíên trường; phải thu hút cho được lực lượng cơ động của địch ra vòng ngoài để đánh tiêu diệt; thực hành công kích mãnh liệt vào các thành thị, nhất là các thành thị lớn, đồng thời phát động công kích và khởi nghĩa ở khắp các chiến trường, tiến công đồng loạt vào các yết hầu của địch và những cơ sở hậu cần, làm tê liệt mọi sự đề kháng của Mỹ, ngụy
Về đấu tranh chính trị, “chuẩn bị và phát động quần chúng nổi dậy tổng
khởi nghĩa (kết hợp với tổng công kích) cho đến thành công, đập tan ngụy quyền và các tổ chức phản động khác, xây dựng chính quyền cách mạng và phát triển nhanh chóng lực lượng chính trị và vũ trang của quần chúng” Khẩu hiệu trung tâm trong khởi nghĩa là: “Độc lập, tự do, hòa bình, cơm áo, ruộng đất, chấm dứt chiến tranh xâm lược; đế quốc Mỹ phải rút quân về nước, chủ quyền thuộc về người Việt Nam” Thành lập Mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng, với cương lĩnh rộng rãi hơn và “sẽ giữ thái độ độc lập với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam” “Phải nhanh chóng tổ chức chính quyền cách mạng của nhân dân Chính phủ Trung ương và chính quyền cách mạng ở các thành phố cần có tính chất liên hiệp rộng rãi, phù hợp với sách lược của Mặt trận thứ hai để có thể tập hợp được tất cả các lực lượng chống
Mỹ và Thiệu - Kỳ” [26, tr 59-61]
Về ngụy vận, địch vận, phải góp phần làm tan rã quân ngụy và gây phong
trào phản chiến trong nội bộ chúng, thực hiện khẩu hiệu “công nông binh liên hiệp”, đồng thời gây phong trào phản chiến trong quân đội Mỹ và chư hầu
Về đấu tranh ngoại giao, cần có phương pháp và hình thức thích hợp
để tiến công địch trong lúc chúng đang lúng túng, bị động và “phải mở đường
cho địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi cho ta” [26, tr 63]
Trang 32Căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị và Hội nghị 14 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã hoàn chỉnh phương án tổng công kích - tổng khởi nghĩa và xác định cụ thể: cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, mà chiến trường chính là Đường 9 – Khe Sanh, nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thị xã, thành phố quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng nông thôn và đô thị, mở đầu cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn, Nam Bộ, Trị Thiên - Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn Thời gian tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa được chọn vào dịp Tết Mậu Thân
1968 Đến ngày 21-1-1968, thời điểm nổ súng mở màn cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa mới được xác định đúng vào đêm giao thừa [44, tr 67]
Như vậy, ý đồ mới của Trung ương là nắm bắt thời cơ lúc Mỹ đang thất
bại sau cuộc phản công chiến lược ở miền Nam, cùng thời điểm chính trị nhạy cảm ở Mỹ trước cuộc bầu cử tổng thống, khi giới cầm quyền Mỹ đang ngập
ngừng về chiều hướng giải quyết chiến tranh Việt Nam dùng cách đánh mới
chưa từng thực hiện trên chiến trường, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, kéo Mỹ xuống thang
Cách đánh mới này tập trung vào nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch quân
sự, không giống như các chiến dịch Đông - Xuân trước (mở các đợt hoạt động quân sự), phải táo bạo và bất ngờ, thể hiện trên các yếu tố sau:
- Hướng tiến công chủ yếu là các sào huyệt và căn cứ trung tâm của đối
phương ở đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng (không phải là rừng núi và nông thôn như trước)
- Mục tiêu tiến công là cơ quan đầu não của Mỹ và chế độ Sài Gòn, các
trung tâm chỉ huy, hậu cứ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh (không phải chỉ đặt mục tiêu phải diệt bao nhiêu quân địch, giành quyền làm chủ cho bao nhiêu dân như trước)
Trang 33- Thời điểm tiến công rất bất ngờ đối với đối phương là giữa đêm giao
thừa Tết nguyên đán (không phải theo thời điểm thông thường như trước)
Mục tiêu trước mắt của tổng công kích, tổng khởi nghĩa là: tập trung
mở những cuộc tiến công quy mô lớn vào tất cả các đô thị, các căn cứ quân
sự, kho tàng và các cơ quan quan trọng của chế độ Sài Gòn, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chịu thua về quân sự trong chíến tranh
Hai mũi tiến công chính là tiến công quân sự trên các chiến trường
chính và nổi dậy của nhân dân các đô thị lớn So sánh lực lượng quân sự thuần túy thì khó thấy thuận lợi, nhưng xét tổng thể thì có thể thực hiện những
ý đồ chiến lược Vì vậy, biện pháp để tiến hành là vừa tổng công kích vừa phát động quần chúng khởi nghĩa
Huế được Trung ương Đảng và tổng Quân ủy xác định là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn miền trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
1.3 Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Huế
1.3.1 Quyết tâm và kế hoạch của Trị Thiên - Huế
Ý đồ tiến công và nổi dậy ở Huế có từ rất sớm, nó đã thành khả năng thực tế từ trong những thắng lợi to lớn đầu năm 1967, trở thành một nhiệm vụ thực tiễn tại Hội nghị Khu ủy mở rộng (5-1967), và chính thức trở thành quyết tâm lớn từ Hội nghị Khu uỷ họp tháng 10-1967
Tháng 5-1967, Khu ủy xác định nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng bộ
và quân dân Trị - Thiên - Huế là: “tập trung sức lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong khu, với sự nỗ lực cao nhất, tinh thần quật khởi nhất, liên tục tấn công địch cả về quân sự, chính trị, binh vận; tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ làm cho chúng không cứu viện được cho quân nguỵ; chiếm lĩnh những vùng nông thôn chủ yếu, làm rối loạn thành phố và
hệ thống phòng ngự của địch; phối hợp với các chiến trường khác, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị - Thiên - Huế, giành chính
Trang 34quyền về tay nhân dân truy kích địch và đánh bại mọi cuộc phản kích của chúng” [6, tr 29]
Tháng 6-1967, Thành uỷ Huế tập trung nghiên cứu và triển khai nghị quyết của Khu ủy Thành uỷ nhận định: “Đã xuất hiện tình thế mới trong quần chúng nhân dân thành phố, đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, nhất là về quân sự, bước đầu đã làm cho thành phố bị rối loạn, hậu phương của địch không ổn định” Thành uỷ nêu rõ: “Quán triệt ý đồ, quyết tâm của 275 K*, và trước tình hình thành phố đã trở thành một phương hướng chủ yếu để giành thắng lợi to lớn hơn ở chiến trường ta, đã đến lúc chúng ta phải đặt ra một cách khẩn trương nhiệm vụ trực tiếp đánh địch về cả quân sự, chính trị làm rối loạn thành phố, phá lỏng thế kìm kẹp của địch, tiến lên làm chủ từng phần, chuẩn bị điều kiện để phối hợp đắc lực với nông thôn làm tròn nhiệm vụ đối với cách mạng” [71, tr.3]
