1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về đạo tin lành ở các tỉnh miền núi phía bắc thực trạng giải pháp

45 547 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về đạo tin lành ở các tỉnh miền núi phía bắc thực trạng - giải pháp
Tác giả Phạm Xuân Xuyên
Người hướng dẫn PGS.TS Cao Văn Thanh
Trường học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cho đến nay Phật giỏovẫn giữ nguyờn vị trớ của nú trong tõm thức của người Việt và nú cúảnh hưởng rất lớn đối với tất cả cỏc mặt trong đời sống con người ViệtNam: ảnh hưởng về mặt tư

Trang 1

Häc viÖn chÝnh trÞ quèc gia Hå ChÝ Minh

Ngêi híng dÉn : PGS.TS Cao V¨n Thanh

Hµ Néi, th¸ng 5-2008

Trang 2

mục lục

Trang

I Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận 4

4 Phơng pháp nghiên cứu của đề tài 4

5 Kết cấu tiểu luận 4

II Phần Nội dung Chơng 1 Quá trình du nhập và phát triển Đạo Tin lành Miền núi phía Bắc Việt Nam .5

1.1 Sơ lợc về lịch sử và giáo lý của Đạo Tin lành 5

1.1.1 Sơ lợc lịch sử của Đạo Tin lành 5

1.1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật 8

1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Đạo Tin lành ở Miền núi phía Bắc Việt Nam 11

Chơng 2: Một số đặc điểm của đạo Tin lành Miền núi phía Bắc Việt Nam thông qua lịch sử của nó 16

2.1 Tính dân gian 16

2.2 Tính thống nhất 27

2.3 Tính linh hoạt 34

Phần 3 Kết luận 39

Danh mục tài liệu tham khảo 41

Trang 3

I Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Phật giỏo là một tụn giỏo lớn, xuất hiện từ rất sớm trong xó hộiViệt Nam ( Khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III) Lỳc đầu Phật giỏocũng đó gặp nhiều khú khăn trong quỏ trỡnh thõm nhập vào nước ta,bởi nú cú một hệ thống giỏo lý ớt nhiều xa lạ với truyền thống văn hoỏcũn mang đậm dấu ấn Đụng Sơn Dần dần, nú từng bước chấp nhậnmột số thay đổi trong cỏc luật lệ của mỡnh để phự hợp với người bảnđịa và cuối cựng Phật giỏo đó trở thành quốc gớỏo của Đại việt trongsuốt thời gian từ thế kỷ X đến thế kỉ XIV Và cho đến nay Phật giỏovẫn giữ nguyờn vị trớ của nú trong tõm thức của người Việt và nú cúảnh hưởng rất lớn đối với tất cả cỏc mặt trong đời sống con người ViệtNam: ảnh hưởng về mặt tư tưởng đạo lý, ảnh hưởng trong quỏ trỡnhhội nhập văn hoỏ Việt, ảnh hưởng qua gúc độ nhõn văn và xó hội, ảnhhưởng qua cỏc loại hỡnh nghệ thuật…

Với vị trớ và vai trũ quan trọng như vậy, Phật giỏo cần được quantõm và nghiờn cứu mà trước hết là cần phải làm rừ một số đặc điểm cơbản của Phật giỏo Việt Nam Trong khuụn khổ một bài khúa luận, em

xin trỡnh bày vấn đề : “Một số vấn đề về đạo Tin lành ở các tỉnh miền

núi phía Bắc Thực trạng - giải pháp

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu vấn đề:

Từ khi du nhập cho đến nay, Phật giỏo Việt Nam đó trải qua baothăng trầm, lỳc thịnh lỳc suy, cú lỳc thống nhất, cú lỳc phõn tỏn donhiều nguyờn nhõn khỏc nhau Từ đõy Phật giỏo Việt Nam đó thốngnhất từ Bắc đến Nam Việc nghiờn cứu Phật giỏo thu hỳt nhiều cỏ

Trang 4

nhân, tập thể tham gia Một số học giả đã và đang nghiên cứu vấn đềnày như:

Nguyễn Duy Hinh với "Tư tưởng Phật giáo Việt Nam" - tác phẩmnày bước đầu tìm hiểu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam, nhằmtìm kiếm đặc điểm Phật giáo Việt Nam với tư cách là một sản phẩmtôn giáo được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh cư dân bảnđịa, có tiếp thu tôn giáo ngoại nhập

Trong "Một số bài viết về tôn giáo học" Nguyễn Duy Hinh có rấtnhiều bài viết về Phật giáo như: "Về hai đặc điểm của Phật giáo ViệtNam", "Tín đồ, một phạm trù lịch sử", "Phật pháp", "Phật giáo ViệtNam: Hôm qua - hôm nay", "Suy nghĩ khoa học về Phật giáo nước tagần đây", "Vài suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam", "Lịch sử tư tưởngPhật giáo Việt Nam", "Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam"…

Bài viết " Phật giáo tại Việt Nam " của Thích Nguyên Tạng đưa ramột cái nhìn xuyên suốt quá trình phát sinh và phát triển của Phật giáoViệt Nam, làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội và con ngườiViệt Nam

