họ đã làm nên một khối lợng tác phẩm không nhỏ với những đóng góp mà không một ai có thể phủ nhận đợc cho quá trình đổi mới văn học, trong số đó có nhà văn Lê Lựu với tác phẩm Thời xa vắ
Trang 1lê thị thịnh
Vị trí hai tiểu thuyết “ thời xa vắng ” của lê lựu
trong tiến trình đổi mới văn học
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2007
Trang 2lê thị thịnh
Vị trí hai tiểu thuyết “ thời xa vắng ” của lê lựu
trong tiến trình đổi mới văn học
Trang 3Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9
4 Phạm vi, đối tợng nghiên cứu 9
5 Phơng pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chơng 1 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ từ sau 1975 đến 1986 12
1.1 Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình 13
1.2 Sự chuyển đổi trong văn học và những nhà văn tiền trạm trong công cuộc đổi mới văn học 18
1.2.1 Sự chuyển đổi trong văn học 18
1.2.2 Những nhà văn tiền trạm trong công cuộc đổi mới văn học .19
1.3 Vị trí của hai tiểu thuyết “Thời xa vắng” và “Mùa lá rụng trong vờn” trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu và Ma Văn Kháng 35
1.3.1 Vị trí của tiểu thuyết “Thời xa vắng” trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu 35
1.3.2 Vị trí của “Mùa lá rụng trong vờn” trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng 40
Chơng 2 Những đóng góp về phơng diện nội dung 45
2.1 Chuyển đổi về đề tài và cảm hứng 45
2.2 Cốt chuyện 56
Trang 42.3.2 Khát vọng hạnh phúc cá nhân và tình yêu đôi lứa 71
2.3.3 Con ngời trần thế với tất cả phẩm chất tự nhiên của nó 80
2.3.4 Tiếng chuông cảnh tỉnh về tình trạng suy thoái, xuống cấp phẩm chất đạo đức trong xã hội 86
Chơng 3. Những đổi mới về phơng diện nghệ thuật 91
3.1 Dấu hiệu đa thanh trong nghệ thuật trần thuật 91
3.2 Giọng điệu chính bùi ngùi và thơng cảm 99
3.3 Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn cá tính nhân vật và nhà văn 105
3.4 Phong cách ngôn ngữ của Lê Lựu và Ma Văn Kháng qua hai tiểu thuyết “Thời xa vắng” và “Mùa lá rụng trong vờn” 105
Kết luận 118
Tài liệu tham khảo 121
Trang 5mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Quá trình đổi mới đất nớc nói chung và đổi mới văn học nói riêng
đã diễn ra trên hai mơi năm Nhìn vào thực tế sáng tác và qua ý kiến của cácnhà nghiên cứu, phê bình, có thể nói rằng tiểu thuyết đầu những năm tám mơicủa thế kỹ XX đã có những dấu hiệu vận động đổi mới khá sớm so với các thểloại khác Bức tranh tiểu thuyết thời kỳ này đang dần trở nên phong phú hơnnhng cũng phức tạp hơn Để cho cái mới sinh thành, cuộc xé vỏ trổ trầm nàochẳng khó khăn vất vả, thậm chí còn nguy hiểm Trong bớc dò tìm lặng lẽ nàycủa tiểu thuyết, có thể nói cái mạnh bây giờ mới bắt đầu đợc mở, cái hớng mớibắt đầu đợc chọn, cái đích đi tới đang dần dần đợc xác định Từ một nền vănhọc mà khuynh hớng bao trùm, duy nhất là khuynh hớng sử thi, tiểu thuyết
đầu những năm 80 đã dần dần xuất hiện nhiều khuynh hớng trớc một bối cảnhmới với những yêu cầu và điều kiện phát triển mới Hàng loại các yếu tố thuộc
về thi pháp cũ đứng trớc những đòi hỏi cần phải thay đổi: từ cảm hứng sángtác, đến quan điểm thẩm mỹ; các hệ thức giá trị mới, cũ đan xen nhau tạo nên
sự phong phú và phức tạp trong đời sống văn học nói chung và tiểu thuyết nóiriêng Đi từ thực tiễn của cuộc sống, mọi thành công của ngày hôm nay đều đ-
ợc làm nên từ sự chuẩn bị của ngày hôm qua Và sự thực, thành tựu của quátrình đổi mới văn học đã đợc chuẩn bị tích cực từ đầu những năm 80 vớinhững bớc khởi động, tạo đà rất quan trọng
Khi tìm hiểu tiến trình vận động, phát triển của văn học không thểkhông tìm hiểu những nhân tố góp phần làm nên sự thành công của qúa trình
đổi mới nền văn học nớc nhà, đó là chất liệu, là cảm hứng sáng tạo, là nhữngvận động bớc đầu trong thể loại tiểu thuyết nhằm hớng tới sự tăng nhanh tốc
độ và tính đa thanh trong nghệ thuật - tất nhiên, đây mới chỉ là những khởi
động bớc đầu
1.2 Viết về quá trình đổi mới sau chiến tranh có rất nhiều cây bút sánggiá nh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khải, Lê Lựu, MaVăn Kháng họ đã làm nên một khối lợng tác phẩm không nhỏ với những
đóng góp mà không một ai có thể phủ nhận đợc cho quá trình đổi mới văn
học, trong số đó có nhà văn Lê Lựu với tác phẩm Thời xa vắng và nhà văn Ma Văn Kháng với tác phẩm Mùa lá rụng trong vờn cả hai đều đợc xem là những
tác phẩm có giá trị dự báo, dọn đờng cho thời kỳ đổi mới Hai tác phẩm này,bớc đầu đã phản ánh đợc một cách cơ bản những dấu hiệu đổi mới về hệ thống
Trang 6thi pháp của tiểu thuyết hiện đại, đồng thời nó còn đánh dấu sự chuyển biến về
t duy sáng tạo
1.3 Việc lựa chọn, nghiên cứu, nhìn nhận đánh giá hai tác phẩm nàytrong tơng quan đối sánh để thấy đợc sự chuyển động trong quỹ đạo mới màcác công trình nghiên cứu khác cha đề cập hoặc cha đợc quan tâm một cách
đầy đủ Giải quyết vấn đề này chính là sự đáp ứng phần nào nhu cầu nghiêncứu, đánh giá và nhìn nhận về văn học khi tiến trình đổi mới văn học đang bớcvào ngỡng cửa thế kỷ XXI, với những triển vọng và thách thức mới
2 Lịch sử vấn đề
Vào đầu thập niên 80 đất nớc đi vào quỹ đạo mới của thời bình Cuộcsống thời hậu chiến với biết bao nhiêu biến động, đổi thay Từ nền kinh tế - xãhội đến các trạng thái văn hóa - t tởng Đấy là hệ quả tất yếu của xã hội khidịch chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hộikhác cao hơn Trớc bối cảnh mới của thời kỳ hậu chiến, con ngời không chỉphải làm quen mà còn phải đối mặt, cọ xát với những vấn đề đang nảy sinhtrong cuộc sống đời thờng Con ngời và đất nớc sau mốc chiến thắng mùaxuân năm 1975 trở thành đối tợng thẩm mỹ đầy sức mời gọi và lôi cuốn đốivới các nhà văn đơng đại Đây chính là mảnh đất đầy hứa hẹn để các nhà văn
đơng đại tự khẳng định mình
Bên cạnh sự chuyển mình của đội ngũ nhà văn, giới nghiên cứu phêbình cũng không nằm ngoài guồng quay chung đó Các bài viết, các bàinghiên cứu, phê bình và những công trình khoa học xuất hiện ngày một nhiều.Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy đã có một số công trình nghiên cứu có ýnghĩa tổng kết tơng đối sâu sắc và toàn diện chặng đờng văn học 1945 - 1985
và đặc biệt là lĩnh vực văn xuôi sau năm 1975 nh:
Trang 7Bên cạnh những công trình nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực văn xuôi
sau 1975 thì các công trình nghiên cứu và bài viết về hai tác phẩm Thời xa vắng của Lê Lựu và Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng cũng khá
nhiều, xin kể một vài t liệu nh sau:
• Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới - LV Ths Trần Thị Kim Soa
• “Thời xa vắng” một tâm sự nóng bỏng - Lê Thành Nghị
• Một đóng góp vào việc nhận diện con ngời hôm nay - Vơng Trí Nhàn
• Suy t từ một “ Thời xa vắng” - Nguyễn Hòa
• Nghĩ về một “Thời xa vắng” cha xa - Thiếu Mai
• Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng - LV Ths Nguyễn
Thị Tiến
• Phong cách Ma Văn Kháng trong truyện ngắn sau 1975 - LV Ths
Đào Tiến Thi
• Bàn thêm về “Mùa lá rụng trong vờn” - Nguyễn Văn Lu
• “Mùa lá rụng trong vờn” và những vấn đề của gia đình - Trần Bảo Hng v.v
Điểm qua các ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy có một vài khác biệttrong việc nhận dạng, đánh giá những dấu hiệu bớc đầu của đổi mới t duy
sáng tạo qua hai tiểu thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn, nhng tất
cả đều có sự nhất trí cho thấy: cả hai đều có ý nghĩa dự báo tiến trình vận
động, đổi mới nền văn học nớc nhà Chúng tôi coi những ý kiến này sẽ là cơ
sở góp phần soi sáng cho ngời viết luận văn khi đi vào giải quyết đề tài
Nhìn chung, xung quanh những ý kiến bàn về hai tiểu thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn là khá phong phú và phức tạp Để hình dung,
chúng tôi tạm thời phân ra thành hai loại ý kiến
Trớc hết, đó là những ý kiến chung nhất, chủ yếu đánh giá mỗi tácphẩm riêng rẽ trên những nét khái quát, ít đi vào nghiên cứu những vấn đề cụthể, cắt nghĩa, lý giải một cách kỹ lỡng, tỷ mỹ Những ý kiến này thực rakhông nhiều, nhng có ý nghĩa cung cấp một cái nhìn mang tính chất định h-ớng lớn đối với quá trình tiếp cận tác giả, tác phẩm (Chẳng hạn các nhận định,
đánh giá về văn hoá, văn nghệ trong các Nghị quyết của Đảng, của Ban chấp
Trang 8hành Hội nhà văn, một số ý kiến tại các cuộc Hội thảo khoa học, các cuộc trao
ngời viết đã có cái nhìn khá bao quát khi chỉ ra đợc cơ sở kinh tế - xã hội có
sự tác động rất sâu sắc đến vận mệnh, số phận con ngời Tuy nhiên, trongkhuôn khổ của những bài báo, bài nghiên cứu, ngời viết chỉ dừng lại ở nhữngnhận định, đánh giá khái quát chung nhất
Việc nhìn nhận đánh giá từng tác phẩm một cách riêng rẽ thì đợc khá
nhiều ngời nghiên cứu quan tâm Xung quanh Thời xa vắng có khá nhiều bài
viết và công trình nghiên cứu với những ý kiến đánh giá khá xác đáng, bởi đó
là "cuốn sách nói về một khoảng đời của một con ngời cụ thể, khoảng đời đãtrở nên có tính chất lịch sử đối với thời điểm tác giá viết, một khoảng đời đặcbiệt quan trọng, bao gồm những đợc, mất, vui, buồn, thành, bại của cuộc đờimột con ngời" [29] và Nguyễn Hoà đã đa ra những triết lý rất đắt: “Viên đại
bác Thời xa vắng khoan thủng tấm màn vô hình che dấu nhiều điều lâu nay
chúng ta không nói tới Quá khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà nó có cả
đắng cay"
Thời xa vắng đợc Lê Lựu viết năm 1984, nhng mãi đến năm 1986 mới
ra mắt bạn đọc và sự ra đời của tác phẩm đã khuấy động không khí văn họcvốn đang tĩnh lặng và đem đến một luồng sinh khí mới Nó không những làcuốn sách gối đầu giờng của bạn đọc mà nó còn là đề tài cho nhiều nhànghiên cứu quan tâm
Giáo s Phong Lê trong sách: Vẫn chuyện văn và ngời có bài về một Thời xa vắng của Lê Lựu Sau khi phân tích khá kỹ bi kịch của nhân vật Giang
Minh Sài, ông đánh giá: "Giang Minh Sài thất bại, nhng cả xã hội thì thắng
lơị, xã hội đang vật vã trong những chuẩn bị cho cái "Thời xa vắng" ấy qua đi.
Không còn những bi kịch kiểu Giang Minh Sài cho những Giang Minh Sàikhác đợc sống là mình ngay từ đầu Thời điểm 1984 khi cuốn sách đợc viết
ra là quá muộn so với sự chuyển giai đoạn cách mạng đã diễn ra từ 1975, nhngvẫn cứ là đóng góp, là sự đón nhận trớc cái yêu cầu" nhìn thẳng vào sự thật"
và nhận thức lại lịch sử đợc đề ra với đại hội VI, cuối năm 1986 Cuốn sách cógiá trị một đóng góp tiền trạm là thế ”
Trang 9Nhà nghiên cứu Lê Thành Nghị khẳng định: "Cái quan trọng là thái độtích cực của ngời viết muốn vơn lên sự hoàn thiện, sự công bằng, sự tôn trọng
quyền làm ngời của con ngời Thời xa vắng là câu chuyện về thời đã qua.
