Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải - chi nhánh Hà Nội
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NTHMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 2Lời mở đầu
Năm 2006 là năm thứ 20 của công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế ởnước ta Trải qua biết bao khó khăn và thử thách ở chính nội tại đất nước và từmôi trường thế giới đem lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bước đầu đã tạodựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với hệ thống công– nông nghiệp - dịch vụ ngày càng phát triển, từng bước rút ngắn khoảng cáchvới các nước trong khu vực và trên thế giới
Để có được những thành tựu kinh tế như hiện nay trước tiên phải kể đến
sự đóng góp vô cùng quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tài chính tín dụng của nước ta Cũng như các ngân hàng thương mại và tổchức tài chính trên thế giới, hoạt động kinh doanh của những tổ chức này vốn dĩ
là loại hình hoạt động rất nhạy cảm, mang tính năng động và rủi ro hơn nhiều sovới hoạt động của các lĩnh vực khác, đồng thời cũng giữ vai trò quan trọng trongviệc định hướng cho hoạt động của các lĩnh vực khác, bởi đây là ngành tạo vàcung cấp vốn cho nền kinh tế Vì vậy trong xu thế quốc tế hoá ngày nay vấn đềđặt ra là các ngân hàng thương mại nước ta phải luôn luôn giữ thế phát triển dẫnđầu cho nền kinh tế, không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩmdịch vụ của mình, sớm bắt kịp với nhịp điệu trong khu vực và trên thế giới Thực
tế các ngân hàng đã có nhiều cố gắng nỗ lực phấn đấu, nhưng do sự phát triểncòn thiếu đồng bộ về con người, môi trường và kỹ thuật trong nước nên vẫnchưa đạt được kết quả như mong muốn Đặc biệt trong hoạt động cho vay củangân hàng, cụ thể hơn nữa là hoạt động cho vay các dự án đầu tư trung và dàihạn đạt hiệu quả không cao Mà nguyên nhân chính xuất phát từ những yếu kém,chủ quan trong công tác thẩm định Dẫn đến hậu quả là rất nhiều dự án được lựachọn đầu tư nằm ở cả ba miền có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, khôngtrả được nợ cho ngân hàng, gây lãng phí thất thoát hàng trăm, hàng nghìn tỷđồng của nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của từngdoanh nghiệp, từng ngân hàng và tới toàn nền kinh tế
Trang 3Từ sự nhận thức được những vấn đề trên và sau một thời gian dài tìm
hiểu thực tế tại cơ sở, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng
thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải - chi nhánh Hà Nội” cho luận văn
tốt nghiệp của mình
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động
cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải – Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Hàng Hải – Chi nhánh Hà Nội
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên trong luận văn này chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của các thầy cô giáo và các anh chị trong ngân hàng MSB
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa ngân hàng tàichính trường ĐHKTQD, đặc biệt là thầy Phạm Long đã tạo điều kiện, hướngdẫn giúp em hoàn thành luận văn này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các côchú – anh chị trong ngân hàng MSB Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo emtrong suốt thời gian thực tập để em có thể hoàn thành những kiến thức thực tếtrong luận văn của mình
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM.
1.1 Hoạt động cho vay của NHTM.
1.1.1 Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của NHTM
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàngthương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thể hiệntầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh tế thếgiới nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia riêngbiệt Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại (Ngânhàng điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thờigian làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn
Ngày nay sản phẩm của ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với nhận tiềngửi, đổi tiền, giữ tiền hộ…mà đã trở nên vô cùng phong phú đa dạng với thẻngân hàng, chuyển tiền điện tử, bao thanh toán, phonebanking,….Tuy nhiênnhững dịch vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu tàisản của ngân hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng vẫn
là các dịch vụ cho vay Ở hầu hết các nước khả năng cho vay đối với khách hàngchính là lý do cơ bản để ngân hàng được các cơ quan quản lý có thẩm quyền cấpphép hoạt động Mọi người mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triểncủa cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu tàichính của doanh nghiệp và của người tiêu dùng với một mức lãi suất hợp lý Do
đó, cho vay được coi là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng Hoạtđộng cho vay cũng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tạikhu vực ngân hàng phục vụ, bởi cho vay thúc đẩy tăng trưởng của các doanhnghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Không những vậy thông qua các khoảncho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm những thông tin về chất lượng tín
Trang 5dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các khoảntín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn Đối với hầu hết cácngân hàng thương mại, đặc biệt ở các nước đang phát triển thì thu nhập từ chovay chiếm quá nửa tổng giá trị tổng nguồn thu của ngân hàng.
Với tầm quan trọng như vậy thì thực chất cho vay vẫn được hiểu là mộtgiao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng hoặc địnhchế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác)trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạnnhất định theo thoả thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Về cách phân loại có rất nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mỗi tiêu thứcphân loại và tuỳ theo từng ngân hàng mà hoạt động cho vay được chia ra làmnhiều loại, nhằm thuận tiện cho quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn củakhách hàng
Nếu dựa vào tiêu chí mục đích thì cho vay được chia ra các loại:
- Cho vay kinh doanh bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xâydựng ngắn hạn, giải phóng mặt bằng hay các khoản cho vay dài hạn nhằm muađất canh tác, nhà, các trung tâm thương mại…
- Cho vay công nghiệp và thương mại: nhằm đáp ứng nhu cầu của cácdoanh nghiệp trong việc trang trải những khoản chi phí như mua hàng nhập kho,mua sắm máy móc thiết bị để sản xuất kinh doanh…
- Cho vay nông nghiệp: nhằm hỗ trợ cho người nông dân trong thờiđiểm mùa vụ như lúc chuẩn bị gieo trồng, khi bảo quản và chế biến sản phẩm
- Cho vay các tổ chức tài chính: đây là các khoản tín dụng cung cấp giữacác tổ chức tài chính với nhau để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn
- Cho vay cá nhân: hình thức này nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
cá nhân như tài trợ cho việc mua sắm ô tô, xe máy, nhà ở…
- Cho thuê: Đây là hình thức mà ngân hàng đứng ra mua sắm máy mócthiết bị sau đó cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc cho thuê những tàisản này Trong suốt thời hạn thuê ngân hàng sẽ nhận được tiền từ người thuê và
Trang 6đến cuối thời hạn có thể bán lại tài sản cho khách hàng theo hợp đồng thuê mua
đã kí kết
Nếu dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay lại được chia
làm hai loại:
- Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng không cần
sự thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh của bên thứ ba
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng chỉ cho vay khikhách hàng có tài sản đủ tiêu chuẩn để thế chấp, cầm cố, hay có sự bảo lãnh củabên thứ ba
Nếu dựa vào thời hạn cho vay thì bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn;
- Cho vay trung hạn;
- Cho vay dài hạn
Ngoài những căn cứ trên thì còn nhiều cách phân chia nữa của hoạt độngcho vay Trong đó đối với những ngân hàng phân chia hoạt động cho vay theotiêu thức thời gian thì phần cho vay trung và dài hạn thường chiếm tỷ trọng khácao trong cơ cấu cho vay
1.1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
* Khái niệm về cho vay trung và dài hạn của NHTM
Hiện nay giữa các nước khác nhau trên thế giới quan niệm về cho vaytrung và dài hạn không hoàn toàn giống nhau Tại thị trường tài chính Việt Namcho vay trung và dài hạn vẫn được coi là các khoản cho vay có thời hạn trên 1năm Trong đó theo qui định cách đây vài năm thì cho vay trung hạn là cáckhoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 3 năm và cho vay dài hạn là những khoảncho vay có thời hạn trên 3 năm Nhưng hai năm trở lại đây NHNN Việt Nam đãqui định thời hạn của khoản cho vay trung hạn là từ 1 đến 5 năm và dài hạn làtrên 5 năm để nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp vì thôngthường tài sản hình thành từ khoản vay trung dài hạn của doanh nghiệp có thờigian sử dụng tương đối dài
Trang 7* Mục đích đi vay trung dài hạn của các doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp đi vay trung và dài hạn chủ yếu nhằm đáp ứng nhucầu mua sắm tài sản cố định mới, phương tiện vận tải mới, đổi mới trang thiết bịcông nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án mới về nhà
ở, các xí nghiệp - nhà máy sản xuất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng qui môvừa và lớn… ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế
* Lý do lựa chọn phương án vay trung và dài hạn của khách hàng:
Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, đi vay trung và dài hạn từ các định chế tàichính và phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán là hai nguồn tài trợ dàihạn chủ yếu của các khách hàng doanh nghiệp Chính bởi vậy mà có nhiều lý do
để các khách hàng lựa chọn nguồn vốn vay trung và dài hạn từ các ngân hàng
Trước hết là do các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế về khả năng tìm nguồnvốn trên thị trường, họ không thể có đủ các điều kiện để có thể huy động vốntrung và dài hạn cho mình thông qua thị trường chứng khoán Vì vậy khi nhucầu vốn phát sinh họ phải đi vay ở các ngân hàng thương mại và các định chế tàichính khác
Thứ hai đó là, trong nhiều trường hợp khách hàng thấy vay trung dài hạntốt hơn phát hành chứng khoán Bởi so với phát hành trái phiếu, đi vay mượncác doanh nghiệp có thể có điều kiện vay muợn thích hợp hơn cho nhu cầu củamình: Sau khi nhận tiền vay họ vẫn có thể thương lượng với người cho vay một
số điều kiện đã được xác định ban đầu Hơn nữa đi vay họ sẽ không phải tốnthêm những chi phí về bảo lãnh, đăng ký, phát hành…, không phải cân nhắc làliệu các cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra có được nhà đầu tư chấpnhận hay không (bởi nó còn phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường chứngkhoán, tâm lý của nhà đầu tư, và quan trọng là uy tín của doanh nghiệp)
Thứ ba là, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không muốn phát hànhchứng khoán để thu hút vốn vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang ởtrong điều kiện thị trường không thuận lợi cho việc phát hành
Trang 8Và thứ tư đó là, cho vay trung dài hạn sẽ buộc các doanh nghiệp nhỏphải tích luỹ vốn từ lợi nhuận để lại, cho dù doanh nghiệp có quan hệ mật thiếtvới ngân hàng Điều này sẽ có lợi cho doanh nghiệp về sau này.
