Phạm vi nghiên cứu Do khả năng và thời gian không cho phép tìm hiểu mọi thành phần từvựng có mặt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu từvựng tiếng Việt theo cấu trú
Trang 1§¹i häc Quèc gia Hµ néi
Trang 2Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những
ng-ời thân trong gia đình, bạn bè và tập thể sinh viên lớp K48 Ngôn Ngữ đã luôn động viên, giúp đỡ trong quá trình làm khoá luận để chúng tôi hoàn thành khoá luận một cách tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2007.
Ngời thực hiện khoá luận.
Nguyễn Thị Thanh Dung Lâm Thị Tuyến.
Mục lục
Mở đầu 1
1 lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Bố cục của khoá luận 3
Nội dung 4
Chơng 1: Cơ sở lí luận và phơng pháp làm việc 4
1.1 Quan niệm về từ và từ tiếng Việt 4
1.2 Về mặt cấu trúc của từ 6
1.2.1 Từ đơn 6
1.2.2 Từ ghép 6
1.2.3 Từ láy 7
1.2.4 Từ ngẫu hợp 11
1.3 Về mặt nguồn gốc của từ 13
1.3.1 Từ Hán – Việt và từ ngữ gốc Hán 13
Trang 31.3.2 Từ ấn - Âu 15
1.3.3 Từ địa phơng 16
1.4 Cụm từ cố định 17
1.5 Một số vấn đề về từ điển và cấu trúc của Việt Nam Tự Điển 19
1.5.1 Một số vấn đề từ điển 19
1.5.2 Cấu trúc từ điển 20
1.6 Phơng pháp làm việc 23
Chơng 2: phân tích từ vựng tiếng việt trong “việt nam tự điển” theo cấu trúc của đơn vị từ vựng 24
2.1 Bảng số lợng các đơn vị từ vựng xét theo cấu trúc 24
2.2 Từ đơn 25
2.3 Từ ghép 25
2.4 Từ láy 26
2.5 Từ ngẫu hợp 28
2.6 Cụm từ cố định 29
2.7 Tiểu kết 33
Chơng 3: phân tích từ vựng tiếng việt trong việt nam tự điển theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng 35
3.1.Bảng số lợng các đơn vị từ vựng theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng .36
3.2 Các từ ngữ Hán – Việt 37
3.3 Các Từ gốc ấn - Âu 45
3.4 Từ địa phơng 52
3.5 Tên riêng 63
3.6 Tiểu kết 67
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 72 Phụ lục
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các từ điển, nhất là từ điểntrong các thời kì trớc đây, luôn đợc coi là nguồn t liệu đáng tin cậy bậc nhất
mà chúng ta không thể bỏ qua Chúng ta đã có An Nam Dịch Ngữ, rồi từ
điển Việt – Bồ - La, cùng rất nhiều công trình khác nữa Trong khoảngnhững năm 30 xuất hiện Việt Nam Tự Điển (1931) do Hội Khai Trí Tiến
Đức khởi thảo Cuốn tự điển này là một nguồn t liệu quí báu để nghiên cứu
từ vựng tiếng Việt đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề nghiêncứu từ vựng trong Việt Nam Tự Điển vẫn cha đợc ai quan tâm Nhận thấyvấn đề diện mạo từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển còn bỏ ngỏ,chúng tôi thực hiện khóa luận này với mong muốn đợc đóng góp một phầncông sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trongViệt Nam Tự Điển nói riêng và nghiên cứu vốn từ vựng tiếng Việt nóichung
Theo Giáo s Hoàng Phê, tính đến năm 1998, chúng ta có tới 708công trình bằng/gồm tiếng Việt thực sự là từ điển đợc công bố Điều đóchứng tỏ từ vựng tiếng Việt là mối quan tâm của rất nhiều nhà viết sách
Cuốn Việt Nam Tự Điển do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo từ
1923, xuất bản từ 1931 đến 1939 tại nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn - HàNội và đợc tái bản năm 1954 ở Pháp Nh vậy, tính đến nay, công trình này
đã ra đời đợc 76 năm, là cuốn tự điển đợc biên soạn khá công phu, rõ ràng,
có hệ thống sắp xếp theo thứ tự A, B, C của bảng chữ cái Đồng thời ViệtNam Tự Điển còn là cuốn tự điển phản ánh một khối lợng lớn các mặt đờisống vật chất và tinh thần của ngời Việt thông qua các mục từ và giải nghĩacác mục từ Cần khẳng định ngay rằng theo dòng lịch sử, trong số những tự
điển do ngời Việt Nam biên soạn bằng chữ quốc ngữ theo kiểu tờng giải, thìViệt Nam Tự Điển đứng ở vị trí tiếp theo sau Đại Nam Quốc Âm Tự Vị
Đây cũng là cuốn tự điển lấy “từ” làm đơn vị giải thích chứ không phải chỉ
có “tự” (chữ) Trong công trình này, các từ khó hiểu đã đợc giải thích mộtcách tỉ mỉ và kèm theo những ví dụ (văn liệu) khá phong phú Chúng tôinhận thấy Việt Nam Tự Điển có giá trị nh một mốc quan trọng trong quátrình phát triển của lịch sử tiếng Việt Vì vậy, việc nghiên cứu từ vựng trongViệt Nam Tự Điển cần phải đợc chú ý nhiều hơn nữa để có đợc nhữngthông tin khái quát về từ vựng tiếng Việt những năm 30
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này, mục đích của chúng tôi là tìm hiểu kĩ hơn
về từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam tự điển Cụ thể là chúng tôi sẽ cónhững khảo sát để chỉ ra một cách khái quát diện mạo các thành phần từvựng trong công trình tự điển này
Mặt khác, nghiên cứu vấn đề từ vựng trong Việt nam Tự Điển, chúngtôi còn mong muốn đợc đóng góp một phần nhỏ bé công sức của mình vàoviệc nghiên cứu lịch sử phát triển của tiếng Việt Kết quả nghiên cứu sẽ làcơ sở để so sánh vốn từ vựng tiếng Việt những năm 30 của thế kỉ XX vớigiai đoạn trớc nó và cả quá trình phát triển của lịch sử tiếng Việt về sau đó.Kết quả này sẽ là một miêu tả khái quát về một trạng thái từ vựng, giúptăng thêm đợc những nhận biết về các trạng thái liên tục hơn của từ vựngtiếng Việt
3 Phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian không cho phép tìm hiểu mọi thành phần từvựng có mặt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu từvựng tiếng Việt theo cấu trúc của đơn vị từ vựng, theo nguồn gốc và phạm
vi sử dụng Nh vậy, chúng tôi mới chỉ khảo sát và miêu tả đợc một bộ sốbình diện của từ vựng trong Việt Nam Tự Điển, chứ cha miêu tả đợc tất cảcác mặt của nó
4 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3chơng sau:
Trang 7Chơng 1:
Cơ sở lí luận và phơng pháp làm việc
Để có cơ sở lí luận cho các phân tích trong khoá luận này, trong
ch-ơng 1 chúng tôi tập hợp và hệ thống hoá lại một số quan niệm lí thuyết vềnhững vấn đề liên quan nh: từ, phân loại từ, cấu trúc của từ và một số vấn
đề về từ điển
1.1 Quan niệm về từ và từ tiếng Việt
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học cách định nghĩa về từ đợc đa ra rấtnhiều Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhng đềukhông đủ và không bao gồm đợc hết tất cả các đơn vị đợc coi là từ trong cácngôn ngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy Tuy nhiên, để có cơ sởthuận lợi cho việc nghiên cứu, ngời ta vẫn thờng chấp nhận một khái niệmnào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhng cũng chỉ để lọt rangoài phạm vi của nó một khối lợng không nhiều các trờng hợp ngoại lệ.Trong khoá luận này, chúng tôi sử dụng định nghĩa sau đây là định nghĩa đ-
ợc nhiều ngời chấp nhận, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu củamình
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, đ
ngoan, hiền, xinh, xấu…
Đối với từ của tiếng Việt, nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt mà chỉchấp nhận một cách nhìn để làm việc thì quan niệm về từ đã trình bày ởphần trên là có thể dùng đợc Có thể phát biểu lại nh sau:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững,
“
hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, đợc vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu [8]”
Về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt cũng đợc cấu tạo từ hình vị nhng hình
vị của tiếng Việt tơng ứng với tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là âm tiết.Các đơn vị gọi là tiếng của tiếng Việt có giá trị tơng đơng nh hình vị trongcác ngôn ngữ khác Chúng có hai đặc điểm cần thiết của một hình vị:
+ Là đơn vị tối giản (đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa)
+ Có giá trị về mặt ngữ pháp
Trang 8Tuy nhiên, giữa tiếng của tiếng Việt và hình vị của nhiều ngôn ngữthuộc loại hình khác cũng có những điểm khác nhau khá căn bản nh sau:
Trớc hết, xét về hình thức chúng ta thấy rằng ở các ngôn ngữ thuộcloại hình khác, ví dụ nh ở nhiều ngôn ngữ ấn - âu, hình vị chỉ là đơn vịthuần ngữ pháp, hoàn toàn không có liên quan gì đến cái đơn vị ngữ âm gọi
là âm tiết cả Hình vị ở các ngôn ngữ này khi thì có dạng ngữ âm là một âm
vị, khi thì có dạng ngữ âm là một tập hợp bất kì của nhiều âm vị (có thể nhỏhơn âm tiết; bằng âm tiết; hoặc lớn hơn âm tiết) Vì vậy, xác định âm tiết vàxác định hình vị những ngôn ngữ này là hai quá trình, đa đến những kết quảkhác nhau
ở tiếng Việt, tình hình hoàn toàn ngợc lại Giữa hình vị và âm tiết cómối tơng quan rõ rệt Giữa âm tiết và hình vị bao giờ cũng có một sự tơngứng một đối một, sự tơng ứng hoàn toàn Mỗi tiếng trong tiếng Việt đứng vềmặt ngữ âm chính là một âm tiết, đứng về mặt ngữ pháp chính là một hình
vị Cho nên ở tiếng Việt, phân tích câu nói ra thành âm tiết và phân tích câunói ra thành hình vị bao giờ cũng đa đến một kết quả giống nhau: Đó làchia tách câu nói ra thành từng tiếng một
Mặt khác, xét về nội dung, hình vị tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất cónội dung đợc thể hiện Chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ)
Sự có mặt hay không có mặt của tiếng trong một ngữ đoạn nào đó bao giờcũng đa đến tác động nhất định về mặt này hay mặt khác
Đến đây có thể kết luận rằng, tiếng trong tiếng Việt không hoàn toàn
là hình vị bình thờng nh hình vị của nhiều ngôn ngữ khác Tiếng là một loạihình vị đặc biệt: một hình tiết, tức âm tiết có giá trị hình thái học
1.2 Về mặt cấu trúc của từ
Có nhiều tiêu chí để phân chia chúng thành các tiểu loại khác nhau.Nếu dựa vào sự đồng nhất và khác biệt về phơng thức cấu tạo, các từ trongtiếng Việt đợc chia thành 2 loại lớn là: từ đơn và từ phức, trong đó từ phứcgồm: từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp
1.2.1 Từ đơn
Là những từ đợc cấu tạo bằng một tiếng (còn gọi là các từ đơn tiết)
1.2.2 Từ ghép
1.2.2.1 Định nghĩa:
Trang 9Là những từ đợc tạo nên bằng cách ghép các tiếng lại mà giữa cáctiếng có quan hệ về nghĩa với nhau
1.2.2.2 Phân loại:
Có thể phân loại từ ghép tiếng Việt dựa vào tính chất của mối quan
hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo nh sau:
Từ ghép đẳng lập:
Những từ mà giữa các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng vớinhau về nghĩa đợc gọi là từ ghép đẳng lập
Trong loại từ này có thể có hai khả năng:
+ Các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa Khi dùng mỗi thành tố nh vậy
để cấu tạo từ thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố cấu tạo khôngtrùng nhau
+ Một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố không rõ nghĩa Trong hầu hếtcác trờng hợp, những yếu tố không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhng sau bịbào mòn dần đi ở các mức độ khác nhau Bằng con đờng tìm tòi từ nguyên
và lịch sử, ngời ta thờng xác định đợc nghĩa của chúng
Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp Đây cũngchính là đặc điểm khác biệt của nó với từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ:
Những từ ghép mà có thành tố này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia
đều đợc gọi là từ ghép chính phụ Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyênbiệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính
Ví dụ: đờng sắt, xanh lè, đỏ au, trắng phau, xe máy, cá diếc, chim sẻ,
da lê, máy bay…
Về hai loại từ ghép này, một số tác giả còn gọi chúng với những tên
khác nhau nh: từ ghép hợp nghĩa (là những từ ghép do hai hình vị tạo nên,
trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào
là hình vị phân nghĩa) và từ ghép phân nghĩa (là những từ ghép đợc cấu tạo
từ hai hình vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn(sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hoá loại lớn
đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhng độc lập với nhau và độc lập đốivới loại lớn
Trang 10Mặc dù cách gọi tên có khác nhau nhng về bản chất là nh nhau
1.2.3 Từ láy
1.2.3.1 Định nghĩa:
Là những từ đợc hình thành bằng cách tổ hợp các tiếng lại trên cơ sởcủa sự hoà phối ngữ âm (vì thế mà các từ này còn đợc gọi là lấp láy, từ láy
âm)
Ví dụ: thình thịch, bùm bụp, thơ thẩn, xinh xinh, khấp khểnh, rì
rào…
Trong loại từ này cần phải lu ý phân biệt từ láy và dạng láy Một từ sẽ
đợc gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm đ
-ợc lặp lại, nhng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối)
Từ láy gồm hai tiếng (láy đôi)
Từ láy gồm ba tiếng (láy ba)
Và từ láy gồm bốn tiếng (láy t)
Trong đó loại đầu tiên chiếm chủ yếu
Từ láy đôi:
Có các dạng cấu tạo nh sau
+ Láy hoàn toàn:
Mặc dù gọi là từ láy hoàn toàn nhng thực ra bộ mặt ngữ âm của haithành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều phần đốicủa chúng rất nhỏ khiến ngời ta vẫn nhận ra đợc hình dạng của yếu tố gốctrong yếu tố đợc gọi là yếu tố láy Các từ láy hoàn toàn có thể chia thành balớp nhỏ hơn:
- Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu
tố đợc nói nhấn mạnh hoặc kéo dài)
Ví dụ: rợi rợi, rầm rầm, sợng sợng, lăm lăm, lù lù, tàng tàng, thụp
thụp, thuôn thuôn, uôm uôm, xoét xoét, xom xom, xõng xõng…
- Lớp từ láy hoàn toàn, đối nhau ở thanh điệu Nguyên tắc đối thanh điệu là:thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; bằng đứng tr-
Trang 11Ví dụ: hơ hớ, ngay ngáy, xoi xói, xon xón, tia tía, ri rỉ, re rẻ, ren rén,
vành vạnh, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng…
- Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo quyluật dị hoá:
- Điệp âm đầu, đối ở phần vần:
Ví dụ: tha thiết, thơ thẩn, tròn trịa, mong manh, mềm mại, tinh tế,
nhộn nhịp, nhồm nhoàm, nhức nhối, xôn xao, xuề xoà, xộc xệch…
Trong lớp từ này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn không phải là từláy, nhng vì quan hệ về ý nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi làmcho quan hệ ngữ âm ngẫu nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, vàhiện giờ ngời Việt nhất loạt coi chúng là từ láy Ví dụ: chùa chiền, tuổitác…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy.nghĩa của những từ nh vậy đợc tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo,chó má, xe cộ, đờng sá, gà qué…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy
Ngoài ra còn có hiện tợng đối ứng ở âm chính, hiện tợng này khá đều
đặn ở một số nhóm từ
Ví dụ:
ô - ê: ngô nghê, hổn hển, xồ xề…
o e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve… …
i a: hỉ hả, xí xoá – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve… …
u - ă: tung tăng, vùng vằng…
ô - a: bỗ bã, mộc mạc…
ê - a: khề khà, xuề xoà…
- Điệp ở phần vần, đối ở âm đầu
Ví dụ: mợng tợng, lng chừng, bâng khuâng, ngang tàng, quyến luyến,
tanh bành, tẩn mẩn, tâng hẩng, tèm nhèm, tênh hênh, toác hoác, toen hoẻn, thình lình, xớ rớ…
Từ láy ba và láy bốn tiếng:
Trang 12Từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn.
