Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Hàng Hải- chi nhánh Hà Nội
Trang 1Lời mở đầu
Năm 2006 là năm thứ 20 của công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế
ở nước ta Trải qua biết bao khó khăn và thử thách ở chính nội tại đất nước và
từ môi trường thế giới đem lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bước đầu đãtạo dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với hệ thốngcông – nông nghiệp - dịch vụ ngày càng phát triển, từng bước rút ngắnkhoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới
Để có được những thành tựu kinh tế như hiện nay trước tiên phải kểđến sự đóng góp vô cùng quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tài chính tín dụng của nước ta Cũng như các ngân hàng thươngmại và tổ chưc tài chính trên thế giới, hoạt động kinh doanh của những tổchức này vốn dĩ là loại hình hoạt động rất nhạy cảm, mang tính năng động vàrủi ro hơn nhiều so với hoạt động của các lĩnh vực khác, đồng thời cũng giữvai trò quan trọng trong việc định hướng cho hoạt động của các lĩnh vực khác,bởi đây là ngành tạo và cung cấp vốn cho nền kinh tế Vì vậy trong xu thếquốc tế hoá ngày nay vấn đề đặt ra là các ngân hàng thương mại nước ta phảiluôn luôn giữ thế phát triển dẫn đầu cho nền kinh tế, không ngừng mở rộng vànâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình, sớm bắt kịp vói nhịp điệutrong khu vực và trên thế giới Thực tế các ngân hàng đã cố gắng nỗ lực phấnđấu rất nhiều, nhưng do sự phát triển còn thiếu đồng bộ về con người, môitrường và kỹ thuật trong nước nên vẫn chưa đạt được kết quả như mongmuốn Đặc biệt trong hoạt động cho vay của ngân hàng, cụ thể hơn nữa làhoạt động cho vay các dự án đầu tư trung và dài hạn đạt hiệu quả không cao
Mà nguyên nhân chính xuất phát từ những yếu kém, chủ quan trong công tácthẩm định Dẫn đến hậu quả là rất nhiều dự án được lựa chọn đầu tư nằm ở cả
ba miền có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, không trả được nợ chongân hàng, gây lãng phí thất thoát hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng của nhà
Trang 2nước và nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của từng doanhnghiệp, từng ngân hàng và tới toàn nền kinh tế.
Từ sự nhận thức được những vấn đề trên và sau một thời gian dài tìm
hiểu thực tế tại cơ sở, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất
lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Hàng Hải- chi nhánh Hà Nội” cho chuyên đề thực tập
tốt nghiệp của mình
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM.
Chương II: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải – Chi nhánh Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu
tư trong hoạt dộng cho vay trnng và dài hạn tại Ngân hàng Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên trong chuyên đề này chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của các thầy cô giáo và các anh chị trong ngân hàng MSB
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa ngân hàng tàichính trường ĐHKTQD, đặc biệt là thầy Phạm Long đã tạo điều kiện, hướngdẫn giúp em hoàn thành chuyên đề này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các
cô chú – anh chị trong ngân hàng MSB Hà Nội đã hướng dẫn chỉ bảo emtrong suốt thời gian thực tập vừa qua
Trang 3Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung
và dài hạn của NHTM
1.Hoạt động cho vay của NHTM
1.1Hoạt động cho vay của NHTM.
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàngthương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thểhiện tầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh
tế thế giới nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc giariêng biệt Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiệnđại (Ngân hàng điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, khônggian và thời gian làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn
Ngày nay hoạt động ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với nhữngnghiệp vụ đơn giản như nhận tiền gửi, đổi tiền…mà đã trở nên vô cùng phongphú đa dạng với homebanking, thẻ ngân hàng, chuyển tiền điện tử,….Tuynhiên những khoản dịch vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trongtổng cơ cấu tài sản của ngân hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sảncủa ngân hàng vẫn là các dịch vụ cho vay Ở hầu hết các nước khả năng chovay đối với khách hàng chính là lý do cơ bản để ngân hàng được các cơ quanquản lý có thẩm quyền cấp phép hoạt động Mọi người mong muốn các ngânhàng hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng địa phương thông qua các hoạtđộng cho vay đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp và của người tiêudùng với một mức lãi suất hợp lý Do đó, cho vay được coi là chức năng kinh
tế hàng đầu của các ngân hàng Hoạt động cho vay cũng có mối quan hệ mậtthiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi chovay thúc đẩy tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh
tế Không những vậy thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường
sẽ có thêm những thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng vànhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những
Trang 4nguồn khác với chi phí thấp hơn Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại,đặc biệt ở các nước đang phát triển thì thu nhập từ cho vay chiếm quá nửatổng giá trị tổng nguồn thu của ngân hàng.
Với tầm quan trọng như vậy thì thực chất cho vay vẫn được hiểu là
một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng hoặc định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Về cách phân loại có rất nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mỗi tiêu thứcphân loại và tuỳ theo từng ngân hàng mà hoạt động cho vay được chia ra làmnhiều loại, nhằm thuận tiện cho quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn củakhách hàng
Nếu dựa vào tiêu chí mục đích thì cho vay được chia ra các loại:
- Cho vay bất động sản;
- Cho vay công nghiệp và thương mại;
- Cho vay nông nghiệp;
- Cho vay các định chế tài chính;
- Cho vay cá nhân;
- Cho thuê;
Nếu dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay lại được
chia làm hai loại:
- Cho vay không có bảo đảm;
- Cho vay có bảo đảm;
Nếu dựa vào thời hạn cho vay thì bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn;
- Cho vay trung hạn;
- Cho vay dài hạn
Trang 5Ngoài những căn cứ trên thì còn nhiều cách phân chia nữa của hoạtđộng cho vay Trong đó đối với những ngân hàng phân chia hoạt động chovay theo tiêu thức thời gian thì phần cho vay trung và dài hạn thường chiếm
tỷ trọng khá cao trong cơ cấu cho vay
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
* Khái niệm:
Hiện nay giữa các nước khác nhau trên thế giới quan niệm về cho vaytrung và dài hạn không hoàn toàn giống nhau Tại thị trường tài chính ViệtNam cho vay trung và dài hạn vẫn được coi là các khoản cho vay có thời hạntrên 1 năm Trong đó:
Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 3 năm
Cho vay dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên 3 năm.
* Lý do lựa chọn phương án vay trung và dài hạn của khách hàng:
Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, đi vay trung và dài hạn từ các định chếtài chính và phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán là hai nguồn tàitrợ dài hạn chủ yếu của các khách hàng doanh nghiệp Chính bởi vậy mà cónhiều lý do để các khách hàng lựa chọn nguồn vốn vay trung và dài hạn từcác ngân hàng
Trước hết là do các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế về khả năng tìmnguồn vốn trên thì trường, họ không thể có đủ các điều kiện để có thể huyđộng vốn trung và dài hạn cho mình thông qua thị trường chứng khoán Vìvậy khi nhu cầu vốn phát sinh họ phải đi vay ở các ngân hàng thương mại vàcác định chế tài chính khác
Thứ hai đó là, trong nhiều trường hợp khách hàng thấy vay trung dàihạn tốt hơn phát hành chứng khoán Bởi so với phát hành trái phiếu, đi vaymượn các doanh nghiệp có thể có điều kiện vay muợn thích hợp hơn cho nhucầu của mình Sau khi nhận tiền vay họ vẫn có thể thương lượng với ngườicho vay một số điều kiện đã được xác định ban đầu Hơn nữa đi vay họ sẽkhông phải tốn thêm những chi phí về bảo lãnh, đăng ký, phát hành…
Trang 6Thứ ba là, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không muốn phát hànhchứng khoán để thu hút vốn vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang
ở trong điều kiện thị trường không thuận lợi cho việc phát hành
Và thứ tư đó là, cho vay trung dài hạn sẽ buộc các doanh nghiệp nhỏphải tích luỹ vốn từ lợi nhuận để lại, cho dù doanh nghiệp có quan hệ mậtthiết với ngân hàng Điều này sẽ có lợi cho doanh nghiệp về sau này
Với những lý do trên cho thấy đi vay trung dài hạn tại các định chế tài chínhthực sự là một kênh không thể thiếu của các khách hàng doanh nghiệp Nhucầu lớn nên loại hình cho vay này cũng có nhiều hình thức khác nhau chokhách hàng lựa chọn để phù hợp với mình.Như:
Cho vay mua sắm thiết bị trả góp
Cho vay kỳ hạn
Tài trợ theo dự án
Cho vay hợp vốn
Cho thuê tài chính
Forfaiting (một hình thức cấp tín dụng người bán trong các giao dịch mua bánhàng trả chậm và không truy đòi đối với người bán mà thu tiền thẳng từ ngườimua)
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM.
1.2.1 Khái niệm về thẩm định tài chính dự án.
Trang 7chính sẽ được đề cao Tuy nhiên cho dù đề cao tiêu chí nào đi chăng nữa thì
sự xem xét thẩm định về mặt tài chính của một dự án trước khi đưa vào thựcthi là không thể coi nhẹ Và cũng bao hàm những vấn đề cơ bản của công tác
thẩm định, “ thẩm định tài chính dự án chính là sự rà soát đánh giá một
cách khoa học, toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân”.
