Thứ nhất, mỗi một thành tựu của khoa học tự nhiên lại làmột minh chứng hùng hồn đối với sự đúng đắn của các học thuyết triết họcduy vật tiến bộ nh thuyết tơng đối, cơ học lợng tử, cấu tạ
Trang 11 Các vấn đề Triết học về phơng pháp nghiên cứu 3
2 Vấn đề chân lý và vấn đề tiến bộ trong Khoa học 10
1 Tình hình phát triển sinh học cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX 11
3 Những ý kiến trao đổi giữa Mác và Ăngghen về Đác uyn và
lý luận tiến hóa
13
Trang 2Mở đầu
Trong lịch sử phát triển của mình, triết học luôn đợc gắn liền vớikhoa học tự nhiên Thời kỳ cổ đại, triết học thờng đợc đồng nhất với các khoahọc nhà thông thái
Các khoa học tự nhiên, trong quá trình phát triển dần dần tách khỏi
và trở nên độc lập với triết học Tuy nhiên giữa chúng vẫn có mối quan hệchặt chẽ với nhau Thứ nhất, mỗi một thành tựu của khoa học tự nhiên lại làmột minh chứng hùng hồn đối với sự đúng đắn của các học thuyết triết họcduy vật tiến bộ (nh thuyết tơng đối, cơ học lợng tử, cấu tạo của vật chất và sựsống, nguồn gốc và triết học của sự sống, của vị trí, sự toán học hóa logic cổ
điển và phi cổ điển, cách mạng thông tin, các khoa học về t duy, các khoahọc xã hội) Nhng bên cạnh đó những thành tựu của khoa học tự nhiên đôikhi cũng dẫn đến một sự khủng hoảng của triết học, khi mà khoa học khámphá ra những kiến thức mới trái ngợc với những nhận thức đó, triết học duytâm đã lợi dụng điều này để chống lại triết học duy vật và củng cố cho hệthống lý thuyết sai lầm của mình
Thứ hai, những lý thuyết của các hệ thống triết học lại là những gợi ýcho khoa học trên con đờng khám phá thế giới và củng cố cho khoa học ph-
ơng pháp nghiên cứu để khám phá bản chất của đối tợng
Nh vậy sinh vật học với t cách là một bộ phận của khoa học tự nhiêncũng đã có những đóng góp vào sự phát triển của triết học Học thuyết tiếnhóa của Đacuyn và thuyết tế bào đã đợc C Mác đánh giá là hai trong ba pháthiện cơ bản nhất của khoa học tự nhiên ở thế kỷ mời chín, đã có ảnh hởng lớntới việc hình thành triết học duy vật biện chứng (phát hiện còn lại là thuyếtbảo tồn năng lợng) Đó là cha kể đến sự ra đời của thuyết phân tử AND về cơchế di truyền Đây là một cuộc cách mạng lớn trong sinh học nó cho ta hiểubiết sâu sắc về sự sống, nó giải thích đợc cơ chế biến dị trong thuyết tiến hóatrên đây và từ đó đem lại rất nhiều ứng dụng quan trọng trong y học, nông
Trang 3nghiệp Chính vì lý do này tôi đã chọn đề tài tiểu luận của mình: "Những
đóng góp của thuyết tiến hóa đối với sự phát triển của triết học".
Nội dung
I Triết học là gì?
Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ chín trớccông nguyên Với những thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ đại ở TrungQuốc, ấn Độ, Hy Lạp Đối với sự phát triển t tởng ở Tây Âu, kể cả đối với triếthọc Mac, triết học cổ Hy Lạp có ảnh hởng rất lớn P.Angghen đã nhận xét "Từcác hình thức muôn hình, muôn vẻ của triết học Hy Lạp, có nghĩa là "yêu thích(philos) sự thông thái (sophia)" Triết học đợc xem là hình thức cao nhất của trithức; nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là cóthể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật Với quan niệm nh vậy, triết học thời cổ
đại không có đối tợng riêng của mình mà đợc coi là "khoa học của các khoahọc", bao gồm toàn bộ tri thức của nhân loại
Trong suốt "đêm dài trung cổ" của châu Âu, triết học phát triển mộtcách khó khăn trong môi trờng hết sức chật hẹp, nó không còn là một khoahọc độc lập mà chỉ là một bộ phận của thần học, nền triết học tự nhiên thời
cổ đại đã bị thay thế bởi triết học kinh viện
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV thế kỷ XVI đãtạo một cơ sở tri thức cho sự phục hng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thựctiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyênngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời và tính cách là những khoahọc độc lập Sự phát triển xã hội đợc thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cốquan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiênvăn cùng các thành tựu khác của khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã
mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học Triết học duy vật chủ nghĩadựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóngtrong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm vào tôn giáo đã đạt tới đỉnh cao
Trang 4mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVI - XVII ở Anh, Pháp, Hy lạp vànhững đại biểu tiêu biểu nh Ph Becơn, T Hopxơ (Anh) Điđrô, Henvetiuyt(Pháp), Xpinoda (Hy Lạp) V.I Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao củacác nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vậttrong lịch sử triết học trớc Mác: "Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu
và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nớc Pháp, nơi diễn ra một cuộc quyếtchiến chống tất cả những rác rởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiếntrong các thiết chế và t tởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhấttriệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch
và mê tín và thói đạo đức giả, Mặt khác, t duy triết học cũng đợc phát triểntrong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Heghen, đạibiểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức
Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũngtừng bớc làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa họccủa khoa học" Triết học Heghen là học thuyết triết học cuối cùng mangtham vọng đó Heghen xem triết học của mình là một hệ thống phổ biến của
sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắtkhâu phụ thuộc vào triết học
Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa họcvào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mac Đoạn tuyệt triệt
để với quan niệm "khoa học của khoa học", triết học Macxit xác định đối ợng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ýthức trên lập trờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhấtcủa tự nhiên, xã hội, t duy
t-Triết học nghiên cứu thế giới bằng phơng pháp của riêng mình khácvới mọi khoa học cụ thể Nó xem xét thế giới nh một chỉnh thể và tìm cách đ-
a lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Điều đó chỉ có thể thựchiện đợc bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bảnthân t tởng triết học Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Chínhvì tính đặc thù nh vậy của đối tợng triết học mà vấn đề t cách khoa học của
Trang 5triết học và đối tợng của nó đã gây ra những cuộc tranh cãi kéo dài cho đếnhiện nay Nhiều học thuyết triết học hiện đại phơng Tây muốn từ bỏ quanniệm truyền thống về triết học, xác định đối tợng nghiên cứu riêng cho mình
nh mô tả những hiện tợng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản
Mặc dù vậy, cái chung trong học thuyết triết học là nghiên cứu nhữngvấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con ngời, mối quan hệ củacon ngời nói chung, của t duy con ngời nói riêng với thế giới xung quan
Tóm lại, cho đến trớc khi triết học Mác ra đời thì triết học vẫn đợccoi là "khoa học của khoa học" đủ để cho thấy đợc mối quan hên giữa khoahọc cụ thể với triết học Nói nh vậy không có nghĩa sau khi triết học Mac ra
đời, thì khoa học và triết học không còn mối quan hệ, mà giữa chúng lại càng
có mối quan hệ gắn bó hơn
II Các vấn đề triết học về khoa học
1 Các vấn đề triết học về phơng pháp nghiên cứu khoa học
Mỗi ngành khoa học cụ thể có những phơng pháp nghiên cứu riêngthích hợp với đối tợng và trình độ nghiên cứu của nó
1.1 Khoa học tự nhiên
Phơng pháp nghiên cứu ở đây là quan sát và nhất là làm thực nghiệm
để có những tài liệu làm căn cứ thực tế cho việc xây dựng các giả thuyết vàquy luật vận động của đối tợng đợc nghiên cứu Giả thuyết này phải phù hợpvới và cắt nghĩa đợc các tài liệu đã thu thập đợc, giả thuyết lại phải cho phépsuy bằng logic ra đợc một số điều cha biết về đối tợng nghiên cứu để có thểkiểm tra lại bằng những quan sát và thực nghiệm mới xem những suy luận đó
có đúng với thực tế không
Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ nh vậy thì công việc nghiên cứu đợc coi
là hoàn thành Nhng thờng rất ít khi công việc diễn ra suôn sẻ ngay, do hoặc
là các tài liệu thu thập không đủ để xây dựng ra đợc giả thuyết, hoặc xâydựng đợc nhng không suy luận ra đợc cái gì mới, hoặc suy luận đợc những
Trang 6không kiểm tra đợc (vì không có điều kiện quan sát, làm thực nghiệm đểkiểm tra), hoặc kết quả quan sát hay thực nghiệm lại bác bỏ, phủ nhận cácsuy luận đó Nh thế phải nghiên cứu lại, không nhất thiết là từ đầu mà từkhâu nào đã dẫn đến thất bại.