Từ láy bốn tiếng dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu
đủng đà đủng đỉnh, lững tha lững thững, vội vội vàng vàng…
+ Cấu tạo từ láy ba tiếng:
Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần
Ví dụ:
nhũn nhũn nhùn nhùn – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
trơ - trơ trờ trờ khít khít khìn khịt – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
Nhiều khi chúng ta có thể gặp những “cặp bài trùng” giữa từ láy hai
tiếng và láy ba tiếng nh:
Sát sạt sát sàn sạt – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
Trụi lủi trụi thui lủi – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
khét lẹt khét lèn lẹt – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
dửng dng dửng dừng d – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve… ng cỏn con cỏn còn con – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
tẻo teo tẻo tèo teo – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
tí ti tí tì ti – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
cuống cuồng cuống cuồng cuồng – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
nhẽo nhèo nhẽo nhèo nhèo – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
+ Cấu tạo từ láy bốn tiếng:
- “Nhân đôi” từ láy hai tiếng nhng biến vần của tiếng thứ hai thành “e, a, ơ,à” cho phù hợp, hài hoà về âm vực giữa các vần, các thanh:
lơ mơ - lơ ma lơ mơ
vớ vẩn vớ va vớ vẩn – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
hì hục hì hà hì hục – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
hấp tấp hấp ta hấp tấp – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
hớt hải hớt hơ hớt hải – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
vất vởng vất va vất v – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve… ởng lủng củng lủng cà lủng củng – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
đủng đỉnh - đủng đà đủng đỉnh
- “Nhân đôi” từ láy hai tiếng nhng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh
điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp:
bồi hồi bổi hổi bồi hồi – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
- “Nhân đôi” từng tiếng của từ láy hai tiếng:
– e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
Trang 13vội vàng vội vội vàng vàng – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
- Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, nhng biến âm đầu của tiếng thứ nhất vàthứ ba thành “l”
nhồm nhoàm lồm nhồm loàm nhoàm – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
thơ thẩn lơ thơ lẩn thẩn – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
- Từ một từ gốc có thể cấu tạo từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một
bắng nhắng bắng nha bắng nhắng – e: ho he, nhỏ nhẻ, vo ve…
bắng nhắng bặng nhặng
1.2.4 Từ ngẫu hợp
Ngoài ra, trong tiếng Việt còn có một lớp từ mà giữa các thành tốcấu tạo của chúng không có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa Chúng
đợc gọi là các từ ngẫu hợp (các tiếng tổ hợp với nhau một cách ngẫu nhiên)
Ví dụ: bồ hóng, bồ hòn, bồ kết, bồ câu, cà cuống, cà kê…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy
Về lớp từ này, đã có nhiều tranh luận Một vài tác giả đã xếp nó vào
từ đơn và cho rằng để chúng trong từ đơn chẳng những không ảnh hởng đếnnguyên tắc phân loại mà còn phù hợp với đặc điểm hoạt động hiện nay củachúng
Tuy nhiên, cũng có một số tác giả xếp lớp từ này là một bộ phận của
từ phức [8] Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi cũng đồng ý với ý kiếnthứ hai: xếp lớp từ ngẫu hợp thuộc từ phức Lớp từ này có thể bao gồm:
+ Những từ vay mợn gốc Hán (hoặc phiên âm qua âm Hán – Việt) thôngqua con đờng sách vở hoặc khẩu ngữ (trong số này có những từ mà từngthành tố của chúng trớc đây vốn rõ nghĩa nhng nay không đợc ngời Việtnhận thức nữa)
+ Những từ vay mợn gốc ấn - Âu qua con đờng sách vở hoặc khẩu ngữ nh:
axít, míttinh, sơmi, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao…cũng có thể đợc xếp
vào đây
Trong phạm vi t liệu mà chúng tôi nghiên cứu (Việt Nam Tự Điển),chúng tôi chỉ khảo từ ngẫu hợp dới góc độ là những từ gốc thuần Việt nh:
mồ hôi, mồ côi, cà kê, cà cuống, cà sa, bồ kết…
Từ những điều trên, có thể đa ra một sơ đồ phân loại các từ trongtiếng Việt nh sau:
Trang 141.3 Về mặt nguồn gốc của từ
Về mặt nguồn gốc, có hai bộ phận lớn của từ vựng tiếng Việt cần đợc
lu ý là các từ Hán – Việt và từ gốc ấn - Âu Đó là hai lớp từ vay mợn lớnnhất của tiếng Việt
1.3.1 Từ Hán Việt và từ ngữ gốc Hán
Trong quá trình phát triển của mỗi ngôn ngữ, sự tiếp xúc và vay mợn
từ vựng của nó đối với các ngôn ngữ khác để làm giàu cho mình là một quyluật tất yếu Tiếng Việt cũng không phải là một ngoại lệ Trong lịch sử hìnhthành và phát triển, tiếng Việt đã có một cuộc tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóavừa lâu dài về thời gian, vừa gần gũi về không gian để lại dấu ấn rất sâu
đậm là sự xuất hiện của lớp từ ngữ gốc Hán tồn tại, phát triển và giao thoavới lớp từ ngữ thuần Việt
Có thể chia quá trình này ra làm hai giai đoạn lớn: Giai đoạn từ đầuCông nguyên đến đời Đờng (thế kỉ VIII đến thế kỉ X), và giai đoạn hai, từthế kỉ X trở về sau Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc một cách tự nhiêngiữa tiếng Việt và tiếng Hán của đạo quân xâm lợc Giai đoạn hai là giai
đoạn tiếp xúc một cách có ý thức của tiếng Việt đối với tiếng Hán “Chínhvào lúc sự tiếp xúc ngôn ngữ không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị theoquan hệ phụ thuộc, nó lại đi sâu vào ngôn ngữ Sự vay mợn lúc này đã đónggóp vai trò của chính ngôn ngữ đi vay, không phải là sự cỡng ép” (PhanNgọc, 1981) Kết quả là hai giai đoạn tiếp xúc trên đã đem lại cho từ vựng
Từ tiếng Việt
Trang 15tiếng Việt hai nguồn gốc từ gốc Hán mà từ trớc tới nay ta vẫn gọi là từ Hán
cổ và từ Hán Việt với một khối lợng khổng lồ, mà theo số nghiên cứu thìchiếm tới 70% tổng số các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt
+ Từ Hán cổ: là những từ ngữ gốc Hán đợc du nhập vào tiếng Việt
trong giai đoạn một Ví dụ trong Việt Nam Tự Điển có các từ nh: chúa (âm
cổ của chủ), chén (âm cổ của trản), chém (âm cổ của trảm), quen (âm cổ của quán), vua (âm cổ của vơng)
+ Từ Hán Việt : là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt giai đoạn
hai, mà ngời Việt đọc âm chuẩn (Trờng An) của chúng theo hệ thống ngữ
âm của mình Ví dụ, trong Việt Nam Tự Điển có các từ nh: giang, giảo,