Trong hoạt động cho vay của mình các ngân hàng thương mại chính làcác nhà tài trợ vốn Ngoài những dự án ngân hàng cho vay theo chỉ định củachính phủ nhằm phục vụ cộng đồng yếu tố lợi nhuận không được đặt nênhàng đầu, còn lại hầu hết cho vay các dự án khác đều nhằm mục đích tạo thunhập cho ngân hàng Vì vậy việc thẩm định tài chính dự án là vô cùng quantrọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng
1.2.2Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay trung dài hạn của NHTM.
Để cho một lượng vốn lớn được bỏ ra hiện tại có thể được thu hồi dầntrong tương lai xa, thì trước khi chi vốn vào các dự án, các nhà đầu tư đều tiếnhành soạn lập chương trình cụ thể, chi tiết theo tính chất của từng dự án.Những công việc này hết sức phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề, đòi hỏiphải có sự phối hợp hoạt động của nhiều người Thực tế những giải trình từphía doanh nghiệp đối với ngân hàng về dự án cần vay vốn thường rất sơ sài,đôi khi có số liệu không đủ căn cứ để chứng minh tính sát thực Do đó phải ràsoát, điều chỉnh lại
Đối với ngân hàng, để ngăn chặn sự đổ bể, sự lãng phí vốn khimuốn tài trợ hay cho vay vốn vào dự án thì cần phải thẩm định lại tính hiệuquả của dự án, đặc biệt sự hiệu quả về mặt tài chính Điều này đảm bảo chochính bản thân sự tồn tại của một ngân hàng Bởi nều để xảy ra bất kỳ rủi ronào dẫn đến sự không thu hồi được vốn của ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đếnthu nhập của ngân hàng, nhất là khi đó là các dự án lớn
Trang 8 Đối với xã hội, mỗi một dự án khi thực hiện không chỉ có ảnhhưởng đến chủ dự án, ngân hàng (hay các nhà đầu tư khác) mà còn chứađựng cả những ảnh hưởng đối với người dân nơi thực hiện dự án, đến nguồntài nguyên đất nước sẽ được sử dụng, đến các ngành nghề khác liênquan….Vì vậy ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định lại dự án để xem xétmột cách toàn diện khi có chi phí xã hội dự án, hiệu quả tài chính của dự áncòn được đảm bảo không, có phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triểncủa vùng, của địa phương hay không.
Đối với chủ dự án, khi ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự ánchính là dịp để khẳng định tính đúng đắn trong quyết định đầu tư của chủ dự
án Đồng thời giúp chủ dự án tránh được những sai sót có thể không nhậnthấy khi tiến hành lập dự án, làm cho dự án hoàn thiện hơn, tránh lãng phí vốncủa chính chủ dự án
Với sự cần thiết như vậy thì khi thực hiện nội dung thẩm định tài chính dự án
sẽ bao gồm những nội dung cơ bản gì?
1.3 Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM.
1.3.1 Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ.
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư về ngắn hạn là tối
đa hoá vốn chủ sở hữu, còn về dài hạn chính là tối đa hoá giá trị doanhnghiệp Để đạt được mục tiêu này thì vấn đề quan trọng đưa ra đối với doanhnghiệp là không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Và để đầu tư đượcngười ta đưa ra câu hỏi về vốn đầu tư Dưới giác độ của dự án thì vốn đầu tưchính là tổng số tiền được chi tiêu để hình thành nên các tài sản cố định, tàisản lưu động cần thiết và vốn dự phòng
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổngvốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất Và là phần để mua sắm,cải tạo, mở rộng tài sản cố định (như: máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng,phương tiện vận chuyển…) Phần vốn đầu tư còn lại được đầu tư vào tài sản
Trang 9lưu động ròng Đó là nguồn vốn để hình thành nên các tài sản lưu động ròngcần thiết để thực hiện dự án (như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền thuê nhâncông, chi phí quản lý…) Lượng vốn lưu động ròng lớn hay nhỏ phụ thuộcvào đặc điểm của mỗi dự án; Ngoài hai phần vốn chính này là phần vốn dựphòng để kịp thời cung cấp khi có phát sinh những chi phí ngoài dự kiến haykhi xảy ra rủi ro dự kiến.
Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dựtoán vốn Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vàonăm tiêu chí cơ bản là: chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnhtranh, chi phí tài chính, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính củadoanh nghiệp Những tiêu chí này được sử dụng trong các phương pháp dựtoán vốn như dự báo theo tỷ phần doanh thu, dự toán tổng thể Nhà thẩm định
sẽ xem xét toàn bộ quá trình lập dự toán vốn này để biết được mức vốn chínhxác cần thiết cho dự án
Tổng vốn đầu tư được xác định là vậy nhưng sẽ tài trợ bằng nguồn vốnnào? Đây là câu hỏi không chỉ nhà thẩm định mà chính chủ thực hiện dự án sẽđặt ra đầu tiên Về mặt lý thuyết và cả thực tế thì mỗi dự án có nhiều hìnhthức tài trợ vốn khác nhau:
Trước hết dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có: Loại vốn này cóđược từ bốn nguồn: từ phát hành cổ phiếu thường, từ thặng dư vốn và từ lợinhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường có nhiều ưu thế trong việc phát hành ra công chúng vàtrong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán Như sau khi phát hànhdoanh nghiệp có thể tạm thời mua lại, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hànhthêm khi cần thiết….Nên loại này cũng được sử dụng để tài trợ cho dự án, đặcbiệt là các dự án qui mô lớn
Trang 10Nguồn thặng dư vốn: Đây chính là phần vốn có được từ chênh lệchgiữa giá thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó tại thời điểm pháthành Tuỳ theo sự đánh giá của thị trường về trị giá của cổ phiếu của doanhnghiệp mà phần vốn này thu được là lớn hay nhỏ so với phần vốn dự tính cóđược từ phát hành cổ phiếu thường.
Nguồn vốn từ thu nhập giữ lại được tài trợ cho dự án chỉ khi quá trìnhhoạt động sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả Tài trợ bằng thu nhập giữlại là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của cácdoanh nghiệp do doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộcvào bên ngoài
Tài trợ cho dự án bằng nợ: phần vốn này doanh nghiệp có thể có từnguồn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hàngtrái phiếu
Trái phiếu thực chất là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn.Trên thị trườngthường lưu hành nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp khác nhau (trái phiếu cólãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phíếu có thể thu hồi, tráiphiếu có thể chuyển đi).Việc doanh nghiệp lựa chọn loại trái phiếu nào để tàitrợ cho dự án còn tuỳ thuộc vào những vấn đề liên quan đến chi phí trả lãi,cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu
Tài trợ cho dự án bằng hình thức Leasing: thực chất đây là hình thức tàitrợ dự án thông qua cho thuê các loại tài sản Doanh nghiệp có thể thuê ngắnhạn tài sản hoặc thuê dài hạn tài sản Đây là hình thức tài trợ rất phổ biến do
nó có nhiều ưu điểm so với các hình thức tài trợ khác đối với cả người chothuê, người đi thuê và với nền kinh tế
Tài trợ bằng hình thức kết hợp: Đó là cách mà nguồn vốn cho dự ánhình thành từ sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định giữa vốn vay, vốn chủ sởhữu Trong hình thức tài trợ này chi phí vốn của dự án được đặc biệt quantâm Bởi từ đó mà nhà soạn lập xác định nên đi vay bao nhiêu, nên dùng vốnchủ bao nhiêu sao cho có được cơ cấu vốn tối ưu
Trang 11Nếu gọi T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
Ke : Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
Kd: Chi phí của vốn vay
We: Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
Wd: Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
Ta có công thức xác định chi phí vốn trung bình của dự án:
dự tính của dự án sẽ là bao nhiêu … Từ đó dự tính doanh thu hàng năm của
X
Giá bán dự tínhcủa một đơn vịsản phẩm
Về chi phí của dự án: Thông thường phần vốn cố định chiếm tỷ trọnglớn trong tổng vốn của dự án Nên những phần vốn chi cho xây dựng cơ sởvật chất, mua sắm máy mọc thiết bị sản xuất thường được thẩm định kĩ lưỡng.Cán bộ thẩm định phải xem xét giá cả nguyên – nhiên vật liệu cho phần xâydựng cũng như giá cả máy móc sản xuất của dự án bao nhiêu là phù hợp vớithị trường của khu vực, chất lượng máy móc ra sao…nhằm đánh giá chínhxác cho phần vốn cần bỏ ra ban đầu Và khi dự án đi vào hoạt động thì nhữngchi phí về nguyên nhiên vật liệu, đơn giá tiền công, khấu hao hình thành nên
Trang 12giá thành sản phẩm sẽ là bao nhiêu có phù hợp với dây truyền sản xuất, vớithị trường hiện tại không? Phương pháp khấu hao như thế nào cũng đặc biệtđược quan tâm bởi nó ảnh hưởng khá lớn đến dòng tiền ròng của dự án.Những chi tiết này sẽ được cán bộ thẩm định làm rõ trên cơ sở những nguyêntắc kế toán nhất định để xác định chi phí hợp lý cho từng năm của dự án.