Ngoài ra còn rất nhiều sách báo, tạp chí …viết về Phật giáo Tất

cả các bài viết trên đều nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa Phật giáoViệt Nam với Phật giáo các nước khác, hay nói cách khác dù với hìnhthức này hay hình thức khác những bài viết trên đều đề cập đến cácđặc điểm riêng của Phật giáo Việt Nam, mà với các đặc điểm này Phậtgiáo đã trở thành tôn giáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.Tuynhiên vẫn chưa có một hệ thống hoàn chỉnh viết về đặc điểm của Phậtgiáo nước nhà, trong bài khóa luận này em mong rằng sẽ có thể đưa ramột cái nhìn hệ thống về một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo nướcta

Trang 5

3 Mục đích, nhiệm vụ:

- Mục đích: làm nổi bật được ba đặc điểm cơ bản của Phậtgiáo Việt Nam là “ tính dân gian”, “ tính lính hoạt” và “ tính thốngnhất”

- Nhiệm vụ: trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, nhiệm vụcủa khóa luận bao gồm:

Chương 1: Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo Việt Nam:I.1 Sơ lược về lịch sử và giáo lý của Phật giáo

I.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo

Chương 2: Một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam thôngqua lịch sử của nó

2.1 Tính dân gian

2.2 Tính thống nhất

2.3 Tính linh hoạt

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp luậnchung của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp nghiên cứu lịch sửtriết học

5 Kết cấu khóa luận:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảothì khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 6

II Phần nội dung

Chương 1: Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo Việt Nam:

1.1. Sơ lược về lịch sử và giáo lý của Phật giáo:

1.1.1 Sơ lược về lịch sử của Phật giáo:

Phật giáo là một trong ba tôn giáo thế giới ra đời vào thế kỷ VI,thứ V trước công nguyên ở Ấn Độ Ấn Độ là một trong những quốcgia có nền văn hoá văn minh lớn và sớm trên thế giới, từ thiên niên kỷthứ ba trước công nguyên người Ấn đã tạo dựng được nền văn minhcủa mình đó là nền văn minh tiền Vêda Từ khoảng 1500 năm trướccông nguyên, do những biến động xã hội, Ấn Độ đã chuyển sang mộtnền văn minh mới là văn minh Vêda Phật giáo đã ra đời trong nền vănminh này

Trong thời kỳ của nền văn minh Vêda, có sự phát triển mạnh

mẽ về văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo, về kinh tế, sông đồng thời cũng

có những biến động lớn về mặt xã hội

Về văn hoá, thời kỳ này đã có những phát minh hết sức quantrọng về toán học (gồm cả số học và hình học), về thiên văn học, vềtriết học, đã chế tác được những đồ trang sức, đóng được thuyền vượtbiển…Những thành tựu này, trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào sự

ra đời Phật giáo Đặc biệt trong lĩnh vực triết học ,sự đóng góp củatriết học đối với sự ra đời Phật giáo là không nhỏ

Về tín ngưỡng tôn giáo, ở Ấn Độ thời kỳ này là thời kìthống trị của đạo Bà la môn Dạo bà la môn xét về mặt tôn giáo là tôn

Trang 7

giáo đề cao vai trò của đấng tối cao Trời, hay Phạm thiên , hạ thấp vaitrò của con người, dặc biệt là tầng lớp thấp hèn, về mặt xã hội là tôngiáo đề cao,tuyệt đối hoá về sự bất bình đẳn giữa các đẳng cấp Đạophật ra đời , một mặt nó là sự phản bác lại đạo Bà la môn, mặt khác nó

đã tiếp thu, kế thừa (tất nhiên là có lọc bỏ và phát triển) những quanniệm của tôn giáo Bà la môn như: phản bác sự bất bình đẳng, tiếp thuquan niệm về nghiệp, kiếp, luân hồi

Về xã hội, thời kỳ này do có sự phát triển của sản xuất, của sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất mà đã dẫn tới sự phân háo và mâuthuẫn giai cấp sâu sắc Ở Ấn Độ, do đặc điểm về kết cấu xã hội mà sựphân hoá này gắn chặt chẽ với sự phân hoá đẳng cấp, làm cho sự phânhoá giai cấp và đẳng cấp thêm khắc nghiệt Thời kỳ này có các đẳngcấp như sau: Thứ nhất là đẳng cấp tăng lữ (hay đẳng cấp Bà la môn) -đẳng cấp được coi là có địa vị cao nhất, thực chất đẳng cấp này vừathực hiện chức năng thần quyền vừa thực hiện một phần quan trọngchức năng thế quyền Mặc dù đạo Balamôn không có tổ chức giáo hộisong sự kết hợp của nó với thế quyền làm cho đẳng cấp này có địa vịcao nhất Thứ hai là đẳng cấp quý tộc, theo sự phân công xã hội thìđẳng cấp này thực hiện chức năng thế quyền, song một phần quyền lực

bị đẳng cấp Balamôn lấn lướt, nám giữ Thứ ba là đẳng cấp dân tự do.Dân tự do ở Ấn Độ cũng như ở các nước trong khu vực châu Á khácvới dân tự do ở phương Tây, vì ở các nước này dân tự do là lực lượngsản xuất chủ yếu do vậy họ cũng là bộ phận đông đảo nhất và có vaitrò xã hội nhất định dù là trong xã hội chiếm hữu nô lệ hay phongkiến Tất nhiên xét về địa vi xã hội thì họ đứng sau đẳng cấp tăng lữ

và đẳng cấp quý tộc Thứ tư là đẳng cấp nô lệ, đay là đẳng cấp có địa

vị thấp nhất Song cũng khác với phương Tây, ở đây nô lệ không phải

Trang 8

là lực lư ơ ng sản xuất chủ yếu mà là nô lệ có tính gia đình, làm côngviệc hầu hạ, phục dịch cho đẳng cấp trên.