Với những lý do trên cho thấy đi vay trung dài hạn tại các tổ chức tàichính thực sự là một kênh không thể thiếu của các khách hàng doanh nghiệp.Nhu cầu lớn nên loại hình cho vay này cũng có nhiều hình thức khác nhau chokhách hàng lựa chọn để phù hợp với mình Như:
Cho vay mua sắm thiết bị trả góp
Cho vay kỳ hạn
Tài trợ theo dự án
Cho vay hợp vốn
Cho thuê tài chính
Forfaiting (một hình thức cấp tín dụng người bán trong các giao dịchmua bán hàng trả chậm và không truy đòi đối với người bán mà thu tiền thẳng từngười mua)
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM.
1.2.1 Khái niệm về thẩm định tài chính dự án.
Đối với bất kỳ một dự án nào khi được đưa vào xem xét để thực hiện thìvấn đề được quan tâm hàng đầu là tính khả thi của dự án Tính khả thi của dự án
sẽ được thể hiện thông qua sự phù hợp về mặt kỹ thuật, mặt kinh tế và tài chínhcủa dự án đối với nền kinh tế, với sự quản lý của nhà nước, với nhà đầu tư vàvới chủ dự án Trong đó tuỳ theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mụcđích khác nhau (như dự án vì cộng đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh, dự án xây dựng nhà máy mới ) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ thuậthay về tài chính sẽ được đề cao Tuy nhiên cho dù đề cao tiêu chí nào đi chăngnữa thì sự xem xét thẩm định về mặt tài chính của một dự án trước khi đưa vàothực thi là không thể coi nhẹ Và cũng bao hàm những vấn đề cơ bản của công
tác thẩm định, “Thẩm định tài chính dự án chính là sự rà soát đánh giá một
Trang 9cách khoa học, toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân”.
(Nguồn: sách thẩm định tài chính dự án – NXB tài chính – 2004)
Trong hoạt động cho vay của mình các ngân hàng thương mại chính làcác nhà tài trợ vốn Ngoài những dự án ngân hàng cho vay theo chỉ định củachính phủ nhằm phục vụ cộng đồng yếu tố lợi nhuận không được đặt nên hàngđầu, còn lại hầu hết các dự án khác được ngân hàng cho vay đều nhằm mục đíchtạo thu nhập cho ngân hàng Vì vậy việc thẩm định tài chính dự án là vô cùngquan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng
1.2.2 Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay trung dài hạn của NHTM.
Để cho một lượng vốn lớn được bỏ ra ở hiện tại có thể được thu hồi dầntrong tương lai xa, thì trước khi chi vốn vào các dự án, các nhà đầu tư đều tiếnhành soạn lập chương trình cụ thể, chi tiết theo tính chất của từng dự án Nhữngcông việc này hết sức phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề, đòi hỏi phải có sựphối hợp hoạt động của nhiều người Thực tế những giải trình từ phía doanhnghiệp đối với ngân hàng về dự án cần vay vốn thường rất sơ sài, đôi khi có sốliệu không đủ căn cứ để chứng minh tính sát thực, do đó phải rà soát, điều chỉnhlại
Đối với ngân hàng, để ngăn chặn sự đổ bể, sự lãng phí vốn khi muốntài trợ hay cho vay vốn vào dự án thì cần phải thẩm định lại tính hiệu quả của dự
án, đặc biệt sự hiệu quả về mặt tài chính Điều này đảm bảo cho chính bản thân
sự tồn tại của một ngân hàng Bởi nếu để xảy ra bất kỳ rủi ro nào dẫn đến sựkhông thu hồi được vốn của ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đến thu nhập của ngânhàng, nhất là khi đó là các dự án lớn
Đối với xã hội, mỗi một dự án khi thực hiện không chỉ có ảnh hưởngđến chủ dự án, ngân hàng (hay các nhà đầu tư khác) mà còn chứa đựng cảnhững ảnh hưởng đối với người dân nơi thực hiện dự án, đến nguồn tài nguyênđất nước sẽ được sử dụng, đến các ngành nghề khác liên quan….Vì vậy ngânhàng cần phải tiến hành thẩm định lại dự án để xem xét một cách toàn diện khi
Trang 10có chi phí xã hội dự án, hiệu quả tài chính của dự án còn được đảm bảo không,
có phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển của vùng, của địa phương haykhông
Đối với chủ dự án, khi ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự án chính
là dịp để khẳng định tính đúng đắn trong quyết định đầu tư của chủ dự án Đồngthời giúp chủ dự án tránh được những sai sót có thể không nhận thấy khi tiếnhành lập dự án, làm cho dự án hoàn thiện hơn, tránh lãng phí vốn của chính chủ
1.3.1 Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ.
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư về ngắn hạn là tối đahoá vốn chủ sở hữu, còn về dài hạn chính là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Đểđạt được mục tiêu này thì vấn đề quan trọng đưa ra đối với doanh nghiệp làkhông ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Và để đầu tư được người ta đưa
ra câu hỏi về vốn đầu tư Dưới giác độ của dự án thì vốn đầu tư chính là tổng sốtiền được chi tiêu để hình thành nên các tài sản cố định, tài sản lưu động cầnthiết và vốn dự phòng
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trongtổng vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất Và là phần để muasắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định (như: máy móc thiết bị sản xuất, nhàxưởng, đất đai, phương tiện vận chuyển…) Phần vốn đầu tư còn lại được đầu
tư vào tài sản lưu động ròng Đó là nguồn vốn để hình thành nên các tài sản lưuđộng ròng cần thiết để thực hiện dự án (như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiềnthuê nhân công, chi phí quản lý…) Lượng vốn lưu động ròng lớn hay nhỏ phụthuộc vào đặc điểm của mỗi dự án; Ngoài hai phần vốn chính này là phần vốn
Trang 11dự phòng để kịp thời cung cấp khi có phát sinh những chi phí ngoài dự kiến haykhi xảy ra rủi ro dự kiến.
Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dựtoán vốn Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vàonăm tiêu chí cơ bản là: chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnh tranh,chi phí tài chính, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính của doanhnghiệp Những tiêu chí này được sử dụng trong các phương pháp dự toán vốnnhư dự báo theo tỷ phần doanh thu, dự toán tổng thể Nhà thẩm định sẽ xem xéttoàn bộ quá trình lập dự toán vốn này để biết được mức vốn chính xác cần thiếtcho dự án
Tổng vốn đầu tư được xác định là vậy nhưng sẽ tài trợ bằng nguồn vốnnào? Đây là câu hỏi không chỉ nhà thẩm định mà chính chủ thực hiện dự án sẽđặt ra đầu tiên Về mặt lý thuyết và cả thực tế thì mỗi dự án có nhiều hình thứctài trợ vốn khác nhau:
Trước hết dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có: Loại vốn này cóđược từ bốn nguồn: từ phát hành cổ phiếu thường, từ thặng dư vốn và từ lợinhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường có nhiều ưu thế trong việc phát hành ra công chúng vàtrong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán Như sau khi phát hànhdoanh nghiệp có thể tạm thời mua lại, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hànhthêm khi cần thiết….Nên loại này cũng được sử dụng để tài trợ cho dự án, đặcbiệt là các dự án qui mô lớn
Nguồn thặng dư vốn: Đây chính là phần vốn có được từ chênh lệch giữagiá thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó tại thời điểm phát hành.Tuỳ theo sự đánh giá của thị trường về trị giá của cổ phiếu của doanh nghiệp mà
Trang 12phần vốn này thu được là lớn hay nhỏ so với phần vốn doanh nghiệp dự tính cóđược từ phát hành cổ phiếu thường.
Nguồn vốn từ thu nhập giữ lại được tài trợ cho dự án chỉ khi quá trìnhhoạt động sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả Tài trợ bằng thu nhập giữ lại
là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của cácdoanh nghiệp do doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộc vàobên ngoài
Tài trợ cho dự án bằng nợ: phần vốn này doanh nghiệp có thể có từnguồn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hành tráiphiếu Trái phiếu thực chất là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn Trên thịtrường thường lưu hành nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp khác nhau (trái phiếu
có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phíếu có thể thu hồi, tráiphiếu có thể chuyển đổi) Việc doanh nghiệp lựa chọn loại trái phiếu nào để tàitrợ cho dự án còn tuỳ thuộc vào những vấn đề liên quan đến chi phí trả lãi, cáchthức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu
Tài trợ cho dự án bằng hình thức Leasing: thực chất đây là hình thức tàitrợ dự án thông qua cho thuê các loại tài sản Doanh nghiệp có thể thuê ngắn hạntài sản hoặc thuê dài hạn tài sản Đây là hình thức tài trợ rất phổ biến do nó cónhiều ưu điểm so với các hình thức tài trợ khác đối với cả người cho thuê, người
đi thuê và với nền kinh tế
Tài trợ bằng hình thức kết hợp: Đó là cách mà nguồn vốn cho dự án hìnhthành từ sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định giữa vốn vay, vốn chủ sở hữu; Ứngvới mỗi hình thức tài trợ doanh nghiệp sẽ phải chịu một khoản chi phí vốn nhấtđịnh Nhất là trong hình thức tài trợ hỗn hợp chi phí vốn của dự án được đặcbiệt quan tâm Bởi từ đó mà nhà soạn lập xác định nên đi vay bao nhiêu, nêndùng vốn chủ bao nhiêu sao cho có được cơ cấu vốn tối ưu
Nếu gọi T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp
Ke : Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
Kd: Chi phí của vốn vay
Trang 13We: Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
Wd: Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
Ta có công thức xác định chi phí vốn trung bình của dự án:
WACC = We.ke + Wd.(1 – T).kd
Nhiệm vụ của nhà thẩm định trong giai đoạn này là xác định xem nguồn vốn của
dự án được tài trợ bằng hình thức nào, cơ cấu như thế nào, có hợp lý so với thực
tế không, chi phí vốn dự tính có phù hợp không… Chẳng hạn như khách hàng
cơ cấu dự định 50% vốn của dự án là vốn chủ sở hữu, thì cán bộ thẩm định phảixác định xem khách hàng có đủ khả năng để cung cấp vốn đúng như vậy không
- hay nói cách khác là phải xem xét năng lực tài chính của khách hàng
1.3.2 Thẩm định kế hoạch doanh thu – chi phí – lợi nhuận hàng năm của
dự án.