Nhân vật chính vừa kể cho chúng ta một câu chuyện có thật, một câu chuyệncảm động nhng quan trọng hơn anh đã thoát ra khỏi tình cảnh đó và đã tìm ramột chỗ đứng hứa hẹn những điều tốt đẹp" [29]
Khi Thời xa vắng xuất hiện trên văn đàn đã đợc đánh giá nh một cọc
tiêu tiền trạm của công tác đổi mới văn học Vấn đề đặt ra ở tác phẩm có một
ý nghĩa sâu sắc: nhu cầu nhận thức lại thực tại Về vấn đề này, Nguyễn Văn
L-u cho rằng "TiểL-u thL-uyết Thời xa vắng của Lê LựL-u phản ánh sinh động và chân
thực quá trình chuyển biến trong nhìn nhận, đánh giá thực tại" Ông cũng
đánh giá cao về sức lao động của tác giả bởi những trang viết xúc động, chânthực về tình cảnh làm thuê của ngời dân làng Hạ Vị và của Sài Nhà văn phản
ánh một cách sắc bén, hàm súc, những hoàn cảnh, những thói quen, những tậpquán, di sản của xã hội cũ Những trang tả tuổi thơ của Sài và cuộc sống làmthuê của gia đình anh, của cả dân làng Hạ Vị là những trang chân thực và hếtsức sinh động, Ông cũng khẳng định tài năng của Lê Lựu: "Phải là ngời dânnghèo khổ mới viết đợc những câu văn ứa lệ nh vậy, đó là những trang vănhay của văn xuôi Việt Nam" [25]
Nói đến nhà văn Lê Lựu mọi ngời thờng nghĩ ngay đến Thời xa vắng,
tác phẩm đa ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn Không phải là khó hiểu
khi mọi ngời lại giành cho Thời xa vắng quá nhiều lời khen chê, lẽ giản đơn
bởi tác phẩm này đã khơi dậy sứ mênh thiêng liêng mà mọi nền văn học chânchính xa nay muốn đảm nhiệm Theo nghĩa này Vơng Trí Nhàn đã khẳng
định: "Thời xa vắng nên đợc xem là cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ một
tác phẩm văn học cần làm” [33]
Lê Lựu là một nhà văn đợc bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình vănhọc rất quan tâm Số lợng các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học về
tiểu thuyết Thời xa vắng khá nhiều, có khoảng trên dới 20 bài viết và công
trình nghiên cứu về tác phẩm này Tất cả đều gặp nhau trên phơng diện đề caogiá trị nghệ thuật của tác phẩm, xem tác phẩm nh một cột mốc đáng chú ý củavăn học hiện đại Việt Nam, tiếp cận tác phẩm ở phơng diện xã hội và góc độnghệ thuật, xin kể một số công trình nh sau:
Trang 10• Tiểu thuyết về nông thôn trong văn xuôi việt nam thời kỳ đổi mới
(1999), LV Ths Nguyễn Thị Lan Hơng, trong đó tác giả khảo sát mảng viết về
nông thôn qua Thời xa vắng và Chuyện làng Cuội.
• Tryện và tiểu thuyết luận đề thời kỳ đổi mới (2000), LV Ths Nguyễn Anh Vũ Tác giả luận văn đã giành một chơng nghiên cứu về Thời xa vắng và Hai nhà của Lê Lựu thời kỳ đổi mới
• Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới (2002), LV Ths Trần Thị Kim Soa, trong đó Thời xa vắng đợc tác giả khảo sát khá kỹ lỡng
Trong toàn bộ sáng tác của Lê Lựu, bên cạnh truyện ngắn, ký, thể loại
tiểu thuyết đã khẳng định tên tuổi của nhà văn, nhng Thời xa vắng là tác phẩm
đạt tới đỉnh cao thành tựu, không chỉ có ý nghĩa với sự nghiệp sáng tác của LêLựu mà còn có ý nghĩa với công cuộc đổi mới văn học Việt Nam hiện đại
Với Mùa lá rụng trong vờn, có nhiều bài viết, mỗi ngời đều đa ra một
cách nhìn nhận đánh giá khá sâu sắc, chủ yếu khai thác ở góc độ đời sống gia
đình và số phận con ngời thời mở cửa Trần Đăng Xuyền nhận xét: "Mùa lá rụng trong vờn chủ yếu mô tả sự biến đổi của gia đình trong thời kỳ quá độ
hiện nay Gia đình, cái vùng tởng chừng nh yên ổn, cái mà có lúc tác giả gọi là
"vùng an lạc" trong tình hình mới, có ai ngờ lại là một vùng có nhiều sóng gió
đến thế” [44] Trần Cơng cho thấy: "Càng ngày, sự kết hợp giữa miêu tả và biểuhiện ở Ma Văn Kháng càng thêm nhuần nhị Cùng với văn chơng duyên dáng
và trong sáng (có gọt giũa nhng không cầu kỳ, kiểu cách theo lối "làm văn")cùng với các thủ pháp nghệ thuật đã đợc vận dụng một cách thuần thục nh dùng
ẩn dụ, so sánh, liên tởng, lập thế tơng phản, song hành, sử dụng đối thoại tấtcả những cái đó không bộn bề, rối rắm, mà đợc điều hành nhịp nhàng cân đốibởi một t duy nghệ thuật cần mẫn, sắc sảo" [4]
Cuộc đời vốn đa sự, con ngời vốn đa đoan Ma Văn Kháng dờng nhkhông bị "sa mạc hoá tâm hồn bởi cảnh đời phức tạp", ngợc lại, ông nh đợcbồi bổ thêm vốn sống và rèn giũa tài năng viết cho cuộc đời văn chơng nghệ
sỹ của mình Mùa lá dụng trong vờn nh sự bứt phá trên con đờng sáng tạo
nghệ thuật Tác phẩm đề cập đến hai vấn đề lớn: "Truyền thống văn hoá dântộc và truyền thống nếp sống của gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thíchứng của nó trong xã hội mới” [15]
Nghiên cứu công phu và giành nhiều tâm huyết hơn về Ma Văn Kháng
cùng tác phẩm Mùa lá rụng trong vờn phải kể đến công trình của Phan Thị
Trang 11Kim Ngân: Nhân vật trí thức với sự đổi mới t duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết sau 1980 Luận Văn thạc sỹ này chủ yếu nghiêng về
khai thác nhân vật trí thức ở tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong quan hệ với sự
đổi mới t duy nghệ thuật, trong cái nhìn đối sánh vào thời điểm trớc và sau
1980 Công trình này đã khẳng định đợc cái mới của đề tài nghiên cứ là:
"Nhân vật trí thức với những đóng góp của Ma Văn Kháng trong việc chốngtiêu cực; trong việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời
Năm 2005, Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Tiến nghiên cứu về:
Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng Đề tài nghiên cứu sáu tiểu thuyết viết về ngời trí thức trong đó có Mùa lá rụng trong vờn Nhấn mạnh tới
mục tiêu: phát hiện và khẳng định vẻ đẹp đặc sắc, phong phú của nhân vật tríthức trong thế đối sánh lịch đại và đồng đại Từ đó đi đến khẳng định: đóng gópcủa Ma Văn Kháng trong đề tài ngời trí thức là đóng góp to lớn, không chỉ có ýnghĩa thời điểm mà có ý nghĩa lâu dài đối với văn học Việt Nam hiện đại
Nghiên cứu một cách có hệ thống các tác giả góp phần làm nên côngcuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam những năm đầu thập kỷ 80, Tiến sĩ Nguyễn
Thị Huệ đã triển khai trong luận án của mình với nhan đề: Những dấu hiệu
đổi mới trong văn xuôi Việt Nam từ 1980 đến 1986 qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu - Nguyễn Khải - Ma văn Kháng - Nguyễn Mạnh Tuấn Đề tài
nghiên cứu rất kỹ lỡng và công phu về những dấu hiệu đổi mới qua những tác
phẩm tiêu biểu của bốn tác giả trong đó có Mùa lá rụng trong vờn của Ma
Văn Kháng
Nh vậy, có thể thấy giới nghiên cứu và những công trình khoa học bàn
về hai tác phẩm: Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn với sự quan sát khá tỉ
mỹ ở nhiều góc độ khác nhau, nh một đối sánh giữa hai tác phẩm để vừa chỉ
ra khuynh hớng chung của văn xuôi, vừa chỉ ra đóng góp đặc sắc riêng củatừng ngời thì cha đợc quan tâm và đề cập
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn hớng tới là mô tả, khảo sát, nhậndiện quá trình vận động của tiểu thuyết những năm đầu thập kỷ 80, của thế kỷ
XX, ở những góc độ, những dấu hiệu đổi mới văn học Để thực hiện đợc mục
đích và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi vận dụng khái niệm, quan điểm lýluận văn học nhằm soi chiếu minh bạch vấn đề để xác định vị trí có tính chất
Trang 12mở đờng của hai tác phẩm: Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn trong tiến
trình đổi mới văn học
Do yêu cầu của đề tài, luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu vị trí hai tiểu
thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn trong tiến trình đổi mới văn
học, đối sánh với các tác phẩm ở thời gian đồng đại và lịch đại Sự phát triểnlịch sử nói chung và phát triển văn học nói riêng không bao giờ là sự nối dàihoàn toàn của quá khứ, có nghĩa là sự phát triển nào cũng mang tính chất haimặt: vừa liên tục, vừa ngắt quãng, luận văn sẽ nghiêng về tính chất ngắt quãngvới mong muốn làm sáng tỏ hơn những chuyển biến, vận động của một thời
kỳ văn học vừa mang tính chất bản lề, vừa mang ý nghĩa mở đờng cho quátrình đổi mới (vốn không phải là cái dễ dàng nhận diện và mô tả bởi còn đang
ở dạng manh nha tiền ẩn), hoàn toàn không phải để đánh giá văn xuôi trớc vàsau đó
4 Phạm vi, đối tợng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi, đối tợng nghiên cứu của đề tài là những dấu hiệu đổi mới của
hai tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu và Mùa lá rụng trong vờn cuả Ma
Văn Kháng trong tiến trình đổi mới văn học Nhu cầu đổi mới của văn học lànhu cầu có tính qui luật trọng sự phát triển của văn học, vì bản chất của nghệthuật là sáng tạo không lặp lại Sự biến đổi trong sáng tạo nghệ thuật bao giờcũng là nhu cầu nội tại, thờng xuyên do sức tác động tổng hợp của đời sống xãhội, đời sống tinh thần, tâm lý của con ngời, chỉ có sự biến đổi đó mới đảmbảo vững chắc cho phát triển nghệ thuật
Lựa chọn vấn đề vị trí của hai tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu và Mùa lá rụng trong vờn Ma Văn Kháng mà không phải là toàn bộ tiểu thuyết
của Lê Lựu và Ma Văn Kháng hay của các nhà văn khác cùng thời, vì trongbối cảnh một nền văn học đang có những bớc chuyển mình, mang trong lòngnhững nội dung rất phong phú và phức tạp, số lợng các tác phẩm rất lớn, việcbao quát cho thật đầy đủ, đi sâu nghiên cứu toàn bộ các tiểu thuyết là một yêucầu không dễ thực hiện, vì vậy chúng tôi chọn hai tác phẩm này là hai tácphẩm có tính chất để "thử nghiệm", có giá trị tiêu biểu đại diện cho những h-ớng tìm tòi mới và với nó tác giả có thể đợc xem nh những đại biểu xứng đángvới t cách "lực lợng tiền trạm"
Trang 13Trong quá trình khảo sát luận văn cũng có mở rộng đối tợng khảo sáttới một số tác giả cùng thời nh: Chu Lai, Vũ Tú Nam, Thái Bá Lợi, NguyễnTrọng Oánh và các tác giả nổi tiếng cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
Để nhận diện những dấu hiệu đổi mới của tiểu thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn, luận văn khảo sát ở một số phơng diện sau: tiểu thuyết
Việt Nam thời kỳ từ 1975 đến 1986, những đóng góp về mặt nội dung và nghệthuật của hai tác phẩm
Những dấu hiệu đổi mới của tiểu thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn đợc tiếp cận trong mục đích đối chiếu, so sánh để thấy rõ những
đóng góp có ý nghĩa tiền trạm, mở đờng cho quá trình đổi mới nền văn học
n-ớc nhà
5 Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi có sử dụng một số phơngpháp nh sau:
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu: đặt tác phẩm vào tiến trình lịch đại vàtơng quan đồng đại để xác định vị trí và giá trị của nó
- Phơng pháp phân tích - tổng hợp: căn cứ vào các thành tố cơ bản củatác phẩm, theo cấu trúc của thể loại - ở đây là tiểu thuyết
- Phơng pháp thống kê - phân loại: để có đợc những luận cứ cụ thể,chính xác cho sự triển khai các luận điểm
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài góp phần làm sáng tỏ bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến
1986 trong đó nhấn mạnh vị trí của hai tiểu thuyết Thời xa vắng và Mùa lá rụng trong vờn trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu và Ma Văn Kháng.
Từ những đóng góp của hai tác phẩm này, luận văn bớc đầu xác định xuhớng vận động của văn học trong tiến trình đổi mới
7 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Tài liệutham khảo, gồm ba chơng chính, nh sau:
Chơng 1 Tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến 1986
Chơng 2 Những đóng góp về nội dung
Trang 14Chơng 3 Những đóng góp về nghệ thuật.