liên, hà, hỏa, hòa, hoàn, sơn
Ngoài hai nguồn gốc là từ Hán cổ và từ Hán Việt, còn có hai loạikhác cùng đợc xếp vào lớp từ gốc Hán là từ Hán Việt Việt hóa và từ gốcHán du nhập vào tiếng Việt thông qua con đờng khẩu ngữ của những ngờinói phơng ngữ tiếng Hán Trong đó từ Hán Việt Việt hóa là những từ ngữgốc Hán đã đợc cải tổ về mặt ngữ âm tới hai lần Cách đọc thứ hai làm mờhẳn nguồn gốc Hán của chúng và đa chúng vào vị trí sâu hơn trong tiếngViệt Tuy nhiên do điều kiện và thời gian không cho phép và kiến thức củangời viết còn hạn chế, trong khóa luận này chúng tôi không thể thống kê,miêu tả, phân tích hết đợc tất cả các từ gốc Hán mà chỉ dừng lại ở phạm vi
từ Hán Việt Nh vậy, từ Hán cổ, Từ Hán Việt Việt hóa, và từ gốc Hán dunhập thông qua con đờng khẩu ngữ không nằm trong phạm vi quan tâm củachúng tôi trong khóa luận này
và giao tiếp hành chính, hàng loạt các từ gốc Pháp đã du nhập vào tiếngViệt Mặt khác, một số từ gốc Anh, rồi gần đây một số từ nguồn gốc Nga
cũng đã đợc tiếp thu nh : mít tinh, ten nít, bốc, bồi, cao bồi, tiu, xì ke, côm
xô môn, men sê vích, Xô Viết
Trang 16Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng Năm 1862, chúngchiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ Năm 1867, Pháp chiếm trọn Nam Bộ.Ngay khi còn cha chiếm xong Nam Bộ, thực dân Pháp đã xuất bản tờ côngbáo bằng tiếng Việt đầu tiên tại Sài Gòn là Gia Định báo (năm 1865) với ý
đồ vừa coi đây là công cụ của chế độ thuộc địa, vừa góp phần đẩy lùi vị thếcủa tiếng Hán ở Việt Nam, dọn đờng cho tiếng Pháp chuẩn bị dành địa vị
độc tôn, thay thế tiếng Hán
Năm 1884, do thái độ khiếp nhợc của triều đình nhà Nguyễn, với hòa
ớc Giáp Thân, Pháp đã chính thức lập xong chế độ thuộc địa của chúng ởViệt Nam Năm1905, tờ báo đầu tiên vừa viết bằng chữ Quốc ngữ vừa viếtbằng chữ Hán xuất hiện tại Hà Nội, là tờ Đại Việt Tân báo
Nh vậy, cho đến năm 1905, có nhiều tờ báo bằng tiếng Việt đã ra đời,
có kèm tiếng Pháp và tiếng Hán Chữ Quốc ngữ và tiếng Việt lúc này vấpphải hai trở ngại ngăn cản sự phát triển thống nhất, đó là âm mu “chia đểtrị” và chính sách “ nô dịch văn hóa” của thực dân Pháp Thực tế nhà cầmquyền Pháp ở Việt Nam đã dùng tiếng Pháp, chữ Pháp trong văn kiện, giấy
tờ của bộ máy cai trị, tăng cờng việc dạy tiếng Pháp trong nhà trờng, hạnchế vai trò của tiếng Hán và chữ Hán
Nhìn chung, các từ gốc ấn - Âu (chủ yếu là gốc Pháp) đã thâm nhậpvào khá nhiều mặt của đời sống xã hội Từ đời sống thờng ngày (bao gồmtên gọi một số mốn ăn, thuốc men, quần áo, đồ đạc, dụng cụ ) cho đến cáclĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, y tế đều có chúng tham
gia Ví dụ trong Việt Nam Tự Điển có các từ nh sau: A men, bom, bồi, bơm,
bơ, Da tô, den, đầm, ga, lò xo, lít, mét
1.3.3 Từ Địa Phơng
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có tính thống nhất trong sự đa dạng Thểhiện một phần đặc tính này là sự tồn tại của bộ phận từ địa phơng bên cạnhlớp từ vựng chung phổ biến toàn dân
Theo đó, từ địa phơng là những từ chỉ có ở một phơng ngữ nào đó củangôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phơng đó
mà thôi Ví dụ, trong Việt Nam Tự Điển có các từ nh: Ăn sỉ, bài chài, bán
mắc, bặn, ben, bóng, bủ, chằn, chừ, ghe, đọi, tê, tề, trốc, vọp bẻ, vô
Nh vậy, nghiên cứu từ địa không thể tách rời với hoàn cảnh văn hóa
xã hội Trong sách “Tiếng Việt trên các miền đất nớc”, Giáo s Hoàng Thị
Châu có đề cập một cách biện chứng đến sự tơng quan cần yếu cần nắm rõgiữa bối cảnh xã hội và bối cảnh ngôn ngữ, coi đó nh một “cái chìa khóa
Trang 17không thể thay đổi” để lí giải các hiện tợng ngôn ngữ, hoặc ngợc lại nh sau:
“ Nếu nh các ngôn ngữ là biểu tợng trong không gian của lịch sử đã diễn
ra trong thời gian, thì các phơng ngữ, thổ ngữ cũng đồng thời là sự biểuhiện quá trình phát triển lịch sử của dân tộc trong thời gian đã ảnh xạ lên bềmặt của đất nớc” (trang 219)
1.4 Cụm từ cố định
Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với t cách một
đơn vị có sẵn nh từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nh từ
Cụm từ cố định đợc gọi là đơn vị tơng đơng với từ Chúng tơng đơngvới nhau về t cách của những đơn vị đợc làm sẵn trong ngôn ngữ; và tơng đ-
ơng với nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu
Cụm từ cố định tiếng Việt đợc phân thành ba loại:
Ví dụ:
nuôi ong tay áo thắt lng buộc bụng chó cắn áo rách méo miệng đòi ăn xôi vò hồn xiêu phách lạc
Trang 18hay: mềm nh bún, rách nh tổ đỉa, đen nh quạ, tham nh mõ, nợ nh chúa
chổm, chua nh giấm, nh đỉa phải vôi…
- Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: là thành ngữ đợc xây dựng trên cơ sở miêu tảmột sự kiện, một hiện tợng bằng cụm từ, nhng biểu hiện ý nghĩa một cách
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện Ví dụ: ngã vào võng đào, nớc
đổ đầu vịt, hàng thịt nguýt hàng cá, vải tha che mắt thánh…
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tơng đồng Ví dụ: ăn trên ngồi
trốc, mẹ tròn con vuông, ba đầu sáu tay…
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tơng phản Ví dụ: miệng nam
mô bụng một bồ dao găm, miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, mặt sứa gan lim, xấu máu đòi ăn của độc…
Quán ngữ:
+ Định nghĩa:
Quán ngữ là những cụm từ đợc dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn
từ thuộc các phong cách khác nhau Chức năng của chúng là đa đẩy, rào
đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ
Ví dụ: của đáng tội, nói tóm lại, nói cách khác, nói khí vô phép, nói
bỏ ngoài tai, đáng chú ý là, chẳng nớc non gì, nghĩa là…
Quán ngữ chiếm vị trí trung gian giữa cụm từ tự do và các kiểu cụm
từ cố định
+ Phân loại:
Dựa vào phạm vi và tính chất phong cách, có thể chia quán ngữ thànhcác loại sau:
- Quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ Ví dụ: khí vô
phép, khổ một nỗi là, đùng một cái, nói dại ra, cắn rơm cắn cỏ, bỏ quá cho, của đáng tội…
- Quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận) Ví dụ:
có thể kết luận rằng, đồng thời, rút cục là, nh trên đã nói, sự thực là, vấn đề
là, ngợc lại, nói tóm lại, kết quả là…
Ngữ cố định định danh:
Là những đơn vị ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất
Trang 19Ví dụ: lông mày lá liễu, tóc rễ tre, kỉ luật thép, con gái rợu, mũi dọc
dừa, mắt bồ câu, mắt ốc nhồi, tuần trăng mật, toạc móng heo…
Ngữ cố định định danh là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên
sự vật Trong mỗi cụm từ nh vậy thờng có một thành tố chính và một vàithành tố phụ miêu tả sự vật đợc nêu ở thành tố chính Nó miêu tả chủ yếubằng con đờng so sánh nhng không hề có từ so sánh Thành tố chính thờngbao giờ cũng là thành tố gọi tên
1.5 Một số vấn đề về từ điển và cấu trúc của Việt Nam Tự Điển
1.5.1 Một số vấn đề về từ điển
Từ điển là loại sách tra cứu tập hợp các đơn vị ngôn ngữ (thờng là các
đơn vị từ vựng), cung cấp những thông tin, kiến thức và những giải thíchcần thiết đối với những đơn vị đó đồng thời sắp xếp chúng theo một thứ tựnhất định để dễ tra tìm
Từ điển là phơng tiện để miêu tả ngôn ngữ và phục vụ chuẩn hoángôn ngữ Nó giúp cho việc dạy và học tiếng (bản ngữ hoặc ngoại ngữ),
đồng thời nó phục vụ cho sử dụng ngôn ngữ (giao tiếp bản ngữ, giao tiếpliên ngôn ngữ nhờ các từ điển hội thoại, từ điển song ngữ, từ điển tờnggiải…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy.) và nghiên cứu về từ vựng của ngôn ngữ
Từ điển cho hình ảnh gần đúng và đáng tin cậy về từ vựng chứ chaphải toàn bộ từ vựng Nh vậy, nghiên cứu Việt Nam Tự Điển sẽ cho chúng
ta thấy diện mạo gần đúng chứ không phản ánh hết đợc khối lợng từ vựngtiếng Việt giai đoạn đầu thế kỉ XX
Từ vựng gồm có các đơn vị từ vựng Mỗi một đơn vị từ vựng có thể là
từ hay cụm từ cố định Nh vậy, mỗi một đơn vị từ vựng sẽ là một từ hoặcngữ Khi xem xét vốn từ vựng chúng ta có thể gọi các đơn vị từ vựng là các
từ ngữ thì cũng có thể chấp nhận đợc Mỗi đơn vị từ vựng thờng đợc đa vào
từ điển dới dạng một mục từ và gọi là một mục từ
1.5.2 Cấu trúc từ điển
Cấu trúc từ điển đợc xem xét từ hai bình diện là: Cấu trúc vĩ mô vàcấu trúc vi mô
1.5.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển
Cấu trúc vĩ mô là cơ cấu, cách thức tổ chức bảng từ của từ điển Đó làcấu trúc tổng thể của bảng từ phản ánh qua cách thức thu thập, sắp xếp, tổchức các từ ngữ theo những trật tự xác định
Một cấu trúc vĩ mô hợp lý phải thể hiện đợc tính nhất quán về hìnhthức của các từ ngữ, đảm bảo cân đối về lợng giữa các lớp từ và các kiểu từ,
Trang 20các từ loại Nó phải loại bỏ đợc những từ ngữ đã quá cũ, không còn giá trị
sử dụng trong trạng thái ngôn ngữ hiện tại, đồng thời phải thu thập kịp thời,không bỏ sót những từ ngữ mới để đảm bảo tính cập nhật của từ điển, đápứng nhu cầu tra cứu, sử dụng ngôn ngữ đơng đại
Cấu trúc vĩ mô của từ điển phản ánh khá trung thực diện mạo của từvựng một ngôn ngữ vào thời kì mà nó đợc biên soạn
Cấu trúc vĩ mô của Việt Nam Tự Điển:
Cấu trúc vĩ mô của Việt Nam Tự Điển khá toàn diện, bao gồm đầy
ợc đa vào Đặc biệt, một bộ phận thuật ngữ không đợc các nhà biên soạnchú ý đa vào giải thích
1.5.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển
Cấu trúc vi mô là tập hợp toàn bộ những thông tin về từ ngữ đứnglàm đầu mục từ, đợc sắp xếp tổ chức thành một cơ cấu có tính hệ thống đểthuyết minh, giải thích cho từ đầu mục
Cấu trúc vi mô của Việt Nam Tự Điển:
Cấu trúc vi mô của Việt Nam Tự Điển là cấu trúc hai bậc:
Bậc 1: gồm các từ đầu mục
Bậc 2: là các từ ngữ có chứa thành tố đứng làm đầu mục
Ví dụ:
CậP (Bậc 1) Cập (Bậc 2) Cập cách
Cập đệ
Trang 21Cập kiến Cập kỳ Cập môn Cập thì
Cụ thể hơn, có thể dẫn lại mục từ “CậP” trên đây để minh hoạ nhsau:
Cập: kịp, theo tới nơi
Cập cách: đúng hạn, đúng lối, đúng mực Ngời ấy tuổi đã cập cách
ra ứng cử.
Cập đệ: thi đỗ, chỉ nói riêng về đại khoa từ tam giác trở lên Đệ nhất
giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (tức là trạng nguyên).
Cập kê: đến tuổi cài trâm Theo tục cổ bên Tàu, con gái 15 tuổi thì
cho cài trâm Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê (K).
Cập kiến: còn đợc trông thấy Nói riêng về cha mẹ còn sống mà trông
thấy con cái làm nên Bố mẹ già cập kiến con cái thành danh.
Cập kỳ: tới hẹn Thuế khoá cập kỳ.
Cập môn: đợc đến cửa Nói riêng về học trò thụ nghiệp thầy Học trò
Tuy nhiên, khoá luận này không bàn sâu về lý luận từ điển nên chúngtôi chỉ dừng lại ở đây
1.6 Phơng pháp làm việc
Trang 22Để thực hiện khoá luận này, chúng tôi áp dụng các thao tác, thủ tụclàm việc thông thờng đã tiếp thu đợc trong nhà trờng nh: thống kê, mô tả,
so sánh, đối chiếu và phân tích nhằm:
+Tìm ra những tơng quan về lợng giữa các lớp/ nhóm từ trong Việt Nam Tự
Điển
+ Mô tả, phân tích tình hình, đặc điểm của các lớp từ để từ đó rút ra cácnhận định cần thiết
kiếm thêm những thông tin cần thiết
Về mặt t liệu nghiên cứu, chúng tôi chấp nhận và miêu tả khách quancác t liệu thực tiễn đợc ghi nhận trong Việt Nam Tự Điển Không đi vàobình luận những vấn đề lý thuyết về từ và từ điển học, chúng tôi coi mỗimục từ đợc đa vào Việt Nam Tự Điển là một đơn vị từ vựng để quan sát,thống kê, tập hợp và miêu tả, phân tích
Trang 23Chơng 2:
Phân tích từ vựng tiếng Việt trong “Việt Nam Tự
Điển” theo cấu trúc của đơn vị từ vựng.
2.1 Trên cơ sở của những quan niệm lý thuyết đã hình thành trong chơng 1,
chúng tôi đã kiểm kê đợc toàn bộ các đơn vị từ vựng đợc đa vào Việt Nam
Tự Điển và thu đợc kết quả cụ thể nh sau:
Bảng này cho thấy:
Vốn từ ngữ đợc đa vào Việt Nam Tự Điển là 25.912 đơn vị, trong đó
từ đơn tiết là 9.213 từ, chiếm 35,55%, phần còn lại là từ đa tiết (từ ghép, từláy, từ ngẫu hợp và cụm từ, kể cả cụm từ cố định và cụm từ tự do)
Điều đặc biệt muốn nói là Việt Nam Tự Điển thu thập hơn 90 đơn vị
từ điển là những cụm từ tự do Con số này tuy không lớn, nhng thể hiện khá
rõ quan điểm của những ngời biên soạn Các nhà biên soạn Việt Nam Tự
Điển dờng nh không câu nệ hoàn toàn vào đơn vị từ hay cụm từ cố định màrất chú ý đến tính quen dùng, hay dùng của cụm từ; đồng thời cũng rất chú
ý đến việc hớng dẫn sử dụng ngôn ngữ, giáo dục về từ ngữ, giúp cho việcdạy và học tiếng mẹ đẻ
Số lợng đơn vị mục từ đợc đa vào tự điển 25.912 là quá ít so với khảnăng vốn có của tiếng Việt lúc đó Lý do có lẽ là bởi các nhà biên soạn quáchú ý đến từ ngữ thuộc phong cách viết, đợc ghi nhận trong các tác phẩm vànguồn văn liệu nên từ ngữ khẩu ngữ, từ ngữ dùng trong lời ăn tiếng nóihàng ngày của nhân dân ít đợc đa vào.Từ ngữ địa phơng, tiếng lóng, từ nghềnghiệp theo thống kê của chúng tôi cũng rất ít xuất hiện
Điều đặc biệt nữa là trong Việt Nam Tự Điển đã xuất hiện một lợng
đáng kể các từ ngữ chuyên môn, thuật ngữ khoa học Có lẽ đây chính là
Trang 24những dấu hiệu chuẩn bị cho công trình Danh từ khoa học“ ” của học giảHoàng Xuân Hãn ra đời liền sau Việt Nam Tự Điển mấy năm (1944).