Từ xác định doanh thu và chi phí hàng năm của dự án nhà thẩm định
sẽ xác định được lợi nhuận hàng năm của dự án, từ đó dự tính được dòng tiềncủa dự án Đây là phần chính yếu để nhà thẩm định biết được tính khả thi của
dự án cũng như khả năng thu hồi nợ từ kết quả hoạt động của dự án
1.3.3 Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một
dự án là các khoản chi và thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời giankhác nhau trong suốt thời gian tồn tại của dự án Trong dòng tiền của dự án códòng tiền ra, dòng tiền vào và dòng tiền ròng (chênh lệch giữa dòng tiền vào
và dòng tiền ra của dự án) Tuy nhiên dòng tiền ròng được coi là con số chính
để xác định giá trị hay hiệu quả trực tiếp của dự án Khi xác định dòng tiềncác nhà phân tích và thẩm định có những nguyên tắc nhất định Đó là :
Loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích: Chi phí chìm là những chi phi
mà doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận
và thực hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết
kế dự án, …) Chi phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vàophần chi đầu tư của dự án
Chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án: Cónhững dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn cócủa doanh nghiệp Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được
sử dụng vào việc khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp Khi sử dụngvào dự án doanh nghiệp đã bỏ mất phần nguồn thu đó Bởi vậy khoản chi phínày cần được đưa vào nhằm đánh giá chính xác chi phí thực của dự án
Trang 13Ngoài hai khoản mục trên phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hếtcác dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt độngcủa dự án Tài sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưuđộng trừ đi nợ ngắn hạn Đặc tính của tài sản lưu động ròng là nó không đượckhấu hao và thường được thu hồi vào giai đoạn kết thúc của dự án Do vậykhi tiến hành dự án mới tài sản lưu động ròng cần được tài trợ ỏ năm đầu của
dự án
Những tác động đối với dự án khác: có những dự án mới khi ra đời sẽ
có tác động tăng (hoặc giảm) thu nhập của các dự án khác của doanh nghiệp.Thực chất khoản tăng giảm này chỉ là sự chuyển dịch thu nhập của doanhnghiệp nên dòng tiền thu được của doanh nghiệp từ những sự tăng thêm (hoặcgiảm đi) đó cũng phải đưa vào dự án mới
Tác động của thuế: Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận đối vớidòng tiền của dự án Thông qua chi phí khấu hao của tài sản cố định thuếdoanh nghiệp phải nộp từ dự án sẽ giảm làm cho dòng tiền tăng Hay đối vớichi phí lãi vay - một khoản chi phí trước phân bổ trước khi xác định thu nhậpròng, chi phí này cao cũng đồng nghĩa với thu nhập ròng giảm từ đây sẽ tiếtkiệm một phần thuế thu nhập cho doanh nghiệp
Về cách xác định dòng tiền: Thông thường mỗi dự án các nhà thẩm
định cũng như nhà phân tích hay thiêt kế dự án đều phân định ra các dòng tiềncần xác định bao gồm: dòng tiền đầu tư ( trong đó gồm tiền đầu tư vào tài sản
cố định- chi phí lắp đặt, chi phí cơ hội, đầu tư vào tài sản lưu động ròng),dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (dòng tiền này được xác đinh thông quabáo cáo kết quả kinh doanh dự tính hàng năm của dự án)
Tổng hợp những dòng tiền này cho ta kết quả dòng tiền dòng của dự án.Nhưng do tiền có giá trị về thời gian nên nhà thẩm định, nhà phân tích khôngthể so sánh những dòng tiền xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau màphải quy chúng về một mốc để so sánh Bởi vậy vấn đề về lãi xuất chiết khấuđặc biệt được quan tâm khi xác định hiệu quả của dự án Lãi suất chiết khấu
Trang 14là tỷ lệ sinh lời cần thiết của một dự án mà nhà đầu tư mong đợi Nó chính là
tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dự án được quy về hiện tại để xác định giátrị hiện tại ròng của dự án – NPV Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộcvào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn Rủi rocủa dự án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao Cơ cấu vốntài trợ cho dự án có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suất chiết khấu tốithiểu phải bằng với tỷ lệ chi phí đó
Từ trên cho thấy xác định dòng tiền là vô cùng quan trọng và việc thẩm địnhdòng tiền của dự án là yếu tố cốt yếu để đưa đến những kết luận cho công tácthẩm định tài chính dự án
1.3.4 Thẩm định hiệu quả tài chính dự án.
Việc nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án chủ yếudựa trên những kết quả từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án này.Mỗi chỉ tiêu này cho ta một phương pháp để đánh giá được hiệu quả tài chính
dự án
Chỉ tiêu giá trị hiện tài ròng – NPV của dự án:
Giá trị hiện tại ròng của dự án được hiều là chênh lệch giữa tổng giá trị hiệntại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư
bỏ ra được hiện tại hoá ở mốc thời gian 0
0
0 1
n t
n
t t
k
Ct k
Bt k
Ct Bt NPV
NPV: giá trị hiện tại dòng của dự án
CFt : Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ t của dự án ( t = 1n)
CF0 : Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần ở nămđầu tiên của dự án)
n : số năm thực hiện dự án
Trang 15Ct: Dòng chi của dự án vào năm thứ t
NPV phản ánh giá trị tăng thêm của chủ đầu tư Nếu NPV dương tức là dự án được thực hiện không những bù đắp được vốn đầu tư
bỏ ra mà còn tạo ra phần tăng thêm cho chủ dự án (lợi nhuận) Do đó với
những dự án độc lập thì NPV >0 sẽ là dự án có hiệu quả về mặt tài chính.
Và ngược lại NPV <0 thì dự án là không có hiệu quả Trường hợp có hơn
một dự án thì dự án nào có NPV >0 và lớn nhất là dự án có hiệu quả nhất
nên sẽ được lựa chọn đầu tư
Việc sử dụng NPV các nhà phân tích có thể đo lường trực tiếp lợinhuận tuyệt đối của dự án đầu tư từ đây có thể so sánh, lựa chọn các dự ánkhác nhau Đặc biệt chỉ tiêu này có ưu điểm nổi bật là có xét đến giá trị thờigian của tiền và tính toán hiệu quả toàn bộ đời sống của dự án
Tuy nhiên bên cạnh đó thì chỉ tiêu NPV cũng có một số nhược điểm đó là:
- Phải xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của dự án khi muốn sửdụng chỉ tiêu này Đây là công việc không phải lúc nào cán bộ phân tích-thẩm định cũng có thể dự tính được
Kết quả của phép tính NPV phụ thuộc vào cách mà cán bộ phân tích thẩm định lựa chọn tỷ lệ chiết khấu Trong khi tình hình thị trường vốn luônluôn biến động nhưng tỷ lệ chiết khấu này lại được coi cố định cho toàn bộthời hạn chiết khấu của dự án Đây là điều không hợp lý
Chỉ tiêu này chưa nói lên được hiệu quả sử dụng đồng vốn bỏ ra bởi
nó mới chỉ cho biết được hiệu quả dưới dạng con số tuyệt đối, không biểudiễn dưói dạng số tương đối
- Trong trường hợp vốn có hạn nhưng có nhiều dự án có thời hạn khácnhau để lựa chọn đầu tư thì không thể dùng chỉ tiêu này
Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ - IRR:
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ mà tại đó tổng dòng thu bằng tổng dòngchi của dự án khi quy đổi về hiện tại hay đó chính là tỷ lệ chiết khấu mà tại đógiá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0 (NPV = 0)
Trang 16IRR thường được tính bằng phương pháp nội suy Hai giá trị của lãi suấtchiết khấu k1,k2 (k2 >k1) ứng với NPV1>0 và NPV2< 0 sẽ được lựa chọn, dựatrên nguyên tắc tam giác đồng dạng ta có được IRR là giá trị nằm giữa 2 giátrị được chọn mà tại đó NPV =0
2 1
1 2 1 1
IRR
NPV NPV
k k NPV k
Thông thường dự án được đánh giá có hiệu quả khi nó có IRRChi phí vốn
Đối với các dự án hay phương án loại trừ nhau thì lựa chọn phương án có
IRRChi phí vốn và IRR max.
Cũng giống như NPV chỉ tiêu IRR có khá nhiều ưu điểm, như:
- Chỉ tiêu này có xét đến sự biến động của yếu tố thời gian, tính đếnhiệu quả cả đời dự án và có tính đến giá trị thời gian của tiền
- Cho biết được khả năng sinh lời của dự án, dễ dàng so sánh với mộtmức hiệu quả cho phép (bằng cách so sánh với chỉ tiêu k)
- IRR không phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu do nó được xác định từ nội
bộ phương án Đồng thời có thể sử dụng để so sánh các dự án - phương ánkhác nhau
Song song với những ưu điểm trên chỉ tiêu IRR còn có một số nhược
điểm:
- Chỉ tiêu này chỉ cho biết lợi nhuận tương đối, không cho biết được giátrị tuyệt đối dẫn đến có thể lựa chọn dự án có khả năng sinh lời cao nhưng lợinhuận tạo ra thấp
- Không đề cập đến quy mô và độ lớn của dự án Đặc biệt không xác
Trang 17đổi nhiều lần từ (-) sang (+) và ngược lại, khi đó cán bộ thẩm định – phân tíchcần dùng NPV để đánh giá.
