1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P

91 609 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Tác giả Nguyễn Văn Khoa
Người hướng dẫn ThS. Trương Thị Thu Hiền, CN. Phạm Cẩm Ngọc
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Công Nghệ
Chuyên ngành Các hệ thống thông tin
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

-o0o -

Nguyễn Văn Khoa

BẢO MẬT TÍNH RIÊNG TƯ CỦA DỮ LIỆU TRONG

MẠNG NGANG HÀNG P2P

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY

Ngành: Các hệ thống thông tin

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

-o0o -

Nguyễn Văn Khoa

BẢO MẬT TÍNH RIÊNG TƯ CỦA DỮ LIỆU TRONG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên lớp K51CHTTT, những người đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của khóa luận

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo ThS Trương Thị Thu Hiền, người đã trực tiếp hướng dẫn, cũng như động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này Mặc dù, phải đi công tác xa nhưng cô vẫn thương xuyên liên lạc, hỏi thăm và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận một cách chi tiết

Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo CN Phạm Cẩm Ngọc, người đã đồng hướng dẫn và luôn sát cánh để động viên, giúp đỡ em nghiên cứu hoàn thành khóa luận

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Các hệ thống thông tin nói riêng và các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin nói chung Nếu không có các thầy, các cô và khoa thì chắc chắn em không thể hoàn thành tốt khóa luận như ngày hôm nay

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên lớp K51CHTTT, những người đã cùng em tìm hiểu cơ sở lý thuyết cũng như ứng dụng để hiểu rõ và hoàn thành khóa luận

Sau tất cả, em xin gửi lời cảm ơn gia đình cùng toàn thể các thầy cô giáo, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng và giáo dục em có được ngày hôm nay

Cuối cùng, em xin gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc tới tất cả các thầy cô giáo Xin chúc thầy cô đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong sự nghiệp đào tạo tri thức cho đất nước cũng như trong các công việc nghiên cứu khoa học

Chúc tất cả các bạn sức khỏe, hoàn thành xuất sắc công việc học tập và nghiên cứu của mình Chúc các bạn một tương lai tươi sáng và một cuộc sống thành đạt

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2010

Sinh viên Nguyễn Văn Khoa

Trang 4

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Khái niệm mạng ngang hàng đã trở nên phổ biến Các mạng như BitTorrent và eMule giúp cho mọi người dễ dàng hơn trong việc chia sẻ dữ liệu Nếu tôi có thứ bạn cần và bạn có thứ mà tôi muốn thì tại sao chúng ta không thể chia sẻ cho nhau? Có điều, các file được chia

sẻ trên máy tính của bạn cho những người dùng không quen biết trên mạng Internet công cộng có thể khiến máy tính của bạn gặp nhiều nguy hiểm về độ an toàn và bảo mật Vì thế,

vấn đề bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng là rất đáng được quan tâm

Khóa luận này bao gồm 4 chương, chủ yếu tập trung đến các vấn đề bảo mật dữ liệu chia sẻ trong mạng ngang hàng

Chương 1 trình bày những vấn đề tổng quan nhất của mạng ngang hàng như các định nghĩa, lịch sử phát triển, các lĩnh vực ứng dụng, phân loại các mạng ngang hàng, tổng quan

về kiến trúc của các mạng ngang hàng

Chương 2 trình bày những nguyên lý cơ bản của bảo mật trong mạng ngang hàng Các vấn đề được quan tâm ở đây bao gồm: các dạng tấn công vào hệ thống (tấn công định tuyến, tấn công lưu trữ và phục hồi, tấn công từ chối dịch vụ); tính xác thực và tính toàn vẹn của dữ liệu, xác thực tính toàn vẹn của các tính toán; vấn đề chia sẻ giữa các nút trong mạng ngang hàng; và cuối cùng của chương sẽ trình bày về bảo mật dựa vào hạ tầng cơ sở khóa công khai

Chương 3 trình bày về các mô hình tin cậy: mô hình tin cậy dựa vào chứng thực và

mô hình tin cậy dựa vào uy tín; một vài hệ thống cộng tác ứng dụng các mô hình tin cậy đó

Chương 4 trình bày ứng dụng mã nguồn mở PeerSim – một công cụ để mô phỏng mạng ngang hàng trên đó người ta đã xây dựng một số ứng dụng chạy trên nền mạng ngang hàng Cụ thể sẽ tìm hiểu về ứng dụng BitTorrent – trên đó cài đặt giao thức bittorrent cho ứng dụng trong việc chia sẻ dữ liệu

Với sự phát triển mạnh mẽ của các tài nguyên máy tính và các kho dữ liệu trên các máy tính cá nhân, sử dụng môi trường P2P để chia sẻ tài nguyên giữa các người dùng trên Internet sẽ đem lại hiệu quả cao Do đó, việc áp dụng những kiến thức tìm hiểu trong khóa luận này vào thực tiễn rất có ý nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ vii

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGANG HÀNG 1

1.1 Định nghĩa mạng ngang hàng 1

1.1.1 Giới thiệu 1

1.1.2 Định nghĩa mạng ngang hàng 1

1.1.3 Lịch sử phát triển của mạng ngang hàng P2P 2

1.2 So sánh mô hình P2P với mô hình Client/Server truyền thống 3

1.3 Các lĩnh vực ứng dụng của mạng ngang hàng 3

1.3.1 Giao tiếp 3

1.3.2 Chia sẻ File 4

1.3.3 Băng thông 5

1.3.4 Không gian lưu trữ 5

1.3.5 Các chu trình xử lý 6

1.4 Kiến trúc mạng ngang hàng 6

1.4.1 Phân loại mạng ngang hàng 6

1.4.2 Kiến trúc mạng ngang hàng 7

Chương 2: BẢO MẬT TRONG HỆ THỐNG MẠNG NGANG HÀNG 13

2.1 Tấn công định tuyến 13

2.1.1 Tấn công làm sai lệch đường đi trong định tuyến 13

2.1.2 Tấn công làm cập nhật sai bảng định tuyến 14

2.1.3 Phân vùng mạng định tuyến không chính xác 14

2.2 Tấn công lưu trữ và phục hồi 15

2.3 Tấn công từ chối dịch vụ 17

2.3.1 Quản lý các cuộc tấn công 18

2.3.2 Phát hiện và phục hồi từ các cuộc tấn công 19

2.4 Xác thực và toàn vẹn dữ liệu 21

2.4.1 Các truy vấn xác thực trong cớ sở dữ liệu quan hệ 22

2.4.2 Tự xác thực dữ liệu với mã Erasure 26

2.5 Xác thực tính toàn vẹn của tính toán 27

2.6 Chia sẻ dữ liệu giữa các nút trong mạng ngang hàng 28

2.6.1 Hệ thống dựa vào hạn ngạch 30

2.6.2 Hệ thống dựa vào trao đổi 31

2.6.3 Kiểm soát sự phân bổ 32

2.6.4 Kỹ thuật dựa vào sự khích lệ 33

2.6.5 Topo mạng phù hợp 35

2.7 Bảo mật dựa vào hạ tầng cơ sở khóa công khai PKI 37

Chương 3: CÁC MÔ HÌNH TIN CẬY 38

3.1 Các khái niệm 38

3.1.1 Định nghĩa sự tin cậy 38

Trang 6

3.1.2 Các dạng tin cậy 39

3.1.3 Biểu diễn sự tin cậy bởi giá trị 40

3.1.4 Đặc tính của sự tin cậy 42

3.2 Các mô hình tin cậy 44

3.2.1 Tin cậy dựa vào sự chứng thực 44

3.2.2 Tin cậy dựa vào uy tín 45

3.3 Các hệ thống tin cậy dựa vào chứng thực 46

3.3.1 Hệ thống PolicyMaker 46

3.3.2 Hệ thống Trust-X 48

3.4 Hệ thống tin cậy dựa trên uy tín cá nhân 50

3.4.1 Hệ thống P2PRep 50

3.4.2 Hệ thống XRep 53

3.4.3 Mô hình tin cậy NICE 54

3.4.4 Hệ thống PeerTrust 56

3.5 Hệ thống tin cậy dựa vào uy tín cá nhân và uy tín dưới khía cạnh xã hội 58

3.5.1 Hệ thống Regret 58

3.5.2 Hệ thống NodeRanking 60

3.6 Quản lý sự tin cậy 62

3.6.1 Hệ thống XenoTrust 64

3.6.2 Hệ thống EigenRep 67

3.6.3 Quán lý tin cậy với P-Grid 70

Chương 4: MÔ PHỎNG MẠNG NGANG HÀNG VỚI PEERSIM 73

4.1 Tổng quan về PeerSim 73

4.1.1 Giới thiệu về PeerSim 73

4.1.2 Các gói dịch vụ trong PeerSim 73

4.2 Ứng dụng BitTorrent 74

4.2.1 Giới thiệu về BitTorrent 74

4.2.2 Cách thức hoạt động của BitTorrent 74

4.2.3 Tạo và phát hành tệp Torrent lên mạng 75

4.2.4 Tải tệp Torrent và chia sẻ tệp 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

PIPE Peer-to-Peer Information Preservation and Exchange network

RDP Random Discovery Ping

SGL Sercure Group Layer

SLIC Selfish Link-based InCentives

XIS XenoServer Information Service

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình mạng overlay 2

Hình 1.2: Phân loại mạng P2P theo mức độ tập trung 7

Hình 1.3: Mạng ngang hàng tập trung 8

Hình 1.4: Mạng ngang hàng tập trung thế hệ thứ nhất (Napster) 9

Hình 1.5: Mạng ngang hàng cơ bản (Gnutella 4.0, FreeNet) 10

Hình 1.6: Mạng ngang hàng lai 11

Hình 1.7: Mạng ngang hàng có cấu trúc 12

Hình 2.1(a): Cây băm Merkle 22

Hình 2.1(b): Miền xác thực liên tục 23

Hình 2.2: Cây VB 25

Hình 2.3: Quá trình tính đối tượng xác minh VO 26

Hình 2.4: Chương trình tự xác minh 27

Hình 2.5: Trao đổi N bước 32

Hình 3.1: Phân loại mô hình tin cậy 46

Hình 3.2: Kiến trúc hệ thống PolicyMaker 47

Hình 3.3: Các giai đoạn trong quá trình đàm phán của hệ thống Trust-X 50

Hình 3.4: Giao thức bỏ phiếu cơ bản 51

Hình 3.5: Đồ thị tin cậy Nice 55

Hình 3.6: Uy tín dưới khía cạnh xã hội 59

Hình 3.7: Bản thể luận 60

Hình 3.8 Mạng xã hội 61

Hình 3.9 Phân loại các phương pháp quản lý tin cậy 64

Hình 3.10 Nền tảng mở XenoServer trong hệ thống XenoTrust 66

Hình 3.11: Thuật toán Distributed 70

Hình 3.12: Hệ thống quản lý tin cậy dựa vào P-Grid 71

Hình 4.1: Mô hình mạng sử dụng trong BitTorrent 74

Trang 9

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGANG HÀNG

1.1 Định nghĩa mạng ngang hàng

1.1.1 Giới thiệu

Chúng ta đã biết rằng, hầu như mọi dịch vụ mà Internet cung cấp ngày nay đều dựa

trên mô hình client/server Theo mô hình này thì một máy khách (client) sẽ kết nối với

một máy chủ thông qua một giao thức nhất định (WWW, FTP, Telnet, email .) Nói

chung, mô hình client/server có nhiều ưu điểm, nổi bật là mọi xử lý sẽ nằm trên máy chủ

do đó sẽ tránh cho máy khách phải xử lý những tính toán nặng nề

Tuy nhiên, khi Internet phát triển với tốc độ nhanh chóng như hiện nay thì mô hình

client/server gặp phải một vài nhược điểm lớn Nếu số lượng máy khách tăng đến một

mức độ nào đó thì nhu cầu tải file và băng thông tăng lên dẫn đến máy chủ không có khả năng cung cấp dịch vụ cho các máy khách, hiện tượng đó được gọi là hiện tượng thắt nút

cổ chai

Để giải quyết các nhược điểm của mô hình client/server, công nghệ mạng ngang

hàng P2P được tin tưởng sẽ là lời giải cho các vấn đề trên

1.1.2 Định nghĩa mạng ngang hàng

Định nghĩa: mạng ngang hàng (tiếng Anh: Peer-to-Peer network hay gọi tắt là

P2P) là mạng mà trong đó hai hay nhiều máy tính chia sẻ tập tin và truy cập các thiết bị như máy in mà không cần thông qua máy chủ hay phần mềm máy chủ Hay ở dạng đơn giản nhất, mạng P2P được tạo ra bởi hai hay nhiều máy tính được kết nối với nhau và chia

sẻ tài nguyên mà không phải thông qua một máy chủ dành riêng

Mạng ngang hàng không có khái niệm máy chủ (server) hay máy khách (client),

mà chỉ có khái niệm các nút (peer) đóng vai trò như cả máy chủ và máy khách

Mạng overlay: là mạng máy tính được xây dựng trên nền của một mạng khác Các

nút trong mạng overlay được xem là nối với nhau bằng liên kết ảo (logical link), mỗi liên kết ảo có thể bao gồm rất nhiều các liên kết vật lý của mạng nền