Sự phân hoá đẳng cấp như trên bị đẳng cấp Balamôn thầnthánh hoá, tuyệt đối hoá, làm cho mâu thuẫn này càng thêm sâu sắc.Điều này dẫn tới các đẳng cấp thấp đấu tranh chống lại các đẳng cấpcao, nhất là chống lại đẳng cấp Balamôn với mong muốn là xoá bỏ bấtbình đẳng giũa các đẳng cấp, song điều đó không đạt được kết quảtrong hiện thực Trên cơ sở ấy Phật giáo đã ra đời, Phật giáo ra đờiđưa lại sự bình dẳng cho con người, song đó là sự bình đẳng về tinhthần, sự bình đẳng về “tính Phật” về khả năng “giải thoát” để thànhPhật và để đạt tới thế giới “Niết bàn”

Phật giáo ra đời ngoài những tiền đề về kinh tế xã hội và tưtưởng, nó còn gắn với vai trò của Thích Ca Mu Ni và những người kếtục ông Ông là người sáng lập ra đạo Phật nhưng đẻ trở thành một tôngiáo theo nghĩa đầy đủ nó còn phụ thuộc vào những người kế tụcThích ca và phụ thuộc vào 4 cuộc đại hội Phật giáo ở Ấn Độ Qua 4cuộc đại hội này đã hình thành hệ thống kinh điển, gồm kinh, luận vàluật, hình thành hệ thống lễ nghi thờ cúng, và hình thành tổ chức Nhưvậy PƠhật giáo đã trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh.Tuy nhiên hàngngũ Phật giáo do có nhiều mâu thuẫn trong việc hiểu và giải thích kinhPhật, đặc biệt là giáo lý nên chia làm hai phái: Thượng toạ bộ(Theravada) và Đại chúng bộ (Mahasan ghika) Về sau phái Đại chúng

tự xưng là phái Đại thừa (Mahayana) và gọi phái Thượng toạ là Tiểuthừa (Hanayana) Phái Đại thừa chủ yếu phát triển lên phía Bắc, nênđược gọi là Bắc tông, “đã theo đường bộ từ Nêpan sang Trung Á , TâyTạng, Trung Quốc qua Triều Tiên, vào Nhật Bản, và từ Trung Hoa dộingược xuống Giao Châu (Việt Nam) Kinh điển của phái Đại thừa

Trang 9

được chép bằng chữ Sanskrit, là thứ ngôn ngữ văn học phổ biến tronggiới trí thức và học giả Ấn Độ lúc bấy giờ Khi vào Trung Hoa cáckinh sách tiếng Sanskrit được dịch sang tiếng Hán Sau này, khi Phậtgiáo ở Ấn Độ bị triệt phá, Phật giáo Bắc tông chỉ còn dựa vào kinhsách chữ Hán Phái tiểu thừa thì phát triển xuống phía Nam nên đượcgọi là Nam tông, từ trung tâm Srilanca theo đường dọc bờ biển xuốngJava, Inđônêxia, sang Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Phù Nam,lên Chămpa, Giao Châu và ngược lên miền Giang Nam của TrungQuốc kinh điển của phái Tiểu thừa được chép bằng tiếng Pali, là thứtiếng phổ thông mà giới bình dân thường dùng”

Hai phái Tiểu thừa và Đại thừa, về sau lại chia thành các tôngphái của Phật giáo Từ Phật giáo Tiểu thừa đã hình thành các phái:Câu xá tông, Thành thực tông, luật tông Từ Phật giáo Đại thừa đãhình thành các tông phái: Pháp tướng tông, tam luận tông, Hoa nghiêmtông, Thiên thai tông, Chân ngôn tông, Tịnh độ tông, Thiền tông

1.1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật

Phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập đến nhiều vấn đềcủa giới tự nhiên, xã hội và tư duy Trong triết học Phật giáo chứađựng cả những quan điểm duy vật và quan niệm duy tâm, đặc biệt nó

đã xây dựng được phương pháp biện chứng hết sức sâu sắc Nếu coiPhật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai tròcủa con người, thì giáo lý cơ bản của Phật giáo là "tứ diệu đế" và

"Niết bàn" Vì "Tứ diệu đế" lý giải vấn đề về khổ và sự diệt khổ, vàdiệt khổ để đến thế giới "Niết bàn"

Tứ diệu đế: được Phật giáo coi là bốn chân lý hay bốn nền tảng,gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế

Trang 10

Khổ đế: Phật giáo coi cuộc đời của con người là khổ, theo quanniệm này "cái khổ" bao gồm cả cái khổ và cái vui của đời sống trầntục, vì cái vui cũng chỉ là giả tạm Cho nên nghĩa chung nhất của chữkhổ ở đây là "vô thường" Phật giáo cũng đã cố gắng chỉ ra những cáikhổ của đời sống trần tục và qui nó vào "bát khổ"(8 cái khổ) Đó là:sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, sở cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ,oán tăng hội khổ, ngũ uẩn xí tịnh khổ Tám cái khổ trên thuộc về quyluật sinh tồn và quan hệ hiện thực của con người, do vậy ở đây, thoátkhổ của phật giáo là thoát khỏi quy luật sinh tồn và quan hệ hiện thựccủa họ.