Trong những trường hợp kết quả đánh giá bằng NPV và IRR ngược nhau thìchỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự án vì do chỉ tiêu IRkhông đề cập đến quy mô vốn và chúng được giả định rằng dòng tiền được táiđầu tư bằng tỷ lệ sinh lời của dự án
Chỉ tiêu tỷ số thu chi - B/C( hay BCR):
Tỷ số thu- chi (B/C) là tỷ số giữa giá trị hiện tại của dòng thu trên giátrị hiện tại của dòng chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của đồngvốn bỏ ra khi quy về giá trị hiện tại
Bt BCR
0
0
1 1
Dự án được coi là có hiệu quả về mặt tài chính khi BCR > 1 Đối với nhữngphương án loại trừ nhau thì phương án tốt nhất về mặt tài chính là phương án
có BCR lớn nhất
Chỉ tiêu BCR có ưu điểm nổi bật là: có tính đến giá trị thời gian củatiền, tính toán trên toàn bộ đời sống của dự án; Đồng thời đánh giá được hiệuquả tương đối của dự án và có thể dùng để so sánh các dự án – phương ánkhác nhau
Tuy vậy chỉ tiêu này cũng có khá nhiều nhược điểm Đó là việc đòi hỏiphải xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của dự án Đây lại là một côngviệc không phải là dễ dàng đối với nhà phân tích và thẩm định
Chỉ tiêu này có sự phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu, trong khi tỷ lệ chiết khấutrên thị trường lại luôn có sự thay đổi Đây chỉ là một chỉ tiêu tương đối nên
dễ có thể dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các phương án khác nhau
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn-PP:
Trang 18Thời gian hoàn vốn đầu tư là thòi gian để chủ đầu tư thu hôi được sốvốn đã đầu tư ban đầu vào dự án Chỉ tiêu này cho biết sau khi thực hiện dự
án bao lâu thì thu hồi đủ vốn đầu tư Được xác định theo công thức:
PP = n + Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư
Dự án có PP càng nhỏ sẽ càng tốt Bởi khi đó nhà đầu tư sẽ thu hồiđược vốn sớm Do đó nếu có nhiều dự án để lựa chọn thì dự án có PP nhỏnhất sẽ được chọn
Chỉ tiêu này có ưu điểm là cho biết rõ được thời gian vốn sẽ được thu
hồi và có thể dùng để so sánh các dự án – các phương án khác nhau Nhưng
bên cạnh đó chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm: Nhiều khi sử dụng chỉ
tiêu này dễ dẫn đến việc quá chú trọng chọn phương án có thời gian thu hồivốn nhỏ nhất mà bỏ qua mất phương án có lợi nhuận cao nhất (mục đích củanhà đầu tư) Không tính tới giá trị thời gian của tiền, bỏ qua phần thu nhậpsau thời gian hoàn vốn mà đôi khi có những dự án nhưng năm sau mới có lợinhuận cao
Mỗi chỉ tiêu trên chỉ tiêu nào cũng có những ưu nhược điểm riêngkhông chỉ tiêu nào là hoàn hảo nên khi thẩm định các cán bộ thẩm địnhthường sử dụng kết hợp một số chỉ tiêu có thể để có được kết quả chính xácnhất
1.3.5 Đánh giá rủi ro của dự án.
Bất kỳ một dự án nào ngay từ khâu lập cho đến kết thúc hoạt động luôn
luôn chứa đựng trong nó những rủi ro tiềm ẩn Một cách chung nhất rủi ro
của dự án vẫn được hiểu là khả năng xảy ra một sự kiện không có lợi nào đó làm giảm thu nhập của dự án so với dự kiến.
Thực tế môi trường kinh tế, đầu tư luôn chứa đựng rất nhiều loại rủi ro khácnhau Để thuận tiện cho việc phân tích chúng người ta đã phân ra làm ba loại:
Rủi ro loại 1: là những rủi ro riêng thuộc về chính bản thân dự án.haychính là rủi ro của một tài sản khi nó là tài sản duy nhất của dự án
Trang 19Rủi ro loại 2: Đây là loại rủi ro cho thấy sự ảnh hưởng của dự án đốivới rủi ro của doanh nghiệp Nó thể hiện thông qua sự biến thiên thu nhập củadoanh nghiệp khi thực hiện dự án.
Rủi ro loại 3 hay rủi ro thị trường: là rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đốivới giá cổ phiếu của doanh nghiệp Đây là loại rủi ro mà doanh nghiệp khôngthể loại trừ được.chẳng hạn như rủi ro về tỷ giá, lạm phát…
Trong 3 loại rủi ro trên rủi ro loại một là loại mà cán bộ thẩm định rất quantâm và rủi ro này cũng rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chínhthực sự của dự án Rủi ro này được đánh giá bằng các phương pháp:
*Phương pháp phân tích độ nhạy:
Đây là phương pháp mà cán bộ phân tích - thẩm định chỉ ra chính xáccác chỉ tiêu tài chính thay đổi như thế nào khi có biến đầu vào thay đổi Quitrình phân tích được bắt đầu bằng việc dự báo những khoản doanh thu và chiphí dự kiến để thông qua chúng tìm được những khoản lợi nhuận ròng của dự
án Kết quả dự báo được đặt trong hai tình huống là lạc quan và bi quan, vàđánh giá ảnh hưởng của chúng đối với NPV của dự án
Phân tích về độ nhạy là một quy trình hữu ích để nhận diện các biến số
mà sự thay đổi của chúng sẽ gây tác dộng lớn đến NPV của dự án Qua việcphương pháp này người ra quyết định có thể tính toán được những hậu quảcủa sự ước tinh sai lầm và ảnh hưởng của chúng đến NPV Mặc dù vậy thìviệc sử dụng phương pháp này cũng có một số hạn chế nhất định Đó là:
- Các biến số đưa ra dựa trên những phán đoán chủ quan rất cao Cónhững biến đầu vào như giá bán, mức bán khi phân tích cho thấy ảnh hưởngrất lớn đến NPV và IRR, nhưmg trên thực tế những yếu tố này lại có thể được
cố định bởi hợp đồng với nhà cung cấp nên dự án vẫn có thể khá an toàn
- Bỏ qua sự tác động lẫn nhau của các biến số đầu vào Mà chỉ xét đếntác động của những biến số đầu vào này đối với biến số đâu ra
- Thêm nữa là kết quả về phân tích dộ nhạy không đem lại cho người raquyết định một giải pháp rõ ràng đối với việc lựa chọn dự án Ý nghĩa của
Trang 20phương pháp này là đưa lại cho người phân tích ý tưởng về một số điềukhông chắc chắn và độ nhạy.
Nhưng cho dù thế nào thì thực tế phương pháp này vẫn là một công cụ rất hữuích khi sử dụng kết hợp với một số hình thức phân tích rủi ro khác
*Phương pháp phân tích giả định tình huống:
Phương pháp này thường được áp dụng khi đánh giá rủi ro của những
dự án lớn, bởi đây là một qui trình đánh giá lợi nhuận và rủi ro của những dự
án phức tạp
Bước đầu của phương pháp này là tạo ra một mẫu dòng tiền bằng cáchxác định những yếu tố ảnh hưởng đến nó và các mối quan hệ cụ thể giữa cácyếu tố thành phần của dòng tiền với nhau, và cả những ảnh hưởng của nhữngyếu tố này đến dòng tiền
Dòng tiền = (doanh thu – chi phí)x(1 - thuế suất) + (thuế suất x khấu hao)
Mỗi thành phần chủ yếu của dòng tiền có thể chỉ ra những yếu tố quyếtđịnh của nó Khi các mối quan hệ của dòng tiền đã được nhận diện, các nhàphân tích có thể dễ dàng đánh giá được phân phối xác suất của mỗi thànhphần của nó Và khi tất cả những phân phối xác suất cũng như các mỗi quan
hệ giữa các thành phần đã được chỉ rõ thì đã hình thành được mô hình của
“tình huống giả định” Lúc này kết hợp với việc sử dụng các phần mềm máytính chuyên biệt cán bộ phân tích thẩm định lựa chọn ngẫu nhiên dòng tiềncho mỗi năm và cho cả đời sống của dự án NPV của dự án sẽ được chiếtkhấu ở tỷ lệ rủi ro sinh lời ở mức rủi ro thuần tuý để tránh tình trạng tính hailần rủi ro NPV ở đây đại diện cho một trong nhiều NPV tiềm tàng có thểxuất hiện Máy tính sẽ thực hiện nhiều lần và dừng lại ở một phân phối xácsuất ước tính về NPV của dự án Đồng thời cũng cho kết quả vê phân phốixác suất ước tính của IRR
Phương pháp này có ưu điểm và nhược điểm nhất định:
Trong đó ưu điểm là bắt buộc người ra quyết định phải xem xét cẩn
thận các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền Nó đem lại
Trang 21một sự mô tả chi tiết về phân bố của NPV, và cung cấp thông tin về nhữngảnh hưởng cùng một lúc của tất cả các biến số thích hợp đối với NPV.