Rất nhiều các mạng P2P được gọi là mạng overlay vì nó được xây dựng và hoạt động trên nền Internet, ví dụ như: Gnutella, Freenet, DHTs …

Trang 10

Hình 1.1: Mô hình mạng overlay

1.1.3 Lịch sử phát triển của mạng ngang hàng P2P

Lịch sử ra đời và phát triển của P2P gắn liền với phần mềm ứng dụng Napster Năm 1999, Shawn Fanning một sinh viên ở tuổi 18 đã rời bỏ trường Đại học để bắt đầu xây dựng phần mềm mang tên Napster do bức xúc với việc rất khó khăn để đưa và chia sẻ các file nhạc trực tuyến trên Internet mặc dù mọi người đều có nguồn tài nguyên trong đĩa cứng của mình

Napster được xây dựng thành công và trở thành cách chia sẻ file chính vào thời điểm lúc bấy giờ Nó đã làm thay đổi cách tải các file nhạc và dung lượng file chia sẻ cũng lớn hơn nhiều so với các chương trình chia sẻ file trước đó

Khoảng 60 triệu người trên thế giới đã sử dụng phần mềm Napster vào thời điểm

đó (trong đó có khoảng 1 triệu người Nhật) Tuy nhiên, do có quá đông người dùng và vấn đề bản quyền âm nhạc nên công ty Napster đã bị cấm hoạt động Phần mềm Napster không còn được sử dụng kể từ năm 2003

Sau Napster, rất nhiều các chương trình khác như Gnutella, KaZaa và WinMP đã xuất hiện Công nghệ P2P không chỉ dừng lại ở ứng dụng chia sẻ file nhạc mà còn mở rộng cho tất cả các loại file Nó còn được ứng dụng để chia sẻ các tiến trình rỗi của CPU tại các nút trong mạng

Sau sự ra đời của Napster, công nghệ P2P phát triển một cách nhanh chóng Cho đến hiện nay các ứng dụng P2P đã chiếm khoảng 50% và thậm chí lên đến 75% băng thông trên mạng Internet

Trang 11

1.2 So sánh mô hình P2P với mô hình Client/Server truyền thống

1.3 Các lĩnh vực ứng dụng của mạng ngang hàng

Sự ra đời của mạng ngang hàng đã tạo ra cách thức quản lý mới cho hàng loạt các lĩnh vực ứng dụng Trong phần này chúng ta sẽ đưa ra một cách nhìn tổng quát cho vấn đề các lĩnh vực ứng dụng của mạng ngang hàng như: giao tiếp, chia sẻ file, băng thông, không gian lưu trữ, các chu trình xử lý của CPU

1.3.1 Giao tiếp

Đóng vai trò quan trọng trong các ứng dụng mạng ngang hàng

Là nhân tốt quyết định trong các mạng ngang hàng vì nó cung cấp thông tin về các nút và các nguồn tài nguyên nào là sẵn sàng trên mạng

P2P Client/Server

Tổng quan

- Một mạng ngang hàng cho phép các nút đóng góp, chia sẻ nguồn tài nguyên với nhau Tài nguyên riêng rẽ của các nút (ổ cứng, CD-ROM, máy in …) Các nguồn tài nguyên này có thể được truy cập từ bất cứ nút nào trong mạng

- Các nút đóng vai trò như cả máy khách và máy chủ

- Dữ liệu được lưu tại một máy chủ trung tâm, tốc độ cao

- Khi một máy khách yêu cầu lấy thông tin về thời gian nó sẽ phải gửi một yêu cầu theo một tiêu chuẩn do máy chủ định ra, nếu yêu cầu được chấp nhận thì máy chủ sẽ trả về thông tin mà máy khách yêu cầu

- Đáng tin cậy hơn (có máy chủ riêng)

Trang 12

Tạo ra khả năng cho các nút kết nối trực tiếp với các nút khác và yêu cầu các nguồn tài nguyên

Một ví dụ điển hình về ứng dụng mạng ngang hàng trong giao tiếp là hệ thống chuyển tin nhắn trực tiếp: thông thường, máy chủ trung tâm lưu trữ thông tin và danh sách người dùng đăng ký Khi có sự giao tiếp giữa các nút, việc tìm kiếm nút khác được thực hiện trên máy chủ Trong trường hợp nút đó không trưc tuyến, hệ thống sẽ phải lưu trữ các tin nhắn cho đến khi nút này trực tuyến lại Các dịch vụ tin nhắn điển hình: Napster, ICQ, Jabber

1.3.2 Chia sẻ File

Có thể nói ứng dụng được sử dụng nhiều nhất của mạng ngang hàng đó là chia sẻ file Theo ước tính khoảng 70% lưu lượng mạng trên Internet được cho là để trao đổi các file đặc biệt là các file âm nhạc (hơn 1 tỷ các file âm nhạc được tải mỗi tuần)

Đặc điểm của vấn đề chia sẻ file là các nút có các file được tải với vai trò là một máy khách làm cho chúng luôn sẵn sàng với các nút khác trong vai trò của một máy chủ

Vấn đề chủ yếu cho mạng ngang hàng nói chung và cho vấn đề chia sẻ file nói riêng là vấn đề tìm kiếm Trong ngữ cảnh của hệ thống chia sẻ file, có ba mô hình khác

nhau được phát triển: mô hình flooded request, mô hình thư mục trung tâm và mô hình

hướng tài liệu Các mô hình này được minh họa qua các ứng dụng thực của mạng ngang hàng: Gnutella, Naspter và FreeNet

Trong hệ thống Gnutella, không có sự tập trung hóa, các file được lưu trữ trên các nút của hệ thống, khi có yêu cầu tìm kiếm một file, máy tính sẽ gửi yêu cầu này tới tất cả các nút láng giềng của nó cho tới khi tìm thấy máy lưu giữ file cần tìm Tiếp theo là quá trình trao đổi file trực tiếp giữa hai máy tính trong mạng

Trong hệ thống Naspter, có sự tập trung hóa Khi một máy tham gia vào mạng, danh sách các file sẽ được đăng ký và lưu trữ trên máy chủ trung tâm, khi có yêu cầu tìm kiếm, máy tính sẽ hỏi máy chủ trung tâm về vị trí của file Sau đó việc trao đổi file được thực hiện giữa hai máy tính với nhau

Trong hệ thống Freenet, các file chia sẻ không được lưu trữ trên đĩa cứng của các máy cung cấp mà chúng được lưu trữ ở các máy khác nhau trong mạng Mục đích của việc phát triển mạng Freenet là làm cho thông tin được lưu trữ và truy cập mà không cần

Trang 13

biết định danh Với các tổ chức như vậy, chủ sở hữu của một nút mạng cũng không biết được tài liệu gì được lưu trữ trên đĩa cứng của máy anh mình Vì lý do này mà các nút và các file được gắn các số định danhkhác nhau Khi một file được tạo, nó được truyền qua các nút láng giềng tới các nút có số định danh gần với số định danh của file nhất và được lưu trữ ở đó

1.3.3 Băng thông

Do yêu cầu về khả năng truyền dẫn của các mạng ngày càng đòi hỏi cao đặc biệt là khi một số lượng lớn dữ liệu đa phương tiện tăng nhanh, hiệu quả của việc sử dụng băng thông ngày càng trở nên quan trọng Hiện nay, hướng tiếp cận tập trung trong đó các file được lưu trữ trên một máy chủ và được truyền từ nó tới máy khách đang được sử dụng chủ yếu Trong trường hợp này khi số lượng các yêu cầu tăng nhanh sẽ dẫn tới tình trạng thắt nút cổ chai Với hướng tiếp cận theo mạng ngang hàng vấn đề cân bằng tải sẽ đạt được sự tối ưu nhất vì nó tận dụng tối đa các hướng truyền dẫn trong hệ thống

Tăng khả năng cân bằng tải trong mạng: khác với kiến trúc client/server các mạng ngang hàng lai có thể nhận được sự cân bằng tải tốt hơn Với mô hình client/server thì cả yêu cầu truy vấn thông tin và việc truyền dữ liệu đều được thực hiện giữa máy chủ và máy khách, việc đó sẽ làm mất sự cân bằng tải khi có nhiều yêu cầu kết nối tới máy chủ Với kiến trúc ngang hàng, chỉ có yêu cầu truy vấn được thực hiện giữa máy tính trong mạng với máy chủ, còn vấn đề truyền file được thực hiện giữa hai máy tính trong mạng với nhau, điều này sẽ giúp cân bằng tải thông qua việc phân bố tải đều trên toàn hệ thống

Chia sẻ băng thông: mạng ngang hàng có thể làm tăng khả năng tải và truyền các file do cơ chế tận dụng đường truyền thông qua các nút trong mạng Một file dữ liệu lớn được chia thành các phân mảnh dữ liệu nhỏ độc lập nhau, các mảnh dữ liệu này được chuyển đồng thời đến các nút khác nhau và cuối cùng đến nút yêu cầu chúng Tại nút yêu cầu các mảnh dữ liệu được phép lại thành file dữ liệu ban đầu Các phần mềm tải file điển hình cho việc chia sẻ băng thông, chẳng hạn như: BitTorrent, FlashGet, vv

1.3.4 Không gian lưu trữ

Ngày nay, khi các dữ liệu càng ngày càng lớn, kích thước file cũng càng lớn, với các máy tính có tài nguyên đĩa cứng hạn hẹp sẽ gặp khó khăn trong việc lưu trữ các file

dữ liệu lớn trên máy tính của mình Phát huy ưu điểm của mạng ngang hàng để chia sẻ không gian lưu trữ giữa các máy tính trong hệ thống thì điều đó không còn là một điều đáng lo ngại Bằng cách này, dữ liệu sẽ được chia nhỏ thành các phần và lưu trữ mỗi phần