Khi thực hiện công tác thẩm định về doanh thu của dự án điểm xuất phátđầu tiên của nhà thẩm định là tìm hiểu về thị trường sản phẩm của dự án Cán bộthẩm định sẽ phải thu thập thông tin về giá cả sản phẩm đã có hay sản phẩmtương tự của đối thủ cạnh tranh trên thị trường hiện tại là bao nhiêu? Nhu cầu vềsản phẩm này hiện tại và xu hướng trong tương lai Rồi đặc tính sản phẩm của
dự án có khả năng chiếm lĩnh thị trường hay không? Công suất dự tính của dự
án sẽ là bao nhiêu … Từ đó dự tính doanh thu hàng năm của dự án
Về chiphí của dự án: Thông thường phần vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổngvốn của dự án Nên những phần vốn chi cho xây dựng cơ sở vật chất, mua sắmmáy móc thiết bị sản xuất thường được thẩm định kĩ lưỡng Cán bộ thẩm địnhphải xem xét giá cả nguyên – nhiên vật liệu cho phần xây dựng cũng như giá cảmáy móc sản xuất của dự án bao nhiêu là phù hợp với thị trường của khu vực,chất lượng máy móc ra sao…nhằm đánh giá chính xác cho phần vốn cần bỏ ra
Doanh thu mỗi
năm của dự án =
Lượng hàng
dự tính tiêuthụ mỗi năm
X
Giá bán dự tínhcủa một đơn vịsản phẩm
Trang 14ban đầu Và khi dự án đi vào hoạt động thì những chi phí về nguyên nhiên vậtliệu, đơn giá tiền công, khấu hao hình thành nên giá thành sản phẩm sẽ là baonhiêu có phù hợp với dây truyền sản xuất, với thị trường hiện tại không? Phươngpháp khấu hao như thế nào cũng đặc biệt được quan tâm bởi nó ảnh hưởng khálớn đến dòng tiền ròng của dự án Cán bộ thẩm định cần xem xét phương phápkhấu hao mà doanh nghiệp sử dụng là phương pháp nào: khấu hao đường thẳng,khấu hao giảm dần,… có phù hợp với loại tài sản và với qui định của nhà nướchay không Những chi tiết này sẽ được cán bộ thẩm định làm rõ trên cơ sởnhững nguyên tắc kế toán nhất định để xác định chi phí hợp lý cho từng năm của
1.3.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một
dự án là các khoản chi và thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khácnhau trong suốt thời gian tồn tại của dự án Trong dòng tiền của dự án có dòngtiền ra, dòng tiền vào và dòng tiền ròng (chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòngtiền ra của dự án) Trong đó dòng tiền ròng được coi là con số chính để xác địnhgiá trị hay hiệu quả trực tiếp của dự án Khi xác định dòng tiền các nhà phân tích
và thẩm định có những nguyên tắc nhất định
Nguyên tắc xác định dòng tiền:
Loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích: Chi phí chìm là những chi phi
mà doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận vàthực hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết kế dự
án, …) Chi phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vào phầnchi đầu tư của dự án
Trang 15Chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án: Có
những dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn có củadoanh nghiệp Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được sửdụng vào việc khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp Khi sử dụng vào dự
án doanh nghiệp đã bỏ mất phần nguồn thu đó Bởi vậy khoản chi phí này cầnđược đưa vào nhằm đánh giá chính xác chi phí thực của dự án
Ngoài hai khoản mục trên phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hết các dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt động của
dự án Tài sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động trừ
đi nợ ngắn hạn Đặc tính của tài sản lưu động ròng là không được khấu hao vàthường được thu hồi vào giai đoạn kết thúc của dự án Do vậy khi tiến hành dự
án mới tài sản lưu động ròng cần được tài trợ ở năm đầu của dự án
Những tác động đối với dự án khác: có những dự án mới khi ra đời sẽ
có tác động tăng (hoặc giảm) thu nhập của các dự án khác của doanh nghiệp.Thực chất khoản tăng giảm này chỉ là sự chuyển dịch thu nhập của doanh nghiệpnên dòng tiền thu được của doanh nghiệp từ những sự tăng thêm (hoặc giảm đi)
đó cũng phải đưa vào dự án mới
Tác động của thuế: Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận đối với
dòng tiền của dự án Thông qua chi phí khấu hao của tài sản cố định thuế doanhnghiệp phải nộp từ dự án sẽ giảm làm cho dòng tiền tăng Hay đối với chi phí lãivay - một khoản chi phí phân bổ trước khi xác định thu nhập ròng, chi phí nàycao cũng đồng nghĩa với thu nhập ròng giảm từ đây sẽ tiết kiệm một phần thuếthu nhập cho doanh nghiệp, làm dòng tiền từ dự án tăng lên Từ đó căn cứ mộtphần vào khoản tiết kiệm thuế nhờ lãi vay so với chi phí lãi vay phải trả màdoanh nghiệp có cách tìm và sử dụng nguồn vốn sao cho hợp lý
Cách xác định dòng tiền: Thông thường mỗi dự án các nhà thẩmđịnh cũng như nhà phân tích hay thiết kế dự án đều phân định ra các dòng tiềncần xác định bao gồm: dòng tiền đầu tư (trong đó gồm tiền đầu tư vào tài sản cốđịnh - chi phí lắp đặt, chi phí cơ hội, đầu tư vào tài sản lưu động ròng), dòng tiền
Trang 16từ hoạt động kinh doanh (dòng tiền này được xác định thông qua báo cáo kếtquả kinh doanh dự tính hàng năm của dự án) Và dòng tiền ròng hàng năm của
dự án:
NCFt = LNSTt + KHt - Trả gốc vay
Trong đó :
NCF t : Dòng tiền năm thứ t của dự án
LNST t : Lợi nhuận sau thuế năm thứ t của dự án
KH t : Giá trị khấu hao năm t của dự án
(Riêng năm cuối cùng của dự án còn có thêm phần vốn lưu động ròngđược thu hồi và phần thu nhập sau thuế từ thanh lý tài sản cố định, nên
NCFnc = LNSTnc + KHnc + VLĐR thu hồi + Thu nhập từ
là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án được quy về hiện tại để xác định giátrị hiện tại ròng của dự án – NPV Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộcvào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn
Rủi ro của dự án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao
Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suấtchiết khấu tối thiểu phải bằng với tỷ lệ chi phí đó
Trang 17Từ trên cho thấy xác định dòng tiền là vô cùng quan trọng và việc thẩmđịnh dòng tiền của dự án là yếu tố cốt yếu để đưa đến những kết luận cho côngtác thẩm định tài chính dự án.
1.3.4 Thẩm định hiệu quả tài chính dự án.
Việc nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án chủ yếu dựatrên những kết quả từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án Mỗi chỉ tiêunày cho ta một phương pháp để đánh giá được hiệu quả tài chính dự án
Chỉ tiêu giá trị hiện tài ròng – NPV của dự án:
Giá trị hiện tại ròng của dự án được hiểu là chênh lệch giữa tổng giá trịhiện tại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu
tư bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc thời gian 0
CF NPV
n t
n
t t
k
Ct k
Bt k
Ct Bt NPV
NPV: giá trị hiện tại dòng của dự án
CFt : Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ t của dự án ( t = 1n)
CF0 : Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần
ở năm đầu tiên của dự án)
n : số năm thực hiện dự án
Bt: dòng thu của dự án vào năm thứ t
Ct: Dòng chi của dự án vào năm thứ t
* Ý nghĩa: Chỉ tiêu NPV phản ánh giá trị tăng thêm của chủ đầu tư Nếu
NPV dương tức là dự án được thực hiện không những bù đắp được vốn đầu tư
bỏ ra mà còn tạo ra phần tăng thêm cho chủ dự án (lợi nhuận) và ngược lại Do
đó với những dự án độc lập thì NPV >0 sẽ là dự án có hiệu quả về mặt tài chính Còn NPV<0 thì dự án là không có hiệu quả Trường hợp có hơn một
dự án thì dự án nào có NPV >0 và lớn nhất tương ứng đó là dự án đem lại lợi
Trang 18ích dự tính lớn nhất cho nhà đầu tư hay dự án có hiệu quả nhất nên sẽ được lựachọn.