Còn nhược điểm của phương pháp này là:
Việc nhận biết các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòngtiền là rất khó khăn Nó đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, thời gian và chiphí mang kết quả thu được cũng chỉ là những phân bố dự tính; Ở phươngpháp này rủi ro của dự án không tính đến sự đa dạng hoá của nhà đầu tư; Nótạo ra một sự phân bố NPV mà nhà quản trị vẫn không có được câu trả lờihoàn toàn rõ ràng trong việc chấp nhận hay từ chối đầu tư- thực hiện dự án
1.4 Chất lượng thẩm định tài chính dự án
1.4.1 Quan niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Từ trước đến nay một khái niệm thống nhất về chất lượng của thẩmđịnh tài chính dự án vẫn chưa được đưa ra một cách cụ thể chính xác Đối vớimỗi chủ thể nghiên cứu khác nhau lại có quan niệm riêng về chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án Riêng hoạt động thẩm định tài chính dự án của ngânhàng được coi là có chất lượng tốt chỉ khi: Trong giai đoạn trước khi cho vaythì đó là căn cứ khoa học để giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay haykhông Trong những giai đoạn tiếp theo của quy trình cho vay thì chất lượngthẩm định tài chính tốt tức là thu nhập dòng hàng năm của dự án tăng đều vàkhông lệch nhiều so với dự kiến, ngân hàng thu được nợ gốc và lãi đầy đủđúng hạn, chủ đầu tư có được lợi nhuận, những rủi ro xảy ra không nằm ngoài
dự tính của nhà lập, nhà thẩm định dự án; Ngược lại chất lượng thẩm định tàichính dự án sẽ là thấp nếu dựa vào đó để ngân hàng ra quyết định cho vaynhưng sau này không thu hồi được nợ (gốc và lãi vay), hay ngân hàng khôngcho vay nhưng tổ chức tín dụng khác cho vay thì dự án hoạt động tốt và thuhồi được nợ Điều đó gây ra thiệt hại cho ngân hàng và làm giảm thu nhập củangân hàng Như vậy có thể thấy chất lượng thẩm định tài chính dự án là mộtkhái niệm mang nhiều yếu tố định tính, các nhà thẩm định đôi khi cũng khó
có thể biết ngay được hiệu quả công tác của mình mà nó đòi hỏi phải có thời
Trang 22gian để khẳng định Nó được coi là tốt khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng
và khoản tín dụng đó đem lại thu nhập cho ngân hàng, hay khi ngân hàng từchối cấp thì cũng không làm giảm thu nhập của ngân hàng
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án.
Mặc dù khó đưa ra một khái niệm chính xác nhưng không phảỉ là cácngân hàng không có cách để xác định được chất lượng thẩm định tài chính dự
án Dưới đây là một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dựán
Một là mức độ khách quan, khoa học, toàn diện của kết quả quá trìnhthẩm định tài chính của dự án và tầm quan trọng của những kết quả này trongquyết định cho vay của ngân hàng
Hai là độ chính xác giữa kết quả thẩm định với thực tế thực hiện dự án.Bao gồm sự chính xác về số vốn bỏ ra dự tính cho từng giai đoạn của dự ánvới lượng vốn chi ra ở từng giai đoạn, doanh thu dự tính thu được với doanhthu thực tế thu được hàng năm, chính xác trong đánh giá hiệu quả và phântích rủi ro so với thực tế phát sinh…
Ba là thời gian và chi phí bỏ ra để tiến hành thẩm định tài chính của dự
án Thời gian thẩm định nhanh, chi phí thấp nhưng kết quả thẩm định được sửdụng triệt để và là căn cứ chính cho quyết định cho vay thì quá trình thẩmđịnh đó được coi có chất lượng tốt Ngược lại chi phí thẩm định lớn, thời gianthẩm định dài nhưng kết quả thẩm định lại sử dụng không nhiều, trong quyếtđịnh cho vay thì quá trinh thẩm định đó chỉ có thể tạm coi là có chất lượngtrung bình
Thứ tư là căn cứ vào một số tỷ lệ: tỷ lệ nợ quá hạn tỷ lệ nợ khó đòi.Những tỷ lệ này phản ánh trực tiếp chất lượng thẩm định nói chung và chấtlượng thẩm định tài chính dự án nói riêng Nếu chất lượng thẩm định tài chính
dự án tốt ngân hàng thu được nợ gốc và lãi vay đầy đủ, đúng hạn, cũng cónghĩa là tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi thấp Nhưng chất lượng thẩm định kém
Trang 23dẫn đến ngân hàng không hoặc khó thu hồi được nợ thì tương ứng những tỷ lệnày sẽ cao, làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Những chỉ tiêu trên cho thấy phần nào chất lượng thẩm định tài chính
dự án Thực tế hoạt động thẩm định tài chính dự án do liên quan đến hẳn một
dự án với nhiều vấn đề phức tạp nên chất lượng thẩm định dự án chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố cả khách quan và chủ quan
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại.
1.5.1Những nhân tố khách quan.
Điều kiện kinh tế xã hội: Nhân tố này có ảnh hưởng khá rõ ràng tớichất lượng thẩm định Nền kinh tế xã hội phát triển lành mạnh, và ổn địnhthông tin thị trường được phản ánh một cách trung thực đầy đủ sẽ giúp chocán bộ thẩm định nhanh chóng, kịp thời có được những thông tin cần thiết vềthị trường nguyên - nhiên vật liệu của dự án, cũng như những thông tin vềtình hình cung cầu sản phẩm của dự án trên thị trường… từ đó làm tăng độchính xác trong những dự báo về dự án và tính chính xác khách quan trongkết quả thẩm định Đồng thời thông tin đầy đủ chính xác thì thời gian thẩmđịnh cũng sẽ được rút ngắn tăng lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng, tiết kiệmthời gian cho chủ dự án
Môi trường pháp lý:
Không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng nói chung, của công tácthẩm định tài chín dự án nói riêng mà đối với tất cả các hoạt động sản xuấtkinh doanh khác, môi trường pháp lý có tác động vô cùng lớn Những căn cứpháp lý chính là bảng chỉ dẫn cho các hoạt động kinh tế đi đúng hướng vàđúng mục tiêu của phát triển của cả cộng động Do vậy có một môi trườngpháp lý ổn định, lành mạnh, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện chocông tác thẩm định thực hiện một cách bài bản, đúng quy định, trong khuônkhổ cho phép, thuận tiện cho cả khách hàng lẫn ngân hàng Nhưng nếu môi
Trang 24trường pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ thì đây chính là một khó khăn lớncho các nhà thẩm định Các nhà thẩm định sẽ phải gặp những mâu thuẫn cóthể phát sinh giữa các văn bản hướng dẫn, giữa những qui định… và điềunày thực tế đã diễn ra rất nhiều (chẳng hạn như các quy định về hạch toán kếtoán, về khấu hao,… ) các nhà thẩm định sẽ phải mất nhiều thời gian công sứchơn khi thực hiện công việc của mình Đặc biệt sự chồng chéo hoặc khiếmkhuyết trong quy định có thể là cơ hội cho những khách hàng (bản chất kinhdoanh không tốt) dựa vào đó luồn lách để có được khoản tín vay mong muốnnhưng lại không có khả năng hoàn vốn hay lãi dẫn đến thiệt hại cho ngânhàng, và nền kinh tế
Chủ dự án (khách hàng):
Có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định.Chủ dự án chính là những người làm việc trực tiếp với ngân hàng khi muốnvay vốn của ngân hàng và cũng là người nắm rõ về dự án nhất Mà để thẩmđịnh dự án thì vấn đề đầu tiên là ngân hàng phải thu thập thông tin về dự án.Những thông tin này không đâu khác chính chủ dự án sẽ là người cung cấptrước tiên cho ngân hàng thông qua hồ sơ vay vốn Do vậy chủ dự án cungcấp thông tin trung thực, chính xác, khoa học và đầy đủ sẽ giúp ích cho việcthẩm định tài chính của dự án rất nhiều Bên cạnh đó sự hiểu biết sâu rộng củachủ dự án, khả năng tổ chức, quản lý, sự nỗ lực của chủ dự án trong việc kếthợp với cán bộ tín dụng khi thẩm định cũng góp phần thúc đẩy quá trình thẩmđịnh dự án nói chung, thẩm định tài chính dự án nói riêng diễn ra nhanhchóng, chính xác, làm tăng tính khả thi của dự án Ngược lại chủ dự án thiếunăng lực tổ chức quản lý, trình độ và sự am hiểu hạn hẹp, thiếu sự trung thực,không sẵn sàng cung cấp những thông tin cần thiết cho việc thẩm định… thìrất dễ làm cho kết quả thẩm định thiếu chính xác, dẫn đến vốn vay sử dụngkhông đúng mục đích hay làm thất thoát lãng phí vốn đầu tư của dự án Điềunày tất yếu sẽ cho thấy chất lượng thẩm định thấp ảnh hưởng đến thu nhậpcủa ngân hàng
Trang 25 Môi trường tự nhiên:
Việc thẩm định không phải không chịu tác động của môi trường tựnhiên Để thu thập được thông tin cần thiết đôi khi cán bộ thẩm định phải đithực tế tại nơi dự án dự định sẽ được thực hiện Điều kiện khí hậu, thời tiết vàmôi trường tự nhiên tại đó cũng sẽ ảnh hưởng tới kết quả của việc thu thậpthông tín đó, và việc dự tính các chỉ tiêu của dự án (đặc biệt là đối với những
dự án trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp)
1.5.2 Những nhân tố chủ quan
Nếu như những nhân tố khách quan ảnh hưởng một phần thì nhữngnhân tố chủ quan có tầm ảnh hưởng lớn hơn nhiều Trong đó bao gồm cácnhân tố: Cán bộ thẩm định, trang thiết bị công nghệ và thông tin, qui trình -nội dung phương pháp thẩm định tài chính dự án, công tác tổ chức điều hànhhoạt động thẩm định tàì chính dự án
Cán bộ thẩm định:
Con người luôn là yếu tố trung tâm quyết định trực tiếp tới sự thànhcông hay thất bại của công việc Bởi vậy chất lượng thẩm định tài chính dự áncao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào những tố chất thuộc về cán bộ thẩm định.Trước tiên cũng như bất kỳ công việc nào, người thực hiện thẩm định có đượctrình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, kỹ năng tốt, am hiểu về thị trường mộtcách sâu rộng, hiểu biết về khoa học kỹ thuật sẽ giúp cho công việc được tiếnhành nhanh chóng, chính xác, đạt kết quả cao Ngược lại cán bộ thẩm địnhyếu về kỹ năng, trình độ nghiệp vụ thấp kém, hiểu biết xã hội - thị trường hạnchế thì khó có thể đảm bảo đạt được một chất lượng thẩm định cao Bên cạnh
đó, các dự án trung dài hạn thường có vốn lớn nên phẩm chất đạo đức, tính kỷluật và sự cẩn thận của cán bộ thẩm định cũng có ảnh hưởng lớn tới chấtlượng thẩm định, đặc biệt là trong thẩm định tài chính dự án Cán bộ thẩmđịnh có được những yếu tố này sẽ giúp cho ngân hàng tránh được những rủi
ro đạo đức giữa cán bộ thẩm định với khách hàng, góp phần làm cho chấtlượng thẩm định được cao hơn
Trang 26 Trang thiết bị công nghệ và thông tin:
Yếu tố này ảnh hưởng tới việc thu thập, phân tích và xử lý thông tincủa cán bộ thẩm định, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định Vì hiện nayviệc trang bị thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến: máy tính nối mạng toàn cầu,các phần mềm xử lý chuyên dụng, hệ thống cáp truyền nhanh, chính xác….giúp ích rất nhiều cho các hoạt động của cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm địnhkhông nhất thiết phải tính toán tỉ mỉ hay phải đến tận nơi để thu thập tài liệunữa mà sẽ được máy tính xử lý và phân tích chính xác cụ thể từng chi tiết Từ
đó giảm thời gian, tăng độ khoa học khách quan toàn diện trong quá trình xácminh tính khả thi của dự án
Thông tin là yếu tố không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tàichính dự án mà ảnh hưởng tới mọi khâu của hoạt động cho vay cũng nhưnhững hoạt động khác của ngân hàng Kết luận đưa ra từ quá trình thẩm định
là kết quả của việc sử lý thông tin về dự án mà cán bộ thẩm định thu thậpđược Vì vậy thông tin càng đầy đủ, càng chính xác cán bộ thẩm định phântích dự án sẽ càng dễ dàng đánh giá hiệu quả dự án Nhưng nếu thông tinthiếu, đôi khi lại không chính xác thì việc đánh giá chính xác được hiệu quảtài chính dự án là vô cùng khó khăn
Qui trình nội dung phương pháp thẩm định tài chính dự án:
Qui trình và phương pháp thẩm định tài chính dự án chính là cơ sở đểcán bộ thẩm định tiến hành công việc của mình Trong qui trình thẩm định dự
án gồm nhiều nội dung khác nhau, mỗi nội dụng lại chứa đựng một phần vềtài chính của dự án Tính khoa học và logic trong qui trình và phương phápthẩm định sẽ hạn chế khắc phục được những sai sót nhầm lẫn, đảm bảo chocông tác thẩm định tài chính dự án có được kết quả chính xác, tăng thêm ýnghĩa của của việc thẩm định Vì vậy mà có thể nói qui trình và nội dungphương pháp thẩm định có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng của thẩm địnhtài chính dự án
Công tác tổ chức điều hành các hoạt động thẩm định tài chính dự án:
Trang 27Như hầu hết các công việc khác, vấn đề tổ chức điều hành trong cáchoạt động thẩm định tài chính dự án là vô cùng quan trọng Đối với một dự ántrong lĩnh vực mới thì không thể giao việc thẩm định cho những cán bộ có ítkinh nghiệm hay cán bộ không biết về lĩnh vực đó, điều này không những dẫnđến tốn thời gian và công sức tìm hiểu của cán bộ thẩm định mà còn làm tăngchi phí cho ngân hàng Thậm chí còn có thể dẫn đến kết quả thẩm định thiếu
độ tin cậy Nhưng nếu sắp xếp đúng người đúng việc sẽ có thể phát huy đượcthế mạnh của mỗi người, hạn chế bớt yếu điểm, tạo điều kiện phối hợp giữacác cá nhân - các bộ phận, công việc được thực hiện trôi chảy tiết kiệm thờigian, chi phí về con người và tài sản cho ngân hàng
Trên đây là những vẫn đề cơ bản nhất về công tác thẩm định tài chính
dự án và chất lượng của thẩm định tài chính dự án Tuy nhiên đây chỉ lànhững vấn đề về mặt lý thuyết, thực tế tại các ngân hàng chất lượng thẩmđịnh thường luôn được các ngân hàng quan tâm và có nhiều biện pháp để đảmbảo một chất lượng thẩm định tốt đến mức có thể trong mỗi dự án tài trợ
Phần II: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính
dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải – Chi nhánh Hà Nội
2.1 Tổng quan hoạt động của ngân hàng Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội.
2.1.1 Quá trình phát triển và cơ cấu tổ chức hoạt dộng của ngân hàng Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội.
Là trung tâm kinh tế lớn của cả nước – Hà Nội một thành phố có nhiềuđiều kiện thuận lợi đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt về
Trang 28phát triển khách hàng, sản phẩm, dịch vụ mới… Với những điều kiện rất tốt
đó ngay sau khi MSB Việt Nam được thành lập (08/06/1991) thì Hội đồngquản trị HĐQT của MSB đã ra quyết định số 52 ngày 17/08/1991 thành lậpchi nhánh MSB Hà Nội Đến ngày 01/09/1991 theo giấy phép hoạt động số001/NH-GP ngày 08/06/1991 MSB Hà Nội chính thức đi vào hoạt động tạiđịa điểm số 44 Nguyễn Du–Hà Nội
Cùng với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của toàn hệ thống củatoàn hệ thống MSB Việt Nam sau 15 năm hoạt động chi nhánh Hà Nội cũngđang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thươngmại Việt Nam trên địa bàn Từ khi thành lập cho tới nay MSB Hà Nội luônluôn là một trong ba chi nhánh dẫn đầu trong mọi hoạt động của hệ thốngNgân hàng Hàng Hải Việt nam Sau nhiều năm hoạt động với những cố gắnglớn Năm 2004 đã thành lập chi nhánh cấp II Đống Đa và đang chuẩn bị đưa 2chi nhánh khác đi vào hoạt động; Các sản phẩm dịch vụ ban đầu mới chỉ huyđộng vốn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, cho vay, chiết khấu, thì nay đã cóthêm rất nhiều sản phẩm như tài trợ thương mại, hùn vốn đầu tư vào các dự
án kinh tế, cho vay hợp vốn, các hình thức bảo lãnh, mở L/C,…Cơ sở vật chấtngày càng được hoàn thiện với hệ thống trang thiết bị hiện đại, hệ thống máytính nối mạng 24/24, trụ sở khang trang;
Về khách hàng, như mục tiêu hướng đến chung của toàn hệ thống MSBđối tượng khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các doanh nghiệp vừa và nhỏthuộc các ngành kinh tế trọng điểm của cả nước Trong đó đặc biệt quan tâmtới khách hàng thuộc ngành hàng hải, bưu chính viễn thông, hàng không, bảohiểm Đồng thời đẩy mạnh việc phát triển khách hàng là cá nhân
Vế cơ cấu tổ chức: Tính đến ngày 31/12/2005 toàn bộ chi nhánh MSB
Hà Nội có 83 cán bộ nhân viên Trong đó trên 90% có trình độ đại học và trênđại học Số cán bộ nhân viên nữ chiếm hơn 50%
Sơ đồ tổ chức của chi nhánh MSB Hà Nội:
Phòng
kiểm
soát
Phònghànhchính
Phòng
xử lýrủi ro
Phòngtíndụng
Phòng
kế toántài
Phònggiaodịch
Tổ kếtoán
Tổ tinhọc
Tổ TDquốc tế
& KH
TổTDKHDN
Trang 292.1.2Những kết quả dạt được của Ngân hàng Hàng Hải – chi nhánh Hà Nội trong năm vừa qua.