Trang 15Chơng 1tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ
từ sau 1975 đến năm 1986
Văn học với t cách là một hình thái ý thức xã hội, nhận thức hiện thực
đời sống thông qua lăng kính chủ quan của ngời nghệ sĩ Lẽ dĩ nhiên, từ xa
đến nay và bao giờ cũng vậy, không một nhà văn nào từng tồn tại trong lịch sử
mà lại không phải là con ngời sống giữa những diễn biến phức tạp, những vận
động đổi thay của thời đại mình và khi hoàn cảnh lịch sử thay đổi, khi mụctiêu lớn nhất của cách mạng đã chuyển đổi từ đấu tranh giải phóng dân tộcchuyển sang xây dựng và phát triển đất nớc thì văn học cũng không thể đứngngoài những đổi thay ấy Mặt khác, cũng cần phải khẳng định thêm một điềukhông còn mới mẻ này: sức sáng tạo vừa là sản phẩm không lặp lại vừa là quyluật phát triển của nghệ thuật, là lẽ trờng tồn của văn học nghệ thuật Nhữngnhà văn chân chính, có trách nhiệm với ngòi bút của mình, tâm huyết với sựphát triển của nền văn học, biết rung động, biết cảm thông trớc cuộc đời thìcàng khao khát tìm tòi đổi mới Suy cho cùng, để có đợc sức sống dồi dào vàmạnh mẽ của văn học ngày hôm nay chính là nhờ vào quá trình thể hiện quyluật đổi mới tất yếu của cuộc sống và quy luật tự đổi mới xuất phát từ bản chất
và đặc trng của sáng tạo nghệ thuật Trong guồng quay chung đó của nền vănhọc nghệ thuật, tiểu thuyết đóng vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng
Hiện thực đời sống với nhiều biến động phức tạp của thời kỳ hậu chiếnthực sự là mảnh đất mầu mỡ cho sáng tạo tiểu thuyết khai phá Mở rộng cácbiên độ của hiện thực và đi sâu vào các khuynh hớng phát triển của hiện thực,
đã đem lại cho tiểu thuyết sau 1975 và đặc biệt thời kỳ tiền đổi mới nhiều uthế Tiểu thuyết trở nên hấp dẫn hơn với bạn đọc Sự xuất hiện hàng loạt tiểuthuyết của các nhà văn nh: Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng đã
đem đến một luồng sinh khí mới cho văn học nớc nhà những năm đầu củathập kỷ 80 Điểm nổi bật ở tiểu thuyết thời kỳ này là các nhà văn bớc đầu đãtìm ra những dấu hiệu đổi mới tạo tiền đề cho quá trình đổi mới t duy trongsáng tạo nghệ thuật trong thập niên 90
Khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 1986, trong t duy sáng tạo củatiểu thuyết đã diễn ra nhiều ngã đờng thể nghiệm, những dấu hiệu cách tân
Trang 16tích cực chuẩn bị cho công cuộc đổi mới nền văn học dân tộc phát triển rầm rộ
từ nửa cuối những năm 80 cho đến nữa đầu những năm 90
1.1 Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình
Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, cả nớc tiến lên xây dựngchủ nghĩa xã hội với những khó khăn chồng chất Mặc dù cuộc chiến đã lùi
xa, tiếng súng đã chấm dứt nhng hậu quả nặng nề của ngót nửa thế kỷ chiếntranh làm cho đời sống thời kỳ hậu chiến vốn đã khó khăn lại càng thêm khókhăn hơn
Cuộc sống sau chiến tranh đang vận hành một cách khó nhọc, đầy rẫynhững biến cố phức tạp Những tổn thất, mất mát đau thơng đang dần dần tỏasức nặng Đó là thời kỳ chúng ta đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng, sâusắc về kinh tế - xã hội Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp tỏ ra bất lực và bộc
lộ ngày càng nhiều khiếm khuyết Cùng với sự đổi thay của cơ cấu xã hội,của nền kinh tế là sự biến đổi trong tâm lý và nhận thức của mỗi một con ng-
ời Nếu trớc kia tất cả đồng lòng đồng sức cho kháng chiến thì thời kỳ hậuchiến con ngời lại sống với cái cá nhân, cái tôi cá thể của mình Thời kỳkháng chiến quy tụ mọi ngời lại, nhiệm vụ và quyền lợi gắn liền với giai cấp
và cộng đồng thì khi chiến tranh kết thúc, con ngời đoạn tuyệt với máu lửacủa cuộc chiến bớc vào những lo toan, những băn khoăn trăn trở, những khókhăn thách thức của cuộc sống đời thờng Mặt trận của thời bình không quenthuộc, nó đến với mỗi gia đình, làng xã, với mỗi một con ngời hoàn toànkhác nhau không loại trừ ai Nhà văn Nguyễn Khải đã đa ra nhận xét: “Chiếntranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó Hòa bình yêntĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bêntrong Nhiều ngời không chết trong tù, trên trận địa, trong chiến tranh mà lạichết trong “ao tù trởng giả” khi cả nớc đã giành đợc tự do và độc lập”.[16,72-73]
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là vấn đề của hiện tại và tơnglai, nhiệm vụ của mỗi một ngời dân trên đất nớc Việt Nam rất nặng nề, đây là
sự nghiệp vô cùng vinh quang nhng cũng còn không ít khó khăn thử thách,chính điều này đòi hỏi mỗi ngời cầm bút ngoài cái tâm trong sáng, cái đức lớnlao thì yêu cầu không thể thiếu đợc đó là khả năng nhìn nhận, phân tích đánhgiá hiện thực sao cho bản chất của hiện thực đợc phản ánh một cách đầy đủ,chân thật, sinh động trong tác phẩm của mình, để qua tác phẩm nghệ thuật
Trang 17bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình và hậu thế mai sau có thể hình dung lại
đợc thời cuộc mà tác phẩm phản ánh, một thời cuộc có cả nớc mắt nụ cời, cócả cái cao cả thấp hèn, ngời tốt kẻ xấu, mặt phải cũng nh mặt trái của cuộc
đời Để có đợc những tác phẩm mang trong mình hơi thở của thời đại thì đòihỏi ngời cầm bút phải có một cách nhìn, một cách nghĩ mới, có trách nhiệm
và niềm tin Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã đa ra ý kiến về vấn đề này: “ Trongchiến tranh, chúng ta nh đi giữa cơn bão lửa thổi trên mặt đất Trong cáchmạng xã hội chủ nghĩa hiện nay, không thấy có bão lửa, vậy mà hình nh mỗingời thấy đất động dới chân mình” [42,33]
Đứng trớc thực tiễn của đất nớc, nhu cầu đi tìm, cắt nghĩa lý giải cănnguyên tình trạng trì trệ, lạc hậu của làm ăn kinh tế, những xuống cấp trong
đạo đức xã hội trở nên phổ biến và thế hệ các nhà văn cũng không đứng ngoàiquy luật này Văn xuôi những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 cũng trảiqua những trăn trở cho một cuộc chuyển mình Gắn chặt với hiện thực trong b-
ớc chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình, với đầy những phức tạp và nhữngbiến đổi bất ngờ, văn xuôi đầu những năm 80 đã luôn luôn vận động biến đổi
để theo sát những vấn đề nóng bỏng của đời sống Cố nhiên, sự vận động ấycòn có nhu cầu tự thân, đó là sự phát triển của một trình độ t duy nghệ thuậtmới với những đòi hỏi bức thiết, có nh vậy mới có thể tạo nên một bộ mặt vănhọc mới Sự vận động của văn học thể hiện rõ nhất ở khuynh hớng sáng tác, ởquan niệm nghệ thuật về hiện thực và con ngời, đồng thời ở thi pháp thể loại,hay nói cách khác tức là ở cách tiếp cận thực tại và miêu tả thực tại
Nói đến bối cảnh chung của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ từ năm 1975
đến 1986 không thể không đề cập đến khuynh hớng văn xuôi trớc đó trong sự
đối so sánh để làm nổi bật những dấu hiệu đổi mới trong các khuynh hớngsáng tác
Thực tế cho thấy, chiến tranh chống Mỹ là một thử thách quan trọngbậc nhất giữa dân tộc ta với một kẻ thù sừng sỏ, tàn bạo và hung ác, giữa mộtdân tộc nhỏ bé, gan góc và dũng cảm mu lợc với một cờng quốc hùng mạnh
về kinh tế và quân sự Cuộc chiến tranh kéo dài gần một nửa thế kỷ khiến chodân tộc ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn gian khổ, đời sống của chiếntranh - đời sống của sự phân đôi: tiền tuyến và hậu phơng, của sự đợc thua, sựlựa chon chỉ một trong hai phía, một trong hai con đờng Sứ mệnh của mỗinhà văn là hớng ngòi bút của mình vào sự nghiệp chung của đất nớc
Trang 18Do xuất phát từ thực tế của lịch sử đem lại, tiểu thuyết đợc viết trongnhững năm kháng chiến chống Mỹ mang đậm chất sử thi Lã Nguyên đã đa ranhận định “là con đẻ của cách mạng và những cuộc chiến tranh lớn, văn họcViệt Nam trớc 1975 không thể không mang đặc điểm của văn học thời chiến.Chiến tranh và cách mạng bao giờ cũng có nhu cầu đặt lên trên hết vấn đềchúng ta và chúng nó, vấn đề cộng đồng dân tộc và lịch sử” [30].
Tuy nhiên càng về những năm cuối thập kỷ 70 đầu những năm 80khuynh hớng sử thi ngày càng có xu hớng thu hẹp lại nhờng chỗ cho khuynhhớng thế sự Lúc này tiểu thuyết thực sự chú tâm vào những vấn đề thế sự,những vấn đề của đời sống hàng ngày Điều chúng ta dễ nhận thấy là nếu tr ớc
đây ở thời kỳ chiến tranh, mọi sự vật đều đợc đẩy lùi về hai bờ chiến tuyến: tốt
- xấu, thiện - ác, đúng - sai, những chuẩn mực để nhận định đánh giá sự việc
là những chuẩn mực có tính phổ quát, toàn dân thì giờ đây khi chiến tranh đã
đi qua, con ngời ta không thể đem những chuẩn mực, nguyên lý của thời chiến
mà áp dụng cho thời bình Chiến tranh càng lùi xa bao nhiêu thì hiện thực đờisống lại đẩy con ngời gần với những lo toan cơm áo thờng ngày bấy nhiêu Sựtrở về với con ngời của đời sống hàng ngày, với những số phận cá nhân riêngbiệt đã thu hẹp dần mảnh đất của khuynh hớng sử thi trong lòng tiểu thuyết vàkhuynh hớng thế sự dần dần trở thành khuynh hớng chủ đạo ở giai đoạn này
Sau khi chiến tranh chấm dứt khoảng chừng một năm, năm 1976 truyện
vừa Hai ngời trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi đã ra đời Cuốn tiểu thuyết
này đề cao các vấn đề về đạo đức xã hội và lên án những con ngời vị kỷ, vơílối sống cơ hội, cầu thân Tác phẩm nh tiếng chuông cảnh báo cho lối sống vôtâm, thờ ơ trớc mất mát đau thơng của đồng loại Hay từ năm 1979 -1984
cuốn tiểu thuyết Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh ra đời khiến cho văn đàn
xôn xao bởi cách nhìn của nhà văn hớng thẳng vào sự thật trần trụi của chiếntranh để tìm ra những ngõ ngách đen tối của nó với tất cả sự bồn bề phức tạp,
kể cả một cán bộ quan chức cao cấp trong quân đội đầu hàng, chiêu hồi
Những bông bần ly (1981) của Dơng Thu Hơng đặt ra vấn đề về số phận, về
vần đề trong xã hội tiêu dùng khi mà mọi giá trị đạo đức xã hội đều trở thành
hàng hoá Năm 1982, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam thì các vấn
đề về đạo đức thế sự đợc phân tích, rọi chiếu từ “tế bào xã hội” và đó là gia
đình Tác phẩm chính là sự phán xét của lơng tâm trớc hai chiều thời gian quákhứ và hiện trại Nhìn chung các tiểu thuyết thời kỳ này đã manh nha nhữngvấn đề đổi mới t duy tiểu thuyết mặc dù vẫn còn vơng vấn theo đà quay” quán
Trang 19tính” nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, cảm
hứng sử thi vẫn còn có vị trí nhất định trong t duy nghệ thuật của nhà văn: Họ
đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ), Đồng bạc trắng hoa xoè (Ma Văn Kháng).
Đến giữa thập kỷ 80, khuynh hớng đạo đức thế sự đợc phát triển theo ớng tập trung đánh giá, kiến giải lại một số vấn đề quá khứ của hiện thực xãhội Các nhà văn hớng tới khai thác những giai đoạn lịch sử đã qua, đặc biệt lànhững giai đoạn có vấn đề cần nhận thức lại ở đó, con ngời vừa là thủ phạm,vừa là nạn nhân của những bi kịch lớn nhỏ Tiểu thuyết đợc ví là những tiếng
h-kèn xung trận cho quá trình nhận thức lại hiện thực chính là tác phẩm Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu Tiểu thuyết này ra đời đã có rất nhiều ý kiến nhận
định, thậm chí có những ý kiến trái ngợc nhau Nguyễn Hải Hà và Nguyễn ThịBình cho rằng đó là một “ngòi bút bạc nhợc của một tâm hồn bạc nhợc”, còn
nhà văn Mai Ngữ thì lại có nhận định: “Cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng cũng là
một thứ tâm lý chối bỏ quá khứ, một quá khứ nặng nề và cay nghiệt” [34] Lẽ
dĩ nhiên, thời gian chính là vị quan toà công minh nhất, khi có sự thẩm địnhcông bằng của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình thì chân lý đãsớm đợc làm sáng tỏ Các ý kiến đánh giá về tác phẩm đã tìm đợc tiếng nói
chung, khẳng định thái độ của tác giả Thời xa vắng đối với quá khứ là trung thực và chân thành Bên cạnh Thời xa vắng của Lê Lựu, nhà văn Ma Văn Kháng cũng cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vờn (1984)
bằng tất cả tâm trí và bút lực của mình Tác giả muốn phác thảo cho bạn đọc vềxã hội Việt Nam thời kỳ hậu chiến, với bao cạm bẫy bất trắc, với bao cảnh đờithơng tâm, những tâm hồn đang bị cuộc sống bon chen xô bồ bào mòn Nhữnggiá trị về đạo đức, luân thờng, đạo lý dần dần bị lãng quên theo thời gian, ở đónhiều khi con ngời không còn kịp nhận ra chính mình
Thâm nhập vào đời sống tiểu thuyết những năm 1975 đến 1986 chúng taxác định tính chất dự báo, tiền trạm của nó trong sự chyển đổi từ thời chiếnsang thời bình với một vài xu hớng nổi bật mà các nhà văn nh Nguyễn MinhChâu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn đem lại