*Ưu nhược điểm: Việc sử dụng NPV các nhà phân tích có thể đo lường
trực tiếp lợi nhuận tuyệt đối của dự án đầu tư từ đây có thể so sánh, lựa chọn các
dự án khác nhau Đặc biệt chỉ tiêu này có ưu điểm nổi bật là có xét đến giá trịthời gian của tiền và tính toán hiệu quả toàn bộ đời sống của dự án
Tuy nhiên bên cạnh đó thì chỉ tiêu NPV cũng có một số nhược điểm đó là:
- Phải xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của dự án khi muốn sửdụng chỉ tiêu này Đây là công việc không phải lúc nào cán bộ phân tích- thẩmđịnh cũng có thể dự tính được
Kết quả của phép tính NPV phụ thuộc vào cách mà cán bộ phân tích Thẩm định lựa chọn tỷ lệ chiết khấu Trong khi tình hình thị trường vốn luônluôn biến động nhưng tỷ lệ chiết khấu này lại được coi cố định cho toàn bộ thờihạn chiết khấu của dự án Đây là điều không hợp lý
Chỉ tiêu này chưa nói lên được hiệu quả sử dụng đồng vốn bỏ ra bởi nómới chỉ cho biết được hiệu quả dưới dạng con số tuyệt đối, không biểu diễn dưóidạng số tương đối
- Trong trường hợp vốn có hạn nhưng có nhiều dự án có thời hạn khácnhau để lựa chọn đầu tư thì không thể dùng chỉ tiêu này
Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ - IRR:
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ mà tại đó tổng dòng thu bằng tổng dòngchi của dự án khi quy đổi về hiện tại hay đó chính là tỷ lệ chiết khấu mà tại đógiá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0 (NPV = 0)
NPV
IRR thường được tính bằng phương pháp nội suy Hai giá trị của lãi suất chiếtkhấu k1,k2 (k2 >k1) ứng với NPV1>0 và NPV2< 0 sẽ được lựa chọn, dựa trênnguyên tắc tam giác đồng dạng ta có được IRR là giá trị nằm giữa 2 giá trị đượcchọn mà tại đó NPV =0
Trang 19
2 1
1 2 1 1
IRR
NPV NPV
k k NPV k
*Ý nghĩa: Chỉ tiêu IRR nói nên mức sinh lợi của dự án sau khi đã hoàn
vốn đồng thời cũng phản ánh mức doanh lợi tối thiểu mà dự án đem lại
Thông thường dự án được đánh giá có hiệu quả khi nó có IRRChi phí vốn
Đối với các dự án hay phương án loại trừ nhau thì lựa chọn phương án có IRR
Chi phí vốn và IRR max.
* Ưu nhược điểm:
Cũng giống như NPV chỉ tiêu IRR có khá nhiều ưu điểm, như:
- Chỉ tiêu này có xét đến sự biến động của yếu tố thời gian, tính đến hiệuquả cả đời dự án và có tính đến giá trị thời gian của tiền
- Cho biết được khả năng sinh lời của dự án, dễ dàng so sánh với mộtmức hiệu quả cho phép (bằng cách so sánh với chỉ tiêu k)
- IRR không phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu do nó được xác định từ nội
bộ phương án Đồng thời có thể sử dụng để so sánh các dự án - phương án khácnhau
Song song với những ưu điểm trên chỉ tiêu IRR còn có một số nhược điểm:
- Chỉ tiêu này chỉ cho biết lợi nhuận tương đối, không cho biết được giátrị tuyệt đối dẫn đến có thể lựa chọn dự án có khả năng sinh lời cao nhưng lợinhuận tạo ra thấp
- Không đề cập đến quy mô và độ lớn của dự án Đặc biệt không xácđịnh được một tỷ suất hoàn vốn nội bộ trong trường hợp dòng tiền có sự thayđổi nhiều lần từ (-) sang (+) và ngược lại, khi đó cán bộ thẩm định – phân tíchcần dùng NPV để đánh giá
Trong những trường hợp kết quả đánh giá bằng NPV và IRR ngượcnhau thì chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự án vì do chỉ tiêuIIR không đề cập đến quy mô vốn và chúng được giả định rằng dòng tiền đượctái đầu tư bằng tỷ lệ sinh lời của dự án
Trang 20 Chỉ tiêu tỷ số thu chi - B/C( hay BCR):
Tỷ số thu - chi (B/C) là tỷ số giữa giá trị hiện tại của dòng thu trên giá trịhiện tại của dòng chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của đồng vốn bỏ
ra khi quy về giá trị hiện tại
t
k Ct k
Bt BCR
0
0
1 1
* Ý nghĩa: Dự án được coi là có hiệu quả về mặt tài chính khi BCR>1.
Đối với những phương án loại trừ nhau thì phương án tốt nhất về mặt tài chính
là phương án có BCR lớn nhất
* Ưu nhược điểm:
Chỉ tiêu BCR có ưu điểm nổi bật là: có tính đến giá trị thời gian của tiền,tính toán trên toàn bộ đời sống của dự án; Đồng thời đánh giá được hiệu quảtương đối của dự án và có thể dùng để so sánh các dự án – phương án khácnhau
Tuy vậy chỉ tiêu này cũng có khá nhiều nhược điểm Đó là việc đòi hỏiphải xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của dự án Đây lại là một công việckhông phải là dễ dàng đối với nhà phân tích và thẩm định
Chỉ tiêu này có sự phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu, trong khi tỷ lệ chiết khấu trênthị trường lại luôn có sự thay đổi Đây chỉ là một chỉ tiêu tương đối nên dễ cóthể dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các phương án khác nhau
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn - PP:
Thời gian hoàn vốn đầu tư là thời gian để chủ đầu tư thu hồi được sốvốn đã đầu tư ban đầu vào dự án Chỉ tiêu này cho biết sau khi thực hiện dự ánbao lâu thì thu hồi đủ vốn đầu tư Được xác định theo công thức:
PP = n +
Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư
Trang 21Dự án có PP càng nhỏ sẽ càng tốt Bởi khi đó nhà đầu tư sẽ thu hồi đượcvốn sớm Do đó nếu có nhiều dự án để lựa chọn thì dự án có PP nhỏ nhất sẽđược chọn.
*Ưu nhược điểm:
Chỉ tiêu này có ưu điểm là cho biết rõ được thời gian vốn sẽ được thu
hồi và có thể dùng để so sánh các dự án – các phương án khác nhau Nhưng bên
cạnh đó chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm: Nhiều khi sử dụng chỉ tiêu này
dễ dẫn đến việc quá chú trọng chọn phương án có thời gian thu hồi vốn nhỏ nhất
mà bỏ qua mất phương án có lợi nhuận cao nhất (mục đích của nhà đầu tư).Không tính tới giá trị thời gian của tiền, bỏ qua phần thu nhập sau thời gian hoànvốn mà đôi khi có những dự án những năm sau mới có lợi nhuận cao
Mỗi chỉ tiêu trên chỉ tiêu nào cũng có những ưu nhược điểm riêng khôngchỉ tiêu nào là hoàn hảo nên khi thẩm định các cán bộ thẩm định thường sử dụngkết hợp một số chỉ tiêu có thể để có được kết quả chính xác nhất
1.3.5 Đánh giá rủi ro của dự án.
Bất kỳ một dự án nào ngay từ khâu lập cho đến kết thúc hoạt động luôn
luôn chứa đựng trong nó những rủi ro tiềm ẩn Một cách chung nhất rủi ro của
dự án vẫn được hiểu là khả năng xảy ra một sự kiện không có lợi nào đó làm giảm thu nhập của dự án so với dự kiến.