Trang 14

trên các máy trong mạng Mỗi khi cần lấy lại dữ liệu, máy đó sẽ nhận lại các phần của dữ liệu trên các máy và ghép chúng lại để nhận được dữ liệu ban đầu Với việc chia sẻ không gian lưu trữ, hệ thống P2P càng ngày càng được mở rộng với nhiều máy tính tham gia vào

hệ thống

1.3.5 Các chu trình xử lý

Có thể nhận thấy rằng trong các ứng dụng đòi hỏi cần phải có sức mạnh tính toán người ta thường tìm cách xây dựng các máy tính mạnh, đắt tiền chứ chưa chú trọng vào việc tận dụng khả năng tính toán của các máy tính được nối mạng Ngày nay do những yêu cầu đòi hỏi tính toán hiệu năng cao như các thao tác tính toán trong tin sinh học, trong tài chính, trong đo lường mà nhiều nghiên cứu ứng dụng mạng ngang hàng vào xử lý tính toán đã được đưa ra Bằng việc sử dụng các ứng dụng mạng ngang hàng để bó cụm các chu trình xử lý có thể nhận được khả năng tính toán ngang bằng với một siêu máy tính đắt tiền Trong một mạng mỗi máy tính là trong suốt với các máy tính khác và tất cả các nút được kết nối mạng sẽ tạo thành một máy tính logic

1.4 Kiến trúc mạng ngang hàng

1.4.1 Phân loại mạng ngang hàng

Trong mô hình client/server, máy chủ là nơi cung cấp các dịch vụ, thông tin cho hệ thống, chẳng hạn như máy chủ Web, máy chủ cơ sở dữ liệu, vv Máy khách là máy yêu cầu nội dung thông tin, yêu cầu dịch vụ từ máy chủ Địa chỉ IP của máy chủ phải được cung cấp cho các máy khách, nội dung thông tin chứa trên máy chủ có thể là các file âm thanh, hình ảnh, file cơ sở dữ liệu, vv Máy khách không cung cấp bất kỳ nội dung hoặc dịch vụ nào để chạy hệ thống

Mạng ngang hàng có thể được phân loại theo mục đích sử dụng, ví dụ:

- Chia sẻ file

- Điện thoại VoIP

- Đa phương tiện

- Diễn đàn thảo luận

Trang 15

Mạng ngang hàng có thể được phân loại theo mức độ tập trung của mạng như trong hình vẽ dưới đây:

Hình 1.2: Phân loại mạng P2P theo mức độ tập trung

1.4.2 Kiến trúc mạng ngang hàng

1.4.2.1 Mạng ngang hàng không cấu trúc

Nơi lưu trữ nội dung hoàn toàn không liên quan gì đến cấu trúc hình học của mạng

Kỹ thuật tìm kiếm chủ yếu là sử dụng flooding với các giải thuật tìm kiếm ưu tiên theo chiều rộng (breadth – first), hoặc ưu tiên theo chiều sâu (depth – first) cho đến khi nội dung được tìm thấy Các kỹ thuật khác phức tạp hơn gồm bước nhảy ngẫu nhiên (random walk) và chỉ số routing (routing indices)

Các hệ thống không cấu trúc thường phù hợp trong trường hợp các nút ra vào mạng thường xuyên, tùy ý

1.4.2.1.1 Mạng ngang hàng tập trung

Trang 16

Đây là mạng ngang hàng thế hệ thứ nhất, đặc điểm là vẫn còn dựa trên một máy chủ tìm kiếm trung tâm, chính vì vậy nó còn được gọi là mạng ngang hàng tập trung Cấu trúc Overlay của mạng ngang hàng tập trung có thể được mô tả như một mạng hình sao:

Hình 1.3: Mạng ngang hàng tập trung

Nguyên tắc hoạt động:

Mỗi client lưu trữ file định chia sẻ với các nút khác trong mạng

Một bảng lưu trữ thông tin kết nối của người dùng đăng ký (địa chỉ IP, kết nối băng thông, …)

Một bảng liệt kê danh sách các file mà mỗi người dùng định chia sẻ (tên file, dung lượng, thời gian tạo file …)

Mọi máy tính tham gia mạng được kết nối với máy chủ tìm kiếm trung tâm, các yêu cầu tìm kiếm được gửi tới máy chủ trung tâm phân tích, nếu yêu cầu được giải quyết máy chủ sẽ gửi trả lại địa chỉ IP của máy chứa tài nguyên trong mạng và quá trình truyền file được thực hiện theo đúng cơ chế của mạng ngang hàng, giữa các host với nhau mà không cần qua máy chủ trung tâm

Trang 17

Hình 1.4: Mạng ngang hàng tập trung thế hệ thứ nhất (Napster)

Với Napster, việc tìm kiếm file bị thất bại khi bảng tìm kiếm trên máy chủ vì lý do nào đó không thực hiện được Chỉ có các file truy vấn và việc lưu trữ được phân tán, vì vậy máy chủ đóng vai trò là một nút cổ chai Khả năng tính toán và lưu trữ của máy chủ tìm kiếm phải tương xứng với số nút mạng trong hệ thống, do đó khả năng mở rộng mạng

bị hạn chế rất nhiều

1.4.2.1.2 Các mạng ngang hàng cơ bản

Mạng ngang hàng cơ bản là một dạng khác của thế hệ thứ nhất trong hệ thống các mạng ngang hàng Không còn máy chủ tìm kiếm tập trung như trong mạng Napster, nó khắc phục được vấn đề nút cổ chai trong mô hình tập trung Tuy nhiên vấn đề tìm kiếm trong mạng ngang hàng cơ bản lại sử dụng cơ chế Flooding, yêu cầu tìm kiếm được gửi cho tất cả các nút mạng là láng giềng với nó, điều này làm tăng đáng kể lưu lượng trong

Trang 18

mạng Đây là một yếu điểm của mạng ngang hàng cơ bản Các phần mềm tiểu biểu cho mạng ngang hàng dạng này là Gnutella 4.0, FreeNet

Hình 1.5: Mạng ngang hàng cơ bản (Gnutella 4.0, FreeNet)

Trang 19

thoại di động, các thiết bị cầm tay khác – để giao tiếp theo cách không tập trung Skype cũng được xây dựng dựa trên cấu trúc này

Hình 1.6: Mạng ngang hàng lai

Trong mô hình mạng ngang hàng lai tồn tại một trật tự phân cấp bằng việc định

nghĩa các SuperPeer Các SupperPeer tạo thành một mạng không cấu trúc, có sự khác nhau giữa SupperPeer và ClientPeer trong mạng, mỗi SupperPeer có nhiều kết nối đến các ClientPeer

Mỗi SupperPeer chứa một danh sách các file được cung cấp bởi các ClientPeer và

địa chỉ IP của chúng vì vậy nó có thể trả lời ngay lập tức các yêu cầu truy vấn từ các

ClientPeer gửi tới

Ưu điểm:

Hạn chế việc tràn ngập các truy vấn, làm giảm lưu lượng trong mạng,

nhưng vẫn tránh được hiện tượng thắt cổ chai (do có nhiều SupperPeer)

Khắc phục được nhược điểm về sự khác nhau về khả năng xử lý của CPU,

băng thông, … ở mạng ngang hàng cơ bản, các SupperPeer sẽ chịu tải chính, các

nút khác chịu tải nhẹ

1.4.2.2 Mạng ngang hàng có cấu trúc

Cấu trúc hình học của mạng được kiểm soát chặt chẽ

Trang 20

File (hoặc con trỏ trỏ tới file) được đặt ở một vị trí xác định

Điều quan trọng đối với những hệ thống có cấu trúc là cung cấp sự liên kết giữa nội dung (ví dụ: id của file) và vị trí của nút (ví dụ: địa chỉ nút) Việc này thường dựa trên một cấu trúc dữ liệu bảng băm phân tán (Distributed Hash Table)

Dựa trên cấu trúc bảng băm phân tán đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất ra các mô

hình mạng ngang hàng có cấu trúc, điển hình là cấu trúc dạng vòng (hình 1.7): Chord,

Pastry, … Và cấu trúc không gian đa chiều: CAN, Viceroy

Hình 1.7: Mạng ngang hàng có cấu trúc

Ưu điểm:

Khả năng mở rộng hệ thống mạng trong mô hình không cấu trúc thường bị hạn chế bởi các kỹ thuật trong việc xây dựng mạng chẳng hạn như: Mô hình tập trung dẫn tới việc thắt nút cổ chai khi mở rộng, kỹ thuật Flooding dẫn tới việc tăng lưu lượng mạng khi mở rộng mạng Trong khi đó khả năng mở rộng với mô hình mạng có cấu trúc được nâng cao rõ rệt

Trang 21

Chương 2: BẢO MẬT TRONG HỆ THỐNG MẠNG NGANG

HÀNG

Để hệ thống P2P được chấp nhận và áp dụng rộng rãi thì chúng phải được bảo mật tốt Bảo mật trong môi trường P2P đặt ra nhiều thách thức lớn so với bảo mật trong môi trường client/server Trong hệ thống P2P, một nút có thể tham gia hoặc rời khỏi mạng bất

cứ lúc nào Vấn đề này có thể gây ra tiềm năng của nhiều mối đe dọa (như tấn công từ chối dịch vụ) làm gián đoạn hoạt động của hệ thống Một nút độc hại có thể thay đổi định danh của nó bất cứ lúc nào khi nó gia nhập lại vào mạng, điều này sẽ là trờ ngại để xác định một nút có phải là nút độc hại hay không khi nó vừa mới gia nhập vào mạng

Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu về các vấn đề của bảo mật trong mạng ngang hàng, cụ thể sẽ gồm các phần sau: tấn công định tuyến, tấn công lưu trữ và phục hồi, tấn công từ chối dịch vụ, xác thực dữ liệu và tính toán, riêng tư và ẩn danh và bảo mật dựa vào hạ tầng cơ sở khóa công khai (PKI)

2.1 Tấn công định tuyến

Các hệ thống P2P có cấu trúc như Chord[8], CAN[9], Pastry[10] và BATON[11]

áp dụng nguyên lý tương tự như quá trình xử lý truy vấn: khi một nút nhận một yêu cầu truy vấn, nếu nó không chứa kết quả truy vấn thì nó sẽ chuyển tiếp truy vấn tới một nút trong bảng định tuyến mà gần hơn với nút lưu kết quả truy vấn và tiến trình kết thúc khi

có một nút phản hồi Điều này có nghĩa, trong một mạng phủ cố định, không có các nút mới tham gia và cũng không có các nút rời khỏi mạng, với cùng một truy vấn bắt đầu từ cùng một nút thì luôn luôn theo cùng một tuyến đường nhất định (thông qua các nút trung gian) Trong các hệ thống như thế, điều quan trọng là phải đảm bảo tính đúng đắn của chức năng định tuyến và các trường hợp tấn công định tuyến phải được xử lý kịp thời Trong các cuộc tấn công định tuyến, các nút xấu hoạt động tích cực trong hệ thống, chúng không chỉ tham gia định tuyến mà thông tin của chúng còn được lưu ở trong các bảng định tuyến của các nút khác Tấn công định tuyến được chia làm 3 dạng chính như sau:

2.1.1 Tấn công làm sai lệch đường đi trong định tuyến

Tấn công làm sai lệch đường đi trong định tuyến là dạng tấn công mà một nút xấu chuyển tiếp yêu cầu truy vấn đến một nút không chính xác hoặc trả về một kết quả không chính xác cho nút yêu cầu truy vấn (ví dụ như: trả về một nút ngẫu nhiên và xem như nút

Trang 22

đó giữ kết quả truy vấn) Đối với trường này, giải pháp để giải quyết vấn đề là: cho nút yêu cầu truy vấn theo dõi quá trình truy vấn Với cách này, nếu một nút chuyển tiếp xâu truy vấn tới một nút khác mà không có xu hướng “gần” sang nút đích, trong trường hợp