ở đây có ba vấn đề triết học khá tinh tế cần đợc làm rõ
Một là, liên quan đến giá tị các tài liệu thực tế ở khâu đầu để làm cơ
sở cho việc xây dựng giả thuyết và ở khâu cuối cùng để kiểm tra giả thuyết.Các tài liệu thực tế đó đợc gọi trong thuật ngữ khoa học ở các nớc Âu - Mỹ làfact (Anh), fait (Pháp) có nghĩa là việc có thật trong khách quan
Các nhà triết học ở thế kỷ XX quan tâm tới khoa học thờng nêu ranghi vấn: các cứ liệu của khoa học có thật là đợc rút ra từ thực tế khách quanhay không, hay cũng chỉ là kết quả hoạt động của ý thức chủ quan nhà khoahọc, hay chí ít là xen lẫn rất nhiều hoạt động chủ quan đó Họ chỉ ra rằng,các quan sát các thực nghiệm bao giờ cũng đợc xây dựng trên các kiến thức
đã có của nhà khoa học, trên các tiền đề giả định, thậm chí các thành kiến sailầm của nhà khoa học, trên các tiên để giả định, thậm chí các thành kiến sailầm của nhà khoa học Vậy làm sao các cứ liệu - kết quả các quan sát, cácthực nghiệm đó lại có thể coi là đợc rút ra từ thực tế, là cứ liệu thực tế?
Loại nghi vấn này cũng nh loại nghi vấn về sự tồn tại khách quan của
đối tợng mà khoa học muốn nghiên cứu đều nằm chung trong một trào lutriết học hiện đại ở phơng Tây muốn phủ nhận khoa học, coi khoa học cũngchỉ là một thứ huyền thoại Mục đích sâu xa của trào lu này để bảo vệ tôngiáo, chính xác hơn là bảo vệ công giáo, một tôn giáo ăn sâu và tiềm thức củavăn hóa Âu - Mỹ gần hai ngàn năm nay (dới dạng khác nhau nh Tân giáo,cựu giáo, chính thống giáo) Đúng là không có cái gọi là căn cứ thực tế thuầntúy với nghĩa là không một căn cứ thực tế nào rút ra đợc trong một quan sát,một thực nghiệm lại chỉ hoàn toàn phản ánh cái thực tế mà nhà khoa họcquan sát hay thử nghiệm lúc đó Không nói đến các sai lầm mà khoa học rất
có thể mắc phải khi quan sát và làm thực nghiệm (cái sai lầm này trớc hay
Trang 7sau đều đợc phát hiện do chính nhà khoa học đó hay do các nhà khoa họckhác), trong khi quan sát hay làm thí nghiệm, nhà khoa học bao giờ cũngphải vận dụng ít hay nhiều các kiến thức khoa học đã có trớc đó và đợc coi là
đúng (còn nếu là kiến thức sai lầm thì nó sẽ dẫn đến các sai lầm trong quansát và thí nghiệm đã nói ở trên) Các kiến thức khoa học đúng mà nhà khoahọc vận dụng, suy cho đến cùng, cũng đều dựa trên các cứ liệu thực tế đã cótrớc, ngay cả các tiên đề, các tiền giả định mà nhà khoa học vận dụng trongquan sát và thực nghiệm thì cũng không phải là tùy tiện, đều là có căn cứthực tế nhất định Tất cả những cái đó là những cái đúng cũ đã biết, đợc đavào các quan sát và thực nghiệm mới và thông qua đó gia nhập vào các cứliệu khoa học mới Trong cứ liệu mới chỉ có một phần là mới đợc rút ra hoàntoàn từ thực tế mới