Trong thời gian vừa qua hoạt động của hệ thống ngân hàng ở nước taphát triển nhanh chóng Cùng những biến động lãi suất ngân hàng trên thếgiới, lãi suất của các ngân hàng ở Việt Nam không ngừng tăng tạo ra sự cạnhmạnh mẽ về khách hàng, lãi suất, sản phẩm dịch vụ…giữa các ngân hàng vớinhau Đây là một trở ngại lớn đối với một ngân hàng qui mô khiêm tốn nhưMSB, đặc biệt là MSB Hà Nội Tuy nhiên vượt qua những khó khăn đó,những thế mạnh về khách hàng, nhân lực và tăng trưởng hoạt động kinhdoanh của MSB vẫn tiếp tục được phát huy và đã gặt hái được nhiều kết quảđáng khích lệ Thu hồi được các khoản nợ đọng lớn, huy động vốn đạt cao
Trang 30nhất trong các năm qua, tổ chức sửa chữa, cải tạo di chuyển trụ sở làm việccủa chi nhánh sang địa điểm mới thành công, bảo đảm phục vụ khách hàngkịp thời chính xác
Trang 31Một số chỉ tiêu kinh doanh của năm qua:
Đơn vị : triệu đ ngồng
2005
Thực hiện2005
So sánh(%)Cuối kỳ Kế hoạch
2.1.2Những kết quả đạt được của MSB Hà Nội trong năm qua.
* Tình hình huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2005 đạt 1350.8 tỷ đồng tăng
189% so với cùng kỳ của năm trước và đạt 190% kế hoạch đề ra Đây là một
kết quả ngoài sự mong đợi của chi nhánh
Tiền gửi không kỳ hạn có bước tăng vượt bậc, đạt tới 1.089 tỷ đồng,
gấp hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước, gấp 6 lần cùng kỳ năm 2003 Nguồn
vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm có bước tăng trưởng rất cao, đạt 184 tỷ
đồng và tăng 48% so với cùng kỳ năm trước Trên cơ sở các sản phẩm tiết
kiệm với lãi suất cạnh tranh chi nhánh đã đẩy mạnh công tác tiếp thị , khuyến
mại để triển khai thực hiện có hiệu quả Vì vậy mà lượng khách hàng đến giao
dịch gửi tiết kiệm ngân hàng đang ngày càng về số lượng cũng như về chất
lượng Nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm 99% trong tổng tiền gửi tiết
kiệm; Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế đạt 81 tỷ đồng, tăng 5% so với
Trang 32cùng kỳ năm trứơc, khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc ngành bưuchính viễn thông Vốn huy động bằng ngoại tệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm
tỷ lệ thấp so với tổng nguồn huy động
Khách hàng tiền gửi tại chi nhánh chủ yếu thuộc các doanh nghiệpngành bưu chính viễn thông và ngành hàng hải Trong năm 2005 thấy rõ tiềmnăng của các doanh nghiệp thuộc hai ngành này có thể đem lại cho MSB làrất lớn, MSB đã đẩy mạnh công tác tiếp thị, thu hút hầu hết các khách hàngngành bưu chính viễn thông về hoạt động chi nhánh Chính vì vậy cho đếnngày 31/12/2005 tổng nguồn huy động của khối khách hàng này đạt tới 978 tỷđồng Hiệu quả của việc huy động vốn từ các doanh nghiệp này với hoạt độngcủa MSB rất cao
Thu nhập từ phí và dịch vụ đạt 2.482 tỷ đồng, bằng 134% so với cùng kỳnăm ngoái; tuy vậy sản phẩm dịch vụ của MSB nói chung còn chưa phongphú so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nên khó thu hút được cáckhách hàng cá nhân đến giao dịch, do đó thu từ phí dịch vụ tuy vậy vẫn cònkhiêm tốn so với các ngân hàng cổ phần khác
* Tình hình hoạt động tín dụng
Dư nợ cho vay của MSB đến ngày 31/12/2005 đạt 392 tỷ đồng, tăng23.8% so với cùng kỳ năm 2004 và đạt được 87% kế hoạch Trong đó cho vayngắn hạn chiếm 70% tổng dư nợ, còn cho vay trung và dài hạn chiếm 30%tổng dư nợ, dư nợ sạch chiếm 94,5% tổng dư nợ
Đối tượng khách hàng chính của chi nhánh thuộc các doanh nghiệp vừa vànhỏ Bên cạnh đó, chi nhánh cũng đang khai thác có hiệu quả thông qua hoạtđộng cấp tín dụng cho một số tổng công ty lớn và các hoạt động ưu tiên đầu
tư, đồng tài trợ với các tổ chức tín dụng khác Dư nợ tập chung vào một sốngành như sản xuất thép, đóng tàu, kinh doanh Vacxin chữa bệnh; các dự ánxây dựng nhà máy sản xuất điều hoà, cán thép, máy khai thác mỏ, máy xâydựng, nội thất Chi nhánh đã đưa ra rất nhiều chính sách khách hàng phù hợp
Trang 33và đã bước đầu thu hút được một số khách hàng Bưu điện về hoạt động tại chinhánh.
Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao Nhưng cũng không thếtránh khỏi những rủi ro từ thị trường và từ phía khách hàng Cho nên trongnăm 2005 chi nhánh cũng phát sinh hai khoản nợ quá hạn với giá trị là 5.3 tỷđồng Hiện nay chi nhánh đang thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để thu hồi,khách hàng cũng đã cam kết sẽ giải quyết dứt điểm trong quí I năm 2006
* Tình hình kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế và dịch vụ tài khoản
Trong năm vừa qua chi nhánh đã khai thác tối đa các nguồn ngoại tệhiện có thể kinh doanh hiệu quả Thu lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt1.076 tỷ đồng
Hoạt động thanh toán quốc tế so với năm 2004 vẫn được duy trì và phát triểntốt, lượng L/C thanh toán qua MSB đã tăng lên một cách đáng kể và đạt tới17.5 triệu USD, tăng 46% Nhưng so với khả năng đáp ứng của ngân hàng thìkhách hàng sử dụng dịch vụ này vẫn còn quá ít Điều này xảy ra là do quytrình nghiệp vụ của MSB còn nhiều chỗ đôi khi chưa phù hợp với thực tế
* Công tác thu hồi nợ
Năm qua chi nhánh đã có sự thành công vượt bậc trong công tác thuhồi nợ Được sự hỗ trợ tích cực của Hội đồng quản trị và trụ sở chi nhánh một
số khoản nợ qúa hạn đã được chi nhánh giải quyết triệt để đóng góp vào kếtquả tăng trưởng lợi nhuận của chi nhánh nới riêng và của toàn hệ thống nóichung
* Công tác tiếp thị
Trong năm 2005 vừa qua chi nhánh đã tổ chức thành công hội nghịkhách hàng và thu được những kết quả khả quan, tạo bước tiền đề cho côngtác tiếp thị năm 2006
Công tác quảng cáo tiếp thị chăm sóc khách hàng tiếp tục được chútrọng những hoạt động tiếp xúc với phần lớn các khách hàng ngành Bưu
Trang 34chính viễn thông đã đem lại kết quả tốt góp phần vào sự tăng trưởng về dư nợ,tiền gửi, hoạt động thanh toán.
Chương trình tiết kiệm bậc thang MSB đã huy động vượt 7 tỷ đồng.Chương trình huy động tiêt kiệm “ Niềm vui nhân đôi” vượt 5 tỷ đồng so vớichỉ tiêu mà MSB Việt Nam giao Chi nhánh có thực hiện việc phân phát tờ rơiquảng cáo qua kênh thu cước điện thoại tới các hộ dân tại một số trục đường,tuyến phố gần trụ sở MSB Hà Nội và MSB Đống Đa
Công tác quảng cáo tiếp thị thu hút khách hàng mới và duy trì khách hàng cũcòn nhiều khó khăn vì kinh phí tiếp thị quảng cáo còn hạn chế
* Các hoạt động quản lý khác
+ Hoạt động quản lý tài chính kế toán, văn phòng
Chi nhánh đã thực hiện di chuyển thành công sang địa điểm từ 44Nguyễn Du sang 71 Hai Bà Trưng, đảm bảo kịp tiến độ sửa chữa, không gâybiến động cho khách hàng Đồng thời thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm chiphí, thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu kế hoạch chi phí do Trụ sở chính giaocho Các loại chi phí khác được chi sát với thực tế trên cơ sở hiệu quả manglại cho chi nhánh
Chi phí quản lý công vụ vượt 31% so với kế hoạch, chủ yếu tăng chiphí tiếp thị quảng cáo cho các chương trình huy động vốn, tiếp xúc, đẩy mạnhviệc thu hồi nợ
+ Hoạt động kiểm soát nội bộ
Cho tới hiện nay thì hoạt động này tại chi nhánh do 2 cán bộ nhân viênđảm nhiệm và các công tác kiểm soát, giám sát tại chỗ hoạt động kinh doanhđược duy trì thường xuyên, có được kết quả tốt hỗ trợ đắc lực cho hoạt độngkinh doanh của chi nhánh
2.2 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh trong thời gian qua.