đó nó bị coi như một nút xấu Để khôi phục lại hệ thống sau cuộc tấn công này, nút yêu cầu truy vấn có thể quay lại nút tin cậy sau cùng trên đường định tuyến và yêu cầu nút đó cung cấp một tuyến đường khác Đối với trường hợp tấn công thứ hai, nút yêu cầu truy vấn có thể kiểm tra vùng giá trị được quản lý bởi nút đích để xác minh kết quả Ví dụ, nút yêu cầu truy vấn có thể kiểm tra định danh để xác minh chính xác là nút đích

2.1.2 Tấn công làm cập nhật sai bảng định tuyến

Tấn công làm cập nhật sai bảng định tuyến là dạng tấn công mà một nút xấu muốn làm hỏng bảng định tuyến của các nút khác bằng cách cung cấp thông tin định tuyến sai

lệch Hậu quả gây ra từ dạng tấn công này là làm cho các nút “tốt” trong hệ thống truy

vấn sai lệch điểm đích dẫn đến kết quả trả về không chính xác, hoặc truy vấn đến một nút không tồn tại Giải pháp để loại bỏ các cuộc tấn công dạng này là kiểm tra các nút ở xa trước khi tích hợp chúng vào trong bảng định tuyến của các nút Một cách thức tấn công tinh vi hơn có thể xảy ra khi hệ thống cung cấp thêm tính linh hoạt bằng cách cho phép lựa chọn máy chủ Cách thức tấn công này có thể không ảnh hưởng đến việc định tuyến nhưng nó có thể ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ Ví dụ, thay vì chọn nút nhanh nhất thì một nút xấu sẽ định tuyến xâu truy vấn đến một nút mà ở đó băng thông rất thấp

và có thể độ tin cậy vào nút đó là rất thấp

2.1.3 Phân vùng mạng định tuyến không chính xác

Phân vùng định tuyến không chính xác xảy ra khi một nút mới gia nhập vào mạng

và hình thành một phân vùng mạng khác bằng một nhóm các nút độc hại Điều này có thể xảy ra bởi vì, khi một nút mới gia nhập vào hệ thống, nó cần được kích hoạt thông qua một vài nút trong hệ thống Một nút như thế có thể là thành viên của phân vùng mạng độc hại Ngoài ra, một nút xấu ở trong một phân vùng mạng chính đáng cũng có thể định tuyến các nút mới vào phân vùng mạng độc hại Các cuộc tấn công như vậy không chỉ có thể từ chối các dịch vụ đối với các nút mới mà quan trọng là chúng còn có thể quan sát các hành vi của các nút đó Một giải pháp cho vấn đề này là chỉ cho các nút mới kích hoạt đến các nút đáng tin cậy Bằng giải pháp này, mỗi nút phải duy trì một danh sách các nút đáng tin cậy mà chúng đã được xác định trước và chỉ liên lạc với các nút trong danh sách

Trang 23

đó khi tham gia vào mạng (nếu nút vừa mới tham gia vào mạng lần đầu tiên và nó chưa biết danh sách các nút tin cậy thì nó có thể lấy thông tin từ một vài nút đáng tin cậy đã được xác nhận) Ngoài ra, nút mới tham gia có thể kiểm tra bảng định tuyến để phát hiện phân vùng độc hại Điều này có thể được thực hiện bằng cách khởi tạo các truy vấn ngẫu nhiên tại các nút láng giềng ngẫu nhiên và so sánh các kết quả trả về Nếu hai kết quả không giống nhau, có khả năng nút đó sẽ rơi vào phân vùng độc hại Trên thực tế, như được thảo luận bởi Sit và Morris[12], một giải pháp đơn giản và hiệu quả để tránh các nút độc hại là cấp định danh cho các nút bằng cách sử dụng khóa công khai của chúng Mặc

dù chi phí cho giải pháp này có thể rất cao nhưng với giải pháp này các nút độc hại không thể dễ dàng làm tê liệt hệ thống

2.2 Tấn công lưu trữ và phục hồi

Hệ thống P2P (có cấu trúc và không có cấu trúc) được triển khai là nơi lưu trữ dữ liệu phân tán và đó cũng là môi trường thuận lời cho các cuộc tấn công lưu trữ và phục hồi xảy ra, bao gồm các vấn đề dưới đây:

- Một nút xấu có thể từ chối việc lưu trữ dữ liệu mà đáng lẽ ra nó phải chịu trách nhiệm lưu trữ

- Một nút xấu có thể thỏa thuận để lưu trữ dữ liệu nhưng sau đó nó sẽ xóa dứ liệu Đây là một vấn đề nghiêm trọng nếu như dữ liệu bị xóa vĩnh viễn

- Một nút xấu có thể chấp nhận trách nhiệm lưu trữ dữ liệu nhưng có thể nó sẽ từ chối các yêu cầu của client hoặc tệ hơn nó có thể thay thế bằng các bản sao có sự thay đổi

- Một nút xấu có thể hợp tác với các nút khác để cùng tấn công

- Một nút xấu có thể giả mạo danh tính của một nút khác

Các dạng tấn công trên cũng xảy ra trong các hệ thống khác, nơi mà những siêu dữ liệu được lưu trữ Đặc biệt, các siêu dữ liệu phổ biến nhất là những dữ liệu được sử dụng trong các chỉ số định tuyến và rất quan trọng, chúng cần được bảo đảm tính chính xác và đầy đủ Một giải pháp để chặn các cuộc tấn công này được đề xuất trong hệ thống PIPE[13] (Peer-to-Peer Information Preservation and Exchange network - hệ thống mạng bảo tồn và trao đổi thông tin ngang hàng) Hệ thống PIPE về cơ bản là một hệ thống phân tán được thiết kế để bảo vệ tài nguyên từ các bản đã bị sửa đổi hoặc bị làm hỏng gây ra

Trang 24

bởi các nút xấu Giả sử có k nút thất bại và m nút là xấu, hệ thống PIPE cung cấp một vài

dịch vụ cho các nút như sau:

- Discover(): dịch vụ này sử dụng một nút mới gia nhập vào hệ thống Nhiệm vụ

của nó là thông báo cho hệ thống biết các nút mới vừa gia nhập để thống kê các nút đang

trực tuyến, và hỗ trợ các nút mới có được một danh sách ít nhất k nút, những nơi có thể

lưu trữ tài liệu Để chắc chắn bất cứ tài liệu nào được lưu trữ tại các nút khác là không bị

mất, ít nhất (m + 1) nút phải được giao tiếp để bảo đảm ít nhất một trong số các nút đó là

không phải nút xấu PIPE giả định nút mới đã biết danh tính của những nút đó để kích hoạt quá trình học hỏi danh tính của các nút khác trong hệ thống Trong thực tế, có thể nó

cần giao tiếp với (m + k + 1) nút khác nếu k nút bị thất bại Từ (m + 1) nút (hoặc lớn

hơn), nút mới gia nhập sẽ hợp nhất các danh sách các nút được cung cấp bởi mỗi nút để

có được danh sách các nút mà nó có thể lưu trữ tài liệu trên đó để tải về một bản có giá trị vào một thời điểm sau

- publish(D, i): dịch vụ này có nhiệm vụ lưu giữ tài liệu D tại nút i Vì các nút xấu

có thể xóa D hay thậm chí từ chối phục vụ D, vì thế các nút có thể thất bại, P phải tạo ra ít nhất (m + k + 1) nút Bằng cách này, sẽ có ít nhất một bản sao có giá trị tại ít nhất một nút

có hiệu lực

- recover(D, i): dịch vụ này được sử dụng để xuất bản thêm số bản sao của tài liệu

vào hệ thống PIPE khi các nút xấu hoặc các nút thất bại đã xóa tài liệu, do đó sẽ luôn có ít nhất một bản sao có hiệu lực được lưu giữ đâu đó trong mạng

- search(q): dịch vụ này sẽ gửi quảng bá truy vấn tìm kiếm q đến tất cả các nút Các nút chứa tài liệu phù hợp với q sẽ trả lại id của tài liệu đó và id của chính nó Vấn đề

thách thức ở đây là bằng cách nào có thể chọn lọc ra các bản sao bị thay đổi

- retrieve(D, i): dịch vụ này sẽ lấy id của tài liệu D từ nút i Để đảm bảo tài liệu

được lấy ra là một bản sao hợp lệ (không phải là bản bị thay đổi), một trong những giải

pháp an toàn đó là ràng buộc id của tài liệu với nội dung của tài liệu Điều này có thể thực hiện bằng cách đại diện id của tài liệu như một chữ ký (bằng cách sử dụng hàm băm một

chiều như SHA hoặc MD5) Một tài liệu được xác thực bằng cách kiểm tra chữ ký của nó

trùng với id của nó (thu được từ hoạt động search())

Hiệu quả của hệ thống PIPE phụ thuộc vào mức độ chính xác của sự dự báo về m

và k Trong khi hầu hết các giải pháp đơn giản sử dụng phương pháp lưu trữ dư thừa

Trang 25

(nhân rộng tài liệu trên một số lượng lớn các nút), một giải pháp thay thế là hạn chế ảnh hưởng của các nút xấu, càng thấp càng tốt Cách này có thể đạt được bằng cách sử dụng các kỹ thuật để phát hiện một số hành vi nguy hiểm rõ ràng Trong hệ thống PIPE, hai kỹ

thuật đã được đề xuất để yêu cầu challenger truy vấn đến nút bị coi là giả mạo lưu giữ tài liệu Kỹ thuật đầu tiên, kỹ thuật phát hiện giả mạo lưu giữ tài liệu: yêu cầu nút đó (nút bị

coi là giả mạo) cung cấp tài liệu mà nó đã được phân phát lưu giữ Rõ ràng, nếu nó không

có khả năng trả lại tài liệu thì nó bị coi là nút xấu Kỹ thuật thứ hai, kỹ thuật phát hiện bản sao không hợp lệ yêu cầu một nút đang giữ tài liệu trả lại một phần của tài liệu (lựa chọn ngẫu nhiên bởi challenger) Một lần nữa, nếu nút đó trả lại phần tài liệu có nội dung

không như mong đợi thì nút đó cũng bị coi là nút xấu Khi một nút xấu được phát hiện, hệ thống sẽ phục hồi bằng cách tạo thêm các bản sao

2.3 Tấn công từ chối dịch vụ

Trong một mạng ngang hàng, các nút tham gia nên sẵn sàng đóng góp các dữ liệu hoặc các tài nguyên của chúng cho các nút khác Tuy nhiên, một nút có thể trở nên không sẵn sàng vì lý do nó bị tấn công Một trong những hình thức tấn công đó là tấn công từ chối dịch vụ (denial-of-service – DoS) Trong một vụ tấn công từ chối dịch vụ, một nút bị quá tải bởi các tin nhắn vô ích và lãng phí tài nguyên của nó để thực hiện các công việc

vô nghĩa, do đó nó không thể đáp ứng đúng mục đích Ví dụ, một nút xấu có thể gửi liên tục các tin nhắn đến một nút duy nhất Bằng cách này, nó sẽ làm cho băng thông của một nút bị tiêu thụ chỉ để chuyển tin nhắn, làm cho các tài nguyên mà nó chia sẻ (như CPU, bộ nhớ) không sẵn sàng cho các nút khác trong mạng Tấn công từ chối dịch vụ được chia thành hai dạng: tấn công tầng mạng và tấn công tầng ứng dụng Trong khi các cuộc tấn công tầng mạng cố gắng để làm tê liệt một nút bằng cách làm ngập và sau đó làm tràn với một số lượng lớn giao thông trong mạng, các cuộc tấn công tầng ứng dụng làm cho một nút không sẵn sàng cho một số lượng lớn các yêu cầu ứng dụng Sau đó nút đó có thể hư hỏng do phải sử dụng cạn nguồn tài nguyên để phục vụ các yêu cầu vô ích