1.2 Sự chuyển đổi trong văn học và những nhà văn tiền trạm trong công cuộc đổi mới văn học.
1.2.1 Sự chuyển đổi trong văn học
Trang 20Có một thực tế mà những thế hệ cha anh chúng ta đã từng đi qua chiếntranh, đã từng nếm trải những mất mát đau thơng nhng lại hết sức tự hào, phảithừa nhận rằng: cuộc sống trong hoà bình phức tạp hơn chiến tranh rất nhiều.Chiến tranh ác liệt, nhng đơn giản, con ngời mình chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc
là sống, hoặc là chết, hoặc là vinh, hoặc là nhục con ngời thuần nhất trong sựlựa chọn của mình Chính vì vậy con ngời trong thời chiến là con ngời giản
đơn trong những nguyên tắc, chuẩn mực chung của dân tộc và cộng đồng Nhàvăn Nguyên Ngọc đã cho rằng: “Trong chiến tranh mọi quan hệ xã hội và conngời dồn lại và thu hẹp vào một quan hệ thống nhất: sống - chết Ngời ta phảisống phi thờng, phi thờng có thể là cao cả, nhng phi thờng cũng đồng thời làtriệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thờng mà vô cùng phong phú và phức tạpcủa con ngời, đẩy tất cả những quan hệ ấy về phía sau”, trong chiến tranh xác
định xong các vấn đề sống - chết, thì có thể sống rất thanh thản
Trong chiến tranh lạ vậy, xã hội cũng “trong sạch” hơn “an toàn” hơn
“về mặt đạo đức” [24] Khói lửa của chiến tranh thiêu đốt cả những nhỏ nhen,nhiêu khê của cuộc sống hằng ngày Hoà bình trở lại, cuộc sống hoàn toàn đổikhác, những bon chen, lo toan, vất vả của đời thờng bỗng thức dậy sau mộtgiấc ngủ dài, bủa vây từng con ngời, với trăm ngàn nỗi lo, trăm ngàn toan tính.Con ngòi thời bình không phải lo bom đạn, không phải lo đối diện với cái chếtluôn kề cạnh có nhiều thời gian để nghĩ đến mình và chỉ nghĩ cho mình Cácnhà văn không phải mất quá nhiều thời gian để nhận ra sự lệch pha giữa đờisống và văn học nghệ thuật, bởi chính họ là hiện thân, là nạn nhân của cáiguồng quay vô hình đó, bị cật vấn hằng ngày bởi bao nhiêu câu hỏi mới củacuộc sống hoà bình Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nhng nếu không thay đổiquan niệm, cách nhìn nhận đánh giá về hiện thực cuộc sống một cách chân thật
và thành thực thì văn học chỉ là thứ văn chơng sách vở giáo điều, xa rời cuộcsống Yêu cầu bức thiết đợc đặt ra cho các nhà văn: cần phải đổi mới t duy lýluận và phơng pháp sáng tác Thực chất, suy cho cùng thì công cuộc đổi mớivăn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng chính là sự thể hiện quy luật đổi mớitất yếu của đời sống và quy luật tự đổi mới xuất phát từ bản chất và đặc trng củasáng tạo nghệ thuật Đây là một vấn đề phức tạp, bởi nó nằm trong quan niệm,nhận thức của giới sáng tác và giới nghiên cứu phê bình
Nếu trớc 1975, tiểu thuyết nói riêng cũng nh văn học nói chung chủ yếutập trung vào nhiệm vụ to lớn của cả dân tộ: giải phóng dân tộc, giải phóng
Trang 21giai cấp cho nên nó mang đậm khuynh hớng sử thi Vẫn là những dạng đề tàiquen thuộc viết về chiến tranh, ngợi ca những con ngời anh hùng xả thân cho
lý tởng mà mình đã chọn Nhân vật trong tiểu thuyết thờng bị dồn về hai phía:một là cực tốt, hai là cực xấu Họ không có sự phức hợp các trạng thái cảmxúc, t tởng, đạo đức, ranh giới giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, giữa chínhnghĩa và phi nghĩa rất rõ ràng Ranh giới đó là tâm lý, là quan niệm chung củatoàn thể cộng đồng dân tộc trớc những tính cách, những số phận, những sựkiện lịch sử quy định, thì sau 1975, tất cả những nguyên lý chuẩn mực chungcủa cuộc sống thời chiến đều thay đổi Văn học gần hơn với cuộc sống củacon ngời, văn học viết về con ngời và viết về những điều mà bấy lâu nay nềnvăn học thời chiến tạm quên đi Tiểu thuyết là một trong những thể loại thểhiện thành công nhất sự giao cảm giữa văn và đời Trả lại cho văn học cái tôibản ngã, cái tôi với những buồn vui, thăng trầm của cuộc sống, với nhữnghạnh phúc, lo âu rất đỗi đời thờng
1.2.2 Những nhà văn tiền trạm trong công cuộc đổi mới văn học
Hoà bình lập lại, hiện thực cuộc sống thời bình không cho phép các nhàvăn sáng tác theo lối cũ, yêu cầu mới đợc đặt ra: nhà văn phải sáng tác nhữngtác phẩm chứa đựng đợc hơi thở của thời đại, phản ánh chân thực những gìvốn có trong đời sống, của con ngời Để tác phẩm của mình không xa rời bạn
đọc, các nhà văn đã chủ động trăn trở tìm tòi một hớng đi mới bởi chính họcũng ý thức đợc điều này Trong các nhà văn thuộc thế hệ tiên phong trongcông cuộc đổi mới phải kể đến những cây bút nh: Nguyễn Khải, Nguyễn MinhChâu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn ; nhà nghiên cứu LãNguyên đã khẳng định: “Trớc khi làn sóng đổi mới dâng lên mạnh mẽ trong
đời sống tinh thần của dân tộc, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn của đấtnớc, sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn ManhTuấn đã đốt lên nhiệt tình kiếm tìm chân lý, hứa hẹn khả năng tự đổi mớicủa nền văn học, khi nó dám sòng phẳng với quá khứ, bất chấp mọi thế lựcngăn cản” (Lã Nguyên, Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tduy nghệ thuật) Đề cập đến những tác giả này chúng tôi không tách rời họ vớibối cảnh chung, giới hạn trong khoảng thời gian từ sau năm 1975 đến 1986chúng tôi muốn xem sáng tác của họ là sự phản ánh theo nhu cầu và thành tựucủa thời kỳ tiền đổi mới, đồng thời cũng góp phần nhìn nhận đánh giá khách
Trang 22quan về hai tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu và Mùa lá rụng trong vờn
của Ma Văn Kháng trong tiến trình đổi mới văn học Từ sau 1986, con đờngnghệ thuật của mỗi ngời sẽ có hớng phát tiển riêng biệt và đóng góp của họcho nên dòng văn học cuối thế kỷ XX trong mỗi ngời mang một sắc thái, diệnmạo riêng
1.2.2.1 Nguyễn Minh Châu
Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, giới văn nghệ sỹ và bạn đọcthực sự ngỡ ngàng trớc một lối viết mới: thẳng thắn, mạnh dạn của nhà văn
Nguyễn Minh Châu Hai tập truyện ngắn Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985) nh tiếng kèn xung trận, đánh thức các tiềm
năng của nhà văn mà bấy lâu nay bị ngủ quên Ngay khi hai tập tuyện ngắnnày ra đời công chúng lập tức nhận ra đợc bớc chuyển quyết định trong lộtrình nghệ thuật của ông Bớc đột phá này khiến cho nhiều ngời ngạc nhiên tr-
ớc Nguyễn Minh Châu - một con ngời mang trong mình hai dòng cảm xúc quahai thời kỳ Nếu đến với văn học thời chiến thì dờng nh mọi ngời chỉ biết đến
ông qua những trang văn xuôi trữ trình đầy chất thơ, đậm sắc màu lãng mạn,ngợi ca vẻ đẹp hào hùng của cuộc sống và con ngời thời chiến Thế nhng thờibình, với nếp sống và nếp nghĩ thay đổi đã làm cho ngòi bút của Nguyễn MinhChâu tìm một lối đi mới - một Nguyễn Minh Châu của những nỗi trăn trở daydứt khôn nguôi về số phận cá nhân mỗi con ngời và sự tồn tại phát triển của
đất nớc sau chiến tranh Với ông, viết về chiến tranh không có nghĩa là thi vịhoá, với những sự kiện và con ngòi vĩ đại, mô phỏng theo một công thức nhất
định, chính con ngời phải là “Mảnh đất khám phá những quy luật vĩnh hằngcủa các giá trị nhân bản” [30,287] là hạt nhân của t duy nghệ thuật, là hìnhthức bên trong của mọi sự chiến lĩnh đời sống, sự phân tích, cắt nghĩa và lýgiải về thế giới và con ngời Điểm nhìn nghệ thuật mới này về con ngời đã mở
ra cho ngòi bút Nguyễn Minh Châu nhiều hớng tiếp cận khác nhau về hiệnthực, chống lại lối viết chạy theo đề tài
Đi sâu vào khám phá chiều sâu tính cách, khái quát tổng kết bản chấttrong tính cách của mỗi con ngời chính là một hớng tìm tòi đổi mới t duy nghệ
thuật của Nguyễn Minh Châu Nhân vật Quang trong Cơn giông chính là sự
thể hiện thành công theo hớng đó Qua nhân vật Quang, nhà văn muốn phơibày bản chất ích kỷ, cơ hội của một kẻ phản bội Nguyên nhân của sự phảnbội nó đợc bắt nguồn từ bản chất tráo trở, lật lọng, cơ hội, đem lại và đồng
Trang 23thời thể hiện quan niệm sống “Tuỳ thời” của hắn khiến cho những ngời dân
l-ơng thiện phải khổ sở, điêu đứng
Nét độc đáo ngòi bút của Nguyễn Minh Châu trong hai tập Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê còn là khả năng tiếp cận cuộc sống của
con ngừơi trong “muôn mặt đời thờng” Tôn Phơng Lan trong khi tìm hiểu t ởng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua quan niệm nghệ thuật của con ng-
t-ời, đã đa ra những suy nghĩ mới mẻ khi tác giả cho rằng:“Điều đáng nói là ởchỗ Nguyễn Minh châu là cây bút sớm có ý thức đặt con ngời trong “mối tổnghoà các quan hệ xã hội” mà trong đó đời thờng là một tiêu điểm đáng chú ý”[21,27-28] Xuất phát từ khả năng và ý thức ấy đã cho phép Nguyễn MinhChâu “nhìn đâu cũng ra truyện ngắn” [26] ở những truyện ngắn trong hai tập
đó ta có dịp nhìn rõ cuộc sống dới dạng bình thờng mà lấp lánh những khoảngsáng, vào những mặt mà bấy lâu nay bị bỏ quên, mờ nhạt đi bên sự chói ngờicủa những sự kiện, những tình huống lớn Từ đó lắng đọng, bồi đắp và làmthanh sạch tâm hồn con ngời, giúp con ngòi sống với nhau “Ngời” hơn theonghĩa viết hoa ở những câu chuyện rất bình thờng, tỏng không có gì đặc biệt,
nh trong Một lần đối chứng Mẹ con chị Hằng, Hơng và Pha, Sống mãi với cây xanh, Đứa ăn cắp, Một ngòi đàn bà tốt bụng Cuộc sống luôn luôn vận
động trong trạng thái tự nhiên với đầy những ngẫu nhiên, vô thức, với tất cảhay dở, những điều tốt xấu trong bản tính vốn có của mình Cách tiếp cận hiệnthực và con ngòi với những điểm mới này của Nguyễn Minh Châu đã cho tanhận ra diện mạo đích thực và hiện thực của con ngời trong dạng tồn tại vốn
có của nó
Đến với đời sống ở bình diện sinh hoạt thế sự, Nguyễn Minh Châu đã ớng sự chú ý tới cá nhân con ngời Con ngời cá nhân với ý nghĩa là một nhâncách độc lập, một thế giới riêng biệt đầy bí ẩn Mỗi cá nhân tự xác định mìnhbằng mối quan hệ với cộng đồng, với xã hội bằng một cuộc hành trình t tởng
h-từ bên trong, bằng cách tự đối diện với lơng tâm mình, bằng toàn bộ sự chiphối sức mạnh ý chí cũng nh tiềm thức qua những truyện ngắn trong hai tập
Ngời đàn bà trên chuyến tầu tốc hành và Bến quê Bênh cạnh đó hình ảnh
ng-ời nông dân và bức tranh nông thôn cũng đợc Nguyễn Minh Châu phát hiện ranhiều nét đặc sắc đó, là cái nhìn độc đáo, mới mẻ, nó khác hẳn cái nhìn vềnông thôn và ngời nông dân trong các sáng tác trớc năm 1975, nhng đồng thờicũng không giống một số cây bút văn xuôi cùng thời trong quan điểm tham
Trang 24gia vào quá trình dân chủ hóa xã hội ở t cách nhà văn Với biên độ quan sátrộng, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu đã “quét” đợc hầu khắp những vấn đềnhạy cảm của cuộc sống ngời nông dân, khiến cho bức chân dung của họtrong văn xuôi đầu năm 80 đã mang một vóc dáng khác trớc rất nhiều, gópphần làm phong phú thêm cho hình tợng nhân vật trong nền văn học ViệtNam Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã nhận xét: “Trong văn học hiếm cónhững biểu tợng về ngời nông dân cao cả, hào hùng mang ý nghĩa lịch sử nhânloại lớn lao đến nh vậy” [11,118].