Tháng 10-1967, trên cơ sở chiến lược chung và những thắng lợi mà Trị Thiên - Huế đã giành được từ đầu năm, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho chiến trường tích cực chuẩn bị tiến công và nổi dậy đánh chiếm Huế, cử người ra
Bộ nhận lệnh và báo cáo kế hoạch
Khu ủy và Quân khu ủy đã họp bàn kế hoạch thực hiện Hội nghị xác định muốn đánh chiếm thành phố phải có công kích quân sự đồng thời phải có khởi nghĩa của quần chúng, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành
chính quyền, nhưng phải chú trọng công kích để đánh ngã địch là chính
Kế hoạch thực hiện chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1, vừa chuẩn bị vừa đánh địch nhằm làm chuyển biến tình
hình, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ chín muồi cho ta công kích và khởi nghĩa
Giai đoạn 2, thực hiện công kích và khởi nghĩa tiêu diệt lực lượng vũ
trang địch, đập vỡ bộ máy ngụy quyền, chiếm lĩnh thành phố, lập chính quyền cách mạng
* 275 K là mật danh của Khu uỷ Trị Thiên (TG)
Trang 35Đánh chiếm Huế là trọng điểm, là trung tâm chỉ đạo của Khu ủy và Quân khu, là điểm mấu chốt của công kích và khởi nghĩa của cả chiến trường
Trị Thiên Thời gian dự kiến 15 ngày, vào tháng 5 hoặc tháng 6-1968 Chiến
trường Trị Thiên đề nghị Bộ tăng cường lực lượng, vũ khí, trang bị, trước mắt cho thêm 2 trung đoàn bộ binh, 1000 tấn đạn và 500 tấn gạo [100, tr 22]
Hội nghị Khu uỷ (10-1967) nêu rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân
và toàn dân Trị Thiên - Huế là: “Tập trung sức lực toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong khu với sự nỗ lực cao nhất, tinh thần quật khởi, liên tục và toàn diện; tấn công địch cả về quân sự, chính trị, binh vận; tiêu diệt, tiêu hao bộ phận quan trọng quân Mỹ, cô lập chúng, làm cho chúng không cứu viện được cho quân ngụy; chiếm lĩnh các vùng nông thôn xung yếu, làm rối loạn thành phố và hệ thống phòng ngự của địch; phối hợp với các chiến trường khác, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giải phóng Trị Thiên - Huế, giành chính quyền về tay nhân dân, thiết lập chính quyền và trật tự cách mạng, truy kích địch và đánh bại mọi cuộc phản kích của chúng” [6, tr 29]
Giữa lúc ở Trị Thiên đang triển khai nghị quyết Hội nghị Khu uỷ, với
dự kiến mở cuộc tiến công địch ở Huế vào mùa hè năm 1968, thì nhận được chỉ thị của Bộ chính trị và mệnh lệnh của Quân uỷ Trung ương, xác định Trị - Thiên là một trong hai chiến trường trọng điểm toàn miền Chủ lực của Bộ ở hướng đường 9 thu hút, phân tán lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ và quân đội Sài Gòn, tạo thời cơ trực tiếp cho Trị - Thiên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đòn chính nhằm thẳng vào thành phố Huế, thời gian bắt đầu vào ngày mồng một Tết Mậu Thân (tức ngày 31-1-1968) Ý đồ lớn của kế hoạch tiến công và nổi dậy là: tập trung ở chiến trường trọng điểm là Huế, cắt đứt hai đầu Quảng Trị và Phú Lộc
Như vậy, ý đồ tiến công và nổi dậy ở thành phố Huế đã xuất hiện từ tình hình thực tế của chiến trường Trị – Thiên, phù hợp với tình hình chung trên các chiến trường khác ở miền Nam Đó là cơ sở quan trọng để Bộ Chính
Trang 36trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định quyết tâm và ra các nghị quyết về việc mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