2.2.Từ đơn
Từ đơn là từ đợc cấu tạo chỉ bằng một tiếng Trong tổng số 25.912
đơn vị từ ngữ thì số lợng từ đơn là 9.213 từ chiếm 35,55%, tức là hơn 1/3tổng số Điều này không có gì lạ, vì tiếng Việt vốn có nét đặc trng là chỉ số(Hình vị tơng quan với từ) thờng rất gần với 1; tức là về căn bản, từ tiếngViệt là đơn tiết; còn những đơn vị mà chúng tôi theo quan niệm thông th-ờng, gọi là “từ ghép” thì thực ra còn có rất nhiều vấn đề cần phải bàn thêm
về t cách “từ’ của chúng Tuy nhiên, đó không phải là nhiệm vụ thảo luậncủa khoá luận này
2.3 Từ ghép
Với số lợng 14.427 đơn vị, từ ghép (trong đó tất cả đều là song tiết)chiếm 55,68% tổng số từ, ngữ trong Việt Nam Tự Điển Sở dĩ từ ghépchiếm tỉ lệ cao trong vốn từ ngữ của ngời Việt là bởi ngời Việt vốn a lối nóicân đối, hài hoà, nhịp nhàng về âm điệu Ngay ở bậc cụm từ ta cũng thấy sốlợng cụm từ có số tiếng chẵn (4 tiếng) chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn cụm từ có batiếng
Trong “Từ điển tiếng Việt” năm 1994 có 19.366 đơn vị song tiết vừa
có quan hệ đẳng lập vừa có quan hệ chính phụ, xấp xỉ 50% từ, ngữ các loạicủa từ điển này Nh vậy là số lợng từ ghép có tăng lên Điều này có thể lígiải đợc là do quá trình sản sinh để đáp ứng nhu cầu định danh của tiếngViệt Các từ ghép gọi tên các sự vật, hiện tợng trong cuộc sống của con ngờingày càng tăng lên cùng với sự phát triển, khám phá của xã hội loài ngời vềmọi mặt của đời sống
Theo thống kê của chúng tôi thì tỉ lệ từ đơn/ghép trong Việt Nam Tự
Điển là 63,9% tức là từ đơn bằng 63,9% số từ ghép
2.4 Từ láy
Trong các ngôn ngữ đơn lập kiểu nh tiếng Việt, từ láy có một vị trírất quan trọng trong việc tạo ra tiết tấu, ngữ điệu của câu Một câu văn xuôinếu sử dụng nhiều từ láy đọc lên ta thấy ngay có sự nhịp nhàng, uyểnchuyển Một câu thơ chứa nhiều từ láy thờng là câu thơ nghiêng về chất trữtình, lấy nội tâm, tâm lý làm đối tợng miêu tả
Vo vo sợi giắt đầu hồi Lang thang sợi rải khắp nơi trong vờn
(Phạm Đình Ân – Tóc mẹ)
Trang 25Hoa hồng không tặng ai mua
Sao bằng hoa cải la tha nắng vàng
(Nguyễn Đức Mậu – Một chút Nguyễn Bính)
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
(Hồ Xuân Hơng)
Đồ tế nhuyễn của riêng tây
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Số lợng từ láy thống kê đợc trong Việt Nam Tự Điển là 2.136 từ,chiếm 8,24% tổng vốn từ, trong đó từ láy hoàn toàn có 924 từ, chiếm 43,3%tổng số từ láy; còn lại là láy bộ phận
Trong số hơn hai nghìn từ láy vừa nói, chúng tôi chỉ kiểm đợc có 3 từláy ba, chiếm 0,1% vốn từ vựng của Việt Nam Tự Điển, và 12 từ láy t,chiếm 0,6% Các từ láy đôi chiếm gần nh tuyệt đối trong vốn từ láy tiếngViệt thu thập trong Việt Nam Tự Điển: 99,3% số từ láy
Kết quả này có thể đợc trình bày bằng một bảng nh sau:
Láy hoàn toàn Láy bộ phận
Trang 26Danh s¸ch tõ ngÉu hîp trong ViÖt Nam Tù §iÓn
tõ nguyªn cña chóng
Trang 27Trong tổng số 104 cụm từ (kể cả cụm từ cố định và cụm từ tự do) thìcụm từ bốn tiếng chiếm chủ yếu: 91,3%, Chỉ có 9 cụm từ ba tiếng, chiếm8,7%, cụ thể là:
Trong Việt Nam Tự Điển cụm từ có số tiếng chẵn chiếm số lợng áp
đảo Điều này có cơ sở của nó Nh chúng tôi đã giải thích ở trên, ngời Việtvốn a sự uyển chuyển, nhịp nhàng, lối nói cân đối, hài hoà về âm điệu Số l-ợng từ song tiết, số cụm từ cố định có số tiếng chẵn đáp ứng đợc yêu cầu
đó, nên cụm từ có số tiếng chẵn và từ ghép song tiết trong tiếng Việt luônchiếm u thế tuyệt đối
Với số cụm từ mà chúng tôi khảo sát đợc, phải kể đến một số lợng
t-ơng đối lớn các cụm từ vay mợn yếu tố gốc Hán Có tới 59 cụm từ vay mợnyếu tố Hán, chiếm 54,8% tổng số cụm từ khảo sát đợc
Các cụm từ này đều có một số đặc điểm nh:
+ Hầu hết đều có 4 tiếng Tức là chúng cũng có tính cân đối cao nh các cụm
từ Thuần Việt
+ Các cụm từ vay mợn yếu tố Hán đều có đủ cả 3 loại quan hệ:
- Quan hệ đẳng lập, ví dụ: bán tín bán nghi, bán ẩn bán hiện…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy.
+ Các cụm từ có chứa yếu tố Hán có giá trị gợi cảm, hình tợng rất cao Một
số cụm từ đọc lên không phải ai cũng có thể hiểu đợc ngay nghĩa của
Trang 28Ví dụ:
Bạch thủ thành gia Bạch thủ tri phú Bất đắc bất nhiên Bạo thiên nghịch địa
án hớng triệt mạch Cửu chng cửu sái Chí tái chí tam
Cụm từ chứa yếu tố gốc Hán là một bộ phận từ, ngữ có giá trị biểucảm rất cao Vì vậy, để giúp cho việc hiểu nghĩa của các cụm từ này chúngtôi lập bảng giải thích nghĩa của chúng nh sau:
Bảng giải thích nghĩa của các cụm từ vay mợn yếu tố Hán
ngã lòng
tiền làm của công
ở chỗ ẩm thấp, tối tăm hay là một nửa ởmặt đất, một nửa ở trong đất
trông đợc rõ cả toàn thể
Trang 2916 Bán thân bất toại Một thứ bệnh liệt nửa bên mình, không
cất nhắc lên đợc
Nói ngời hung tợn làm gì không nghĩ ớc
bạo nghịch, dẫu trời đất cũng không nể
ng-ời ngoại quốc đi lại
vui vẻ nh muốn hát, muốn múa
hay)
Nghĩa bóng là: cứu ngời trong cơn hoạnnạn
Trang 3052 Đa t đa lực Hay lo hay nghĩ
Trong chơng này chúng tôi tập trung khảo sát và thống kê các đơn vị
từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển theo cấu trúc của chúng Quaphân tích, chúng tôi rút ra đợc một vài nhận xét bớc đầu nh sau:
Trong tổng số hơn 25 nghìn từ ngữ thống kê đợc trong từ điển, từghép chiếm tỉ lệ cao nhất (trên 50% số từ ngữ), xếp vị trí thứ hai là từ đơn,tiếp đó là từ láy Sở dĩ từ song tiết chiếm tỉ lệ cao nhất là bởi ngời Việt vốn -
a lối nói cân đối, hài hoà về âm điệu, và đây là bộ phận dễ sản sinh, tốc độsản sinh nhanh để đáp ứng nhu cầu định danh của xã hội Từ láy trong ViệtNam Tự Điển cũng chiếm một tỉ lệ tơng đối cao là bởi đây là quyển từ điểnmang tính chất ngữ văn rất cao Mục từ đợc thu thập giải thích chủ yếu là
có trong văn bản diễn ngôn, sách vở và các tác phẩm văn học
Cụm từ và từ ngẫu hợp đợc Việt Nam Tự Điển đa vào không nhiều.Chúng chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể Đặc biệt, trong số các cụm từ, cómột số lợng tơng đối lớn các cụm từ chứa yếu tố gốc Hán Chúng là nhữngcụm từ có giá trị biểu cảm, hình tợng rất cao, tuy vậy có một số cụm từtrong Việt Nam Tự Điển ngày nay không còn đợc sử dụng nữa
Tóm lại, qua những điều mà chúng tôi đã trình bày ở trên, có thểnhận định rằng mặc dù cha phản ánh hết đợc toàn bộ vốn từ vựng phongphú của tiếng Việt nhng Việt Nam Tự Điển đã cho chúng ta một hình dungtơng đối đúng và đáng tin cậy về diện mạo của tiếng Việt lúc bấy giờ
Đây cũng là những kết quả thêm vào chuỗi kết quả của các nhànghiên cứu khác để các lát cắt trong nghiên cứu lịch sử từ vựng tiếng Việt
đợc liên tục hơn
Trang 32Chơng 3
Phân tích từ vựng tiếng việt trong “việt nam tự
điển” theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng
kiến cho rằng nó chẳng có một trật tự nào cả Và khó có thể nói đến tính hệthống của từ vựng Tuy nhiên, sau rất nhiều nỗ lực nghiên cứu ngời ta thấyrằng từ vựng nói chung, từ vựng tiếng Việt nói riêng, không phải là một tậphợp hỗn loạn các từ ngữ Tuy số lợng rất lớn nhng chúng làm thành mộtchỉnh thể gồm những hệ thống nhỏ có liên quan đến nhau, gắn bó với nhauchặt chẽ Các tiểu hệ thống này đến lợt nó lại có thể phân ra thành các tiểu
hệ thống nhỏ hơn nữa, phân biệt nhau bởi những đặc trng, thuộc tính củachúng Chẳng hạn, hệ thống từ Hán Việt phân biệt với hệ thống từ thuầnViệt bởi đặc trng nguồn gốc Từ thuần Việt có nguồn gốc bản ngữ, còn từHán Việt lại có nguồn gốc ngoại lai (vay mợn từ tiếng Hán) Bên cạnh đó,
từ địa phơng phân biệt với từ vựng chung (từ toàn dân) bởi đặc trng phạm vi
sử dụng Tùy thuộc vào những tiêu chí khác nhau mà ngời ta có nhiều cáchphân chia vốn từ tiếng Việt ra thành nhiều tiểu hệ thống, tức các thành phần
từ vựng khác nhau Có thể khái quát bức tranh phân loại bằng bảng dới đây:
Tiêu chí Thành phần từ vựng
Các từ ngữ gốc ấn ÂuVai trò trong đời
sống giao tiếp
Lớp từ tích cực
Trang 33Lớp từ thuộc phong cách viếtLớp từ thuộc trung hoa về mặt phong cách Trong chơng này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số lớp từ đặcbiệt trong Việt Nam tự điển, trớc hết là lớp từ nguồn gốc Hán Việt, nguồngốc ấn Âu, từ địa phơng Ngoài ra ở chơng này, chúng tôi cũng đi vào phântích lớp tên riêng đợc phản ánh trong Việt Nam Tự Điển, mặc dù tên riêngkhông phải là lớp từ đợc phân theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng.