Nh vậy, một mặt không có cứ liệu khoa học nào 100% là phản ánhthực tế mới, nhng bao giờ cũng có một số phần trăm là phản ánh cái thực tếmới đó (tất nhiên là với điều kiện sự quan sát và thực nghiệm đợc tiến hànhmột cách trung thực, đúng quy cách), còn lại là phản ánh cái thực tế cũ đãbiết từ trớc Giá trị nhiều hay ít, lớn hay nhỏ của các cứ liệu khoa học là ởphần trăm mới đó
Hai là, các nhà triết học thế kỷ XX (nh Popper) đặt câu hỏi: Làm mộtquan sát, một thực nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn của một giả thuyết, nếuthấy nó phù hợp mà cho giả thuyết đó là đúng đắn thì có quá vội, quá chủquan không? Biết đâu và rất có thể có ngời sẽ tìm ra một quan sát, một thựcnghiệm mới sẽ bác bỏ giả thuyết đó? Vì vậy, Popper khẳng định thêm rằngchỉ có những giả thuyết nào có khả năng bị bác bỏ bằng thực nghiệm (tức là
có khả năng để nhà khoa học nghĩ ra một quan sát, một thực nghiệm nhằmbác bỏ nó) thì mới đợc coi là giả thuyết khoa học (tất nhiên đây là nói về khảnăng bị bác bỏ bằng thực nghiệm, còn khi đã thực sự bị bác bỏ thì giả thuyết
đó đã là sai rồi)
Nói tóm lại, trong phơng pháp nghiên cứu khoa học, Popper muốnthay việc thực sự kiểm tra bằng thực nghiệm tính đúng đắn của một giả
Trang 8thuyết (là một việc mà Popper cho là không thể làm đợc) bằng việc chỉ ra khảnăng bị bác bỏ của giả thuyết đó Đó là nội dung của quan điểm "thuyết phủnhận" của Popper Popper cho rằng các giả thuyết nào không có khả năng đó thì
đều là giả thuyết không thuộc phạm vi nghiên cứu của khoa học, thí dụ cácthuyết về thần học của tôn giáo, và nh vậy Popper đã đa ra một tiêu chuẩn đểphân chia quyền hạn và lĩnh vực của khoa học và tôn giáo
Các ý kiến nói trên của Popper gắn liền với một quan niệm khác của
ông phê phán tính không đáng tin cậy của phép quy nạp dùng trong các khoahọc thực nghiệm Phép quy nạp dùng trong logic hình thức là căn cứ vào một
số điều biết đợc là đúng trong một số trờng hợp cụ thể rồi khái quát lên cho
là đúng trong mọi trờng hợp Tất nhiên, nếu chỉ nh vậy thì sự khái quát hóacủa phép quy nạp cha có gì đáng tin Nhng nếu thêm một điều kiện nữa làkhông (hay cha) phát hiện ra một trờng hợp nào trái lại thì sự khái quát hóanói trên sẽ có độ tin cậy nhiều hơn, cao hơn và độ tin cậy đó càng cao hơnnữa nếu số trờng hợp cụ thể xác nhận sự đúng đắn của việc khái quát hóa đócàng nhiều và cha có trờng hợp cụ thể nào bác bỏ nó Nếu ta nhớ rằng thực rakhông bao giờ có thể có những hiểu biết tuyệt đối đúng thì sẽ thấy việc phủnhận giá trị của phơng pháp quy nạp là một việc cực đoan
Các ý kiến của Popper xung quanh việc phủ nhận giá trị của xác nhận
mà chỉ công nhận giá trị của bác bỏ cũng nh phủ nhận giá trị của quy nạptrong phơng pháp nghiên cứu khoa học là rất cực đoan, phiến diện Tronggiới triết học phơng Tây thế kỷ XX, các ý kiến đó rất đợc đề cao vì nó phùhợp với trào lu muốn phủ nhận khoa học đã nói ở trên Nhng các nhà khoahọc thì vẫn tiếp tục dùng phơng pháp quy nạp và phơng pháp kiểm tra sự