Tuy nhiên, so với kế hoạch của Trị - Thiên tại Hội nghị Khu ủy tháng
10-1967, thì chỉ thị của Trung ương về thời gian khẩn trương hơn và yêu cầu chiến lược cao hơn: hai vấn đề công kích và khởi nghĩa được coi trọng ngang
nhau Mặt khác, vì thời gian quá gấp so với dự kiến ban đầu, nên Khu ủy,
Quân khu phải sử dụng lực lượng sẵn có để tiến công và nổi dậy Bộ sẽ tùy
theo diễn biến tình hình mà mà điều chỉnh sau [100, tr 23]
Thường vụ Khu ủy kết luận: “Trung ương đã quyết – ra lệnh rõ ràng - nhất định phải chấp hành” “Vấn đề then chốt của mệnh lệnh là biện pháp đồng loạt, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, tạo thời cơ bất ngờ, thời gian tiến công thống nhất Thời cơ biện pháp đi đôi với nhau thì thành lực lượng, khó là ở đó mà thắng lợi cũng là ở đó ” [74, tr 97]
Thành ủy Huế xác định nhiệm vụ cụ thể “kết hợp công kích, khởi nghĩa đánh chiếm Huế, yêu cầu là phải tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ nguỵ quân, nguỵ quyền, chủ yếu là sư đoàn 1 nguỵ và các cơ quan đầu não; tiêu diệt một
bộ phận quan trọng quân cơ động Mỹ, đánh liệt sân bay hậu cứ, giao thông thuỷ bộ; kết hợp phát động võ trang khởi nghĩa, đập tan ngụy quyền từ tỉnh xuống xã, thôn, đường phố, giải phóng toàn bộ nông thôn, thành phố, thiết lập chính quyền cách mạng; kiên quyết đánh địch phản kích, giữ vững trật tự an ninh, đảm bảo đời sống bình thường của quần chúng, khẩn trương củng cố, phát triển lực lượng mọi mặt; tạo điều kiện tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đánh lâu dài” [69, tr 5]
Ngày 3-12-1967, Thường vụ Khu ủy họp để nghiên cứu và quán triệt mệnh lệnh của trên
Quân khu Trị Thiên - Huế, một trong hai chiến trường trọng điểm của
toàn miền, có nhiệm vụ: lợi dụng điều kiện thuận lợi do Mặt trận Đường số 9
Trang 37tạo nên, thực hành công kích và khởi nghĩa đánh chiếm cho được thành phố Huế; tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, chủ yếu là sư đoàn 1 bộ binh ngụy, thiết lập chính quyền cách mạng, làm chủ toàn bộ nông thôn, quận, tỉnh, thành phố; phối hợp với Mặt trận Đường số 9 tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, đánh quân ứng chiến cơ động, đánh tê liệt hậu cứ, cắt giao thông làm cho quân Mỹ mất khả năng ứng cứu quân ngụy Sau đó, có sách lược để kìm chế chúng, cô lập chúng trong chiến đấu; Sẵn sàng đánh phản kích, làm cho địch bị tổn thất nặng, ta giữ vững và phát triển thắng lợi [100, tr 25]
Trọng điểm của chiến trường là thành phố Huế, còn nam Quảng Trị và
Phú Lộc là các hướng phối hợp trực tiếp với Huế Riêng mặt trận chính ở Huế, bao gồm thành phố và các huyện tiếp giáp (Hương Trà ở hướng Bắc, Hương Thủy, Phú Vang ở hướng Nam), phải tập trung chủ yếu vào thành phố đồng thời chú ý các vùng nông thôn xung quanh thành phố
Về phương châm chỉ đạo: coi trọng công kích đồng thời phải coi trọng
khởi nghĩa; phát huy mạnh mẽ vai trò của chủ lực, đồng thời cũng phát huy hết sức vai trò của bộ đội địa phương và dân quân du kích; phải tiến công, nổi dậy đồng loạt ở cả thành phố và nông thôn; công kích, khởi nghĩa để làm chủ thành phố, nhưng phải coi trọng đánh quân địch đóng vòng ngoài; phối hợp chặt chẽ chiến trường, giữa trọng điểm Huế và Đường số 9, giữa Huế và hai hướng Nam Quảng Trị và Phú lộc Mỗi chiến trường đều tạo thời cơ cho mình