Tập đế (hay còn gọi là nhân đế): từ chỗ khẳng định cuộc đời làkhổ, Phật giáo đã đi tìm nguyên nhân dẫn con người tới chỗ khổ Nếunhững nỗi khổ của con người có ở trong đời sống hiện thực thì Phậtgiáo cũng đi tìm những nguyên nhân của cái khổ trong đời sống hiệnthực Phật giáo chỉ ra mười nguyên nhân sau: thứ nhất là thamlam,Thứ hai là giận giữ, Thứ ba là si mê, Thứ tư là khiêu mạn, Thứnăm là nghi ngờ, Thứ sáu là biên khiến, Thứ bảy là tà kiến, Thứ tám làkiến thủ, Thứ chín là thân kiến, Thứ mười là giới cấm Trong mườinguyên nhân trên có những nguyên nhân thuộc về quan hệ hiện thực,

và có những nguyên nhân thuộc về nhận thức, cà có nguyên nhânthuộc về giới luật Do vậy việc thoát khổ cũng gắn với ba loạihoạtđộng trên

Diệt đế: Từ việc chỉ ra những nguyên nhân dẫn con người tới cáikhổ, Phật giáo đã khẳng định rằng có thể diệt được khổ bằng cách diệttrừ nguyên nhân Những nguyên nhân dẫn con người tới cái khổ dochính con người tạo ra do vậy chính con người là chủ thể của sự diệtkhổ Ở khía cạnh này Phật giáo đã đề cao con người trong việc quyết

Trang 11

định số phận của mình Song Phật giáo còn cho rằng cái khổ của conngười ở kiếp này có thể do kiếp trướcgây nên, điều này chứng tỏ tínhchất duy tâm tôn giáo của Phật giáo.

Đạo đế:Từ chỗ khẳng định rằng có thể diệt được khổ, Phật giáo đãchỉ ra con đường thoát khổ

Niết bàn được coi là trạng thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con ngườiđạttới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha Đây là trạng thái lýtưởng theo quan niệm của Phật giáo Về cơ bản có hai cách giải thích

về sự tồn tại của Niết bàn Cách thứ nhất cho rằng Niết bàn tồn tại ởnơi mà sau khi con người ta chết, nếu tu hành đắc đạo linh hồn sẽđược siêu thoát về thế giới Niết bàn, Niết bàn ở đây cũng có nhiều bậckhác nhau Theo cách hiểu thông thường của tín đồ Phật giáo ViệtNam thì đó là Tây phương cực lạc Cách giải thích thứ hai cho rằngNiết bàn có thể tồn tại ngay trong thế giới trần tục (sinh tử là Niết bàn,Niết bàn là sinh tử), con người có thể đạttới trạng thái Niết bàn nàykhi con người đã loại bỏ được "tham, sân, si", Khi con người đã thoátkhỏi vô minh, và sống an nhiên tự tại vô ngã vị tha Như vậy ở cáchgiải thích thứ nhất nó chủ yếu hướng con người tới thế giới siêu nhiên,

ở cách giải thích thứ hai nó chủ yếu hướng con người vào đời sốngtrần thế trên quan niệm Phật giáo

Đối lập với Niết bàn là Địa nguc, việc giải thích về sự tồn tại củaĐịa ngục cũng giống như sự giải thích về sự tồn tại của Niết bàn Vậyxét đến cùng thì chẳng có Địa ngục và Niết bàn Do vậy lý thuyết vềNiết bàn và Địa ngục chủ yếu có giá trị về mặt hướng thiện

Trang 12

1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo được du nhập vào Việt nam từ thế kỷ thứ I, thứ II saucông nguyên thông qua sự giao lưu buôn bán của người Ấn Độ vớingười Việt, sau đó là người Trung Hoa với người Việt Về đại thể sự

du nhập này bằng hai con đường: đường thuỷ và đường bộ Theođường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu côngnguyên Luy Lâu, trị sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trungtâm Phật giáo quan trọng Từ đây, có những người như KhươngTăng Hội (gốc Trung Á) hay Mahakivực (Mahajiaka-Nhà sư Ấn Độ)

đã đi sâu vào Trung Hoa truyền đạo Sau này nhà sư Đàm Thiên đãnói: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc Phật giáotruyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đãxây ở Luy Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được hơn 500 tăng và dịch được

15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta”

Cũng do Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Namngay từ đầu công nguyên nên từ Buddaha tiếng Phạn đã được phiên

âm trực tiếp sang tiếng Việt thành Bụt Phật giáo Giao Châu lúc nàymang màu sắc Tiểu thừa Nam Tông Sang thể kỷ VI-V, có thêm luồngPhật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào Chẳng mấy chốc,

nó lấn át và thay thế luồng Nam tông có từ trước đó Từ “Buddha” vàotiếng Hán được phiên âm thành “Phật” từ đây Phật dần thay thế choBụt

Từ Trung Hoa có 3 tông phái Phật giáo được truyền vào ViệtNam: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông

Thiền Tông là tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bodhidharmasáng lập ra ở Trung Quốc vào thế kỷ VI “Thiền” chủ trương tập trung

Trang 13

trí tuệ suy nghĩ để tự mình tìm ra chân lý Thiền tông Việt Nam luôn

đề cao cái “Tâm” Phật tại tâm, tâm là Niết bàn, là Phật Tu theo Thiềntông đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ởgiới trí thức thượng lưu và cũng vì vậy mà hiện nay lịch sử Thiền tôngđược ghi chép khá rõ ràng ở Việt Nam

Dòng thiền thứ nhất ở nước ta do Tiniđalưuchi lập ra năm 580 ởchùa Pháp Vân (Thuận Thành-Bắc Ninh), truyền được 19 hệ Dòngthiền thứ hai do Vô Ngôn Thông (quê ở Quảng Châu) lập ra năm 820

ở chùa Kiến Sơ (Phù Đổng-Bắc Ninh), truyền được 17 đời Dòng thiềnthứ ba do nhà sư Thảo Đường vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành,được vua Lý Thánh Tông (1025-1072) giải phóng và cho mở trườngtại chùa Khai Quốc (Thăng Long) năm 1069, truyền được 6 đời Sangthời Trần có vua Trần Nhân Tông (1258-1308) , sau khi rời ngôi 6năm đã xuất gia lên tu ở núi Yên Tử (Quảng Ninh) và từ đây lập raThiền phái Trúc Lâm Với việc ra Thiền phái Trúc Lâm, Trần NhânTông đã thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ giáo hộiPhật giáo đời Trần về một mối

Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ

từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khổ Đó là việc hướng họ đếnmột cõi Niết bàn cụ thể gọi là cõi Tịnh độ, được hình dung như mộtcõi cực lạc do đức Phật A-di-đà cai quản Đó còn là việc bản thân họcần thường xuyên đi chùa lễ Phật, thường xuyên tụng niệm danh hiệuPhật A-di-đà Nhờ cách tu đơn giản nên Tịnh độ tông trở thành Phậtgiáo của giới bình dân và phổ biến khắp nơi trên đất nước Việt Nam.Mật tông là phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí nhưdùng linh phù, mật chú, ấn quyết… để thu hút tín đồ và mau chóng đạtđến giác ngộ và giải thoát Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc

Trang 14

lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hoà vào dòng tín ngưỡngdân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùatrị tà ma và chữa bệnh.

Do thâm nhập một cách hoà bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phậtgiáo đã có những bước phát triển và dần phổ biến rộng khắp ở nước ta.Đến thời Lý-Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cựcthịnh, nhà nho Lê Quát từng nhận xét: “Phật chỉ lấy điều hoạ phúc màđộng lòng người, sao mà sâu xa mà vẫn bền chắc đến vậy? Trên từvương công, dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc Phật thì hết

cả gia tài cũng không hối tiếc Nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa,xây tháp thì hớn hở vui vẻ như trong tay đã cầm được cái biên lai đểngày sau đi nhận số tiền trả báo lại Cho nên, trong từ kinh thành,ngoài đến châu phủ, đường cũng, ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳngthề mà tin, hễ chỗ nào có nhà ở thì có chùa Phật, bỏ đi thì làm lại, hưthì sửa lại”

Rất nhiều chùa tháp có quy mô lớn hoặc kiến trúc độc đáo đượcxây dựng trong thời gian này như chùa Phật tích, chùa Dạm (chùa ĐạtLãm), chùa Diên Hựu (Một cột), chùa Phổ Minh, chùa Quỳnh Lâm,chùa Hương Lãng, chùa Linh Xứng, chùa Bối Khê, chùa Thái Lạc, hệthống chùa Yên Tử, tháp Bình Sơn … khâm phục trước những thànhtựu văn hoá phật giáo Việt Nam, thời Lý-Trần, sách vở Trung Hoa đờiMinh truyền tụng nhiều về bốn công trình nghệ thuật lớn được gọi là

“An Nam tứ đại khí” bao gồm: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp BáoThiên, chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh Tuy nhiên, tuyệt đại bộphận các thành tựu văn hoá Lý-Trần đều bị quân Minh tàn phá hết sức

dã man

Trang 15

Sang đời Lê, Nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm Quốc giáo,Phật giáo dần dần bị suy thoái Đầu thế kỷ XVIII, vua Quang Trung cóquan tâm đến chấn hưng Phật giáo, xuống chiếu chỉnh đốn việc cấtchùa, cho cất các chùa lớn đẹp, chọn các tăng nhân có học và đạo đứccho coi chùa, tuy nhiên cũng ít thu được kết quả.