Cuộc sống vốn“đa sự”, con ngời vốn“đa đoan” - đó là cách nói củaNguyễn Minh Châu và điều tâm niệm này đã đi vào sáng tác của ông Cuộcsống vốn thuận theo chiều đồng đại của thời gian, ấy thế nhng con ngời lạiluôn sống trong sự phức hợp của hai chiều thời gian đồng đại và lịch đại vớinhững buồn vui, khổ đau bất hạnh: “Tơng lai không phải là độc quyền củahạnh phúc Tơng lai là mái nhà chung của cả niềm vui và bất hạnh, là hy vọngcủa cả cái thiện và cái ác” [43,28]
Với Nguyễn Minh Châu, văn học không chỉ tồn tại những vấn đề tốt xấu, đúng - sai, hay - dở, thiện - ác; văn học còn phải làm cho con ngời đadạng, phong phú, từng trải và hiểu biết hơn để con ngời có thể sống đợc tronghiện thực cuộc sống vốn đầy rẫy những phức tạp này Văn học có tính chất “h-ớng nội”, con ngời tự phơi mình ra trớc con mắt cật vấn của chính mình, baogồm quá trình phát triển tâm lý phức tạp, chiều sâu và sự phong phú của cácquá trình ý thức và vô thức - đây chính là đặc điểm tinh thần của con ngời hiện
-đại
Nguyễn Minh Châu quan niệm “Chiến đấu cho quyền sống của từng
con ngời, làm sao cho con ngời ngày một tốt đẹp” Chính vì vậy, với Ngời đàn
bà trên chuyến tầu tốc hành và Bến quê Nguyễn Minh Châu đã dũng cảm vợt
lên chính mình và vợt lên trớc thời đại một cách lặng lẽ trong sự thể nghiệmthành công một cách nhìn mới về con ngời và cuộc đời Truyện ngắn của ông
đã sớm đạt tới sự xác lập một quan niệm về hiện thực và con ngời mà nền tảngcủa nó là những nghiền ngẫm, suy t có chiều sâu triết học Nguyễn Minh Châu
đã trở thành một trong số những nhà văn mở đờng rất đáng kính của văn họcViệt Nam thời đại mới, của công cuộc đổi mới văn học
1.2.2.2 Ma Văn Kháng
Trang 25Trớc những năm 80 của thế kỷ XX hẳn ngời đọc đã quen với một MaVăn Kháng thấm đợm cái nhìn “sử thi” trong sáng tác ấy thế nhng bớc sangnhững năm đầu của thập kỷ 80 ông đã liên tục cho ra đời những tác phẩmmang đậm màu sắc sinh hoạt thế sự đời t, đời thờng, đánh dấu những đổi mớitrong t duy nghệ thuật về cuộc sống và con ngời.
Thả tâm hồn mình trớc buồn vui, âu lo của cuộc sống, đón đợi nguồncảm xúc sáng tạo nghệ thuật trớc những hạnh phúc, khổ đau, những thắngthua đợc mất của đời ngời, ngòi bút Ma Văn Kháng rất nhạy cảm với các giátrị tinh thần đã nâng đỡ con ngời vợt lên những lam lũ khốn khó của cuộc đời.Tìm cho mình điểm tựa là giá trị nhân văn chân chính cổ truyền, Ma Văn
Kháng không ngừng sáng tạo, không ngừng tự đổi mới ngòi bút Khi Ma mùa hạ xuất hiện, làng văn đã ngỡ ngàng, sửng sốt, tởng đây là một Ma Văn
Kháng mới Nhiều d luận khen, chê trái ngợc nhau xung quanh tác phẩm,song Ma Văn Kháng vẫn vững tin ở mình bởi đó là nỗi niềm lo âu mà cũng làlời kêu cứu từ tác phẩm Tại sao những ngời tốt nh bố con Trọng thì lại có mộtcuộc sống khổ cực, bất hạnh, còn những kẻ độc ác, đầy dã tâm nh Hng, Hảo,Thởng, mụ Nhuần lại sống phè phỡn, sung túc? Đó là những tiêu cực, bất công
đã xuất hiện ngày một nhiều trong xã hội, nó sẽ trở thành những mối hiểm họakhôn lờng nếu trong mỗi ngời chúng ta không tự ý thức đợc
Nếu nông thôn thờng đại diện cho những nếp sống, nếp nghĩ ngời ViệtNam thời xa thì thành thị lại thờng đại diện cho một lối sống, cách nghĩ củacon ngời thời hiện đại ở thành thị, với sự phong phú, ngổn ngang, bề bộn,trắng đen, phải trái lẫn lộn, đan xen biết bao là biến động, khiến con ngời bịchi phối bởi lối sống gấp gáp, xô bồ, chỉ biết chạy theo đồng tiền mà quên đimọi đạo lý trên đời “Thành phố vẻ nh là nơi đây sinh đẻ ra sự vô danh, thái độbàng quan cá nhân và các thói lệ tầm thờng” [18,34-35] Đắm mình trong môi
trờng ấy, con ngời không thể thuần nhất trong tính cách của mình Từ Ma mùa hạ, Mùa lá rụng trong vờn, Ngày đẹp trời, Đám cới không có giấy giá thú là
hàng lọat kiểu loại nhân vật, phong phú, đa dạng, phức tạp hơn trong các trạng
thái phức thể của tâm hồn Cũng từ Ma mùa hạ cho đến hàng loạt các sáng tác
ở cuối thập kỷ 80, nhân vật trí thức nh sợi chỉ đỏ xuyên suốt các sáng tác của
Ma Văn Khánh
Trong tác phẩm Ma mùa hạ, Ma Văn Kháng đã dành nhiều tâm sức,
tình cảm để xây dựng nhân vật Trọng Trọng hiện thân cho mơ ớc, hoài bão
Trang 26mà tác giả muốn gửi gắm về một mẫu ngời trí thức tài năng, trong sáng, phúchậu đối lập hoàn toàn với thói dung tục xấu xa Trọng là một trí thức trẻ, cótài, năng nổ say sa cống hiến toàn bộ công sức mình cho công việc Anh cùng
đồng đội chiến đấu với thủy thần để bảo vệ con đê, bảo vệ thành quả lao động
mà văn minh dân tộc đã có công xây dựng Trọng cùng đồng đội vợt lênnhững cám dỗ về vật chất để giữ gìn và vơn tới những giá trị tinh thần cao quýcủa con ngời Lấy thân mình làm vật cản lại dòng nớc xiết, Trọng đã hy sinhthật anh dũng Nhng sau cái chết của Trọng, ông giáo Cầu, cha anh bỗng trởnên tỉnh táo hơn, từ bỏ lối sống tiêu cực, kiểu “mũ ni che tai” để trở lại vớicuộc đời Nếu Trọng còn phảng phát cái yếu đuối trong tâm hồn, thì trởngphòng Nam là sự bổ sung hoàn thiện với một tính cách mạnh mẽ, đầy sứcsống, một tầm t tởng cao hơn, Nam đã nhận rõ đợc thực trạng cuộc sống Tiếpnối cho mẫu ngời trí thức đích thực Ma Văn Kháng tiếp tục phát triển trong
Mùa lá rụng trong vờn với những nhân vật: ông Bằng, Luận và đợc phát triển
ở nhân vật thầy giáo Đặng Trần T, thầy giáo Thuật trong tác phẩm Đám cới không có giấy giá thú Đó là những trí thức chân chính, tài năng, suốt đời theo
đuổi lý tởng nhng lại bị ném chìm vào một xã hội thực dụng, băng hoại về đạo
đức và nhân cách, sa sút về niềm tin và lẽ sống, kết cục cuộc đời là một tấm bịkịch
Ngòi bút Ma Văn Kháng đã có những thể nghiệm thành công trong việcnghiên cứu, phát hiện con ngời phức tạp, con ngời lỡng diện, con ngời khôngnhất quán với mình và dờng nh ngòi bút trong ông đã có dấu hiệu hớng vàoquỹ đạo t duy của giới khoa học nhân văn Khả năng khám phá con ngời ởnhiều chiều, nhiều bình diện, xuất phát từ cái nhìn nhân đạo về con ngời,mong kiếm tìm những điều kiện tốt đẹp cho sự phát triển nhân cách con ngời.Con ngời vốn phức tạp nên không thể dùng một tiêu chí đánh giá cố định mà
đo đếm nó, phải có một cái nhìn linh hoạt hơn, uyển chuyển hơn về con ngời
Ma Văn Kháng đã cố gắng cắt nghĩa điều đó qua lời của nhân vật Luận: “Chị
Lý không khác chúng ta đâu Trong chúng ta cũng vậy: có cái xấu, có cái tốt.Cái xấu nói chung mọi ngời đều biết nó là xấu Vậy mà cuối cùng vẫn khôngtránh đợc” [18] Khi nghệ thuật muốn trở thành một thứ “khoa học về lòng ng-ời” (Nguyễn Khải), khi nó khao khát “phát giác sự vật ở bề cha thấy ở cái bềsâu, ở cái bề xa” (Chế Lan Viên) thì nó phải tìm đến một quan niệm đầy đủ,biện chứng hơn về con ngời Ma Văn Kháng muốn lu ý chúng ta mối quan hệ
với tự nhiên Trong Ngày đẹp trời, ông Thiềng - một quan trắc viên khí tợng
Trang 27với “vẻ khắc kỷ”, “dáng lủi thủi né tránh” với “gơng mặt xấu xí” hoàn toànmất cân đối nhng ngời ta bảo ông nh đạo sĩ giao cảm đợc với thiên địa, “ôngvới bầu trời, thời tiết là một” [18] Con ngời sống hòa bình với thiên nhiên, núirừng, tìm thấy trong thế giới tĩnh tại của đất trời cảm giác đợc che chở, an ủi,
vỗ về, để con ngời sống thuần khiết hơn với ngay chính bản thân mình
Với một chuỗi những tác phẩm Ma mùa hạ, Mùa lá rụng trong vờn,
Đám cới không có giấy giá thú, Ngày đẹp trời vào buổi đầu những năm 80 của
Ma Văn Kháng dờng nh chúng ta nhận thấy đã xuất hiện một cách nhìn mớitrong quan niệm về hiện thực và con ngời Hiện thực vốn dĩ là phức tạp, khôngbiết trớc và không thể biết hết, con ngời vốn là một thế giới đầy bí ẩn, cần
phải khám phá tìm tòi Nhà báo Luận trong Mùa lá rụng trong vờn đã đa ra
nhận xét: “Đời phức tạp là do nó vốn thế chứ ai bịa ra đợc” [18] Anh nhà giáo
Cừ cũng phải thốt lên một cách chua chát: “Cuộc sống là sự phát hiện liêntục” Còn Đông - trung tá về hu, quen nhìn đời bằng ánh mắt đơn giản, rốtcuộc đã cay đắng nhận ra rằng: “Cuộc sống phức tạp lắm chứ không đơn giản
đâu” [18] Cách nhìn cuộc sống và con ngời trong sáng tác văn xuôi của MaVăn Kháng nửa đầu những năm 80 đã đạt tới sự sâu sắc, chín muồi, đầy sựchiêm nghiệm và đúc kết của một nhà văn từng trải, luôn băn khoăn cho số
phận con ngời Tập truyện ngắn Ngày đẹp trời là tiếng kêu cứu khẩn thiết của
nhà văn trớc sự nguội lạnh của tâm hồn con ngời đối với đồng loại
Tiếp cận hiện thực, nghiên cứu khám phá hiện thực đời thờng và conngời ở nhiều tầng bậc, nhiều góc độ khác nhau, ngòi bút của Ma Văn Khángphát hiện ra vẻ đẹp của những giá trị đạo đức truyền thống nằm ở cội nguồnthiêng liêng, của những giá trị văn học, nền tảng của mọi nền văn hóa
Ma Văn Kháng tìm đợc những thành công mang tính chất đột phá ở thểloại truyện ngắn trong những năm 80 và 90 của thế kỷ XX Những đổi mớitrong t duy nghệ thuật đã đợc ghi nhận khi ông chuyển từ đề tài miền núi mà
ông đã gắn bó suốt thời trai trẻ để trở về với đề tài miền xuôi trong thời kỳ đôthị hóa ngày càng rầm rộ
1.2.2.3 Nguyễn Khải
Trong chặng đờng đổi mới của văn học, Nguyễn Khải cũng nh bao nhàvăn khác, tự tìm cho mình một hớng đi riêng, lấy con ngời làm trung tâm,Nguyễn Khải xác lập nhân cách con ngời trong khả năng biết vợt lên hiện thựccủa mỗi một cá nhân nói chung và của mỗi một thế hệ nói riêng; xác lập một
Trang 28quan niệm mới về con ngời, về tôn giáo, đồng thời đem lại một cách nhìn độc
đáo về cuộc sống trong buổi giao thời chuyển đổi
Tác phẩm ghi lại dấu ấn đổi mới quan niệm về hiện thực và con ngờiểơ
Ma Văn Kháng đầu tiên phải kể đến tiểu thuyết Cha và con Và (1979) Khi
tác phẩm vừa ra đời đã khiến d luận nhận ra một hớng đi mới, một sự tìm tòikhám phá mới của Nguyễn Khải về tôn giáo Xuất phát từ quan niệm: tôn giáochính là sự hớng thịên tâm hồn con ngời, Nguyễn Khải đã phân tích khá sâusắc sự khủng hoảng niềm tin tôn giáo; có điều sự khủng hoảng này không chỉxảy ra đối với những giáo dân bình thờng mà cả ở những linh mục nhiệt thành,tâm huyết với lý tởng tôn giáo, gánh vác trên vai sứ mệnh cao cả của đấngchăn dắt con chiên Cha Th đã sống trong những nỗi phân vân, những dòngsuy nghĩ với những giằng xé, day dứt tâm hồn Những khoảnh khắc độc thoại