Trong phần này chúng ta sẽ xem xét một số phương pháp hiện nay được xây dựng

để (a) phát hiện khi một cuộc tấn công từ chối dịch vụ diễn ra, (b) quản lý các cuộc tấn công để các nút có thể duy trì dịch vụ của nó cho các nút khác (c) phục hồi từ cuộc tấn công bằng cách ngắt kết nối với các nút nguy hiểm

Trang 26

2.3.1 Quản lý các cuộc tấn công

Daswani và Garcia-Molina[14] đã nghiên cứu tấn công dịch vụ ở tầng ứng dụng trong phạm vi của một mạng ngang hàng sử dụng kiến trúc siêu nút Trong một kiến trúc như vậy, các nút được phân loại thành hai cấp: nút cục bộ kết nối với mạng ngang hàng thông qua một siêu nút; các nút siêu nút giao tiếp trong một bộ Gnutella-like, nơi mà một truy vấn được gửi quảng bá từ một siêu nút đến tất cả các siêu nút láng giềng của nó Công việc tập trung vào việc quản lý các cuộc tấn công từ chối dịch vụ, rất khó để phân biệt giữa các truy vấn hợp lệ với các truy vấn nhằm mục đích tấn công Giải pháp cơ bản

là cân bằng hệ thống bằng cách chia sẻ công bằng tài nguyên cho mỗi nút, tức là không quan tâm bao nhiêu thông điệp, bao nhiêu yêu cầu được xử lý từ một nút mà nút phục vụ chỉ dành ra một con số cụ thể các tài nguyên cho nút đó Bằng cách này, mức độ nguy hiểm của các cuộc tấn công vào một nút sẽ được hạn chế

Với kiến trúc siêu nút, mỗi siêu nút có 2 cấp truy vấn: truy vấn cục bộ và truy vấn liên bộ Để hạn chế tác hại của một cuộc tấn công từ chối dịch vụ mà không có thể nhận biết một truy vấn có phải là truy vấn nhằm mục đích tấn công hay không, các tác giả đã

đưa ra một tham số được gọi là tỷ lệ hạn chế ρ (0 <= ρ <=1), để xác định tỷ lệ của các

truy vấn cục bộ và các truy vấn liên bộ Ví dụ, nếu một nút có khả năng phục vụ k truy

vấn trong một đơn vị thời gian, sau đó nó chấp nhận ρ * k truy vấn cục bộ, và (1 – ρ) * k

truy vấn liên bộ trong một đơn vị thời gian Ngoài ra, vì một nút sẵn sàng chấp nhận chỉ

(1–ρ) * k truy vấn liên bộ, điều này làm phát sinh hai vấn đề: vấn đề đầu tiên là có bao

nhiêu truy vấn mà một nút nên chấp nhận từ một nút láng giềng; vấn đề thứ hai là phải

làm gì nếu số lượng truy vấn liên bộ lớn hơn (1 – ρ) * k Để giải quyết hai vấn đề này, một lý thuyết đã đề xuất hai chiến lược: chiến lược incoming allocation strategy - IAS và chiến lược drop strategy – DS

- Chiến lược IAS: có hai kỹ thuật được sử dụng trong chiến lược này Kỹ thuật thứ nhất là kỹ thuật Weighted IAS, trong đó tập hợp xác suất được chấp nhận của các truy vấn

là bằng nhau Vì thế, nếu các nút láng giềng gửi nhiều truy vấn sẽ chỉ có một tỷ lệ các truy

vấn được chấp nhận Ví dụ, nếu một nút có n nút láng giềng và mỗi nút gửi α i truy vấn

Trang 27

giềng Nói cách khác, một nút có n nút láng giềng sẽ chấp nhận

n

k

* ) 1

truy vấn, thì khả năng xử lý còn lại

được nhường cho các nút láng giềng khác

- Chiến lược DS: Trong khi một nút áp dụng chiến lược IAS chấp nhận m truy vấn

từ nút láng giềng gửi (m + δ) truy vấn thì chiến lược DS xác định m truy vấn (trong số m + δ truy vấn) nên được lựa chọn để chấp nhận (hay đúng hơn là nên loại bỏ δ truy vấn) Nút X là nút mà nó chấp nhận truy vấn từ nút láng giềng Y của nó Có j truy vấn riêng biệt

từ Y và số lượng mỗi truy vấn riêng biệt là q 1 , …, q j Có ba kỹ thuật được sử dụng trong

chiến lược này Kỹ thuật Proportional DS: mỗi loại truy vấn được thiết lập một trọng số

như nhau, và do đó X sẽ chấp nhận ( m

q

q j

i

* 1

) truy vấn từ truy vấn loại i Kỹ thuật

Equal DS: các truy vấn được lựa chọn dựa vào nút nguồn (nút phát ra truy vấn) và mỗi nút nguồn đều được lựa chọn bằng nhau Vì vậy, nếu có s nút nguồn khác nhau, thì X sẽ

chấp nhận

s

m

truy vấn từ mỗi nút nguồn đó Khả năng xử lý truy vấn còn lại sẽ chuyển

cho các truy vấn từ các nút nguồn Cuối cùng, kỹ thuật OrderbyTTL DS: được sử dụng để loại bỏ các truy vấn dựa trên giá trị thời gian sống (time-to-live – TTL) của chúng Có hai

cơ chế sử dụng trong kỹ thuật này: PreferHighTTL sẽ loại bỏ những truy vấn có thời gian sống thấp nhất đầu tiên và PreferLowTTL sẽ loại bỏ những truy vấn với thời gian sống

cao nhất đầu tiên

2.3.2 Phát hiện và phục hồi từ các cuộc tấn công

Trong một hệ thống mạng ngang hàng P2P, quan sát thấy rằng topo của hệ thống tuân theo luật phân phối lớn, nơi một phần nhỏ các nút giữ một số lượng lớn các kết nối đến các nút khác trong khi số lượng lớn các nút còn lại chỉ duy trì một số lượng nhỏ các kết nối Điều này có nghĩa, một phần lớn lưu thông trong mạng đi qua một số nhỏ các nút kết nối cao Kết quả là các cuộc tấn công vào các nút này có thể dễ dàng phân vùng mạng thành các vùng cô lập, làm cho hệ thống hoạt động kém hiệu quả Để trành và phục hồi từ các cuộc tấn công, kỹ thuật phát hiện và phục hồi từ các cuộc tấn công là rất đáng quan tâm Các cuộc tấn công nhằm mục đích phân vùng mạng khác với sự thất bại Sự thất bại của các nút là kết quả từ việc các nút bị loại bỏ khỏi mạng một cách bất ngờ (hoặc do các

Trang 28

nút rời khỏi mạng hay các hình thức tấn công khác, như tấn công DoS ở tầng ứng dụng) Còn đối với các cuộc tấn công nhằm mục đích phân vùng mạng thường để ý vào các nút

có kết nối cao Như vậy, kỹ thuật phát hiện thất bại cơ bản xem xét một nút láng giềng là thất bại nếu nó ngừng đáp ứng dịch vụ Keyani[15] đã đề xuất một giải pháp để phát hiện một cuộc tấn công bằng cách quan sát sự kết nối giữa các nút có bị giảm hay không Trong giải pháp này, cần có một nút duy trì thông tin của cả các nút láng giềng trực tiếp

và các nút láng giềng gián tiếp Giải pháp này dựa vào sự quan sát một cuộc tấn công vào một nút sẽ loại bỏ nút láng giềng có kết nối mạnh nhất của nút đó với xác suất cao và do

đó ngắt kết nối một số lượng lớn của các nút láng giềng của nút láng giềng bị loại bỏ Như vậy, để phát hiện một cuộc tấn công, trong một khoảng thời gian, mỗi nút giám sát số nút láng giềng trực tiếp và gián tiếp đang bị hủy kết nối Nếu tỉ lệ các nút láng giềng trực tiếp

bị ngắt kết nối lớn hơn tỷ lệ các nút láng giềng gián tiếp bị ngắt kết nối và lớn hơn một ngưỡng nhất định (đã được xác định trước), có khả năng là một cuộc tấn công đang xảy

ra Lý do của việc đưa ra ngưỡng là để lọc ra các sai sót do các lỗi ngẫu nhiên Để khôi phục lại mạng sau khi phát hiện thấy tấn công, Keyani đã đề xuất một kỹ thuật phục hồi

Ý tưởng cơ bản rất đơn giản nhưng lại hiệu quả: hệ thống duy trì một mạng ảo thay thế lớp phủ bên ngoài mạng hoạt động để khi mạng hoạt động bị phá vỡ, các nút từ mạng phủ

ảo có thể được sử dụng thay thế các liên kết bị phá vỡ Để cung cấp như một sự thay thế lớp phủ ảo, một vài vấn đề đã được giải quyết: (a) Mạng ảo nên được thiết kế như thế nào? (b) làm thế nào để duy trì mạng ảo này? Làm thế nào để sử dụng mạng ảo trong một cuộc tấn cống Keyani cũng đề xuất một mạng lũy thừa [15] Trong loại mạng này, tất cả các nút có khoảng chừng bằng nhau số lượng các liên kết Điều này có nghĩa, một cuộc tấn công vào một số lượng nhỏ các nút không thể dễ dàng phân vùng mạng Để đảm bảo một mạng lũy thừa có thể duy trì mà không cần quá nhiều chi phí, một kỹ thuật phát hiện nút ngẫu nhiên đã được đề xuất: một nút phát ra một thông điệp kiểm tra kết nối, được gọi

là một khám phá ngẫu nhiên (random discovery ping – RDP), chọn ngẫu nhiên một nút láng giềng để gửi thông điệp Quá trình này lặp đi lặp lại cho đến khi thông điệp đã được chuyển đi với một số bước xác định trước Nút cuối cùng nhận được RDP sẽ trả lời một

thông điệp pong cho nút gửi thông điệp ping, qua đó nút cuối cùng nhận được RDP sẽ

được xác định Để phục hồi toàn bộ mạng, số lượng các bước phải đủ lớn để khôi phục vùng mạng lớn Hai chiến lược áp dụng việc chọn những nút láng giềng để gửi RDP Chiến lược thứ nhất áp dụng số lượng các bước ban đầu và lựa chọn các nút láng giềng

Trang 29

một cách ngẫu nhiên với xác suất tỉ lệ với số lượng các nút láng giềng Chiến lược này cho phép thông điệp được truyền đi xa tới mức có thể từ nút nguồn để ngăn chặn vòng lặp tuần hoàn Chiến lược thứ hai áp dụng số lượng các bước còn lại và ủng hộ các nút mà có

ít láng giềng Sử dụng chiến lược này có thể giảm thiểu tính chất ưu đãi luôn đi kèm trong

mạng hoạt động Như vậy, mỗi nút trong mạng sẽ duy trì số láng giềng có hiệu lực cho mạng hoạt động và số láng giềng ảo cho mạng ảo

Trong trường hợp mạng bị gián đoạn, mạng ảo sẽ được sử dụng: một nút sẽ chọn

từ danh danh sách các nút láng giềng ảo để tahy thê láng giềng bị lỗi của nó Lưu ý rằng, trong quá trình thay thế, hệ thống không tìm láng giềng ảo mới vì làm việc này hệ thống

sẽ gánh thêm lưu lượng truy cập trong mạng và do đó đặt thêm gánh nặng cho hệ thống mạng đã thực sự thất bại Việc tìm láng giềng ảo có thể thực hiện sau đó khi mạng không còn “bận rộn”

Nghiên cứu mô phỏng cho thấy, việc đề xuất phương pháp phát hiện và phục hồi

có thể hạn chế sự phân vùng mạng giảm xuống 25 lần so với cách tiếp cận thông thường Kết quả cho thấy hiệu quả của truy vấn cũng được cải thiện cả trong và sau vụ tấn công Với chi phí 20% lưu thông trong mạng được cọi là có thể chấp nhận được nếu nhìn về những lợi ích nó mang lại cho hệ thống