để hoàn thành nhiệm vụ
Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến: đặc biệt chú ý phát huy cao độ tinh thần
dũng cảm, mưu trí, chủ động, linh hoạt, quyết đoán, bí mật, bất ngờ, tập trung tiêu diệt đầu não địch ngay từ đầu, làm cho địch nhanh chóng suy sụp; đánh nhanh, diệt gọn, giải quyết nhanh, phát triển nhanh, tiến công, truy kích đến cùng; đồng loạt, kiên quyết, liên tục tiến công, hiệp đồng chặt chẽ, phối hợp đồng đều; đánh cả Mỹ lẫn ngụy, lấy tiêu diệt ngụy làm chính; kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, tiến công quân sự, chính trị và binh vận, kết hợp ba
Trang 38thứ quân cùng đánh Chú trọng đánh bằng đặc công, pháo binh, cắt giao thông, trước hết là đòn tiêu diệt của chủ lực [100, tr 26]
Về sách lược, dùng ngọn cờ của mặt trận thứ hai (Mặt trận liên minh
dân tộc, dân chủ và hòa bình) để tiến hành công kích và khởi nghĩa, cụ thể là:
Lôi cuốn đông đảo các tầng lớp trung gian (trí thức, học sinh sinh viên,
tư sản, tôn giáo) đi theo khởi nghĩa, tiến lên thành lập chính quyền theo hướng hoà bình, trung lập dân tộc tự quyết Trên cơ sở đó, tìm cách tạo điều kiện cho binh lính ngụy ngày càng thấy rõ mục tiêu dân tộc dân chủ, hòa bình mà cùng
ta chống Mỹ và bọn chỉ huy tay sai, bỏ ngũ, quay súng phản chiến, thực hiện mặt trận “công, nông, binh liên hiệp” Phải lập cho được chính quyền cách mạng địa phương dần dần gắn với chính quyền Trung ương
Tuy vậy, cần nắm vững đường lối giai cấp khi khởi nghĩa thành phố là phải dựa vào công nhân và dân lao động, đoàn kết các giai cấp cách mạng,
phát huy cao độ lực lượng thanh niên và học sinh, phân hóa các bộ phận lừng chừng, cô lập cao độ bọn phản động
Nghi binh, thu hút đánh lạc hướng địch: các hướng phối hợp, đặc biệt
hướng Phú Lộc tiến công trước (từ 7-1-l968) nhằm đánh giao thông, cắt đứt đường 1, phá kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng
Để thực hiện nhiệm vụ đó, hướng tiến công và nổi dậy ở Huế chia thành 3 bước:
Bước 1, cần phát huy cao độ ngay sức mạnh tổng hợp, tập trung lực lượng
chủ yếu của Quân khu công kích diệt sư bộ sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá, trung
đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, tiểu khu Thừa Thiên, khu vực Mỹ ở Hữu ngạn thành phố, đánh chiếm các công sở, đài phát thanh, nhà lao Thừa Phủ, thực hiện chiếm lĩnh toàn bộ thành phố Bên ngoài, thực hiện bao vây các tiểu đoàn ngụy, tạo điều kiện để địa phương phát động quần chúng nổi dậy làm chủ thành phố, tiêu diệt và lật đổ bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng vùng nông thôn xung quanh, lập chính quyền cách mạng (thời gian dự kiến 7 ngày)
Trang 39Bước 2, nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang quần chúng, tiêu
diệt các tiểu đoàn ngụy ở vòng ngoài thành phố, đánh và làm suy yếu trung
đoàn thiết giáp Mỹ ở Phú bài và Đồng Lâm, tiếp tục phát động quần chúng
khởi nghĩa ở các quận lỵ và các thị trấn, các vùng sát căn cứ địch, truy lùng ác
ôn, lập mặt trận đoàn kết dân tộc thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiếm giữ thành phố và giải phóng toàn bộ nông thôn
Bước 3, phát triển thắng lợi, liên tục bao vây và tiêu diệt các vị trí còn