2.2.1.Những qui định chung về công tác thẩm định tài chính dự án trung
và dài hạn của ngân hàng.
Trang 35Trên cơ sở những qui định của ngân hàng Nhà nước như về cho vay(quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của thống đốc NHNN),
về bảo đảm tiền vay (quyết định 457)… Kết hợp điều lệ ngân hàng TMCPHàng Hải Việt Nam tại quyết định số 219/QĐ-NH5 ngày 10-7-1997 và thực
tế công tác cho vay tại ngân hàng ban quản trị ngân hàng đã đưa ra các quiđịnh trong cho vay, bảo lãnh, giao dịch, ….áp dụng tại NHHH Căn cứ vàoquyết định số 13/QĐ – HĐQT và quyết định số 187/QĐ – TGĐ6 ngày 8-7-
2002 qui trình thẩm định dự án nói chung và qui trình thẩm định tài chính dự
án nói riêng bao gồm:
a) Đánh giá tính pháp lý, địa điểm triển khai và tác động môi trường
của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật
b)Phân tích sự cần thiết của đầu tư
-Quy hoạch phát triển kinh tế ngành của dự án, sự phù hợp của dự ántrong xu thế phát triển ngành và vùng địa phương;
-Sự cần thiết mở rộng quy mô và nhu cầu phát triển nội tại của kháchhàng;
-Phân tích và đánh giá vị trí và ảnh hưởng của dự án trong chiến lượcphát triển sản xuất kinh doanh của khách hàng
c)Đánh giá các yếu tố đầu vào của dự án: giá cả, nguồn cung cấp và
tính ổn định của những yếu tố này
d)Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án:
-So sánh chu kỳ dương của sản phẩm dự án với thời gian hoàn vốn của
dự án
-Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án
-Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, dự kiến thị phần sản phẩm dự án
e) Kỹ thuật và công nghệ của dự án:
- Hình thức đâu tư và công suất của dự án
- Xem xét việc lựa chọn thiết bị công nghệ và dây truyền công nghệtheo các nội dung: ý kiến của cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền hoặc uy
Trang 36tín, tính đồng bộ của các bộ phận trong dây chuyền công nghệ mới và giữadây chuyền công nghệ mới với hệ thống thiết bị sẵn có của khách hàng; tínhtiên tiến của công nghệ và thiết bị.
Xem xét khả năng cung ứng thiêt bị công nghệ của các nhà cung cấp.-Xem xét các giải pháp xây dựng (đối với dự án có phần xây dựng cơbản)
-Xem xét các vấn đề chuyển giao công nghệ
f)Tổ chức vận hành (khai thác) dự án:
-Xem xét trình độ, kinh nghiệm của đơn vị/cá nhân lập dự án
-Xem xét các tổ chức, cá nhân tham gia thiết kế, thi công về khả năngchuyên môn, kinh nghiệm, uy tín, năng lực thi công và tổ chức quản lý phùhợp với yêu cầu của dự án
-Tiến độ thực hiện dự án: Phù hợp với thời gian trong thiết kế và cácyếu tố liên quan từ đó xác định thời gian bố trí vốn đầu tư và kế hoạch thu hồivốn
-Xem xét khả năng tổ chức quản lý dự án khi đi vào vận hành (khaithác)
g)Phân tích kế hoạch tài chính của dự án:
- Chi phí trong giai đoạn triển khai xây dựng cho dự án: Các hạng mụcchi phí, cơ sở dự toán chi phí, lịch trình chi phí;
- Các nguồn tài chính để thực hiện dự án: cơ cấu nguồn, tính hiện thựccủa từng nguồn; tiến độ rút vốn
- Xác định giá thành sản phẩm, doanh thu tiêu thụ khi dự án đi vào vậnhành khai thác
- Lợi nhuận hoạt động, lưu chuyển tiền tệ, các chỉ tiêu tài chính:NPV,IRR, điểm hoà vốn và xác định độ nhạy của dự án
h) Điều chỉnh kế hoạch tài chính dự án: về doanh thu, chi phí và xác
định lại lưu chuyển tiền tệ, nguồn tiền trả nợ, thời gian hoàn vốn
i) Hiệu quả của dự án:
Trang 37- Lợi ích về hoạt động mức tiết kiệm năng lượng, cải thiện môi trường,khuyến khích xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, tạo việc làm, năng suất, chuyểngiao công nghệ, phát triển quản lý.
- Hiệu quả khác
* Dự báo khả năng rủi ro và đề xuất các biện pháp phòng ngừa, hạn chếrủi ro:
+ Dự báo các khả năng rủi ro:
- Rủi ro từ các tổ chức hoạt động của khách hàng: thay đổi loại hìnhdoanh nghiệp, thay đổi sở hữu, thay đổi người điều hành hoặc bộ máy quảnlý: thay đổi mô hình, ngành nghề hoạt động…
- Rủi ro xảy ra thuộc về dự án: rủi ro về quy mô, rủi ro về phía nhàcung cấp, rủi ro trong quá trình thi công, triển khai dự án…
- Các rủi ro khác: do sự thay dổi cơ chế, chính sách của nhà nước; rủi
ro từ thị trường sản phẩm dự án, thị trường nguyên vật liệu; rủi ro về tiền tệ
và các rủi ro khác có thể phán đoán
Cán bộ thẩm định trên cơ sở kết quả từ thẩm định dự án kết hợp với kếtquả về thẩm định: hồ sơ pháp lý của khách hàng; hồ sơ tài chính – phân tíchtài chính của khách hàng, tình hình tổ chức và hoạt động của khách hàng;nguồn - kế hoạch - thời gian trả nợ; hình thức bảo đảm tiền vay Để hìnhthành nên báo cáo kết quả thẩm định trình lên ban xét duyệt cho vay của ngânhàng Ngân hàng xem xét những giải trình của cán bộ thẩm định để từ đó raquyết định cho vay
2.2.2 Ví dụ minh hoạ: Thẩm định cho vay dự án đầu tư xây dựng nhà máy thép Nhật Quang.
2.2.2.1 Giới thiệu về chủ dự án đầu tư.
Công ty TNHH thép Nhật Quang được thành lập và hoạt động theoGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0504000088 ngày 01/03/2004 phòngđăng ký kinh doanh, sở KHĐT tỉnh Hưng Yên câp, với mức vốn điều lệ 25 tỷVND Có trụ sở tại xã Lạc Đạo - huyện Văn Lâm - tỉnh Hưng Yên
Trang 38Công ty TNHH thép Nhật Quang là công ty TNHH một thành viên với chủ sởhữu là công ty TNHH Nhật Quang (Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công
ty là: Đại lý mua, bán ký gửi hàng hoá; sản xuất gia công hàng kim khí và vậtliệu xây dựng; chế tạo và xây lắp kết cấu thép công nghiệp; Vận chuyển vàdịch vụ vận chuyển hàng hoá; Dịch vụ cho thuê kho bãi, bảo quản hàng hoácân điện tử)
Tại thời điểm đề nghị vay vốn công ty TNHH thép Nhật Quang mớiđược thành lập và chưa chính thức đi vào hoạt động Dự án xây dựng nhà máythép Nhật Quang nhằm xây dựng nhà máy để đưa công ty thép Nhật Quang đivào hoạt động Do chưa đi vào hoạt động, lại là công ty TNHH một thànhviên với chủ sở hữu là công ty Nhật Quang nên cán bộ tín dụng chỉ tiến hànhphân tích tình hình hoạt động và tài chính của công ty TNHH Nhật Quang Vàcho đến thời điểm gần nhất tình hình hoạt động và tài chính của công tyTNHH Nhật Quang là tốt (Lợi nhuận tăng đều các năm, năng lực sản xuất vàcông tác phát triển thị trường tốt, các chỉ tiêu về thanh khoản khá cao.)
2.2.2.2 Thẩm định tài chính dự án nhà máy thép
a)Giới thiệu về dự án:
Tên dự án : Đầu tư xây dựng nhà máy thép Nhật Quang.
Chủ đầu tư : CÔNG TY TNHH THÉP NHẬT QUANG.
Địa điểm thực hiện dự án: Trên khu đất 45.000m2 tại khu công nghiệpPhố Nối A xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Dự án được thực hiện trên cơ sở pháp lý:
+ Nghị quyết bằng văn bản ngày 20 tháng 02 năm 2004 của hội đồng quản trịcông ty TNHH TM Nhật Quang ,về việc quyết định thành lập công ty TNHHthép Nhậ tQuang và đầu tư xây dựng nhà máy thép Nhật Quang
+ Dự án đầu tư của công ty TNHH thép Nhật Quang
+ Quyết định số 763/QĐ-UB ngày 08/04/2004 chấp thuận cho công ty TNHHNhật Quang thực hiện dự án xây dựng nhà máy thép Nhật Quang