đa cha Th đối mặt với hàng loạt câu hỏi liên tiếp, dồn dập, nhng việc tìm ra lời
giải đáp vẫn còn là ẩn số Cha và con, và là tiếng nói đối thoại vừa tự do, cởi
mở, vừa nghiêm túc tới chân thành giữa đức tin tôn giáo và chủ nghĩa xã hội
Tiếp theo mạch nguồn viết về tôn giáo, Thời gian của Ngời là một
khám phá, một phát hiện mới về tôn giáo và con ngời tôn giáo đó là sự gặp gỡgiữa niềm tin cách mạng và niềm tin tôn giáo Tôn giáo không chỉ đơn thuần
có giá trị về mặt đạo đức mà xét từ nhu cầu tự nhiên của đời sống tinh thần,tôn giáo đã và sẽ là một giá trị văn hóa khi nó là bạn đồng hành của con ngờitrên hành trình kiếm tìm vơn tới nấc thang cao nhất Chân - Thiện - Mỹ Nó trởthành niềm tin và cao hơn còn là đức tin thiêng liêng, điểm tựa nâng đỡ tâmhồn con ngời trên mỗi bớc đờng đời, nguồn mạch nuôi dỡng, gìn giữ chomảnh đất tâm hồn con ngời luôn biết rung động, nhạy cảm trớc những ấm lạnhthăng trầm của cuộc đời, những vui buồn của số phận đồng loại
Lấy tôn giáo làm đối tợng cho mình quan sát, Nguyễn Khải đặt con
ng-ời vào bên trong cái phông ấy để tiếp cận, phân tích, lý giải, cắt nghĩa nhữnglời nói, suy nghĩ và hành động của con ngời Tác giả khám phá con ngời tôngiáo từ góc độ tâm linh, góp phần bù đắp sự phiến diện, hạn hẹp và ít nhiềucứng nhắc trong quan niệm về con ngời trong văn xuôi trớc năm 1975, hớngtới xác lập một mối quan hệ linh hoạt, mềm dẻo, chân thực hơn về con ngời
Nó bao gồm cả khát vọng nghiên cứu, tìm hiểu đến tận cùng bản chất của conngời, cùng thái độ thận trọng, cân nhắc do sự hiểu biết hiện thực và con ngờichỉ là hữu hạn trong thế giới vô hạn này
Trang 29Lẽ đời, thời gian thờng làm nên giới hạn cho mỗi con ngời, nhng thờigian cũng mở rộng đến vô cùng cho mỗi đời ngời nếu con ngời đó biết sốnghết lòng cho cái thời của mình, với những đóng góp cho tiến bộ xã hội Vớinhững con ngời nh vậy có thể xem họ đã vợt lên giới hạn của thời gian để đến
đợc cái vĩnh viễn Nguyễn Khải đã khai thác các khía cạnh mới của hiện thực
và con ngời nh: cái vô hạn và cái hữu hạn, cái đợc và cái mất, cái vận động vàcái đứng yên, quá khứ và tơng lai, nhìn con ngời trong mối tơng quan với sựnghiệp cùng với quá trình chuẩn bị cho tơng lai, đồng thời nghiên cứu con ng-
ời trong mối tơng quan giữa các thế hệ lịch sử là một hớng đào sâu trong cách
tiếp cận hiện thực mới của Nguyễn Khải Gặp gỡ cuối năm cho thấy sự hụt
hẫng và ngăn cách giữa các thế hệ rất lớn Có khi mỗi thế hệ thuộc về một cơchế xã hội khác với những tiêu chí giá trị riêng cho những quan niệm khácnhau, những niềm tin và nguyện vọng khác nhau, mặc dù họ đều có chungmột mục đích nhng cách ứng xử và thái độ, hành động trong cuộc sống thì tráingợc nhau, thậm chí đối lập nhau nh: Việt, Bình bên cạnh đó: “Lịch sử bêntrong con ngời” đã đợc Nguyễn Khải quan sát, nghiên cứu và khám phá ởchiều sâu, linh hoạt và nhuần nhị bởi nhà văn không đồng nhất con ngời vớilịch sử, cuộc đời với chính trị, bởi lịch sử ôm trọn nhiều mảnh đời và cuộc đờibao giờ cũng rộng hơn chính trị Thế giới tinh thần vô cùng phong phú và đầy
bí ẩn, ý thức giai cấp của con ngời không phải bao giờ cũng là một
Cùng với việc nghiên cứu con ngời ở góc nhìn lịch sử, Nguyễn Khải còntiếp tục khám phá t cách con ngời cá nhân Nhấn mạnh vai trò của cá nhân nh-
ng không hòa tan cá nhân với cộng đồng; cái riêng với cái chung vừa là mốiquan tâm hàng đầu, vừa là nỗi ám ảnh, băn khoăn của ngòi bút Nguyễn Khảitrong quá trình nghiên cứu khám phá và phát hiện về con ngời Thớc đo giá trịcủa mỗi con ngời chính là nhân cách với sự tự ý thức về nhân cách, giá trị củamình, có đầy đủ bản lĩnh để “là mình” chứ không chịu “đánh mất mình” Conngời của Nguyễn Khải luôn luôn bị đặt trớc các tình thế lựa chọn, bởi qua mỗilần lựa chọn sẽ thể hiện đợc khả năng sống của con ngời Nếu sự lựa chọn của
họ là đúng đắn, sáng suốt thì con đờng đi của họ sẽ hòa chung vào dòng chảy tựnhiên của cộng đồng, nhng một khi sự lựa chọn của họ vì lòng tham lam, vị kỷ,vì những cám dỗ, những thú vui dung tục làm mờ lý trí thì kết cục họ sẽ bị đàothải theo thời gian Ngòi bút của Nguyễn Khải còn đi sâu vào cắt nghĩa, lý giải
Trang 30con ngời trong hiện thực là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, từ đó tránh đợccái nhìn phiến diện, méo mó khi miêu tả.
Nh vậy, trong những sáng tác đầu năm 80, Nguyễn Khải đã nhìn nhận,
đánh giá con ngời và hiện thực ở nhiều góc độ khác nhau Quan niệm, thái độcủa nhà văn đối với hiện thực và con ngời cũng trở nên sâu sắc, tỉnh táo vàmang tính phổ quát cao hơn, góp phần thiết lập nên những dấu hiệu cơ bảncho quá trình tiền đổi mới văn học nớc nhà
1.2.2.4 Nguyễn Mạnh Tuấn
Xã hội Việt Nam từ sau 1975 đứng trớc một cuộc chuyển giao lịch sử từchiến tranh sang hoà bình Chính hiện thực ngổn ngang, bề bộn, phong phúnhng có phần phức tạp đó đã đòi hỏi cần có sự phát triển của thể loại tiểuthuyết Nguyễn Mạnh Tuấn xuất hiện đem theo cả một bầu nhiệt huyết sôisục, không né tránh sự thật với khả năng gây d luận và làm sôi nổi đời sốngvăn học đã góp phần đáng kể chuẩn bị cho công cuộc đổi mới văn học
Là một nhà văn trẻ, một cây bút năng động, Nguyễn Mạnh Tuấn đã rấtsớm quan tâm đến yêu cầu rút ngắn khoảng cách giữa văn chơng với cuộc đời.Anh luôn tâm niệm, phấn đấu sao cho tác phẩm của mình gắn bó trực tiếp vớinhững vấn đề nóng bỏng của cuộc sống Đặc biệt Nguyễn Mạnh Tuấn nhấnmạnh đến sự “tỉnh táo”, “bình tĩnh” của ngời cầm bút trớc hiện thực của đất n-
ớc Vào đầu những năm 80 với hàng loại tiểu thuyết - phóng sự: Những khoảng cách còn lại (1980), Đứng trớc biển (1983), Cù lao Tràm (1985) có
thể xem Nguyễn Mạnh Tuấn là ngời khởi xớng cho trào lu văn học “chốngtiêu cực” phát triển rầm rộ vào những năm 1980
ở Những khoảng cách còn lại, bằng năng lực nắm bắt thực tế nhanhnhạy Nguyễn Mạnh Tuấn đã đề cập trực diện vào vấn đề đấu tranh giai cấp,
đấu tranh ý thức hệ, một vấn đề phức tạp đang diễn ra trong thực tế xã hộiniềm Nam, đặc biệt là ở các đô thị Chọn khoảng thời gian một năm sau ngàygiải phóng, Nguyễn Mạnh Tuấn đã khai thác vào những mâu thuẫn xung độttrong gia đình, mâu thuẫn đó đợc đặt trong cơn lốc xoáy của cách mạng và đ-
ợc thể hiện trong những mối quan hệ chồng chéo vừa có nét riêng lại vừa cónét chung Đó là cuộc đấu tranh cực kỳ phức tạp, quyết liệt và đau xót giữanhững ngời ruột thịt trong gia đình sau 20 năm xa cách Cái bi kịch hợp - tan
do chiến tranh đem lại những tởng sẽ kết thúc khi chấm dứt chiến tranh, nhng
nó lại hiện ra ở một khía cạnh mới: sự khác nhau về ý thức hệ, quan niệm
Trang 31sống, về tình cảm khiến cho tất cả mọi ngời trong gia đình đều phải đi qua
“những con đờng đau khổ” theo cách riêng của mình để xóa bỏ “nhữngkhoảng cách còn lại”
Bằng lối viết trung thực với mình, thẳng thắn với ngời đặt kinh nghiệmcá nhân ngang bằng kinh nghiệm cộng đồng, Nguyễn Mạnh Tuấn đã trình bày
t tởng riêng của mình một cách trực diện thông qua những kiến nghị trực tiếptrớc những vấn đề đấu tranh nóng bỏng trong mâu thuẫn nội bộ các cấp lãnh
đạo Đứng trớc biển đề cập những vấn đề cơ bản nhất trong thực trạng làm ăn
của xí nghiệp Sao Mai Đó là cơ chế quản lý kinh tế đã lạc hậu, với những
ng-ời phụ trách có tâm huyết nhng lại thiếu năng động linh hoạt, thiếu trình độ và
t duy lãnh đạo Đồng thời Đứng trớc biển cũng mạnh dạn đề nghị một phơng
thức làm ăn mới, bắt đầu bằng sự nhận diện đích thực của mỗi ngời, trớc hết làngời lãnh đạo Đây cũng chính là cuộc đấu tranh tự vơn lên để thực hiện mộtcách tổ chức quản lý xí nghiệp trong thời kỳ mới sao cho phù hợp Tác phẩm
đã góp một tiếng nói khẳng khái vào cuộc đấu tranh chống các hiện tợng tiêucực và khẳng định cái mới
Mang trong mình khát vọng lý giải, thẩm định các vấn đề nóng bỏngcủa đời sống, từ góc độ phản ánh hiện thực cải tạo và xây dựng nông thôn
Nam Bộ Nguyễn Mạnh Tuấn đã cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Cù lao Tràm.
Tác phẩm nhấn mạnh đến vấn đề phẩm chất và năng lực của ngời cán bộ nôngthôn và vấn đề xác định một đờng lối, chính sách thích hợp trong cải tạo, xây
dựng nông thôn Nam Bộ Với Cù lao Tràm, Nguyễn Mạnh Tuấn đã “bớc đầu
chạm đúng vào điểm nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm” Nó “đãthở đợc hơi thở nóng hổi của nông thôn Nam Bộ” [17]
Nguyễn Mạnh Tuấn viết văn không phải cho mình, mà trớc hết là cho
độc giả, chỉ viết cho ngời đọc những điều mình tâm đắc, nhằm truyền đủ lợngthông tin cần thiết Tác phẩm của anh trớc hết nhằm thỏa mãn niềm mong đợicủa ngời đọc, đồng thời thỏa mãn niềm khát khao bộc lộ mình Những tácphẩm của anh ở buổi đầu những năm 80 đã tạo nguồn sinh khí mới cho đờisống văn học đang có bề tĩnh lặng, xóa bỏ đợc “những khoảng cách còn lại”với bạn đọc, cái “khoảng chân không văn học” giữa nhà văn với công chúng
Từ sự thay đổi về t duy nghệ thuật, về quan niệm văn chơng đã đem đến hệquả tất yếu: sự thúc đẩy nhà văn chú ý phản ánh những vấn đề phức tạp và bứcxúc của hiện thực, đáp ứng lại mong mỏi của ngời đọc, nhng mặt khác cũng
Trang 32cho ta thấy ít nhiều nhà văn cha thực sự đặt yêu cầu cao trong trau dồi nghệthuật Trong ý thức nghệ thuật, quan niệm văn chơng của Nguyễn Mạnh Tuấndờng nh là có một sự “ hy sinh” nghệ thuật, một sự hy sinh rất thành tâm tựnguyện Nói nh nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến: “Nguyễn Mạnh Tuấn chỉquan tâm đến việc ”kể lại nội dung” chứ cha quan tâm đến “viết lại nội dung”[12,64], tức là hình thức thể hiện của văn chơng, hình thức mang tính quanniệm.