Triều Nguyễn lên thay triều Tây Sơn trở lại độc tôn Nho giáo,mặc dù vậy Phật giáo vẫn là tôn giáo phổ biến trong nhân dân Giớiquý tộc nhà Nguyễn cũng tìm chỗ dựa tâm linh nơi cửa Phật nên nhiềuchùa chiền tiếp tục được xây dựng hoặc trùng tu, trong đó có cả loạikinh phí do Nhà nước cung cấp và Bộ công đứng ra chủ quản ChùaThiên Mụ ở Huế được tiếp tục trùng tu dưới các thời vua Minh Mạng,Thiệu Trị, Tự Đức Triều đình ban biển “Sắc tứ” cho các quan tự ởThừa Thiên và nhiều nơi khác trong cà nước

Dưới thời Pháp thuộc, Phật giáo tiếp tục suy vi Đến đầu thế kỷ

XX, đứng trước trào lưu Âu hoá và những biến động do sự giao lưuvới phương Tây đem lại, phong trào “Chấn hưng Phật giáo” được dấylên, khởi đầu từ các đô thị miền Nam Những năm 30, các hội Phậtgiáo ở Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ lần lượt ra đời với những cơ quanngôn luận riêng Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học (lập năm 1930)xuất bản tạp chí “Từ bi âm”, Hội Tăng già Nam Việt (lập năm 1951),

An Nam Phật học hội (lập năm 1932) xuất bản tạp chí “Viên âm”, Hộităng già Trung Việt (lập năm 1949), Hội Phật giáo Bắc kỳ (lập năm1934) xuất bản tạp chí “Đuốc tuệ”, Hội chỉnh lý tăng ni Bắc Việt (lậpnăm 1919) xuất bản tạp chí “Bồ đề” Đến năm 1951, tại Huế các tổchức Phật giáo đã họp, lập ra Tổng Hội Phật giáo Việt Nam

Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ởViệt Nam Đạo Phật thân thiết với người Việt đến nỗi một người Việt

Trang 16

Nam nếu không theo tôn giáo nào khác thì ắt sẽ theo đạo Phật hoặc chí

ít là có cảm tình với đạo Phật Theo số liệu của Ban tôn giáo chínhphủ thì số tín đồ xuất gia hiện nay khoảng 3 triệu người, số thườngxuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu người, số chịuảnh hưởng của Phật giáo khoảng vài chục triệu người

Phật giáo Việt Nam trong quá trình ra đời và tiếp thu ảnh hưởng

từ hai phía Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Quốc, hội tụ cả haidòng Phật giáo chính là Đại thừa và Tiểu thừa và chịu ảnh hưởng của

ba tông phái lớn là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông, trong đóThiền tông là sâu sắc hơn cả

Đồng thời Phật giáo Việt Nam phát triển trên cái nền của tinhthần khoan dung văn hoá nên còn có sự kết hợp với Nho giáo và Đạogiáo, cùng những phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian ViệtNam, tạo thành những nét riêng biệt đậm chất nhập thế, yêu nước, vô

vi, vô thường, chủ trương tu tâm, hướng thiện, nhân từ, đề cao tứ ân,hiếu nghĩa, trừ ác, khuyến thiện, ban phúc, trừ tai, nêu cao bình đẳng,hiếu hoà, hiếu sinh…

Trang 17

Chương 2: Một số đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thông

qua lịch sử của nó.

2.1 Tính dân gian

Phật giáo ra đời ở Ấn Độ với tư cách là sự phản ứng đối vớiBàlamôn giáo và là một bước phát triển tư duy tôn giáo Ấn Độ Sau đóPhật giáo được truyền ra phía Đông theo hai con đường gọi là Bắctruyền và Nam truyền

Bắc truyền xuất phát từ Kế Tân (Cahemi) truyền sang miền BắcTrung Quốc Đặc điểm cơ bản của việc truyền vào Trung Quốc là vuađón nhà sư Tây Vực về cung đình tổ chức hoạt động Phật giáo, Bạch

Mã Tự là tên ngôi chùa- cung điện đầu tiên đó Như vậy Phật giáo Bắctruyền trước hết là vào cung đình, vào các tầng lớp quý tộc Phật giáocung đình là đặc điểm cơ bản của Phật giáo Trung Quốc Vận độngPhật giáo ở Trung Quốc mang màu sắc học thuật rất sâu đậm Chùachiền mang màu sắc kiến trúc đình Nhà sư mang tính chất triết gia.Đàn ông là tín đồ hữu hiệu nhất và đúng với Phật giáo Ấn Độ, tuycũng có mộ số ít tín đồ là phụ nữ Nhưng do đặc thù trọng nam khinh

nữ của Trung Quốc khiến cho Trung Quốc “Không thể xuất hiện một

“Thắng Man phu nhân” Trung Quốc chỉ nữ hoá hình tượng Quan Thế

Âm bồ tát mà thôi”

Chỉ có các ông mới tham gia nghiên cứu biên soạn kinh kệ Phậtgiáo Nói tóm lại, Phật giáo vào Trung Quốc như một tư trào học thuậttrong giới tri thức quý tộc trong rồi ngoài cung đình.Nhiều người trởthành công cụ chính trị cung đình nên phải chịu những cuộc trấn áptàn bạo của phe thắng thế gọi là “kiếp nạn” Tóm lại Phật giáo Bắctruyền vào Trung Quốc trở thành Phật giáo Trung Quốc với đặc trưng

Trang 18

bác học, trí thức, quý tộc mang tính chất học cứu hơn là thuần tuý tôngiáo.