đúng đắn để tiếp tục đa khoa học tiến lên
Ba là, các vấn đề triết học có liên quan đến việc xây dựng giả thuyếttrong phơng pháp nghiên cứu khoa học, Giả thuyết về cái gì? Giả thuyết vềquy luật vận động của sự vật khách quan, cụ thể ở đây là đối tợng quan sát đ-
ợc thực nghiệm, hay rộng hơn nữa là giả thuyết về một lý thuyết khoa họcliên quan đến đối tợng đợc nghiên cứu
Trang 9Quy luật nói lên một mối quan hệ tất yếu nào đó giữa hai hay nhiều
sự vật Hình thức biểu đạt của một quy luật dới dạng đơn giản thờng là: nếu
có (hay không có) sự vật hay hiện tợng A thì sẽ có (hay không có) sự vật hayhiện tợng B (thí dụ: hễ đun nớc dới áp suất 1 atnốtphe và ở nhiệt độ 1000C thìnớc sôi và bốc thành hơi)
Vì quy luật nói lên mối quan hệ giữa các sự vật, các hiện tợng, nêntrong nghiên cứu khoa học để tìm ra các quy luật phải xác định đợc rõ các sựvật, các hiện tợng cụ thể mà khoa học muốn tìm hiểu Trong các hiện tợngthông thờng, việc xác định nói trên rất đơn giản Thí dụ, để khảo sát ảnh h-ởng của nớc tới sự sinh trởng của cây thì các sự vật cần tìm mối quan hệ ở
đây là cây và nớc, còn mối quan hệ tức quy luật ở đây là: không có nớc cây
sẽ chết Nhng đó chỉ là một trờng hợp đơn giản Trong những trờng hợpphức tạp hơn, thì việc xác định xem sự vật mà nhà khoa học nghiên cứu cómối quan hệ với sự vật nào khác đòi hỏi nhiều công phu Thí dụ, nhà khoahọc muốn nghiên cứu mối quan hệ (quy luật) giữa thể tích của một khối khí(nh khí CO2 chẳng hạn) với nhiệt độ của nó, thể tích và nhiệt độ của khí đóthì dễ xác định, nhng nhà khoa học phát hiện ra rằng mối quan hệ nói trêncòn phụ thuộc vào một tính chất (sự vật) thứ ba nữa là áp suất của khối khí
Sự vật thứ ba này, tức là áp suất, không phải dễ thấy nh thể tích và nhiệt độ.Phải qua một quá trình nghiên cứu, nhà khoa học mới có (mới xây dựng rahay mới xác định đợc) sự vật đó, chứ nó không hiển hiện ngay trớc mắt nhcái cây hay gáo nớc Có thể khẳng định hầu hết các quy luật khoa học đềunói lên một mối quan hệ giữa các sự vật không phải hiển hiện trớc mắt mà lànhững sự vật không đợc nhà khoa học qua nghiên cứu hình dung ra, xây dựng
ra, hay xác định đợc
Các điều trình bày ở trên cho phép: một mặt, hình dung đợc chừngmực nào nội dung của việc xây dựng các giả thuyết khoa học, mặt khác, lànêu nên đợc một số nghi vấn triết học có liên quan đến phơng pháp nghiêncứu khoa học Đó là:
Trang 10- Các quy luật khoa học nói lên mối quan hệ giữa một số sự vật cụthể Nhng nh trên đã thấy, các sự vật đó là kết quản nghiên cứu trừu tợng hóacủa các nhà khoa học Vậy có gì đảm bảo chắc chắn đó là hình ảnh đúng đắncủa các sự vật khách quan?