Đối với hệ thống mạng ngang hàng, Sit và Morris[12] đã nêu ra rằng, các cuộc tấn công DoS vào một nút duy nhất được coi là thất bại để hệ thống có thể sử dụng các kỹ thuật phục hồi nhằm cô lập nút mục tiêu Tuy nhiên, để giảm thiểu tác hại của cuộc tấn công, một vài mức độ nhân rộng là cần thiết

2.4 Xác thực và toàn vẹn dữ liệu

Với sự gia tăng nhanh chóng của các tài nguyên có giá trị trên các máy tính cá nhân hiện nay, các hệ thống P2P như Freenet [16], Publis [17], OceanStore [18] và CFS [19] cung cấp giải pháp với chi phí rất thấp, việc lưu trữ sẵn sàng ở mức độ cao và không cần đến máy chủ tập trung Tuy nhiên, môi trường P2P là môi trường dễ phát sinh các mối nguy hiểm chủ yếu theo nghĩa một nút có thể trở thành một nút độc hại (ngay cả khi phần lớn các nút đều là các nút có thể tin cậy) Một nút độc hại có thể làm hỏng nội dung, thay thế nó bằng một nội dung có hại (có chứa virus), hoặc có thể không trả lại đầy đủ các

câu trả lời cho nút yêu cầu (ví dụ: trong các ứng dụng cơ sở dữ liệu, nó có thể chọn ra k

Trang 30

đối tượng để trả lại kết quả phản hồi trong khi câu trả lời đầy đủ chứa (k+j) đối tượng với (j >=1))

Một giải pháp đơn giản là chỉ lưu giữ dữ liệu trên các nút tin cậy, tức là nút đó đã được xác thực là tin cậy bởi một vài người có thẩm quyền Một giải pháp khả thi hơn mà

có thể không cần đến phải tin cậy bất kỳ nút nào Thay vào đó, một nút sẽ tạo ra một số đối tượng xác minh để đáp ứng truy vấn Các đối tượng xác minh được sử dụng bởi các nút truy vấn để xác nhận rằng các câu trả lời là chính xác Hai điểm quan trọng trong một

kỹ thuật như vậy là: (a) nó phải cho phép các nút truy vấn để xác minh các câu trả lời được trả về bởi nút không tin cậy thực sự thuộc về tập các câu trả lời; (b) nó phải cho

phép các nút truy vấn để xác minh các câu trả lời đầy đủ

2.4.1 Các truy vấn xác thực trong cớ sở dữ liệu quan hệ

Devanbu [20] đề xuất một ý tưởng mà có thể thuận lời để lưu giữ cơ sở dữ liệu quan hệ trên các nút không tin cậy Ý tưởng cở bản như sau:

- Người sở hữu dữ liệu gửi quảng bá một thông điệp đến các nút mà họ sẽ truy vấn quan hệ Thông điệp này được lấy từ gốc của một cây băm Merkle xây dựng trên quan hệ

này Một cây băm Merkle là một cây nhị phân mà nút lá thứ i có giá trị băm Hi thu được bằng cách áp dụng hàm băm h trên bộ thứ i Tức là H i = h(h(t i A 1 ) || h(t i A 2 ) || h(t i

A n )) đối với một quan hệ có n thuộc tính Các nút khác trên cây cũng được tạo ra bằng cách tính giá trị băm của các nút con của nó Hình 2.1 cho thấy một ví dụ về một cây băm Merkle Ở đây, có 4 bộ H 1 đến H 4 là những giá trị băm của bốn bộ tương ứng từ t 1 đến t 4

Nút cha của t 1 và t 2 có giá trị băm được tính: H 12 = h(H 1 || H 2 ) Thông điệp cho 4 bộ là H r

Hình 2.1(a): Cây băm Merkle

Trang 31

- Đối với một truy vấn, nút không tin cậy đánh giá truy vấn và trả về cùng với các

bộ trả lời một đối tượng xác minh gọi là VO Về bản chất, VO là một cây con được tạo ra

từ cây băm Merkle trên quan hệ này Để một truy vấn chính xác được trả về từ một bộ đơn cần tìm đường đi từ bộ đó đến gốc tương đương với việc tìm các nút trung gian giữa

bộ đó với nút gốc, đó là một dạng của VO Ví dụ, để tìm được t 2 , VO gồm các nút H 1

H 34 Đối với một truy vấn phức tạp, như có thể thấy truy vấn q trong hình 2.1(b), VO cũng rất phức tạp Ở đây GLB(q) và LUB(q) biểu thị giá trị lớn nhất nhỏ hơn so với câu trả lời của q và giá trị nhỏ nhất lớn hơn các câu trả lời của q LCA(q) là giá trị giao nhau của các cây con và nó giới hạn những câu trả lời từ GLB(q) đến LUB(q) VO trong trường hợp này bao gồm các nút cần thiết để xác định 3 đường: từ GLB(q) đến LCA(q), từ LUB(q) đến LCA(q) và từ LCA(q) đến gốc

- Khi nhận được câu trả lời và VO, nút truy vấn sẽ xác minh tính đúng đắn của câu trả lời bằng cách tính lại thông điệp sử dụng câu trả lời và VO

Hình 2.1(b): Miền xác thực liên tục Chúng ta lưu ý rằng các giá trị GLB(q) và LUB(q) cần thiết để xác minh tính đầy

đủ của các câu trả lời Nếu kết quả thu được giống với kết quả cung cấp bởi chủ sở hữu, thì câu trả lời trả về bởi nút không tin cậy là chính xác và đầy đủ Tiếp tục với ví dụ trên,

để xác minh t 2 không bị giả mạo, client làm các công việc sau: đầu tiên nó tính H 2 ’; với

H 1 và H 2 ’ có thể xác định được H 12 ’; và cuối cùng, kết hợp H 12 ’ và H 34 để tính H r ’ Nếu

H r = H r ’ thì t 2 không bị giả mạo Lưu ý ở đây là client đã được giả định là đã có H r từ chủ

sở hữu Ngoài ra, H r có thể được ký bởi chủ sở hữu (với khóa riêng của họ) và được coi

như một phần của VO; trong trường hợp này, client có thể tự xác minh xem H r ’ có giống với chữ ký H r (với khóa công khai của chủ sở hữu) hay không

Trang 32

Davanbu[20] và các đồng nghiệp của mình cũng trình bày cách xác định VO cho các thao tác SQL như selection, projection, join và set có thể được tính bằng cách sử dụng

kỹ thuật này Tuy nhiên với kỹ thuật này cũng đặt ra 3 điểm hạn chế:

1 Do các cách sắp xếp khác nhau của các bộ trong một bảng dẫn đến các cây băm Merkle khác nhau, khi sự sắp xếp các bộ thay đổi, nó cần tái tạo lại cây băm Merkle theo sự sắp xếp trong bảng Kết quả là hệ thống phải chịu chi phí cao cho việc cập nhật dữ liệu Hơn nữa, nếu bảng được sắp xếp theo các cách khác nhau,

nó sẽ tạo ra các cây băm Merkle khác nhau, vì thế tổng phí để lưu trữ các cây băm Merkle là rất lớn

2 Vì đối tượng xác minh VO cho một kết quả truy vấn chứa tất cả các nút trong đường đi từ nút chứa kết quả truy vấn đến nút gốc dẫn đến kích thước của VO là tỷ

lệ thuận với kích thước của kết quả truy vấn và bằng logarit kích thước của bảng

Kết quả là nếu kích thước của kết quả truy vấn lớn thì kéo theo kích thước của VO

cũng sẽ lớn

3 Vì hàm băm được áp dụng trên tất cả các bộ, để xác định VO của một kết quả truy

vấn, nó cần gửi tất cả các bộ của kết quả truy vấn đến nơi phát ra truy vấn Do đó

việc xác minh được thực hiện tại nơi phát ra truy vấn có thể gây ra sự tiêu thụ tài nguyên rất lớn bộ lọc lọc ra các thuộc tính Ngoài ra, yêu cầu gửi tất cả các bộ của kết quả truy vấn làm giới hạn kỹ thuật này trong việc hỗ trợ kiểm soát truy cập ở mức cột, tức là không thể cho phép một người dùng truy cập một số cột trong khi không cho người khác truy cập

Để khắc phục những hạn chế trên, Pang và Tan [21] đã đưa ra một cây B xác thực

(Verifiable B-Tree – VB-Tree) Giải pháp này có thể tạo ra một đối tượng VO của một

truy vấn không phụ thuộc vào kích thước của kết quả truy vấn và độc lập với kích thước của bảng và cho phép việc xác minh được thực hiện tại các nút cung cấp kết quả truy vấn thay vì ở các nút phát ra truy vấn Ngoài ra, giải pháp này cũng cho phép việc cập nhật

được thực hiện tự động không vi phạm tính nhất quán của dữ liệu Một ví dụ về một cây

VB được thể hiện trong hình 2.2 Cấu trúc cây này được xây dựng trên ba ý tưởng cơ bản

sau:

- Thứ nhất, cây VB tạo các ký tự chữ ký cho tất cả các thuộc tính trong một bộ và

sử dụng các ký tự chữ ký để tính toán các ký tự chữ ký của bộ đó Đặc biệt, để tạo ra một

Trang 33

ký tự chữ ký cho một thuộc tính, đầu tiên hệ thống sử dụng hàm băm một chiều như MD5

hoặc SHA-1 để băm chuỗi (tên của cơ sở dữ liệu, bảng, bộ, khóa của bộ, giá trị của thuộc tính) Giá trị của kết quả này sau đó được ký với khóa bí mật của cơ sở dữ liệu Bằng cách

này, hệ thống cần có một máy chủ đáng tin cậy để lưu giữ các khóa công khai của cơ sở

dữ liệu và một nguồn chứng thực như chứng thực cơ sở hạ tầng khóa công khai X.509 và

CRL Profile [22], cho phép người dùng lấy khóa công khai của cơ sở dữ liệu để sử dụng trong việc tính ngược

- Cuối cùng, để giảm bớt vấn đề thứ hai của cây băm Merkle, đối tượng VO của một kết quả truy vấn trong một cây VB chỉ cần chứa các nút trên cây thuộc cây con nhỏ

nhất bao gồm tất cả các kết quả truy vấn Giải pháp này rất khả thi do hệ thống duy trì

một thông điệp chữ ký cho mỗi nút trong cây VB Một ví dụ để làm rõ cách mà một đối tượng xác minh VO được tạo ra như thế nào được thể hiện trong hình 2.3

Trang 34

Hình 2.3: Quá trình tính đối tượng xác minh VO

2.4.2 Tự xác thực dữ liệu với mã Erasure

Weatherspoon [23] tích hợp các khái niệm về một cây băm Merkle và mã erasure

để thiết kế một chương trình tự thẩm tra cho dữ liệu lưu trữ trong một môi trường P2P