Thực tế môi trường kinh tế, đầu tư luôn chứa đựng rất nhiều loại rủi ro khácnhau Để thuận tiện cho việc phân tích chúng người ta đã phân ra làm ba loại:
Rủi ro loại 1: là những rủi ro riêng thuộc về chính bản thân dự án hay
chính là rủi ro của một tài sản khi nó là tài sản duy nhất của dự án
Rủi ro loại 2: Đây là loại rủi ro cho thấy sự ảnh hưởng của dự án đối
với rủi ro của doanh nghiệp Nó thể hiện thông qua sự biến thiên thu nhập củadoanh nghiệp khi thực hiện dự án
Rủi ro loại 3: hay rủi ro thị trường: là rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đối
với giá cổ phiếu của doanh nghiệp Đây là loại rủi ro mà doanh nghiệp không thểloại trừ được, chẳng hạn như rủi ro về tỷ giá, lạm phát…
Trang 22Trong 3 loại rủi ro trên rủi ro loại một là loại mà cán bộ thẩm định rất quan tâm
và rủi ro này cũng rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chính thực sựcủa dự án Rủi ro này được đánh giá bằng các phương pháp:
Phương pháp phân tích độ nhạy:
Đây là phương pháp mà cán bộ phân tích - thẩm định chỉ ra chính xáccác chỉ tiêu tài chính thay đổi như thế nào khi có biến đầu vào thay đổi Quitrình phân tích được bắt đầu bằng việc dự báo những khoản doanh thu và chi phí
dự kiến để thông qua chúng tìm được những khoản lợi nhuận ròng của dự án.Kết quả dự báo được đặt trong hai tình huống là lạc quan và bi quan, và đánh giáảnh hưởng của chúng đối với NPV của dự án
Phân tích về độ nhạy là một quy trình hữu ích để nhận diện các biến số
mà sự thay đổi của chúng sẽ gây tác động lớn đến NPV của dự án Qua phươngpháp này người ra quyết định có thể tính toán được những hậu quả của sự ướctính sai lầm và ảnh hưởng của chúng đến NPV Mặc dù vậy thì việc sử dụngphương pháp này cũng có một số hạn chế nhất định Đó là:
- Các biến số đưa ra dựa trên những phán đoán chủ quan rất cao Cónhững biến đầu vào như giá bán, mức bán trên thực tế có thể được cố địnhbằng hợp đồng với nhà cung cấp Nhưng khi phân tích những yếu tố này lại chothấy ảnh hưởng rất lớn đến NPV và IRR, như vậy việc đánh giá rủi ro trở nênkém chính xác
- Bỏ qua sự tác động lẫn nhau của các biến số đầu vào, mà chỉ xét đếntác động của những biến số đầu vào này đối với biến số đầu ra
- Thêm nữa là kết quả về phân tích độ nhạy không đem lại cho người raquyết định một giải pháp rõ ràng đối với việc lựa chọn dự án Ý nghĩa củaphương pháp này là đưa lại cho người phân tích ý tưởng về một số điều khôngchắc chắn và độ nhạy
Nhưng cho dù thế nào thì thực tế phương pháp này vẫn là một công cụ rất hữuích khi sử dụng kết hợp với một số hình thức phân tích rủi ro khác
Phương pháp phân tích giả định tình huống:
Trang 23Phương pháp này thường được áp dụng khi đánh giá rủi ro của những
dự án lớn, bởi đây là một qui trình đánh giá lợi nhuận và rủi ro của những dự ánphức tạp
Bước đầu của phương pháp này là tạo ra một mẫu dòng tiền bằng cáchxác định những yếu tố ảnh hưởng đến nó và các mối quan hệ cụ thể giữa các yếu
tố thành phần của dòng tiền với nhau, và cả những ảnh hưởng của những yếu tốnày đến dòng tiền
Dòng tiền = (doanh thu – chi phí)x(1 - thuế suất) + (thuế suất x khấu hao)
Mỗi thành phần chủ yếu của dòng tiền có thể chỉ ra những yếu tố quyếtđịnh của nó Khi các mối quan hệ của dòng tiền đã được nhận diện, các nhàphân tích có thể dễ dàng đánh giá được phân phối xác suất của mỗi thành phầncủa nó Và khi tất cả những phân phối xác suất cũng như các mỗi quan hệ giữacác thành phần đã được chỉ rõ thì đã hình thành được mô hình của “tình huốnggiả định” Lúc này kết hợp với việc sử dụng các phần mềm máy tính chuyênbiệt cán bộ phân tích - thẩm định lựa chọn ngẫu nhiên dòng tiền cho mỗi năm vàcho cả đời sống của dự án NPV của dự án sẽ được chiết khấu ở tỷ lệ rủi ro sinhlời của mức rủi ro thuần tuý để tránh tình trạng tính hai lần rủi ro NPV ở đây đạidiện cho một trong nhiều NPV tiềm tàng có thể xuất hiện Máy tính sẽ thực hiệnnhiều lần và dừng lại ở một phân phối xác suất ước tính về NPV của dự án.Đồng thời cũng cho kết quả về phân phối xác suất ước tính của IRR
Phương pháp này có ưu điểm và nhược điểm nhất định:
Trong đó ưu điểm là bắt buộc người ra quyết định phải xem xét cẩn
thận các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền Nó đem lại một
sự mô tả chi tiết về phân bố của NPV, và cung cấp thông tin về những ảnhhưởng cùng một lúc của tất cả các biến số thích hợp đối với NPV
Còn nhược điểm của phương pháp này là:
Việc nhận biết các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền
là rất khó khăn Nó đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, thời gian và chi phí màkết quả thu được cũng chỉ là những phân bố dự tính; Ở phương pháp này rủi ro
Trang 24của dự án không tính đến sự đa dạng hoá của nhà đầu tư; Nó tạo ra một sự phân
bố NPV mà nhà quản trị vẫn không có được câu trả lời hoàn toàn rõ ràng trongviệc chấp nhận hay từ chối đầu tư - thực hiện dự án
1.4 Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung
và dài hạn của NHTM
1.4.1 Quan niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Từ trước đến nay một khái niệm thống nhất về chất lượng của thẩm địnhtài chính dự án vẫn chưa được đưa ra một cách cụ thể chính xác Đối với mỗichủ thể nghiên cứu khác nhau lại có quan niệm riêng về chất lượng thẩm định tàichính dự án Riêng hoạt động thẩm định tài chính dự án của ngân hàng được coi
là có chất lượng tốt chỉ khi: Trong giai đoạn trước khi cho vay thì đó là căn cứkhoa học để giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay Trong những giai đoạntiếp theo của quy trình cho vay thì chất lượng thẩm định tài chính tốt tức là thunhập dòng hàng năm của dự án tăng đều và không lệch nhiều so với dự kiến,ngân hàng thu được nợ gốc và lãi đầy đủ đúng hạn, chủ đầu tư có được lợinhuận, những rủi ro xảy ra không nằm ngoài dự tính của nhà lập - nhà thẩm định
dự án; Còn chất lượng thẩm định tài chính dự án sẽ là thấp nếu dựa vào đó đểngân hàng ra quyết định cho vay nhưng sau này không thu hồi được nợ (gốc vàlãi vay), hay ngân hàng không cho vay nhưng tổ chức tín dụng khác cho vay thì
dự án hoạt động tốt và thu hồi được nợ Điều đó gây ra thiệt hại cho ngân hàng
và làm giảm thu nhập của ngân hàng Thực tế cho thấy chất lượng thẩm định tàichính dự án là một khái niệm mang nhiều yếu tố định tính, chính bản thân cácnhà thẩm định – các nhà phân tích hiệu quả tài chính dự án cũng khó có thể biếtngay được chất lượng công tác của mình, nó đòi hỏi phải có khoảng thời giandài để khẳng định
Như vậy một cách tổng quát nhất thì chất lượng thẩm định tài chính dự
án được coi là tốt khi từ kết quả thẩm định ngân hàng quyết định cấp tín dụng vàkhoản tín dụng đó đem lại thu nhập cho ngân hàng, hay khi ngân hàng từ chốicấp thì cũng không làm giảm thu nhập của ngân hàng
Trang 251.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Mặc dù khó đưa ra một khái niệm chính xác nhưng không phải là cácngân hàng không có cách để xác định được chất lượng thẩm định tài chính dự
án Dưới đây là một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dựán
Một là mức độ khách quan, khoa học, toàn diện của kết quả quá trình
thẩm định tài chính của dự án và tầm quan trọng của những kết quả này trong
quyết định cho vay của ngân hàng
Hai là độ chính xác giữa kết quả thẩm định với thực tế thực hiện dự án.
Bao gồm sự chính xác về số vốn bỏ ra dự tính cho từng giai đoạn của dự án vớilượng vốn chi ra ở từng giai đoạn, doanh thu dự tính thu được với doanh thuthực tế thu được hàng năm, chính xác trong đánh giá hiệu quả và phân tích rủi ro
so với thực tế phát sinh…
Ba là thời gian và chi phí bỏ ra để tiến hành thẩm định tài chính của dự
án Thời gian thẩm định nhanh, chi phí thấp nhưng kết quả thẩm định được sửdụng triệt để và là căn cứ chính cho quyết định cho vay thì quá trình thẩm định
đó được coi có chất lượng tốt Ngược lại chi phí thẩm định lớn, thời gian thẩmđịnh dài nhưng kết quả thẩm định lại sử dụng không nhiều, trong quyết định chovay thì quá trinh thẩm định đó chỉ có thể tạm coi là có chất lượng trung bình
So với hai chỉ tiêu trên chỉ tiêu thứ ba này có tính định lượng hơn cả Cả thờigian và chi phí để thẩm định dự án ngân hàng đều có thể tính được cụ thể Bởi ởmỗi ngân hàng quá trình thẩm định đều được giới hạn trong một khoảng thờigian nhất định (có thể là 20, 30 hay 40 ngày) Còn chi phí thì tuỳ vào quy mô vàtính chất phức tạp của từng dự án mà ngân hàng có thể xác định sau khi quátrình thẩm định hoàn thành Mặc dù vậy chỉ tiêu này chỉ nói rõ được chất lượngthẩm định khi nó được sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác
Thứ tư là căn cứ vào chỉ tiêu dư nợ cho vay T&DH, chỉ tiêu lãi thu từ
cho vay T&DH, tỷ lệ nợ quá hạn Những con số này phần nào phản ánh trực tiếp
Trang 26chất lượng thẩm định nói chung và chất lượng thẩm định tài chính dự án nóiriêng.
Dư nợ cho vay trung và dài hạn là một con số thời điểm, nó cho biết số
tiền trung dài hạn mà NHTM đã cấp cho khách hàng (đã giải ngân) nhưng chưathu hồi do khoản vay đó chưa đến hạn hay khoản vay đang là nợ quá hạn Thôngqua việc so sánh con số này giữa các thời kỳ khác nhau ngân hàng đánh giáđược tốc độ phát triển của hoạt động cho vay T&DH Nếu như dư nợ cho vayT&DH của một ngân hàng tăng đều đặn và ổn định qua các thời kì chứng tỏhoạt động cho vay T&DH của ngân hàng đang phát triển tốt Qua đó phần nàonói nên chất lượng công tác thẩm định tài chính trong cho vay T&DH cũng đang
có chất lượng tốt, công tác thẩm định đã và đang tạo niềm tin cho lãnh đạo ngânhàng trong việc xem xét phê duyệt khoản vay Còn khi chỉ tiêu dư nợ cho vaygiảm nhanh và có tính hệ thống qua các thời kì cho thấy hoạt động cho vayT&DH của ngân hàng đang có vấn đề và tất yếu chất lượng công tác thẩm địnhnói chung và thẩm định tài chính nói riêng cũng cần phải xem xét lại
Số lãi thu từ cho vay T&DH: chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ dư nợ của
ngân hàng tăng trưởng tốt khách hàng trả lãi, gốc, và phí đúng hạn Điều này thểhiện công tác thẩm định các khoản vay (nhất là thẩm định tài chính dự án) đãđược làm rất tốt và có chất lượng cao, dự án thực tế đi vào hoạt động có hiệuquả đem lại nguồn thu nhập để doanh nghiệp chi trả lãi và gốc cho ngân hàng.Như vậy chỉ tiêu này thể hiện sự tỷ lệ thuận với chất lượng của thẩm định chovay T&DH nói chung
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ T&DH của ngân hàng: Ngoài những
nguyên nhân như biến động môi trường pháp chính trị, môi trường kinh tế, ngânhàng không kiểm soát được thì việc xem xét không kĩ trước khi cho vay cũng lànguyên nhân đáng kể dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn cao trong NHTM Trong cho vayT&DH theo dự án đây chính là do việc thẩm định tài chính dự án chất lượngchưa tốt Công tác thẩm định được tiến hành cẩn thận đối với từng vấn đề cụ thểmột cách khoa học, theo đúng qui trình thì việc phát sinh nợ quá hạn do nguyên
Trang 27nhân thẩm định là không thể có, nhưng nếu chỉ thực hiện qua loa thì khả năngphát sinh khách hàng không trả được gốc, lãi là rất cao, và dẫn đến nợ quá hạn làđiều khó tránh khỏi Như vậy chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay T&Dhạn có sự tỷ lệ nghịch với chất lượng thẩm định tài chính dự án Do đó màNHTM cũng có thể sử dụng chỉ tiêu này để phần nào đánh giá chất lượng củacông tác thẩm định tài chính dự án nói riêng và chất lượng thẩm định nói chung.