Nhìn chung, Nguyễn Mạnh Tuấn là một trong số ít nhà văn nhận thức
rõ sức mạnh và sứ mệnh của văn chơng, văn chơng viết ra phải phục vụ trựctiếp cho cuộc sống, cố gắng rút ngắn khoảng cách từ văn chơng đến cuộc đời,lấy tiêu chí chân thực làm mục đích, đối tợng T tởng, quan niệm ấy đã chiphối phần lớn các sáng tác của anh, từ quan niệm về hiện thực và con ngời đếnviệc xây dựng nhân vật, lựa chọn thể loại để trở thành một dòng chảy xuyênsuốt sáng tác của anh đầu những năm 80 của thế kỷ XX
1.2.2.5 Lê Lựu
Lê Lựu thuộc lớp văn quân đội, trởng thành trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nớc và thực sự thành danh, rạng rỡ hơn trong công cuộc đổimới văn chơng thời bình Sau năm 1975 đất nớc thống nhất, hiện thực đờisống với nhiều biến động phức tạp, từ sự thay đổi về hiện thực đời sống, nhucầu đổi mới t duy nghệ thuật đợc đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết Lê Lựucũng nh một số nhà văn khác, tâm huyết với duyên nợ văn chơng ngày đêmtrăn trở tìm tòi một lộ trình mới, làm sao cho tác phẩm văn ch ơng phải bắtmạch vào dòng đời sâu thẳm, phải chứa đựng cả nớc mắt, nụ cời của nhânquần
Quyển tiểu thuyết đầu tay của Lê Lựu có tên Mở rừng (1977) với cái
nhìn trực tiếp và mạnh dạn vào chiến tranh Tác giả đề cập đến số phận củamột lớp ngời đã có mặt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, bên cạnh nét hàohùng còn mang cả dấu ấn bi tráng ở những khía cạnh rất đời thờng Lê Lựukhông lý tởng hóa mà cũng không bi kịch hóa nhân vật, bởi đó là cái đợc củacuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa, song đồng thời nó cũng chứa đựngnhững mất mát của chiến tranh Tiếp đến năm 1979, cuốn tiểu thuyết thứ hai
với tựa đề Ranh giới ra đời, viết về sự lựa chọn của con ngời trớc sự kiện đất
n-ớc thống nhất năm 1975, nhng Ranh giới không vợt qua cuốn tiểu thuyết đầu tay của Lê Lựu Nhà nghiên cứu Bích Thu đã nhận xét: “Với Ranh giới, Lê
Trang 33Lựu đã đi vào một đề tài mới, một lối viết mới nhng cha hẳn là một bớc tiếnmới của anh đối với thể loại này” [40,102].
Trớc bối cảnh của thời kỳ hậu chiến, con ngời không chỉ làm quen màphải đối mặt, cọ xát với những vấn đề đang nảy sinh và đầy bức xúc của cuộcsống đời thờng Lê Lựu cũng cảm nhận đợc sự thay đổi của thời cụôc và với
con ngời, với cái tôi của chính mình Năm 1984 ông viết Thời xa vắng và hai năm sau tác phẩm ra mắt bạn đọc Sự xuất hiện của tiểu thuyết Thời xa vắng
làm khuấy động bầu không khí văn chơng, nó không những đợc bạn đọc xagần đón nhận mà còn thu hút đợc sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứuphê bình văn học
Viết bằng tâm can, sức lực của mình, viết về những gì chân thật nhất
đang diễn ra trong đời sống hàng ngày, Thời xa vắng thực sự là lời ký gửi tâm
sự của Lê Lựu về một hiện thực với những khoảng sáng tối khác nhau, vớinhững thực h lẫn lộn, với những chiến tranh và hoà bình, với những cái hàohùng và bi tráng tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về xã hội Việt Namnhững năm đầu thập kỷ 80 Lê Lựu đặt con ngời của ngày hôm nay trong sựgắn kết với quá khứ Giữa quá khứ và hiện tại, hôm qua và hôm nay nh cómột sợi dây xuyên suốt, kết nối số phận của mỗi ngời Quá khứ vinh quangcủa cuộc chiến tranh thần thánh đã trở thành một thứ chuẩn mực, một điểmtựa tinh thần cho con ngời Song cũng còn một quá khứ máy móc giáo điều
cũ kỹ khiến cho con ngời trở nên méo mó, vênh lệch đi trong cuộc sống thựctại
Đến với con ngời trong nhu cầu tự nhận thức, Lê Lựu đã tìm nhiều cách
để khám phá những cõi miền sâu thẳm trong con ngời Con ngời luôn khátkhao, mong đợi và kiếm tìm, cho dù có khi họ biết cái đã qua sẽ không baogiờ trở lại, cũng nh điều mong ớc chắc gì đã có đợc trong đời
Thời xa vắng của Lê Lựu đánh dấu một bớc mới trong t duy nghệ thuật
của nhà văn, sự thật đợc phản ánh không đơn giản một chiều Tác phẩm gợi lạimột thời trong cuộc sống mà ý thức làm chủ cuả, mỗi cá nhân trong quan hệgia đình, xã hội bị xâm phạm Nhà văn chân thành, thẳng thắn vạch ra ranhgiới giữa cái riêng và cái chung, đặc biệt là phần riêng t của mỗi cuộc đời cần
đợc tôn trọng Mọi thớc đo về nhân cách, đạo đức, mọi chuẩn mực của gia
đình, xã hội đều bị xáo trộn, lật tung lên trớc đời sống cơ chế thị trờng Đờisống thay đổi, khiến cho con ngời đôi khi tự đánh mất mình một cách tự nhiên
Trang 34mà ngay chính bản thân họ cũng không tự ý thức đợc Con ngời thực sự là conngời của hiện thực.
Tiểu thuyết của Lê Lựu từ sau 1975 đến 1986 ẩn chứa nhiều tầng, nhiềumảng hiện thực Thông qua số phận của những nhân vật cụ thể, nhà văn đãmạnh dạn chỉ ra những hạn chế về phơng diện xã hội cần đợc khắc phục, bởi
đó là hàng rào ngăn trở việc thực hiện ớc mơ, hạnh phúc của mỗi con ngời,làm thui chột những mầm non nhân cách và gây ra những đau khổ mất mátkhôn lờng Mặc dù viết về quá khứ, về cái tiêu cực, thậm chí là những sai lầm,nhng Lê Lựu không đem đến cho ngời đọc một cái nhìn bi quan Trái lại, tácphẩm của ông đã đem đến cho ngời đọc một cảm hứng nghiên cứu trên cơ sởnhận thức mới
Tiểu thuyết Việt nam sau 1975, đặc biệt là đầu những năm 80 đã bắt
đầu xuất hiện tính đa khuynh hớng do những t tởng khác nhau về hiện thực vàcon ngời Những nhà văn nh: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, NguyễnMạnh Tuấn, Nguyễn Khải đã tạo ra những bớc đệm quan trọng cho thời kỳtiền đổi mới văn học Sự thay đổi về hệ hình, về t duy sáng tạo nghệ thuật củacác nhà văn đã gặt hái đợc những thành công nhất định
1.3 Vị trí của hai tiểu thuyết “Thời xa vắng và ” ‘Mùa lá rụng trong vờn”
trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu và Ma Văn Kháng
1.3.1 Vị trí của tiểu thuyết “Thời xa vắng” trong sự nghiệp sáng tác của
Lê Lựu
Là tập sách thứ mời của nhà văn quân đội Lê Lựu, tiểu thuyết Thời xa vắng ra đời nh một sự kiện bất ngờ đối với độc giả và giới nghiên cứu phê
bình Ngời khen, kẻ chê, các ý kiến đợc đề cập trên các phơng tiện, diễn đàn
Làng văn nh sôi động lên nhờ có tập tiểu thuyết này Và quả thực Thời xa vắng “nổi tiếng bởi tự thân nội dung đặc sắc của nó đi vào đợc mạch ngầm
trong tâm t tình cảm nhân vật” [22,708]
Tiểu tuyết Thời xa vắng ra đời, khuynh hớng nhận thức lại thực tại cùng
với sự trở lại của cảm hứng bi kịch đợc đề cao, đồng thời tiếp theo tác phẩm
này là các tác phẩm nh Đại tá không biết đùa, Chuyện làng Cuội, Sống ở đáy sông, Hai nhà lần lợt làm sáng tỏ, minh chứng cho khuynh hớng sáng tác
trong thời kỳ đổi mới mà Lê Lựu đã lựa chọn, góp phần khẳng định phong
Trang 35cách và ghi dấu ấn đậm nét tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của tiểuthuyết Việt Nam đơng đại.
Những năm đầu thập kỷ 80, Lê Lựu là một trong những nhà văn đi tiênphong trong phong trào đổi mới văn học với cách nhìn nhận hiện thực mộtcách tỉnh táo và khách quan Để cắt nghĩa, lý giải hiện thực, nhà văn đi sâuphân tích đời sống tinh thần con ngời, chỉ ra những tồn tại trong ý thức hệ t t-ởng Các tiểu thuyết của Lê Lựu cho thấy sự phản ứng đối với quan niệm duy
ý chí một thời, cái thời mà với lối t duy bảo thủ và thói vị kỷ, những kẻ nhândanh gia đình, đoàn thể có thể áp đặt suy nghĩ của mình cho ngời khác LêLựu đã cảm nhận, nắm bắt đợc điều đó và ông có thái độ phản ứng khá mạnh
mẽ qua việc tái hiện mâu thuẫn giữa các thế hệ ở Thời xa vắng, nhân vật Sài
đã sống một cuộc đời đầy rẫy sự áp đặt và chạy theo những cái phi lý, không
có thực trong cuộc đời này Mời hai tuổi, Sài phải lấy vợ theo sự sắp đặt củagia đình; tới lúc trởng thành, không dám bỏ vợ để sống cho tình yêu của mình,
lý do chỉ vì chú Hà và anh Tính là cán bộ và sợ mất cả danh tiếng mà bấy lâunay gia đình ông đồ Khang cố gắng giữ gìn Khi Sài đi bộ đội, để đợc vào
Đảng, một trong những điều kiện tối cao là anh phải cắt đứt quan hệ với ngờiyêu và phải “thực sự yêu vợ” Những năm tháng vật lộn, đối mặt với cái chếttrong chiến tranh cũng dần lùi vào quá khứ, hòa bình lập lại, anh hăm hở laovào một cuộc sống mới mà ngay chính bản thân anh cũng không hiểu gì về
nó Anh quên đi giấc mộng công danh, giành tất cả thời gian, tâm huyết củamình cho tình yêu và gia đình mà anh mới có Mọi thứ thái quá đều dẫn đến
đổ vỡ Sài thành thật tới ngu đần, yêu thơng tới độ mù quáng và anh trở thànhthứ mà Châu cảm thấy căm ghét hơn bất kỳ sự vật nào hiện hữu xung quanh
cô Tiếp nối mạch cảm xúc này ở tác phẩm Đại tá không biết đùa chúng ta
thấy một đại tá Hoàng Thủy đã rèn giũa, dạy bảo con theo cái cách mà ôngcho là “tốt” nhất Ông yêu cầu công an huyện cho Tùy đi tập trung cải tạo, tựxin hoãn đi học đại học ở nớc ngoài để làm công nhân, bắt con phải từ bỏ tìnhyêu với cô gái đã từng yêu một ngời khác Ông quen nói những điều to tát,nghiêm trọng mà không tự ý thức đợc về cách sống quá nguyên tắc của mình
ở ông có một phần nào hao hao giống ngời bố của Núi trong Sống ở đáy sông,
đến chết vẫn không thay đổi cách nghĩ về đứa con của mình Ông không nhận
ra đợc động cơ hay là căn nguyên của những lỗi lầm mà Núi mắc phải Tráitim lạnh lùng, vô cảm, không chấp nhận thứ con “loại hai” vô tình đã đẩy Núi
Trang 36đi vào ngõ cụt của cuộc đời Ông cho rằng trách nhiệm giáo dục con ngời làcủa xã hội, những tình huống, những lý do đợc ông chuẩn bị rất đầy đủ đểchống đỡ lại với d luận và pháp luật.