Nam truyền xuất phát từ đâu? Nổi bật nhất và nói đến nhiều nhất

là bờ biển Trung và Nam bộ Đông Ấn Độ, vùng mà giao thông đườngbiển cận duyên nối liền với các nước phía Đông như Inđônêxia, ĐôngDương Con đường này là con đường hàng hải quốc tế từ đầu côngnguyên Con đường biển này đến bán đảo Đông Dương từ rất sớm(đầu công nguyên) Nó tiếp xúc Đông Dương ở 3 điểm lớn là: Vươngquốc Phù Nam, vương quốc Chămpa và Luy Lâu tức Dâu thuộc ChâuGiao

Hai vương quốc đầu là những quốc gia cổ đại độc lập chưa có văn

tự, có tín ngưỡng bản địa, đã tiếp xúc với văn minh Trung Hoa nhưngkhông bị lệ thuộc về chính trị Còn Châu Giao chính là nước đang bịchính quyền nhà Hán thống trị, chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi đạo Nho

mà người Hán vừa cố ý vừa vô ý du nhập vào nước ta Trong thời giannày có nhiều nhà tu hành Ấn Độ đến Dâu, đa số họ lên phương Bắc(Truyền thuyết Càlaxàlê với tín đồ nữ Man Nương của ông ta đã phầnnào chứng minh được điều này)

Một bà mẹ Man Nương, bốn bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,Pháp Điện Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là đàn ông, sang ViệtNam biến thành Phật Bà Bồ Tát quan thế âm đã được biến thành Phật

Bà Quan Âm với nghìn mắt nghìn tay, vị thần hộ mệnh của cư dânkhắp vùng sông nước Đông Nam Á

Ở một số vùng, ngay cả Phật Tổ thích ca cũng được coi là phụ nữ(Người Tày Nùng gọi là “Mẹ pựt xích ca”) Người Việt Nam còn tạo

ra những “Phật Bà” riêng của mình: đứa con gái nàng Man, tươngtruyền sinh vào ngày 8-4 được xem là Phật Tổ Việt Nam, bản thân bà

Trang 19

Man trở thành Phật Mẫu Rồi còn những vị Phật Bà khác nữa nhưQuan Âm Thị Kính, Phật bà chùa Hương, và còn nhiều các bà Bồ Tátnhư bà Trắng chùa Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh,…

Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà, câu ca dao “ trẻ vuinhà, già vui chùa” là nói cảnh các bà Như vậy có thể thấy cũng là đặcđiểm chung của một tín ngưỡng Việt Nam Đặc điểm này khác với Ấn

Độ, khác với Trung Hoa Mẹ là “ tình thương” là Phần Thực, khôngphải “ Diệt dục” mà là “ Từ bi” là “ Cưu mang” ( Cứu khổ cứu nạn).Tính dân gian của Phật giáo được thể hiện như vậy đó

Phật giáo dẫu hình thành trên cơ sở kết hợp giữa một Nữ tín đồViệt với một nam tu sĩ Ấn Độ, Man nương nghĩa là cô gái Man di tức

là không được giáo hoá tức là phi Hoa Và điều lạ lùng là cô gái lại cómang với tu sĩ Ấn độ Huyền thoại đó sau này còn lặp lại với Từ ĐạoHạnh và một nữ tín đồ dẫn đến một thần tích

Cái chất Phồn Thực Thiêng đó quả là không thể tìm thấy trongPhật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa Vì nó không hợp với đạo lý Diệt Dục

mà bất kỳ một phật tử bác học nào kiên trì Cái chất Sinh, chất Mẹ củangười Việt cực kỳ sâu đậm bất chấp cả Phật giáo lẫn Khổng giáo Đóchính là cốt lõi tâm hồn Việt, cái cốt lõi đó được bảo tồn trong dângian

Nếu ai đó chỉ quan tâm đến văn hoá bác học, dù về Phật giáo hayKhổng giáo thì tựa hồ như thấy ngược lại: Cha được đề cao hơn mẹ.Cái chất Sinh Phàm Thiêng đó không chỉ trong quan hệ với những tu

sĩ, con người bằng da bằng thịt mà còn quan hệ với biểu tượng trừutượng Mẹ Phạm Bạch Hổ với thần hổ, mẹ Lý Công Uẩn với Phật

Trang 20

Người tu sĩ nam giới ngoại lai đã nhập vào lòng mẹ dù rằng đạidiện của một dòng tu bài Nữ, ông đã rời bỏ Sắc và trở lại với Khôngtrong phút giây “Tư tưởng dân gian đã sáng tạo một huyền thoại nứclòng người phàm, đau nhói tâm linh người xuất thế”

Không phải chỉ Tử mới tôn giáo mà Sinh cũng tôn giáo Sinh Tửđều quan trọng như nhau đối với nhân sinh Nhưng dân gian bao giờcũng quan tâm Sinh hơn Tử dù rằng họ cũng công nhận cái quan niệmtôn giáo “ Sinh ký Tử quy” Tính dân gian của phật giáo Việt Namcàng được nổi rõ

Trong rừng biểu tượng Phật giáo nào bộ ba Thân, Tam Thế, nàoThích Ca nào Di Đà, nào Văn Thù, nào Khổ Hiền… rồi trí nhớ tín đồ,thì cũng chỉ là một bà được dân kính nhớ: Quan Âm Trong Phật điệnViệt Nam có cả tượng Quan Âm nam tính và tượng Quan Âm nữ tính,nhưng dân gian chỉ biết bà Quan Âm Bà át cả Ông Tư tưởng dân gianxoá mờ cả hiểu biết bác học

Mặc dù vẫn niệm Nam Mô A Di Đà hay đơn giản Mô Phậtnhưng tâm hồn chỉ có Phật Bà Những tín đồ Phật giáo Việt Nam đại