Việc sử dụng kết hợp những chỉ tiêu trên phần nào giúp ngân hàng cócái nhìn khái quát về chất lượng thẩm định tài chính dự án, để từ đó đưa ranhững phương hướng và biện pháp cụ thể nhằm không ngừng nâng cao hơn nữachất lượng thẩm định của ngân hàng mình Và để làm được thì việc nắm bắt đầy
đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án là rất cầnthiết
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại.
1.5.1 Những nhân tố khách quan.
Điều kiện kinh tế xã hội: Nhân tố này có ảnh hưởng khá rõ ràng tớichất lượng thẩm định Nền kinh tế xã hội phát triển lành mạnh, và ổn định thôngtin thị trường được phản ánh một cách trung thực đầy đủ sẽ giúp cho cán bộthẩm định nhanh chóng, kịp thời có được những thông tin cần thiết về thị trườngnguyên - nhiên vật liệu của dự án, cũng như những thông tin về tình hình cungcầu sản phẩm của dự án trên thị trường… từ đó làm tăng độ chính xác trongnhững dự báo về dự án và tính chính xác khách quan trong kết quả thẩm định.Đồng thời thông tin đầy đủ chính xác thì thời gian thẩm định cũng sẽ được rútngắn tăng lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng, tiết kiệm thời gian cho chủ dự án.Thực tế cho thấy trong những năm 90 của thế kỉ trước kinh tế xã hội nước tamới bước vào thời kì đổi, còn nhiều bất cập, hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém,khoa học công nghệ vẫn lạc hậu rất nhiều so với khu vực… kéo theo hệ thốngthông tin thị trường và doanh nghiệp cũng thiếu, độ chính xác không cao vàkhông phản ánh hết được thực tế hoạt động của doanh nghiệp Điều này dẫn đến
Trang 28việc thẩm định các dự án gần như chỉ mang tính hình thức (nhất là ở các ngânhàng thương mại quốc doanh), các ngân hàng cho vay nhưng dựa trên điều kiệntài sản đảm bảo là chính Việc thẩm định sơ sài, mang nặng tính hình thức đãdẫn đến rất nhiều dự án bị bỏ dở hay hoàn thành nhưng đem lại hiệu quả thấp.
Từ năm 2000 trở lại đây sự mở cửa rộng hơn nền kinh tế làm cho yếu tố cạnhtranh trở nên gay gắt hơn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước ta nhiềuhơn buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới để tồn tại Đã dần hìnhthành nên một môi trường kinh tế thị trường rõ nét hơn Thông tin đưa ra có tínhcập nhật và đầy đủ hơn, điều kiện vật chất cũng hiện đại hơn … và việc cho vaycũng quan tâm đến tính khả thi của dự án hơn (việc thẩm định cũng trở nên quantrọng hơn và cụ thể chi tiết hơn), điều kiện về tài sản đảm bảo không còn là yếu
tố chính nữa trong quyết định cho vay của NHTM
Môi trường pháp lý.
Không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng nói chung, của công tácthẩm định tài chính dự án nói riêng mà đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinhdoanh khác, môi trường pháp lý có tác động vô cùng lớn Những căn cứ pháp lýchính là bảng chỉ dẫn cho các hoạt động kinh tế đi đúng hướng và đúng mục tiêuphát triển của cả cộng động Do vậy có một môi trường pháp lý ổn định, lànhmạnh, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho công tác thẩm định thựchiện một cách bài bản, đúng quy định, trong khuôn khổ cho phép, thuận tiện cho
cả khách hàng lẫn ngân hàng Còn nếu môi trường pháp lý còn thiếu và chưađồng bộ thì đây chính là một khó khăn lớn cho các nhà thẩm định Các nhà thẩmđịnh sẽ phải gặp những mâu thuẫn có thể phát sinh giữa các văn bản hướng dẫn,giữa những qui định…và điều này thực tế đã diễn ra rất nhiều (chẳng hạn nhưcác quy định về hạch toán kế toán, về khấu hao,… ) các nhà thẩm định sẽ phảimất nhiều thời gian công sức hơn khi thực hiện công việc của mình Đặc biệt sựchồng chéo hoặc khiếm khuyết trong quy định có thể là cơ hội cho những kháchhàng (bản chất kinh doanh không tốt) dựa vào đó luồn lách để có được khoản tín
Trang 29vay mong muốn nhưng lại không có khả năng hoàn vốn hay lãi dẫn đến thiệt hạicho ngân hàng lẫn nền kinh tế
Chủ dự án (khách hàng):
Có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định.Chủ dự án chính là những người làm việc trực tiếp với ngân hàng khi muốn vayvốn của ngân hàng và cũng là người nắm rõ về dự án nhất Mà để thẩm định dự
án thì vấn đề đầu tiên là ngân hàng phải thu thập thông tin về dự án Nhữngthông tin này không đâu khác chính chủ dự án sẽ là người cung cấp trước tiêncho ngân hàng thông qua hồ sơ vay vốn Do vậy chủ dự án cung cấp thông tintrung thực, chính xác, khoa học và đầy đủ sẽ giúp ích cho việc thẩm định tàichính của dự án rất nhiều Bên cạnh đó sự hiểu biết sâu rộng của chủ dự án, khảnăng tổ chức, quản lý, sự nỗ lực của chủ dự án trong việc kết hợp với cán bộ tíndụng khi thẩm định cũng góp phần thúc đẩy quá trình thẩm định dự án nóichung, thẩm định tài chính dự án nói riêng diễn ra nhanh chóng, chính xác, làmtăng tính khả thi của dự án Ngược lại chủ dự án thiếu năng lực tổ chức quản lý,trình độ và sự am hiểu hạn hẹp, thiếu sự trung thực, không sẵn sàng cung cấpnhững thông tin cần thiết cho việc thẩm định… thì rất dễ làm cho kết quả thẩmđịnh thiếu chính xác, dẫn đến vốn vay sử dụng không đúng mục đích hay làmthất thoát lãng phí vốn đầu tư của dự án Điều này tất yếu sẽ cho thấy chất lượngthẩm định thấp ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng
Môi trường tự nhiên:
Việc thẩm định không phải không chịu tác động của môi trường tựnhiên Để thu thập được thông tin cần thiết đôi khi cán bộ thẩm định phải đithực tế tại nơi dự án dự định sẽ được thực hiện Điều kiện khí hậu, thời tiết và sựbiến động theo chu kì của môi trường tự nhiên tại đó cũng sẽ ảnh hưởng tới kếtquả của việc thu thập thông tin đó, và việc dự tính các chỉ tiêu của dự án (đặcbiệt là đối với những dự án trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp), làm chonhững nhận định của cán bộ thẩm định không được chuẩn xác
Trang 301.5.2 Những nhân tố chủ quan
Nếu như những nhân tố khách quan ảnh hưởng một phần thì những nhân
tố chủ quan có tầm ảnh hưởng lớn hơn nhiều Trong đó bao gồm các nhân tố:Cán bộ thẩm định, trang thiết bị công nghệ và thông tin, qui trình - nội dungphương pháp thẩm định tài chính dự án, công tác tổ chức điều hành hoạt độngthẩm định tàì chính dự án
Cán bộ thẩm định:
Con người luôn là yếu tố trung tâm quyết định trực tiếp tới sự thànhcông hay thất bại của công việc Bởi vậy chất lượng thẩm định tài chính dự áncao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào những tố chất thuộc về cán bộ thẩm định.Trước tiên cũng như bất kỳ công việc nào, người thực hiện thẩm định có đượctrình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, kỹ năng tốt, am hiểu về thị trường một cáchsâu rộng, hiểu biết về khoa học kỹ thuật sẽ giúp cho công việc được tiến hànhnhanh chóng, chính xác, đạt kết quả cao Ngược lại cán bộ thẩm định yếu về kỹnăng, trình độ nghiệp vụ thấp kém, hiểu biết xã hội - thị trường hạn chế thì khó