- Trong hoạt động trí tuệ của các nhà khoa học, họ xây dựng ra cácgiả thuyết khoa học chủ yếu bằng trí tởng tởng đặc biệt, bằng trực giác, tức làmột loại hoạt động sáng tạo, chứ không phải chủ yếu bằng suy luận logic từcác cứ liệu thực tế Nh thế có gì chứng tỏ đó là sự phản ánh trung thực củathực của thực tế khách quan?
- Đặt hay xây dựng ra các giả thuyết về quy luật nh thế tức là giả địnhthế giới khách quan có quy luật trong khi không biết chắc là có hay không
Rõ ràng là khoa học đợc xây dựng trên một tiền đề, một tiền giả định là cóthế giới khách quan, là thế giới khách quan đó có tính quy luật đó nhà khoahọc có thể tìm ra đợc
Đó là các nghi vấn hay các phê phán của những nhà triết học hiện đại
Âu - Mỹ không tin rằng có thế giới sự vật khách quan, không tin rằng hoạt
động khoa học của loài ngời đạt đợc chân lý khách quan Để trả lời các phêphán và nghi vấn nói trên, có thể chỉ ra rằng, trong việc xây dựng các giảthuyết khoa học
- Tuy có dựa vào một số tiền giả định nh có thế giới khách quan, cóquy luật nhng những tiền giả định đó phải phù hợp với kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn của loài ngời nói chung và của khoa học nói riêng, chứ khôngthể tùy tiện Có thể nào có nhà triết học xuất phát từ tiền giả định là dòng nớcsâu hung dữ trớc mắt ông ta là không có thật và ông ta cứ thản nhiên bớc vào!
- Tuy vai trò của tởng tợng và của trực giác, của sáng tạo là rất quantrọng, nhng chúng phải đợc hớng dẫn và nhất là thẩm định bằng lý trí, bằnglogic và bằng kiểm nghiệm của thực tiễn (bằng quan sát, bằng thực nghiệm,bằng ứng dụng, ) Trí tởng tởng của nhà khoa học có thể, có lúc rất kỳ lạ,thậm chí có thể là "điên rồ" nh một lời nhận xét hài hớc nhng sâu sắc của
Trang 11Bohr, nhà vật lý hàng đầu của thế kỷ XX Nhng dù điên rồ đến đâu thì cuốicùng nó chỉ đợc công nhận khoa học khi nó đợc thực nghiệm xác nhận (vàkhông có thực nghiệm vào bác bỏ) Đây là chỗ khác nhau về trí tởng tợng củanhà khoa học với trí tởng tợng của nhà văn, nhà thơ.