đa số đều không còn dựa vào những kinh Kim Cương hay kinh DiệuPháp Liên Hoa, Đại Thừa Khởi Tín luận hay kinh Bát Nhã Tín đồ ởđây là những người xuất gia vào chùa ở và cả những người tu tại giahay lên chùa thắp hương ngày rằm Họ là những tín đồ quần chúngkhông theo một giới luật nào cả, đó chỉ là quần chúng của Phật giáo,lúc nào theo thì theo, lúc nào không theo thì thôi Không cạo đầu,không tụng kinh hằng ngày một cách bắt buộc, không ăn chay theo chế

độ, không giới sát giới dâm

Đây cũng là hệ quả của tính dân gian quá đậm kế hợp với tính

nữ trội của Phật giáo Việt Nam Đối với Phật giáo luôn có sự lầm lẫn

Trang 21

giữa tín đồ thực thụ (những tu sĩ chuyên nghiệp) với những tín đồquần chúng Nhưng dù sao sự lầm lẫn đó cũng chứng tỏ tính dân gianPhật giáo Việt Nam cực đậm Điều này không thể có ở các tôn giáokhác.

Tính dân gian của Phật giáo còn được phản ánh qua góc độ nhânvăn và xã hội của con người Viêt Nam Trong đời sống thường nhậtcũng như trong văn học việt Nam chúng ta thường thấy có nhiều từngữ chịu ảnh hưởng của Phật giáo được nhiều người sử dụng, ví dụnhư từ “tội nghiệp”- là từ chuyên môn của Phật giáo Theo đạo Phậttội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước dẫn tới tai nạnhay sự cố như hiện nay, mà theo giáo lý của đạo Phật thì không có mộthiện tuợng hay sự cố tai nạn nào xảy ra một cách ngẫu nhiên hay tình

cờ, mà chỉ là kết quả của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước

Những nguyên nhân đó (theo đạo Phật gọi là nhân duyên) khichín muồi thì tạo ra kết quả Mọi người đều nói tội nghiệp nhưngkhông phải nhiều người biết được điều đó là một từ ngữ nói lên mộtchủ thuyết rất văn bản của Phật “thuyết nhân quả báo ứng” thuyết này

đi sâu vào nhân gian với những câu ca dao, tục ngữ như “ở hiền gặplành”, “gieo gió gặp bão” hay câu thơ “người trồng cây hạnh ngườichơi Ta trồng cây đức để đời mai sau”

"Ở Việt Nam, từ khi Phật giáo du nhập và trong suốt thời kỳ lịch

sử của xã hội phong kiến Việt Nam, đạo đức Phật giáo với tư tưởnggiải thoát, bình đẳng, bác ái, từ bi hỉ xả, cứu khổ …ít nhiều phù hợpvới đạo đức truyền thống, tâm lý tín ngưỡng và phong tục tập quáncủa người Việt, nên được đông đảo người Việt tiếp nhận, ngưỡng mộ

và trở thành một bộ phận của đời sống tinh thần, đời sống tâm linh củangười Việt

Trang 22

Đặc biệt, trong giai đoạn Lý - Trần, Phật giáo trở thành quốcgiáo, là tôn giáo của triều đình, là một thành tố của hệ tư tưởng Nho -Phật - Lão Nhiều nhà vua đã sử dụng Phật giáo để giáo dục, dạy bảohoàng tử, hoàng tộc và giáo hoá quần thần, dân chúng Phật giáo,những chuẩn mực, những nguyên lý đạo đức của Phật giáo là mộttrong những cơ sở căn cứ để xây dựng và thi hành các bộ luật của nhànước phong kiến, các chiếu, dụ, lệnh của nhà vua, là một trong nhữngcông cụ của các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc cai trị, quản

lý xã hội, trong việc tập hợp và đoàn kết sức mạnh của toàn dân tộctrong công cuộc dựng nước và giũ nước

Đặc biệt, đạo đức Phật giáo đã góp phần hình thanh và hoànthiện những truyền thống và phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con ngườiViệt Nam, đã góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ nền độc lập, tự docủa Tổ Quốc, xây dựng và làm phong phú nền văn hoá dân tộc, giữ gìn

và bảo lưu bản sắc và cốt cách của dân tộc Việt Nam

Đánh giá về một trong những vai trò tích cực của phật giáo, đạođức Phật giáo, nhà sư Viên Chiếu coi Phật giáo là ánh sáng, có ý nghĩathiết thực với đời người; còn vua Trần Thái Tông thì khẳng định vaitrò của Phật giáo là giáo hoá mọi người, vạch rõ cho chúng sinh cái lốisoi rõ sống chết, với mục đích là cứu vớt chúng sinh khỏi cảnh đaukhổ trầm luân, khỏi cảnh luân hồi sinh hoá bất tận, là tư tưởng bìnhđẳng."

Trong tâm hồn của mỗi người Việt Nam đều chứa đựng ít nhiềutriết lý nhà Phật và những hình ảnh về ngôi nhà, về Phật trải qua hàngngàn năm gắn bó mật thiết với làng xã Việt Nam: “đất vua, chùa làng,phong cảnh Bụt” Đất vua, chùa làng là một hình ảnh gần gũi với

Ngày đăng: 23/12/2013, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w