Với quan niệm và lối t duy sắc sảo, nhạy bén, tiểu thuyết Thời xa vắng
đã đóng góp vào sự hình thành khuynh hớng nhận thức và đánh giá hiện thựccủa tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ tiền đổi mới Hiện thực đời sống xã hội ViệtNam đợc ông đề cập từ chốn đồng quê chiêm trũng đến chốn thị thành phồnhoa Tất cả nh là sắc màu là dáng dấp về một thời kỳ mà ít ai trong số chúng
ta có thể nhận ra đợc, mặc dù chúng ta đã ngày đêm sống với nó Gắn bó với
đề tài nông thôn, ngời đọc đều dễ dàng nhận ra miền đất quen thuộc của nhàvăn, đó là làng quê, đồng bãi ở một vùng chiêm trũng Lê Lựu viết về nôngthôn nh ngầm trả cái duyên nợ với mảnh đất đã sinh ra mình, nuôi lớn mình từnhững vất vả lo toan, từ những đói nghèo cơ cực Ông viết về nông thôn bằng
sự trải nghiệm và những lo âu về sự biến đổi từng gốc rạ, mái rơm mà đã từ
lâu hằn in trong tâm khảm Trong Thời xa vắng những đoạn miêu tả về buổi
họp gia đình, bữa cơm khi nhà có khách hay đám ma ông đồ tất cả hiện lênthật sinh động và đợm một chút hài hớc Những lời mời chào, những cái bắttay, lối sống tuyềnh toàng, xỉa răng nhanh nhách đó là nếp sống, nếp nghĩcủa ngời nhà quê
Truy tìm căn nguyên của những bi kịch, Lê Lựu đã phân tích khá sắcsảo tính cách các nhân vật Những ngời mang trên mình gánh nặng của bi kịch
thờng là những ngời hèn yếu, nhu nhợc nh Sài (Thời xa vắng), Tâm (Hai Bà), Hiếu (Chuyện làng Cuội) Họ đều thiếu sự “đàng hoàng, dứt khoát, một sự
quyết đoán đầy bản lĩnh” của ngời đàn ông Bi kịch thờng nảy sinh từ chínhbản thân nhân vật, tính cách quyết định số phận Và đúng nh tính chất của bikịch, đó là những mâu thuẫn không thể giải quyết Những bi kịch trong tiểu
thuyết Thời xa vắng gợi mở ra nhiều vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về nhân sinh,
về nhân tình thế thái để rồi về sau những sáng tác dài hơi của Lê Lựu vẫn đitheo nguồn mạch cảm hứng này, góp phần thay đổi diện mạo văn học ViệtNam thời kỳ đổi mới
Ngòi bút của Lê Lựu xoáy sâu vào bi kịch cá nhân của con ngời để rồi
từ đó nhà văn tập trung khai thác những biểu hiện của nhân vật, đó là nhữngmâu thuẫn, những xung đột gây hiệu ứng mạnh mẽ tới ngời đọc Đây chính là
một thành công của nghệ thuật tiểu thuyết Thời xa vắng nói riêng và tiểu
thuyết Lê Lựu nói chung Xuyên suốt tác phẩm là những xung đột liên tiếp
Trang 37giữa khát vọng của cá nhân với ý chí của số đông, thông qua những mâu thuẫndai dẳng và trải dài suốt một đời ngời Nhiều tình huống bất ngờ và kịch tínhnối tiếp nhau, tạo ra đợc những tình huống đa dạng của đời thờng cho nhân vậttrải nghiệm, kiếm tìm hạnh phúc, đón đợi khổ đau Đồng thời, với cách đảongợc thời gian, cốt truyện, đa kết thúc lên đầu tác phẩm để gây chú ý, hấp dẫnngời đọc Đây chính là thứ “kỹ xảo” của tiểu thuyết đơng đại, thế nhng LêLựu biết vợt lên trên đó bằng tài năng triển khai cốt truyện, ông đem đến cho
độc giả những thông điệp về cuộc sống một cách hữu hiệu Hiệu ứng tâm lýcòn đợc làm nên bởi một không gian tù túng, chật hẹp tới ngột ngạt Khônggian sống bị chi phối bởi những mâu thuẫn, những quan niệm duy ý chí, khiếncho cuộc sống của con ngời bức bách, tù túng, trạng thái sống của con ngời
nh đợc hiện hữu cụ thể sinh động hơn trong không gian, thời gian đợc soichiếu từ nhiều góc độ Bên cạnh đó lối viết triết luận, tố chất dân gian phá vỡkhoảng cách sử thi, đa các tác phẩm của Lê Lựu trở về đúng nghĩa là tiểuthuyết
Tiểu thuyết Thời xa vắng đem đến những dấu hiệu đổi mới cho văn học
nớc nhà nói chung cũng nh sự thức tỉnh ngòi bút sáng tạo Lê Lựu nói riêng
Trải qua thời gian và sự chiêm nghiệm của ngời đời, Thời xa vắng ngày một
khẳng định vị trí của mình trong sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu,
Thời hậu chiến, với tất cả sự phức tạp đã đợc Lê Lựu chú tâm khai thác
Phần hai của Thời xa vắng chính là quãng đời bi kịch tiếp theo của nhân vật
Sài cho thấy phần nào mặt trái của cơ chế quan liêu bao cấp, sự phức tạp củacuộc sống xô bồ chốn thị thành Số phận con ngời nh bị cán mỏng và đè bẹpdới bánh xe của cuộc sống Sài không còn sống cho mình và vì mình dù chỉtrong khoảnh khắc Tất cả anh đều vì vợ, vì con, hết chăm vợ đẻ lại đến con
ốm Thế nhng sau những tháng ngày vật lộn, bơn chải, anh chẳng còn lại gìcho riêng mình ngoài hai bàn tay trắng
Đến tiểu thuyết Hai nhà, phạm vi và cấp độ phản ánh hiện thực đợc mở
rộng Lê Lựu nhìn thấy và tái hiện lại những khó khăn, bất hợp lý trong xãhội Với lối sống thực dụng, ích kỷ, đang dần hình thành, nó tấn công trực tiếpvào từng gia đình và bản thân mỗi con ngời Tất cả đợc Lê Lựu tìm cách lýgiải, cắt nghĩa dựa trên cơ sở phê phán những cái xấu xa và cảm thông, thấmthía trớc những hạn chế do thời cuộc đem lại Nhận thức quá khứ, dự báo xuthế phát triển tất yếu và những đổi thay trong tơng lai - đó chính là xu hớng
Trang 38vận động của tiểu thuyết Lê Lựu Đây chính là sự khởi đầu cho dòng văn học
“tự vấn”, một hớng đi mới của tiểu thuyết Việt Nam
Cảm hứng bi kịch là nguồn cảm hứng lớn của văn học nhân loại Soisuốt dòng chảy của nền văn học Việt Nam, những mảnh đời nàng Kiều, sốphận chị Dậu, anh Chí đợc làm nên từ những bi kịch Thế nhng đến giai
đoạn 1945-1975 cảm hứng bi kịch đợc thay thế bằng cảm hứng sử thi hùngtráng Hòa bình lập lại, cảm hứng sử thi không đủ sức xoa dịu những trăn trở
lo toan cho cuộc sống đời thờng, những gì trớc đây bị che khuất nay đợc tiếpcận một cách công khai Cảm hứng bi kịch dần sống lại dới ngòi bút của Lê
Lựu Năm 1977 Mở rừng ra đời, Lê Lựu đã khai thác yếu tố bi kịch trong số
phận mỗi cá nhân bằng những phân tích khá kỹ với cách nhìn không đơn giản,
phiến diện Tiếp theo, năm 1986 Lê Lựu cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Thời
xa vắng lấy cảm hứng bi kịch cá nhân làm đối tợng đã đem lại cho ngời đọc
hứng thú suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc sống Cho nên, không thể không
ghi nhận vai trò tiên phong của Thời xa vắng đối với sự trở lại của cảm hứng
bi kịch nhân văn trong giai đoạn văn học mới
1.3.2 Vị trí của “Mùa lá rụng trong vờn” trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng
Sau hơn 20 năm gắn bó với núi rừng Tây Bắc và đề tài miền núi, đầunhững năm 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng trở về miền xuôi Từ sự thay
đổi về nhãn quan cuộc sống, ông đã mạnh dạn chuyển hớng cho ngòi bút sáng
tác của mình, hàng lọat các tác phẩm: Ma mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vờn (1985), Ngày đẹp trời (1986) đã chứng tỏ sự đổi mới táo bạo, mạnh dạn
trong t duy nghệ thuật về cuộc sống và con ngời
Tiếp cận đời sống ở bình diện sinh hoạt thế sự, Ma Văn Kháng hớng sựquan tâm đến từng số phận cá nhân con ngời Ngòi bút của ông không tránh
né, ngần ngại trớc sự vận động biến đổi của xã hội đã chuyển sang thời bìnhvới bao lo toan, mất mát, đau thơng, với những cảnh xô bồ hỗn tạp, đổi trắngthay đen của thời buổi cơ chế thị trờng Con ngời phải đơng đầu, giành giật v-
ợt lên tìm lấy sự sống, khẳng định bản thân mình Mở đầu là tiểu thuyết Ma mùa hạ - tác phẩm có dấu hiệu vận động theo hớng chân thực hơn trong quan niệm nghệ thuật của Ma Văn Kháng, nhng từ Mùa lá rụng trong vờn thì cách
tiếp cận, phân tích, lý giải căn nguyên về mọi biến cố xung quanh đời sống
Trang 39con ngời mới đợc làm rõ, trong đó vấn đề then chốt là mặt trái của cơ chế thitrờng, bi kịch của gia đình diễn ra ở những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷXX.
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vờn chủ yếu mô tả sự biến đổi của gia
đình trong thời kỳ quá độ Đó là tiếng nói về mối quan hệ giữa cá nhân với gia
đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi ngời đối với cuộc sống Ma VănKháng hớng ngời đọc vào mê cung từ những vấn đề hết sức nóng bỏng củathực tại, những gay cấn giật gân của đời thờng, vấn đề đạo đức, hoàn thiệnnhân cách con ngời Nét cũ, mới trong tính cách của từng con ngời hòa quyện,
đan cài vào nhau nh mớ bòng bong vô hình, khiến cho họ có chiều sâu củalòng thơng cảm, những mánh lới trong công việc và gánh nặng lo toan musinh kiếm sống giữa đời thờng Mỗi một trang sách của Ma Văn Kháng là mộtcảnh đời, một lời lý giải cho những suy nghĩ và hành động trong cuộc sốngcủa thế giới nhân vật rất đa dạng ở trong tác phẩm Có thể nói Lý là ngời đàn
bà đẹp ngời, nhanh nhẹn tháo vát, đảm đang của thời chiến đã trở thành Lýcủa những khát vọng dung tục, thiển cận của đời thờng, mọi thớc đo về giá trị,phẩm chất đều bị chị quy đổi ra đồng tiền ấy thế nhng bên cạnh sự đổi thay
đến chóng mặt ấy của Lý vẫn có những ngời đàn bà biết sống độ lợng, vị tha
và bao dung nh chị Hoài, Phợng Nếu Luận năng nổ, nhanh nhạy trớc cuộcsống bao nhiêu thì Đông lại thụ động, chỉ giữ lấy mớ suy nghĩ giản đơn, ngây
thơ tới tội nghiệp Đến Đám cới không có giấy giá thú thì sự băng hoại về giá
trị đạo đức, sự bành trớng thế lực của đồng tiền đã khiến cho Thuần một giáoviên dạy giỏi, yêu nghề trở thành một con ngời “thay đổi hoàn toàn” Thuầndạy thêm tối ngày tối buổi, nuôi chó cảnh làm giàu và xem đấy là công việcyêu thích bởi “nó phục vụ đợc cái dạ dày trống rỗng” Và chua xót hơn đó làcuộc sống khó khăn của thời kỳ hậu chiến đã đánh cắp đi hạnh phúc gia đìnhXuyến Xuyến phụ bạc, khinh miệt chồng, đam mê chạy theo tiếng gọi của
đồng tiền và những dục vọng thấp hèn Thiêm trong Gặp gỡ La Phan Tẩn, Khiêm trong Ngợc dòng nớc lũ nhiều khi nh đuối sức, hụt hơi trớc những mu
toan đen tối khôn lờng của đặc phái viên Quốc Thanh và Tổng cục trởngNguyễn Văn Phô
Ma Văn Kháng xây dựng hệ thống nhân vật có sự phát triển về tínhcách, trải theo chiều dài đồng đại của thời gian, tính cách của các nhân vật dầndần bộ lộ một cách đầy đủ trong từng hoàn cảnh sống Tính cách phản ánh sự
Trang 40phong phú phức tạp của đời sống một cách rõ nét Đông, một trung tá giỏigiang, mu lợc, một anh hùng đi ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ bỗng trởthành một “ông bụt”, “ông phỗng” của thời bình, tất cả công việc còn lại đốivới Đông chỉ là đánh tổ tôm và ngủ ngày Lý, từ một ngời đàn bà xinh đẹp,giỏi giang tháo vát, gánh vác cả giang sơn nhà chồng trong thời chiến bỗng trởthành nạn nhân của đồng tiền và những đam mê dục vọng tầm thờng ở thờibình, để rồi khi đi tới tận cùng của những khát vọng đam mê, Lý mới chợt ý
thức đợc giá trị của cuộc sống Xuyến trong Đám cới không có giấy giá thú
cũng có số phận tơng tự Chán cảnh sống nghèo đói, khổ sở, Xuyến đi xuấtkhẩu lao động ở bên Đức với hy vọng có thể đổi đời Song, đợc một thời gian,Xuyến viết th về cho Kha: “Anh Kha! Nhìn những ngời cùng đi em giật mình:tất cả mọi ngời đều giống em, chỉ có một mục đích là tiền! Em khóc cả
đêm” Đây là những trăn trở, những giây phút sống thật với lòng mình củaXuyến, khi cô đi hết một vòng tròn của sự thay đổi tính cách: đã từng là mộtcô gái chân chất hiền lành chuyển sang một ngời đàn bà nanh nọc, tàn nhẫn.Thuật thì “hỏng mất cái đầu rồi Cái đầu của nó bằng đầu hai ông tiến sĩ cộnglại” chung quy cũng chỉ vì đồng tiền bát gạo, miếng cơm manh áo Từ trongbản chất của con ngời vốn dĩ rất phong phú và phức tạp, hiện thực cuộc sống
đầy rẫy những ngẫu nhiên, bất thờng Con ngời cũng chỉ là những sinh vậtsống trong vũ trụ bao la này, bên cạnh những cái tốt đẹp, cái cao cả, còn tồntại cả những cái xấu xa, thấp hèn Cuộc sống vận động không ngừng khiếncho mỗi một con ngời cần phải thích nghi với hoàn cảnh sống Chính vì lẽ đó
mà các nhân vật dới ngòi bút của Ma Văn Kháng đều có sức hút riêng trongnhững đợc mất, buồn vui của đời ngời
Khi xây dựng cặp nhân vật Đông - Lý trong Mùa lá rụng trong vờn
d-ờng nh Ma Văn Kháng muốn khắc phục sự đối lập một cách siêu hình giữanhân vật tích cực và nhân vật tiêu cực, nhân vật chính diện và nhân vật phảndiện Cảm hứng sáng tạo của ông giờ đây không còn là ngợi ca hay phê phán,
mà là phát hiện đời sống và con ngời ở nhiều tọa độ, nhiều bình diện trong tấtcả chiều sâu phong phú và phức tạp của nó Nối tiếp mạch cảm hứng này, đến
Đám cới không có giấy giá thú là một minh chứng cho sự chuyển đổi nguồn
mạch cảm hứng này Cặp vợ chồng Tự - Xuyến chính là bức tranh tơng phản
về cách sống, về quan điểm của mỗi ngời trớc cuộc đời