Dữ liệu có thể là một tài liệu, một đối tượng hoặc một khối Chúng ta sẽ sử dụng đối

tượng dữ liệu ở đây Với mã erasure [24], một đối tượng dữ liệu có thể được chia thành m mảnh nhỏ và sau đó mã hóa lại vào n mảnh nhỏ (n > m) sao cho nó có thể tái tạo lại đối

tượng dữ liệu gốc từ sự kết hợp bất kỳ m mảnh vỡ nào Trong môi trường P2P, mỗi mảnh được lưu giữ trong một nút, nơi đó cũng có thể là một nút độc hại Trong trường hợp đó, các nút độc hại có thể sửa đổi các mảnh để làm hỏng nó (một bộ phận bị hỏng được gọi là

erasure) Rõ ràng, nếu hệ thống không thể nhận ra các mảnh vỡ bị hư hỏng, quá trình xây

dựng tính toán trở nên phức tạp, nghĩa là chúng ta cần thử tổ hợp của  n

m Một giải pháp cho vấn đề này là xây dựng một cây băm Merkle cho các đối tượng

dữ liệu và các phân mảnh của nó, tức là các đối tượng dữ liệu và các phân mảnh của nó

tạo thành lá của cây Hình 2.4(a) cho thấy một ví dụ về một cây băm Merkle cho đối tượng dữ liệu với 4 phân mảnh Ở đây, mảnh F i có giá trị băm H i và đối tượng dữ liệu có

giá trị băm H d GUID là định danh duy nhất mà có thể được dùng để nhận biết và xác

nhận đối tượng Mỗi phân mảnh được thực hiện tự kiểm chứng bằng cách lưu trữ trong mỗi mảnh tất cả các thông tin cần thiết để xác minh giá trị băm của các phân mảnh, tức là

giá trị băm của các nút sibling trong đường đi từ mảnh lá đến gốc Hình 2.4(b) cho thấy tự

Trang 35

kiểm chứng nội dung của phân mảnh cho ví dụ trong hình 2.4(a) Khi một nút nhận được

một phân mảnh để tái tạo đối tượng, nút đó xác minh phân mảnh đó bằng cách đầu tiên tính giá trị băm của phân mảnh đó, sau đó lặp lại quá trình băm kết quả tính toán ở bước trước với giá trị băm tương ứng trong cây Merkle cho đến khi thu được giá trị băm của

nút gốc Nếu giá trị băm cuối cùng phù hợp với GUID, phân mảnh đó là phân mảnh hợp

lệ và có thể sử dụng để tái tạo đối tượng; nếu không, néo là một phiên bản đã bị hỏng và cần phải tìm kiếm một phân mảnh khác

Hình 2.4: Chương trình tự xác minh

2.5 Xác thực tính toàn vẹn của tính toán

Chúng ta đã chứng kiến việc triên khai thành công của công nghệ P2P để phân bổ việc tính toán Các dự án đáng chú ý như: SETI@home [25] (BOINC [26]) và the Folding@home [27] là các các dự án mà các tính toán chuyên sâu được phân chia cho các nút Ví dụ, số lượng người tham gia trong SETI@home là hơn 4,5 triệu người Họ đóng góp sức mạnh máy tính của họ để xử lý trung bình 65 TeraFLOPS

Không chắc chắn rằng các tính toán của các nút là đáng tin cậy Ví dụ, một số nút

có thể chỉ thực hiện một tập nhỏ các nhiệm vụ được giao và cho rằng nó đã làm tất cả các tính toán Trên thực tế, đã có báo cáo về các nhà tài trợ tài nguyên cho SETI@home đã giả mạo số lượng thời gian họ đã đóng góp Mục đích của việc giả mạo này là để tăng thời gian đóng góp của một nút để nó được liệt kê vào một trong những đóng góp hàng đầu cho website của SETI Một ví dụ khác, một số nút có thể cố ý trả lại các câu trả lời sai (ngay cả khi chúng đã thực hiện các tính toán) Nếu không bị phát hiện, hậu quả có thể

Trang 36

nói là một thảm họa Một giải pháp đơn giản để phát hiện câu trả lời không chính xác là phân công mỗi công việc cho nhiều nút khác nhau cùng làm, sau đó so sánh kết quả trả

về Nhược điểm của phương pháp này là nó phải gánh chịu chi phí cao trong tính toán vì

nó phải lãng phí một số chu trình và băng thông để lặp lại các tính toán Một giải pháp cải thiện là chỉ cần kiểm tra lại các tính toán của một số mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên các nhiệm vụ Với sự lựa chọn đúng đắn của số lượng mẫu, chúng ta có thể làm giảm xác suất

mà một nút không tin cậy có thể lấy đi mà không bị phát hiện là rất thấp Ví dụ, nếu nút

không trung thực chỉ tính toán một nửa của 1000 công việc được giao và 50 mẫu được chọn, thì xác suất của lấy đi chỉ là 1/ 2 50 Bằng cách chọn một kích thước mẫu đủ lớn, nó gần như không thể bỏ qua mà không bị phát hiện gian lận Tuy nhiên, kỹ thuật này vẫn còn đòi hỏi một phí lưu thông cao để truyền tải tất cả các kết quả

Một vài công việc đã được làm để giải quyết vấn đề gian lận Du [28] đã đề xuất

một mẫu dựa trên cam kết (commitment-based sampling – CBS) mà có thể làm giảm phí

trong lưu thông, thay vì phải trả về kết quả của tất cả các nhiệm vụ thì chỉ những kết quả

của mẫu mới cần được trả về Kỹ thuật CBS hoạt động trong bốn giai đoạn (giả sử nút A

giao nhiệm vụ cho nút B): (a) B thực hiện nhiệm vụ được giao; xây dựng một cây băm Merkle trong đó mỗi nút lá tương ứng với mỗi công việc, các giá trị băm tại các nút tương ứng với việc áp dụng một hàm băm một chiều trên các kết quả của nhiệm vụ; B truyền giá trị băm của nút gốc của cây băm Merkle đến A (b) A lựa chọn ngẫu nhiên m mẫu nhiệm

vụ cho B để làm bằng chứng cho sự trung thực (c) Đối với mỗi nhiệm vụ (trong số m nhiệm vụ), B xác định đường P từ nút là tương ứng với nhiệm vụ đó đến nút gốc, sau đó với mỗi nút v thuộc P, giá trị băm của các nút “anh chị em” được gửi từ A Giá trị băm của kết quả của nhiệm vụ cũng được truyền đến A (d) Đỗi với mỗi công việc, A có thể dễ dàng xác minh liệu B có trung thực hay không bởi việc tính lại các giá trị băm của gốc: Nếu giá trị băm của gốc tính được giống với giá trị băm gốc theo cam kết thì B là trung thực đối với nhiệm vụ này; nếu không, B là không trung thực

2.6 Chia sẻ dữ liệu giữa các nút trong mạng ngang hàng

Cộng tác là thế mạnh chính của mạng ngang hàng Các nút tham gia trong mạng sẽ chia sẻ tài nguyên của chúng (như dữ liệu, chu trình xử lý, băng thông, không gian lưu trữ) tạo nên những lợi ích tiềm năng của công nghệ mạng ngang hàng Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người sử dụng các tài nguyên của hệ thống P2P mà không chia sẻ tài

Trang 37

nguyên của họ cho người khác sử dụng Hơn nữa, trở ngại khách quan của việc cộng tác cho phép một số nút khác sử dụng tài nguyên có thể làm giảm công suất xử lý trên máy tính của mình Ví dụ, trong ứng dụng chia sẻ file Gnutella, việc cho phép upload của một nút có thể tăng thêm sự chậm trễ trong việc download của nó Một ví dụ khác, việc chia sẻ chu trình xử lý của CPU trên máy tính của một người sẽ mất một thời gian lâu hơn để chạy các công việc trên máy tính của người đó Được chỉ ra bởi Feldman và các đồng nghiệp của ông [29], một trở ngại cho việc hợp tác sẽ dẫn tới “tấm thảm kịch chung” [30] khi mà việc tự nguyện tham gia dựa trên cảm hứng cá nhân sẽ ảnh hưởng tới hiệu năng chung của hệ thống (ngay cả khi việc tự nguyện tham gia này chính là thứ làm nên ưu điểm của hệ thống) Cụ thể hơn, nghiên cứu của Feldman đã chỉ ra ba kết quả:

- Mức độ hợp tác tăng lên thì hiệu năng của hệ thống cũng tăng theo; tuy nhiên chắc chắn có một “sweet-pot” nào đó mà khiến cho việc nâng cao hiệu năng trở nên không còn quan trọng

- Sự trở ngại cho việc chia sẻ tiềm ẩn cao tại những thành viên có băng thông không đồng nhất bởi vì khi những thành viên này cho phép dữ liệu được upload thì họ phải chịu độ trễ nghiêm trọng trong việc download

- Quyền ưu tiên của các gói tin TCP ack trên số gói tin dữ liệu giúp cho loại trừ chi phí vốn tiềm ẩn của việc chia sẻ, do đó nó có thể có khả năng tăng mức độ chia sẻ của hệ thống

Kết quả của nghiên cứu chỉ rõ sự cần thiết của việc thiết kế các cách thức khuyến khích nhằm khích lệ sự hợp tác Các công trình trước đó đã xác định ra những vần đề hợp tác thông qua các trò chơi tiếp cận lý thuyết [31, 32] và các lý thuyết “kỹ thuật thiết kế” [33, 34] có giá trị kinh tế Tuy nhiên, một hệ thống P2P phải chấp nhận một vài thách thức riêng cần phải nhắm tới:

- Tính bất cân đối về quyền lợi: tính mất cân đối về quyền lợi xuất hiện khi các nút

nhận được quyền lợi khác nhau khi yêu cầu các tài nguyên từ các nút khác Theo cách này, nó có thể khó khăn cho server trong việc quyết định xem có lợi cho hệ thống không nếu nó phục vụ các yêu cầu đó

- Xác định nút xấu: một nút trong hệ thống P2P có thể liên tục thay đổi định danh

của nó Như vậy, rất khó để theo dõi một nút mới gia nhập có phải là nút thực sự

Trang 38

muốn nhận các dịch vụ hay nó là một nút gia nhập nhằm khai thác các lỗ hổng trong hệ thống

- Các dạng tấn công và sự cấu kết: các nút trong hệ thống có thể cấu kết xác nhận

cho nhau nhằm tạo ra uy tín cao (ví dụ, tuyên bố rằng chúng đã chia sẻ nguồn tài nguyên giữa chúng nhưng thực tế chúng không hề chia sẻ) Khả năng đối phó với

các dạng tấn công là rất đáng quan tâm

Để khai thác khả năng của công nghệ P2P mang lại thì cần có cơ chế để khuyến khích các thành viên trong hệ thống đóng góp tài nguyên, cũng như cơ chế để thi hành việc chia sẻ công bằng giữa các nút cần được chú ý Các mục tiếp theo trong phần này sẽ tìm hiểu về các phương pháp, các kỹ thuật đã được áp dụng để giải quyết các vấn đề nêu trên

2.6.1 Hệ thống dựa vào hạn ngạch

Trong các hệ thống hạn ngạch, mỗi thành viên được liên kết với một hạn ngạch phản ánh số lượng tài nguyên mà một thành viên có thể sử dụng từ hệ thống Khi một thành viên cung cấp một dịch vụ, hạn ngạch của thành viên đó có thể được tăng lên và khi thành viên đó sử dụng tài nguyên của hệ thống thì hạn ngạch của thành viên đó sẽ giảm

Ví dụ, các thành viên chia sẻ không gian lưu trữ, thì hạn ngạch có thể phản ánh được lượng không gian mà một thành viên có thể sử dụng từ hệ thống Các vấn đề quan trọng nằm trong việc quản lý thông tin hạn ngạch

- Một mô hình quyền lực tập trung đáng tin cậy có thể được triển khai để quản lý hạn ngạch Với mô hình này, mọi yêu cầu về dịch vụ sẽ tạo ra một truy vấn đến các máy chủ tập trung Bên cạnh các ưu điểm mà mô hình này đem lại thì cũng có những điểm hạn chế như: hiện tượng thắt cổ chai và đó là nguyên nhân duy nhất khiến hệ thống sụp đổ