có thể đảm bảo đạt được một chất lượng thẩm định cao Bên cạnh đó, các dự ántrung dài hạn thường có vốn lớn nên phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật và sự cẩnthận của cán bộ thẩm định cũng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng thẩm định, đặcbiệt là trong thẩm định tài chính dự án Cán bộ thẩm định có được những yếu tốnày sẽ giúp cho ngân hàng tránh được những rủi ro đạo đức giữa cán bộ thẩmđịnh với khách hàng, góp phần làm cho chất lượng thẩm định được cao hơn
Trang thiết bị công nghệ và thông tin:
Yếu tố này ảnh hưởng tới việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin củacán bộ thẩm định, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định Vì hiện nay việctrang bị thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến: máy tính nối mạng toàn cầu, cácphần mềm xử lý chuyên dụng, hệ thống cáp truyền nhanh, chính xác… giúp íchrất nhiều cho các hoạt động của cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm định không nhấtthiết phải tính toán tỉ mỉ hay phải đến tận nơi để thu thập tài liệu nữa mà sẽ đượcmáy tính xử lý và phân tích chính xác cụ thể từng chi tiết Từ đó giảm thời gian,
Trang 31tăng độ khoa học khách quan toàn diện trong quá trình xác minh tính khả thi của
dự án
Thông tin là yếu tố không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tàichính dự án mà ảnh hưởng tới mọi khâu của hoạt động cho vay cũng như nhữnghoạt động khác của ngân hàng Kết luận đưa ra từ quá trình thẩm định là kết quảcủa việc sử lý thông tin về dự án mà cán bộ thẩm định thu thập được Vì vậythông tin càng đầy đủ, càng chính xác cán bộ thẩm định phân tích dự án sẽ càng
dễ dàng đánh giá hiệu quả dự án Nhưng nếu thông tin thiếu, đôi khi lại khôngchính xác thì việc đánh giá chính xác được hiệu quả tài chính dự án là vô cùngkhó khăn
Qui trình nội dung phương pháp thẩm định tài chính dự án:
Qui trình và phương pháp thẩm định tài chính dự án chính là cơ sở đểcán bộ thẩm định tiến hành công việc của mình Trong qui trình thẩm định dự ángồm nhiều nội dung khác nhau, mỗi nội dung lại chứa đựng một phần về tàichính của dự án Tính khoa học và logic trong qui trình và phương pháp thẩmđịnh sẽ hạn chế khắc phục được những sai sót nhầm lẫn, đảm bảo cho công tácthẩm định tài chính dự án có được kết quả chính xác, tăng thêm ý nghĩa của củaviệc thẩm định Vì vậy mà có thể nói qui trình và nội dung phương pháp thẩmđịnh có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng của thẩm định tài chính dự án
Công tác tổ chức điều hành các hoạt động thẩm định tài chính
dự án:
Như hầu hết các công việc khác, vấn đề tổ chức điều hành trong cáchoạt động thẩm định tài chính dự án là vô cùng quan trọng Đối với một dự ántrong lĩnh vực mới thì không thể giao việc thẩm định cho những cán bộ có ítkinh nghiệm hay cán bộ không biết về lĩnh vực đó, điều này không những dẫnđến tốn thời gian và công sức tìm hiểu của cán bộ thẩm định mà còn làm tăngchi phí cho ngân hàng Thậm chí còn có thể dẫn đến kết quả thẩm định thiếu độtin cậy Nhưng nếu sắp xếp đúng người đúng việc sẽ có thể phát huy được thếmạnh của mỗi người, hạn chế bớt yếu điểm, tạo điều kiện phối hợp giữa các cá
Trang 32nhân - các bộ phận, công việc được thực hiện trôi chảy tiết kiệm thời gian, chiphí về con người và tài sản cho ngân hàng.
Trên đây là những vẫn đề cơ bản nhất về công tác thẩm định tài chính
dự án và chất lượng của thẩm định tài chính dự án Tuy nhiên đây chỉ là nhữngvấn đề về mặt lý thuyết, thực tế tại các ngân hàng chất lượng thẩm định thườngluôn được các ngân hàng quan tâm và có nhiều biện pháp để đảm bảo một chấtlượng thẩm định ngày càng một tốt hơn trong mỗi dự án tài trợ
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHTMCP HÀNG HẢI – CHI NHÁNH HÀ NỘI.
2.1 Tổng quan hoạt động của NHTMCP Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội.
2.1.1 Quá trình phát triển và cơ cấu tổ chức hoạt dộng củaNHTMCP Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội.
Là trung tâm kinh tế lớn của cả nước – Hà Nội một thành phố có nhiềuđiều kiện thuận lợi đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt về pháttriển khách hàng, sản phẩm, dịch vụ mới… Với những điều kiện rất tốt nàyngay sau khi MSB Việt Nam được thành lập (08/06/1991) thì Hội đồng quản trịHĐQT của MSB đã ra quyết định số 52 ngày 17/08/1991 thành lập chi nhánhMSB Hà Nội Đến ngày 01/09/1991 theo giấy phép hoạt động số 001/NH-GPngày 08/06/1991 MSB Hà Nội chính thức đi vào hoạt động tại địa điểm số 44Nguyễn Du–Hà Nội
Cùng với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của toàn hệ thống củatoàn hệ thống MSB Việt Nam sau 15 năm hoạt động chi nhánh Hà Nội cũngđang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thương mạiViệt Nam trên địa bàn Từ khi thành lập cho tới nay MSB Hà Nội luôn luôn làmột trong ba chi nhánh dẫn đầu trong mọi hoạt động của hệ thống Ngân hàngHàng Hải Việt nam Sau nhiều năm hoạt động với những cố gắng lớn Năm
2004 đã thành lập chi nhánh cấp II Đống Đa và đang chuẩn bị đưa 2 chi nhánhkhác đi vào hoạt động; Các sản phẩm dịch vụ ban đầu mới chỉ huy động vốn,tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, cho vay, chiết khấu, thì nay đã có thêm rất nhiềusản phẩm như, cho vay hợp vốn, các hình thức bảo lãnh, mở L/C, dịch vụ thẻ (sẽ
có vào cuối năm 2006)…Cơ sở vật chất ngày càng được hoàn thiện với hệ thốngtrang thiết bị hiện đại, hệ thống máy tính nối mạng 24/24, trụ sở khang trang;
Trang 34Khách hàng của MSB: như mục tiêu hướng đến chung của toàn hệthống MSB đối tượng khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các doanh nghiệpvừa và nhỏ thuộc các ngành kinh tế trọng điểm của cả nước Trong đó đặc biệtquan tâm tới khách hàng thuộc ngành hàng hải, bưu chính viễn thông, hàngkhông, bảo hiểm Đồng thời đẩy mạnh việc phát triển khách hàng là cá nhân.
Cơ cấu tổ chức: Tính đến ngày 31/12/2005 toàn bộ chi nhánh MSB HàNội có 83 cán bộ nhân viên Trong đó trên 90% có trình độ đại học và trên đạihọc Số cán bộ nhân viên nữ chiếm hơn 50%
Sơ đồ tổ chức của chi nhánh MSB Hà Nội:
Phòng
xử lý rủi ro
Phòng tín dụng
Phòng kế toán tài chính
Phòng giao dịch khách hàng Phó giám đốc
Tổ kế toán
Tổ tin học
Tổ TD quốc tế
& KH cá nhân
Tổ tín dụng KHDN
Trang 352.1.2 Những kết quả đạt được của Ngân hàng Hàng Hải – chi nhánh Hà
Nội trong năm vừa qua.