Trang 343.2 Các từ ngữ Hán Việt
Sau khi khảo sát 25.912 mục từ trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi thu
đợc kết quả phân bố các đơn vị từ ngữ Hán Việt nh sau:
Qua thống kê, chúng tôi thấy lớp từ Hán Việt tồn tại trong Việt Nam
Tự Điển chiếm số lợng rất cao (47,06%) Con số này phù hợp với thực trạng
dễ thấy của tiếng Việt: Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âmHán Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của nó Tiếng Việt đãtiếp nhận một cách có hệ thống một khối lợng to lớn các từ ngữ của tiếngHán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động:
a Các mục từ thuộc lĩnh vực tự nhiên:
- Các mục từ chỉ các con vật: Báo, hoàng trùng, hoàng oanh, hợi, qui, s tử,
chim ng, ng khuyển, trùng
- Các mục từ chỉ cây cối: Bạch đàn, bạch nhật, bạc hà, cam lộ, cam thảo,
chi, chi lan, cúc, hồ tiêu, mai, trầm hơng
- Các mục từ chỉ màu sắc: Hồng, huyền, hồng, lục, lam
- Các mục từ chỉ tên các vị thuốc: Bạch đồng nam, bạch tật lê, bạch thợc,
bạch truật, quy nhân, quy vĩ, hoàng bá, hoàng cầm
- Các mục từ chỉ số đếm: Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập
- Các mục từ chỉ can chi: Can chi, tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân,
hợi
b Các mục từ thuộc về đời sống sinh hoạt xã hội:
- Gồm các mục từ sau: Dâm dục, dâm loạn, gian tình, gian tham, hạ gục,
hạ thế,hòa thuận, hòa giải, hoan nghênh, hiếp, hiểu, chết yểu, hối hận, hiếp, hiểu, tật bệnh
c Các mục từ thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội:
- Các mục từ chỉ chức danh, phẩm hàm thời phong kiến: Quan hàm, quan t,
quan tớc, quản trọng, đề đốc, đề huyện, đề hình, đề lại, phủ doãn, phủ thừa, huyện lệnh, thành thủ úy,
- Các mục từ chỉ đơn vị hành chính: Kinh đô, kinh kỳ, phủ, huyện, quận,
nha môn, thủ đô, thủ phủ, thôn, xã, thị xã, thành phố, thành thị,
d Các mục từ thuộc lĩnh vực kinh tế:
Trang 35- Gồm các mục từ sau: Công nghệ, công xởng, nông nghiệp, nông vụ, nội
hóa, xuất cảng, thặng d, sản xuất, thơng mại, thơng nghiệp, thơng giới
e Các mục từ thuộc lĩnh vực tôn giáo, tín ngỡng:
- Gồm các mục từ nh: A men, A di đà phật, Cơ đốc giáo, Cực lạc, chiêu
hồn, duyên kiếp, cấn (quẻ bói), hồi giáo, đạo giáo, khổng giáo, thổ công, thiên đàng, môn đồ, tông đồ, tụng niệm
f Các mục từ thuộc lĩnh vực giáo dục:
- Gồm các mục từ: Bảng nhãn, bảng vàng, cử nhân, đỗ đạt, đại học, giảng
giải, chơng, luận ngữ tứ th, ngũ kinh, sinh đồ, sĩ tử, tú tài, thủ khoa, trạng nguyên
g Các mục từ thuộc lĩnh vực quân sự:
- Gồm các mục từ: án ngữ, anh hùng, cảnh giới, chiến tranh, chiến trận,
chỉ huy, đô đốc, chinh phạt, chinh chiến, nhập ngũ, xung đột, quân đội, quân luật, quân lệnh
h Các mục từ thuộc lĩnh vực y học:
- Gồm các mục từ sau: Bệnh viện, bệnh tình, bệnh nhân, ban (một thứ
bệnh), giang mai, thơng hàn, thơng tích, y khoa, y tế, y sĩ, y viện, huyết mạch
Nh vậy, kết quả của quá trình tiếp xúc lâu dài giữa văn hóa Hán vàvăn hóa Việt nói chung, giữa tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng trong thời kìBắc thuộc, về mặt ngôn ngữ là sự du nhập mạnh của một loạt các từ tiếngHán vào tiếng Việt, nhng chúng bị chi phối bởi quy luật của ngôn ngữ tiếngViệt và cách sử dụng của ngời Việt Sau khi thống kê, miêu tả thành phần từHán Việt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi có một số nhận xét sau:
1 Trong số 12.193 mục từ Hán Việt, điều dễ nhận thấy là số mục từ thuộc
lĩnh vực tự nhiên, sinh hoạt xã hội, chính trị, tôn giáo chiếm phần lớn Tiếpsau đó là các mục từ thuộc các lĩnh vực: giáo dục, quân sự, t pháp, kinh tế,
y học, cũng có một khối lợng không nhỏ trong Việt Nam Tự Điển Điềunày chứng tỏ rằng, các tác giả của Việt Nam Tự Điển không chỉ tập trungvào vốn từ thông dụng đợc sử dụng trong đời sống hàng ngày mà còn quantâm đến các thuật ngữ sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nữa Chỉ tính số l-ợng từ Hán Việt giữa Việt Nam Tự Điển (12.193 từ Hán Việt) và từ điểnViệt – Bồ - La của A.De.Rhodes (1.097 từ Hán Việt), chúng tôi thấy số l -ợng từ Hán Việt trong vốn từ vựng tiếng Việt đã tăng lên rất nhiều Và nếu
nh A.De.Rhodes chỉ tập trung thu thập những từ Hán Việt thuộc lĩnh vực tựnhiên, sinh hoạt xã hội, tôn giáo, hoàn toàn không có các mục từ thuộc lĩnh
Trang 36Khai Trí Tiến Đức đã cho chúng ta thấy sự vay mợn từ Hán Việt vào nớc tarất mạnh, với khối lợng khổng lồ các từ ngữ thuộc tất cả các lĩnh vực.