- Thẻ thông minh (smart card) có thể được sử dụng để quản lý hạn ngạch Trong hệ thống sử dụng thẻ thông minh, mỗi nút trong mạng có một thẻ thông minh riêng để quản lý việc sử dụng tài nguyên của một nút và tài nguyên cục bộ mà nút đó chia sẻ cho các nút khác trong mạng Cụ thể, khi một nút yêu cầu một dịch vụ (hoặc tài nguyên) từ một nút khác, hạn ngạch của nó được giữ trong một thẻ thông minh sẽ giảm Ngược lại, khi nút này cung cấp một dịch vụ (hoặc tài nguyên) cho một nút khác, hạn ngạch của nó sẽ tăng lên Tuy nhiên, tính thực tiễn của đề án này gặp phải

Trang 39

vấn đề: việc cấp cho mọi người dùng một thẻ thông minh có thể không khả thi Hơn nữa, tính toàn vẹn của dữ liệu lưu trong thẻ thông minh có thể bị xâm nhập bởi những người dùng xấu

- Một đề án khác được đưa ra là sử dụng các nút trong hệ thống như là các nhà quản

lý hạn ngạch Một nút sẽ phân phát hoặc tái tạo thông tin hạn ngạch của nó thông qua

các nhà quản lý hạn ngạch đó Các nhà quản lý hạn ngạch quản lý tất cả các dịch vụ (tài nguyên) mà một nút cung cấp cho các nút khác giống như cách thức quản lý sử dụng thẻ thông minh Để đưa ra quyết định nên sử dụng đề án nào hệ thống cần áp dụng quy luật số đông Tức là bất kỳ quyết định nào liên quan đến hạn ngạch của một nút đều phải được sự đồng ý của đa số các nút quản lý Tuy nhiên, nhược điểm của đề

án này là hệ thống phải gánh thêm một khoản chi phí

2.6.2 Hệ thống dựa vào trao đổi

Trong đề án này, hệ thống được cấu trúc như một nền kinh tế hàng đổi hàng, hoặc trao đổi Về cơ bản, Các tài nguyên trao đổi của các thành viên sẽ được tập hợp để mỗi

một thành viên trong nhóm có thể sử dụng Một trong những đề án trao đổi cho các hệ

thống chia sẻ file thực thi N lần trao đổi như một vòng của N thành viên, mỗi thành viên

sẽ trao đổi với thành viên kế nhiệm của nó trong vòng và lần lượt được trao đổi bởi thành

viên tiên nhiệm của nó Trong hình 2.5, giả sử thành viên P i yêu cầu đối tượng o i+1 sở hữu

bởi thành viên P i+1 (và o i+1 cũng được lưu giữ tại đây) (với 1 <= i <= n-1); thành viên P n yêu cầu đối tượng o 1 sở hữu bởi P 1 Như vậy, mặc dù P i không phải hưởng lợi trực tiếp từ

P i-1 nhưng mỗi thành viên cuối cùng thì cũng sẽ nhận được đối tượng mà nó cần Chú ý

rằng, chu kỳ N bước chỉ có lực nếu mỗi thành viên đủ băng thông để đáp ứng các yêu cầu

Vấn đề trong đề án này là làm sao để một nút thành viên P xác định khi nào chu

trình sẽ xảy ra Điều này có thể được giải quyết bằng cách xây dựng một cây yêu cầu như sau: mỗi yêu cầu từ một láng giềng được gắn thẻ với cây yêu cầu của nó Một cây yêu cầu

là rỗng nếu không có yêu cầu nào được gửi đến; nếu không, cây yêu cầu của P có một nút

gốc đáp ứng như gốc của các cây yêu cầu từ các yêu cầu gửi đến từ các cây tương ứng của chúng

Trang 40

Hình 2.5: Trao đổi N bước

2.6.3 Kiểm soát sự phân bổ

Trong các hệ thống dựa vào hạn ngạch và trao đổi, sự gian lận vẫn có thể xảy ra

Ví dụ, xét đến việc chia sẻ không gian lưu trữ trên đĩa Giả sử một nút đồng ý để lưu trữ một file, bằng cách này hạn ngạch của nó có thể được tăng lên hiệu quả nhưng sau đó nó

có thể xóa file, giải phóng không gian lưu trữ để đáp ứng cho người dùng khác Do đó cần thiết phải có một hệ thống kiểm soát Một đề án về kiểm soát việc phân tán được đề xuất bởi Ngan, Wallach, và Druschel [35] để chia sẻ không gian lưu trữ Trong đề án này, mỗi

nút duy trì một tệp chứa thông tin sử dụng (gọi là tệp usage) bao gồm (a) số lượng không gian lưu trữ thiết lập riêng cho hệ thống, (b) một danh sách cục bộ của các bộ (ID, F) đối với file F được lưu giữ tại một nút có định danh là ID, (c) một danh sách từ xa chứa các

file mà các nút khác lưu giữ cho nút đó Trong một số trường hợp, chúng ta có thể xem hai danh sách tương tự như các khoản tín dụng và ghi nợ vào tài khoản của nút đó Một

nút được phép lưu trữ các file mới trên các nút từ xa nếu kích thước của tất cả các file trong danh sách từ xa nhỏ hơn không gian lưu trữ đã được thiết lập riêng cho hệ thống,

nghĩa là nút đó được sử dụng không gian lưu trữ từ xa ít hơn không gian lưu trữ mà nó cung cấp

Khi một nút L muốn lưu giữ một file F trên một nút từ xa R, R phải kiểm soát tệp usage của L để xác minh rằng L thực sự được cho phép để lưu trữ một file từ xa Nếu vậy, hai thực thể mới được tạo ra: L thêm F vào danh sách từ xa của nó và R thêm bộ (id của

Ngày đăng: 23/12/2013, 19:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. D. Carroll, C. Rahmlow, T. Psiaki, G. Wojtaszczyk, Distributing science. http://boinc.berkeley.edu/trac/wiki/BoincPapers, 2005 Link
4. Phan Đình Diệu, Giáo trình lý thuyết mật mã và an toàn thông tin, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
5. Trịnh Nhật Tiến, Giáo trình an toàn dữ liệu, Đai học Công nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2008 Khác
6. Phan Anh, Nguyễn Đình Nghĩa, Bài giảng tổng quan về mạng ngang hàng – Đại học Công Nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
7. Quang Hieu Vu, Mihai Lupu, Beng Chin Ooi, Peer-to-Peer Computing: Principles and Applications Khác
8. D.Karger, F.Kaashoek, I. Stoica, R. Morris, H. Balakrishnan, Chord: a scalable peer-to-peer lookup service for internet applications, in Proceedings of the ACM SIGCOMM Conference, pp. 149-160, 2001 Khác
9. S. Ratnasamy, P. Francis, M. Handley, R. Karp, S. Shenker, A scalable content- addressable network, in Proceedings of the ACM SIGCOMM Conference, pp.161-172, 2001 Khác
10. A. Rowstron, P. Druschel, Pastry: scalable, distributed object location and routing for largescale peer-to-peer systems, in Proceedings of the 18 th IFIP/ACM International Conference of Distributed Systems Platforms (Middleware), pp. 329- 350, 2001 Khác
11. H.V. Jagadish, B.C. Ooi, Q.H. Vu, BATON: a balanced tree structure for peer-to- peer networks, in Proceedings of the 31 st International Conference on Very Large Databases (VLDB), pp. 661-672, 2005 Khác
12. E. Sit, R. Morris, Security considerations for peer-to-peer distributed hash tables, in Proceedings of the 1 st International Workshop on Peer-to-Peer Systems (IPTPS), pp. 261-269, Cambridge, MA, 2002 Khác
13. B. Cooper, M. Bawa, N. Daswani, H. Garcia-Molina, Protecting the pipe from malicous peers. Technical report, Computer Sciences Dept, Stanford University, 2002 Khác
14. N. Daswani, H. Garcia-Molina, Query-flood DoS attacks in Gnutella, in Proceedings of the 9th ACM Conference on Computer and Communications Security (CCS), pp. 181-192, Washington, DC, 2002 Khác
15. P. Keyani, B. Larson, M. Senthil, Peer pressure: Distributed recovery from attacks in peer-to-peer systems. Lect. Notes Comput. Sci. 2376, 306-320 (2002) Khác
17. M. Waldman, L. Cranor, A. Rubin, Publius, in Peer-to-Peer: Harnessing the Power of Disruptive Technologies (O’Reilly &amp; Associates, 2001), pp. 145-158 Khác
19. F. Dabek, M.F. Kaashoek, D. Karger, R. Morris, I. Stoica, Wide-area cooperative storage with CFS, in Proceedings of the 18 th ACM Symposium on Operating Systems Principles (SOSP), 2001 Khác
20. P. Devanbu, M. Gertz, C. Martel, S.G. Stubblebine, Authentic data publication over the internet. J. Comput. Secur. 11(3), 291-314 (2003) Khác
21. M. Lupu, J. Li, B.C. Ooi, S. Shi, Clustering wavelets to speed-up data dissemination in structured P2P MANETs, in Proceeding of the 23rd IEEE International Conference on Data Engineering (ICDE), 2007 Khác
22. R. Housley, W. Ford, W. Polk, D. Solo, Internet x.509 public key infrastructure certificate and cr1 profile, in RFC 2459, 1999 Khác
23. H. Weatherspoon, J. Kubiatowicz, Naming and integrity: self-verifying data in peer-to-peer systems, in Proceedings of the International Workshop on Future Directions in Distributed Computing (FuDiCo), pp. 142-147, 2003 Khác
24. H. Weatherpoon, J. Kubiatowicz, Erasure coding vs. replication: a quantitative comparison, in Proceedings of the 1 st International Workshop on Peer-to-Peer Systems (IPTPS), March 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình mạng overlay - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.1 Mô hình mạng overlay (Trang 10)
Hình 1.2: Phân loại mạng P2P theo mức độ tập trung - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.2 Phân loại mạng P2P theo mức độ tập trung (Trang 15)
Hình 1.3: Mạng ngang hàng tập trung  Nguyên tắc hoạt động: - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.3 Mạng ngang hàng tập trung Nguyên tắc hoạt động: (Trang 16)
Hình 1.4: Mạng ngang hàng tập trung thế hệ thứ nhất (Napster) - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.4 Mạng ngang hàng tập trung thế hệ thứ nhất (Napster) (Trang 17)
Hình 1.5: Mạng ngang hàng cơ bản (Gnutella 4.0, FreeNet) - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.5 Mạng ngang hàng cơ bản (Gnutella 4.0, FreeNet) (Trang 18)
Hình 1.6: Mạng ngang hàng lai - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.6 Mạng ngang hàng lai (Trang 19)
Hình 1.7: Mạng ngang hàng có cấu trúc - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 1.7 Mạng ngang hàng có cấu trúc (Trang 20)
Hình 2.1(a): Cây băm Merkle - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.1 (a): Cây băm Merkle (Trang 30)
Hình 2.1(b): Miền xác thực liên tục - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.1 (b): Miền xác thực liên tục (Trang 31)
Hình 2.2:  Cây VB - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.2 Cây VB (Trang 33)
Hình 2.3:  Quá trình tính đối tượng xác minh VO - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.3 Quá trình tính đối tượng xác minh VO (Trang 34)
Hình 2.4: Chương trình tự xác minh - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.4 Chương trình tự xác minh (Trang 35)
Hình 2.5: Trao đổi N bước - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 2.5 Trao đổi N bước (Trang 40)
Hình 3.1: Phân loại mô hình tin cậy - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 3.1 Phân loại mô hình tin cậy (Trang 54)
Hình 3.2: Kiến trúc hệ thống PolicyMaker - Bảo mật tính riêng tư của dữ liệu trong mạng ngang hàng P2P
Hình 3.2 Kiến trúc hệ thống PolicyMaker (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w