Trong thời gian vừa qua hoạt động của hệ thống ngân hàng ở nước ta
phát triển nhanh chóng Cùng những biến động lãi suất ngân hàng trên thế giới,
lãi suất của các ngân hàng ở Việt Nam không ngừng tăng tạo ra sự cạnh mạnh
mẽ về khách hàng, lãi suất, sản phẩm dịch vụ…giữa các ngân hàng với nhau
Đây là một trở ngại lớn đối với một ngân hàng qui mô khiêm tốn như MSB, đặc
biệt là MSB Hà Nội Tuy nhiên vượt qua những khó khăn đó, những thế mạnh
về khách hàng, nhân lực và tăng trưởng hoạt động kinh doanh của MSB vẫn tiếp
tục được phát huy và đã gặt hái được nhiều kết quả đáng khích lệ Thu hồi được
các khoản nợ đọng lớn, huy động vốn đạt cao nhất trong các năm qua, tổ chức
sửa chữa, cải tạo di chuyển trụ sở làm việc của chi nhánh sang địa điểm mới
thành công, bảo đảm phục vụ khách hàng kịp thời chính xác
Một số chỉ tiêu kinh doanh của năm qua:
Đơn vị : triệu đ ngồng
TT Chỉ tiêu kế hoạch2005 Thực hiện2005
So sánh(%)Cuối kỳ Kế hoạch2005
11 -Từ hoạt động kinh doanh 12.200 17.428 241 143
- Từ thu nhập bất thường 6.700 31.513 21423 470
* Tình hình huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2005 đạt 1350.8 tỷ đồng tăng
Trang 36189% so với cùng kỳ của năm trước và đạt 190% kế hoạch đề ra Đây là mộtkết quả ngoài sự mong đợi của chi nhánh
Tiền gửi không kỳ hạn có bước tăng vượt bậc, đạt tới 1.089 tỷ đồng, gấphơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước, gấp 6 lần cùng kỳ năm 2003 Nguồn vốnhuy động từ tiền gửi tiết kiệm có bước tăng trưởng rất cao, đạt 184 tỷ đồng vàtăng 48% so với cùng kỳ năm trước Trên cơ sở các sản phẩm tiết kiệm với lãisuất cạnh tranh chi nhánh đã đẩy mạnh công tác tiếp thị, khuyến mại để triểnkhai thực hiện có hiệu quả Vì vậy mà lượng khách hàng đến giao dịch gửi tiếtkiệm ngân hàng đang ngày càng tăng về số lượng cũng như về chất lượng.Nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm 90% trong tổng tiền gửi tiết kiệm;Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế đạt 81 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳnăm trước, khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc ngành bưu chính viễnthông Vốn huy động bằng ngoại tệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp sovới tổng nguồn huy động
Khách hàng tiền gửi tại chi nhánh chủ yếu thuộc các doanh nghiệpngành bưu chính viễn thông và ngành hàng hải Trong năm 2005 thấy rõ tiềmnăng của các doanh nghiệp thuộc hai ngành này có thể đem lại cho MSB là rấtlớn, MSB đã đẩy mạnh công tác tiếp thị, thu hút hầu hết các khách hàng ngànhbưu chính viễn thông về hoạt động chi nhánh Chính vì vậy cho đến ngày31/12/2005 tổng nguồn huy động của khối khách hàng này đạt tới 978 tỷ đồng.Hiệu quả của việc huy động vốn từ các doanh nghiệp này với hoạt động củaMSB rất cao
Thu nhập từ phí và dịch vụ đạt 2.482 tỷ đồng, bằng 134% so với cùng
kỳ năm ngoái; Tuy vậy sản phẩm dịch vụ của MSB nói chung còn chưa phongphú so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nên khó thu hút được cáckhách hàng cá nhân đến giao dịch, do đó thu từ phí dịch vụ tuy vậy vẫn cònkhiêm tốn so với các ngân hàng cổ phần khác
* Tình hình hoạt động tín dụng:
Trang 37Dư nợ cho vay của MSB đến ngày 31/12/2005 đạt 392 tỷ đồng, tăng23.8% so với cùng kỳ năm 2004 và đạt được 87% kế hoạch Trong đó cho vayngắn hạn chiếm 64% tổng dư nợ, còn cho vay trung và dài hạn chiếm 36% tổng
dư nợ, dư nợ sạch chiếm 94,5% tổng dư nợ
Đối tượng khách hàng chính của chi nhánh thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Bên cạnh đó, chi nhánh cũng đang khai thác có hiệu quả thông qua hoạt độngcấp tín dụng cho một số tổng công ty lớn và các hoạt động ưu tiên đầu tư, đồngtài trợ với các tổ chức tín dụng khác Dư nợ tập chung vào một số ngành như sảnxuất thép, đóng tàu, kinh doanh Vacxin chữa bệnh; các dự án xây dựng nhà máysản xuất điều hoà, cán thép, máy khai thác mỏ, máy xây dựng, nội thất Chinhánh đã đưa ra rất nhiều chính sách khách hàng phù hợp và đã bước đầu thuhút được một số khách hàng Bưu điện về hoạt động tại chi nhánh
Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao Nhưng cũng không thểtránh khỏi những rủi ro từ thị trường và từ phía khách hàng Cho nên trong năm
2005 chi nhánh cũng phát sinh hai khoản nợ quá hạn với giá trị là 5,3 tỷ đồng.Hiện nay chi nhánh đang thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để thu hồi, kháchhàng cũng đã cam kết sẽ giải quyết dứt điểm trong năm 2006
* Tình hình kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế và dịch vụ tài khoản
Trong năm vừa qua chi nhánh đã khai thác tối đa các nguồn ngoại tệhiện có thể kinh doanh hiệu quả Thu lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt1,076 tỷ đồng
Hoạt động thanh toán quốc tế so với năm 2004 vẫn được duy trì và phát triển tốt,lượng L/C thanh toán qua MSB đã tăng lên một cách đáng kể và đạt tới 17,5triệu USD, tăng 46% Nhưng so với khả năng đáp ứng của ngân hàng thì kháchhàng sử dụng dịch vụ này vẫn còn quá ít Điều này xảy ra là do quy trình nghiệp
vụ của MSB còn nhiều chỗ đôi khi chưa phù hợp với thực tế
* Công tác thu hồi nợ
Năm qua chi nhánh đã có sự thành công vượt bậc trong công tác thu hồi
nợ Được sự hỗ trợ tích cực của Hội đồng quản trị và trụ sở chi nhánh một số
Trang 38khoản nợ quá hạn đã được chi nhánh giải quyết triệt để đóng góp vào kết quảtăng trưởng lợi nhuận của chi nhánh nới riêng và của toàn hệ thống nói chung
* Công tác tiếp thị
Trong năm 2005 vừa qua chi nhánh đã tổ chức thành công hội nghịkhách hàng và thu được những kết quả khả quan, tạo bước tiền đề cho công táctiếp thị năm 2006
Công tác quảng cáo tiếp thị chăm sóc khách hàng tiếp tục được chútrọng những hoạt động tiếp xúc với phần lớn các khách hàng ngành Bưu chínhviễn thông đã đem lại kết quả tốt góp phần vào sự tăng trưởng về dư nợ, tiềngửi, hoạt động thanh toán
Chương trình tiết kiệm bậc thang MSB đã huy động vượt 7 tỷ đồng.Chương trình huy động tiêt kiệm “ Niềm vui nhân đôi” vượt 5 tỷ đồng so với chỉtiêu mà MSB Việt Nam giao Chi nhánh có thực hiện việc phân phát tờ rơiquảng cáo qua kênh thu cước điện thoại tới các hộ dân tại một số trục đường,tuyến phố gần trụ sở MSB Hà Nội và MSB Đống Đa
Công tác quảng cáo tiếp thị thu hút khách hàng mới và duy trì khách hàng cũcòn nhiều khó khăn vì kinh phí tiếp thị quảng cáo còn hạn chế
* Các hoạt động quản lý khác:
+ Hoạt động quản lý tài chính kế toán, văn phòng
Chi nhánh đã thực hiện di chuyển thành công sang địa điểm từ 44Nguyễn Du sang 71 Hai Bà Trưng, đảm bảo kịp tiến độ sửa chữa, không gâybiến động cho khách hàng Đồng thời thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm chi phí,thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu kế hoạch chi phí do Trụ sở chính giao cho.Các loại chi phí khác được chi sát với thực tế trên cơ sở hiệu quả mang lại chochi nhánh
Chi phí quản lý công vụ vượt 31% so với kế hoạch, chủ yếu tăng chi phítiếp thị quảng cáo cho các chương trình huy động vốn, tiếp xúc, đẩy mạnh việcthu hồi nợ
+ Hoạt động kiểm soát nội bộ
Trang 39Cho tới hiện nay thì hoạt động này tại chi nhánh do 2 cán bộ nhân viênđảm nhiệm và các công tác kiểm soát, giám sát tại chỗ hoạt động kinh doanhđược duy trì thường xuyên, có được kết quả tốt hỗ trợ đắc lực cho hoạt độngkinh doanh của chi nhánh.
2.2 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh MSB Hà Nội trong thời gian qua.
2.2.1.Những qui định chung về công tác thẩm định tài chính dự án trung
và dài hạn của ngân hàng.
Trên cơ sở những qui định của Ngân hàng Nhà nước về cho vay (quyếtđịnh 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của thống đốc NHNN), về bảođảm tiền vay (quyết định 457)… Kết hợp với điều lệ NHTMCP Hàng Hải ViệtNam tại quyết định số 219/QĐ-NH5 ngày 10-7-1997 và thực tế công tác cho vaytại ngân hàng ban quản trị ngân hàng đã đưa ra các qui định trong cho vay, bảolãnh, giao dịch, ….áp dụng tại NHHH Căn cứ vào quyết định số 13/QĐ –HĐQT và quyết định số 187/QĐ – TGĐ6 ngày 8-7-2002 qui trình thẩm định dự
án nói chung và qui trình thẩm định tài chính dự án nói riêng bao gồm:
a) Đánh giá tính pháp lý, địa điểm triển khai và tác động môi trường của dự án
đầu tư theo quy định của pháp luật
b) Phân tích sự cần thiết của đầu tư
- Quy hoạch phát triển kinh tế ngành của dự án, sự phù hợp của dự ántrong xu thế phát triển ngành và vùng địa phương;
- Sự cần thiết mở rộng quy mô và nhu cầu phát triển nội tại của kháchhàng;
- Phân tích, đánh giá vị trí và ảnh hưởng của dự án trong chiến lược pháttriển sản xuất kinh doanh của khách hàng
c) Đánh giá các yếu tố đầu vào của dự án: giá cả, nguồn cung cấp và tính ổn
định của những yếu tố này
d)Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án:
Trang 40- So sánh chu kỳ dương của sản phẩm dự án với thời gian hoàn vốn của
dự án
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án
- Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, dự kiến thị phần sản phẩm dự án
e) Kỹ thuật và công nghệ của dự án:
- Hình thức đầu tư và công suất của dự án
- Xem xét việc lựa chọn thiết bị công nghệ và dây truyền công nghệ theocác nội dung: ý kiến của cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền hoặc uy tín, tínhđồng bộ của các bộ phận trong dây chuyền công nghệ mới và giữa dây chuyềncông nghệ mới với hệ thống thiết bị sẵn có của khách hàng; tính tiên tiến củacông nghệ và thiết bị
Xem xét khả năng cung ứng thiêt bị công nghệ của các nhà cung cấp
- Xem xét các giải pháp xây dựng (đối với dự án có phần xây dựng cơbản)
- Xem xét các vấn đề chuyển giao công nghệ
f)Tổ chức vận hành (khai thác) dự án:
- Xem xét trình độ, kinh nghiệm của đơn vị/cá nhân lập dự án
- Xem xét các tổ chức, cá nhân tham gia thiết kế, thi công về khả năngchuyên môn, kinh nghiệm, uy tín, năng lực thi công và tổ chức quản lý phù hợpvới yêu cầu của dự án
- Tiến độ thực hiện dự án: Phù hợp với thời gian trong thiết kế và cácyếu tố liên quan từ đó xác định thời gian bố trí vốn đầu tư và kế hoạch thu hồivốn
- Xem xét khả năng tổ chức quản lý dự án khi đi vào vận hành (khaithác)
g) Phân tích kế hoạch tài chính của dự án:
- Chi phí trong giai đoạn triển khai xây dựng cho dự án: Các hạng mụcchi phí, cơ sở dự toán chi phí, lịch trình chi phí;