2 Đáng chú ý là, vì đây là cuốn tự điển nên các tác giả của Việt Nam tự
điển thu thập các Hán tự đơn nh là các từ đơn trong tiếng Việt Hiện nay,các mục từ này chỉ có t cách là các yếu tố cấu tạo từ (hay hình vị) trongtiếng Việt Khả năng sử dụng độc lập của các mục từ đơn tiết Hán Việt nàytrong tiếng Việt hiện tại không còn nữa, ví dụ:
Mục từ trong
Việt Nam tự điển
Nghĩa trong Việt Nam tự
điển
Là hình vị cấu tạo trong các từ
đành rồi, không lo lắng gì nữa
An bài, an phận
3 Đặc biệt, trong số các mục từ Hán Việt, chúng tôi thấy có khá nhiều
mục từ đợc chú thích về khả năng kết hợp của từ Điều này chứng tỏ ngay
từ thời kì đó các tác giả của Việt Nam đã rất có ý thức không chỉ trong việcthu thập các mục từ mà họ còn cung cấp cho chúng ta cách sử dụng các từHán Việt Đó là các từ không có khả năng hoạt động độc lập, đợc chú giải
là : “không dùng một mình”, nghĩa là chúng chỉ đợc coi nh hình vị cấu tạo
từ, ví dụ:
Trang 37Mục từ trong
Việt Nam tự điển
Nghĩa trong Việt Nam tự điển
nghiên cứu ra, không mấy ai còn để ý đến hoặc “cảm thấy” nguồn gốc Hán
của chúng nữa, ví dụ:
Mục từ trong Việt
tập cho quen
- Kể lại, đọc đi đọc lại cho thuộc
tinh
Trang 38Thánh Bậc thông minh, trí tuệ, tài đức khác thờng
5 Khảo sát từ Hán Việt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi còn thấy có
hiện tợng nhiều từ Hán Việt đợc rút ngắn từ lại theo cách nói của ngời Việt,
mà vẫn đảm bảo đúng nghĩa của từ Ví dụ các mục từ: Cử nhân - cử (cụ cử),
tú tài - tú (cậu tú), thục địa – thục (củ thục), tiểu đồng – tiểu (chú tiểu), tiểu tiện - tiểu (đi tiểu)
Đặc biệt, trong số 12.193 mục từ Hán Việt mà chúng tôi thống kê
đ-ợc trong Việt Nam Tự Điển, có nhiều mục từ mà ngày nay rất ít đđ-ợc sửdụng hoặc không còn đợc sử dụng nữa, ví dụ :
- Canh trơng: Thay đổi, mở mang
- Cao chi: Dầu mỡ
- Nha lại: Ngời thuộc lại ở các nha
- Nha môn: Cửa dinh các quan
- Mỗ: Tôi, ta, tự xng khi nói một mình
- Liêu thuộc: Các quan nhỏ thuộc quyền một quan lớn
- Hoàng khảo: Bố vua nói về khi đã chết
- Phủ doãn: Chức quan coi phủ sở, tại chỗ kinh đô
- Phủ đờng: Công đờng quan phủ
- Quan điền: Ruộng công của các quan viên
- Quận mã: Tiếng gọi chồng của quận chúa
- Thám hoa: Bậc đỗ thứ 3 trong hàng tiến sĩ
- Thành thủ úy: Chức quan võ coi giữ khu vực ở trong thành
- Trơng phiên: Ngời đứng đầu phiên tuần trong tuần
- Thái hoàng thái hậu: Tiếng gọi bà nội vua
Hầu hết các từ này đều là những từ lịch sử, phản ánh một giai đoạnlịch sử nhất định đặc thù cho xã hội phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ Khigiai đoạn lịch sử đó qua đi thì những mục từ này không đợc sử dụng hoặckhông đợc sử dụng một cách tích cực nữa Nói khác đi, khi đối tợng mà cácmục từ biểu thị, gọi tên bị gạt ra ngoài đời sống xã hội nh hiện nay thì cácmục từ đó mất dần vị trí của nó trớc đây cũng là điều dễ hiểu
6 Phân tích các mục từ Hán Việt trong Việt Nam Tự Điển cho chúng ta kết
quả tỉ lệ từ ngữ Hán Việt so với Đại Nam Quốc Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của,
Trang 391896), văn bản văn xuôi văn chơng đầu thế kỉ XX, văn bản diễn ngôn vănvần đầu thế kỉ XX và từ điển Hoàng Phê(1994) [18] nh sau:
Nh vậy, để tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc đều ý thức đợc rằng,ngôn ngữ dân tộc không thể hoàn toàn tự túc, không có giao lu, tiếp xúcgiữa các ngôn ngữ sẽ mất đi sự cân bằng trong việc phát triển ngôn ngữ.Trên con đờng hình thành, tồn tại và phát triển, tiếng Việt và tiếng Hán có
sự tiếp xúc sâu rộng và lâu dài với nhau, bao gồm suốt 10 thế kỉ đầu tiênSCN, mà trong đó có tính chất quyết định nhất là thời kì nhỏ bao gồm haithế kỉ VIII và thế kỉ IX Mặc dù tiếng Việt và tiếng Hán không cùng nguồngốc; một ngôn ngữ thuộc ngành Môn Khơ Me - họ Nam á, một ngôn ngữthuộc họ Hán Tạng, nhng hai ngôn ngữ lại có cùng một loại hình: ngônngữ đơn lập, phân tích tính Đặc điểm này đã tạo cho tiếng Việt và tiếngHán vay mợn nhau một cách dễ dàng hơn, khi thực dân Pháp đánh chiếm n-
ớc ta (1858), số lợng từ Hán Việt vay mợn vào nớc ta tăng lên đáng kể, với
sự xuất hiện của các mục từ thuộc các lĩnh vực tôn giáo, tín ngỡng
Ngày nay, cùng với sự phát triển của các nhân tố chính trị, khoa học,xã hội, mặc dù vốn từ cơ bản thuần Việt đang đợc phát triển và sáng tạonhằm thay thế bộ phận từ vay mợn, nhng từ Hán Việt với những u thế của
nó vẫn cùng với bộ phận từ thuần Việt tiếp tục chứng tỏ hiệu lực sử dụngngày càng mạnh hơn, đáp ứng nhu cầu sử dụng, giao tiếp và t duy của xãhội Việt Nam Điều này góp phần lí giải cho tỉ lệ từ Hán Việt trong ViệtNam Tự Điển khá cao, với 12.193 từ (47,06%), chiếm gần một nửa trongtổng số 25.912 mục từ của Việt Nam Tự Điển
3.3 Từ gốc ấn - Âu
Các từ ấn - Âu chiếm số lợng không đáng kể trong toàn bộ cấu trúc
vĩ mô của Việt Nam Tự Điển: 41/25.912
Trang 40Khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, dới ách thống trị của chúng(1861-1945), trên diễn đàn văn hóa Việt Nam có ba ngôn ngữ là tiếng Pháp,tiếng Việt, văn ngôn Hán và bốn văn tự là Pháp, Quốc ngữ, Nôm và Hán Sựtranh chấp của ba ngôn ngữ diễn ra theo hớng tiếng Pháp vơn lên chiếm vịthế số một, vai trò của văn ngôn Hán ngày càng giảm, vị thế của tiếng Việtcàng ngày càng đợc nâng cao Đây cũng là thời kì thay thế tiếng Hán bằngchữ Pháp và chữ Quốc ngữ Tiếng Pháp chẳng những đợc dùng trong côngvăn, giấy tờ của Nhà nớc bảo hộ mà còn đợc dùng làm phơng tiện giảng dạy
ở trờng học Do đó những từ ngữ Pháp đã du nhập vào tiếng Việt ngày càngnhiều
Tuy vậy, khảo sát trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi chỉ thu đợc 41mục từ ấn - Âu đợc thu thập (chiếm tỉ lệ 0,16%) Đó là các mục từ:
+ Từ chỉ tên món ăn: Bơ
+ Từ chỉ chất liệu: Den, kền, tơ
+ Từ chỉ tên kinh đô, quốc gia, các châu lục: á tế á, á phi lợi gia, á mĩ lợi
gia, Âu, Ba Lan, Ba Lê, Ba T, Bá Lâm, La Mã, Luôn Đôn, Mĩ, Pháp Lan Tây, Tây Bá Lợi á, Tây Ban Nha, Phổ lỗ Sĩ, Thụy Điển, Thụy Sĩ, í Đại Lợi
+ Từ chỉ đơn vị đo lờng : Lít, lô, mét.
+ Từ chỉ đồ vật: Ba lông, bom, bơm, đầm 1, lò xo, xu,
+ Từ chỉ liên quan đến tôn giáo: A men, ba la mật, phật, da tô
sứ Pháp ở Bình Thuận năm 1886 đã viết: “Chúng ta phải gieo rắc vào ngời
An Nam rằng cái nhu cầu hiểu biết một ngôn ngữ bác học, một ngôn ngữ cao cấp; việc không thể chối cãi đợc là sự học hỏi tiếng Pháp phải chính thức thay thế sự học hỏi tiếng Trung Quốc ”
[13,tr.29] Điều này phần nào giải thích cho việc tại sao lại có sự xuất hiệncủa những từ gốc ấn - Âu trong hệ thống từ vựng tiếng Việt