Trên đây mới chỉ nói đến việc xây dựng giả thuyết về quy luật khoahọc Mức cao hơn là xây dựng giả thuyết về một lý thuyết khoa học Mộtthuyết khoa học nh thế tơng đối của Einstein hay thuyết tiến hóa sinh vật,bao gồm một số nguyên lý (tức là một loại quy luật tổng quát) rồi từ đó suy
ra nhiều quy luật khác, cắt nghĩa đợc hay dự đoán đợc nhiều hiện tợng thuộclĩnh vực mà lý thuyết đó nghiên cứu Thí dụ trong thuyết tiến hóa sinh vật đó
là nguyên lý về sự chọn lọc của tự nhiên (thích hợp với môi trờng thì tồn tại,phát triển: không thích hợp thì suy giảm và tiêu vong) và nguyên nhân lý tínhbiến dị của các sinh vật (sự phát triển và hoàn thiện thuyết tiến hóa ở thế kỷ
XX và cả trong tơng lai là ở chỗ giải thích ngày càng đầy đủ, càng chính xáccơ chế của sự biến dị này)
Nh ta thấy, tuy một thuyết khoa học là rộng và phức tạp hơn một quyluật khoa học, nhng chúng cùng thuộc một phạm trù và vì thế các vấn đề triếthọc nêu ra với vấn đề thuyết khoa học, về thực chất cũng là những vấn đềtriết học nêu ra với vấn đề quy luật đã đợc trình bày ở các phần trên
Để kết luận việc phân tích loại nghi vấn học nói ở điểm 3 này, cầnnhắc lại một luận điểm quan trọng của nhận thức luận duy vật biện chứng vềkhả năng ý thức của con ngời có thể phản ánh thế giới khách quan
Việc khoa học xây dựng ra các giả thuyết về thế giới khách quanchính là để phản ánh đợc đúng đắn thế giới đó Qua các phân tích đã nói ởtrên về phơng pháp xây dựng ra các giả thuyết khoa học, ta thấy rằng việc ýthức con ngời phản ánh thế giới khách quan là một quá trình nhận thức côngphu và tiến nên không ngừng để phản ánh đợc ngày càng đúng thế giới đó
Cho rằng sự phản ánh đó chỉ là sự sao chép, chụp ảnh một cách đơngiản thế giới khách quan Hoặc trái lại cho rằng các giả thuyết mà nhà khoa
Trang 12học xây dựng ra là một h cấu không có gì bảo đảm nó phản ánh đợc thế giớikhách quan, đều là các quan điểm sai lầm; hoặc thuộc loại duy vật máy móchoặc là duy tâm bấc khả tri.
1.2 Khoa học xã hội
ở đây, phơng pháp nghiên cứu cũng gồm ba khâu nh đối với cáckhoa học tự nhiên, đó là: tìm cứ liệu khoa học, xây dựng các giả thuyết vềquy luật và kiểm tra sự đúng đắn của giả thuyết Tuy nhiên, do đối tợngnghiên cứu ở đây là các hiện tợng xã hội, có những đặc điểm cơ bản khác vớicác hiện tợng tự nhiên, nên phơng pháp nghiên cứu tất yếu cũng phải cónhững đặc điểm khác
Trớc hết, vì các hiện tợng xã hội là do hành động của nhiều ngờitrong một cộng đồng tạo ra, con ngời hành động bao giờ cũng có ý đồ, cótính toán, tức là có ý thức (nhiều hay ít, chính xác hay không) nên các quyluật về hiện tợng xã hội không thể tuyệt đối đúng 100% cho mọi trờng hợp
mà thờng chỉ là các quy luật xác suất hay quy luật thống kế, còn gọi là quyluật về xu hớng chung Có một số nhà triết học nh Popper (đã nói ở trên) chorằng quy luật thống kê không phải là quy luật: đó là một quan điểm cực đoankhông sát thực tế
Thứ hai, cũng do hiện tợng xã hội là biểu hiện hành động của con
ng-ời trong mối quan hệ qua lại ở một cộng đồng nên nói chung không thể làmthực nghiệm nh trong khoa học tự nhiên (không thể đem con ngời ra làm vậtthí nghiệm), hoặc trong trờng hợp làm đợc thí nghiệm thì độ chính xác khôngcao Nguồn cơ bản ở đây để tìm các cứ liệu khoa học là quan sát hoặc điềutra (một hệ thống các quan sát đợc tiến hành theo một kế hoạch chặt chẽ đợcgọi là khảo sát)
Đối tợng điều tra, khảo sát của khoa học xã hội là con ngời biết nói,biết trả lời khi đợc hỏi: đó lại là một đặc điểm trong phơng pháp nghiên cứucủa khoa học xã hội khác khoa học tự nhiên Và khi trả lời, ngời ta có thể nóidối, đánh lạc hớng nhà khoa học vì một số động cơ nào đó, ở thế kỷ XX, các