lại của địch trong thành phố và nông thôn, tiếp tục đánh tê liệt các hậu cứ Mỹ, đánh bại phản kích của địch, chiếm lĩnh, giữ vững, củng cố thành phố và vùng nông thôn giải phóng trong một thời gian nhất định hay thời gian lâu dài tùy
theo tình hình phát triển chung [100, tr 27]
Khu ủy và Quân khu đã dự kiến các tình huống diễn biến và xử trí:
Tình huống thứ nhất, trước khi ta thực hiện tổng công kích, tổng khởi
nghĩa, do bị đánh mạnh ở Đường số 9, địch có thể bị uy hiếp ở thành phố, chúng buộc co lại hoặc tăng quân từ 1 đến 2 tiểu đoàn đóng thêm một số nơi
để bảo vệ thành phố thì ta vẫn giữ vững quyết tâm Nhân lúc địch hoang mang, ta tiến hành theo kế hoạch nhưng phải chú ý đánh quân địch phản kích
và quân địch ở đường số 9 co về
Tình huống thứ hai, tuyến Đường số 9 bị vỡ, địch co về giữ mặt trận
Huế; Mỹ tăng quân ra Phú Bài, tăng cường tuyến vòng ngoài thành phố, phía Bắc củng cố tuyến sông Bồ, phía Nam tuyến Dạ Lê, phía Tây giữ vững đường
số 12, thì ta vẫn giữ vững quyết tâm Nếu thấy cần thiết để thực hiện nhiệm
vụ, thì có thể chuyển sang vừa đánh địch ở vòng ngoài, vừa kết hợp tiến công
và nổi dậy ở bên trong
Tình huống thứ 3, trường hợp ta tiến công và nổi dậy không gọn, thì
phải kiên quyết giữ cho được những nơi đã chiếm, chờ tăng cường lực lượng,
tổ chức đột phá tiếp, tiêu diệt quân địch cho đến khi giành được thắng lợi
Trang 40Tình huống thứ tư, nếu ta đang chuẩn bị mà địch tổ chức càn quét ở
vùng giáp ranh sát căn cứ hoặc vào khu căn cứ, ta chỉ sử dụng du kích và vệ binh đánh càn, còn chủ lực giữ vững quyết tâm, tiếp tục công tác chuẩn bị, nếu cuộc càn của địch không ảnh hưởng gì đến kế hoạch và công tác chuẩn bị của ta Trong trường hợp địch đánh phá các khu càng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch của ta thì sẽ có chỉ thị sau [100, tr 28]
Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, đồng thời căn cứ vào địa hình, nhiệm vụ chiến lược, bố trí thế trận và lực lượng của địch và ta, Khu ủy cử ra một Ban chỉ đạo, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy
cả công kích và khởi nghĩa ở mặt trận trọng điểm gồm thành phố Huế và các huyện tiếp giáp Ở hai hướng phối hợp đều có các Ban chỉ đạo công kích - khởi nghĩa riêng
Mặt trận trọng điểm thành phố Huế, chia thành 2 cánh: cánh Bắc, gồm phần thành phố ở Tả ngạn sông Hương và huyện Hương Trà; cánh Nam, gồm phần thành phố ở Hữu ngạn sông Hương và 2 huyện Hương Thủy, Phú Vang Cánh Bắc là hướng chính tiến công và nổi dậy Mỗi cánh đều có Ban chi đạo công kích và khởi nghĩa gồm các đồng chí Phó bí thư Thành ủy, Bí thư Huyện
ủy các huyện tiếp giáp thành phố và các đồng chí Chỉ huy đơn vị chủ lực, Chỉ huy Thành đội Huế
Lực lượng mỗi cánh Bắc và Nam được bố trí như sau:
Cánh Bắc có trung đoàn 6 bộ binh được tăng cường 1 tiểu đoàn của trung
đoàn 9, một tiểu đoàn đặc công, 3 đại đội cối 82 mm, ĐKZ 75 mm và 12,7 mm;
2 đội biệt động thành phố cùng các lực lượng bảo đảm và lực lượng vũ trang địa phương huyện Hương Trà; có nhiệm vụ cùng nhân dân thực hành công kích và
khởi nghĩa, nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ cơ quan đầu não ngụy quân, ngụy quyền đánh chiếm khu Thành nội, mục tiêu chủ yếu là Mang Cá, Tây Lộc, Cột
Cờ, phát triển chiếm lĩnh toàn bộ khu vực Tả ngạn thành phố và huyện Hương