nhận thức sắc bén về tự nhiên Trung Quốc đã đưa nước mình vượt xa hơn các nền văn minh khác, do đó đã đạt được những thành tựu lớn về khoa học kỹ thuật. đến kỹ thuật đóng tàu, thuyền[r]
Trang 1Bài 5: Trung Quốc thời phong kiến
Trang 2 Với tài sáng tạo phi thường kết hợp với một
nhận thức sắc bén về tự nhiên Trung Quốc đã
đưa nước mình vượt xa hơn các nền văn minh khác, do đó đã đạt được những thành tựu lớn về khoa học kỹ thuật
Từ những vật dụng cho cuộc sống bình thường như đồ gốm, sứ, vải, lụa đến kỹ thuật đóng tàu, thuyền có bánh lái và buồm nhiều lớp, kể cả kỹ thuật luyện sắt, khai thác mỏ và khí đốt đều có công lao đóng góp to lớn của người Trung Quốc.
Trang 3 Người Trung Quốc cũng có nhiều phát minh rất quan trọng như giấy viết, nghề in, la bàn, thuốc súng
Thành tựu của Trung Quốc có ảnh hưởng đến châu Âu và thế giới.
Ngành in, thuốc súng, la bàn đã làm thay đổi bộ mặt thế giới trên bình diện văn học, chiến tranh
và hàng hải.
Trang 4a) Giấy
+Sự ra đời
chuyển những suy nghĩ trong đầu thành ngôn ngữ viết
lụa để ghi chép Đến khoảng thế kỷ II TCN, người
Trung Quốc đã phát minh ra phương pháp dùng xơ gai để chế tạo giấy Ngày nay ở nhiều nơi tại Trung Quốc đã phát hiện được giấy làm từ thời Tây Hán Tuy nhiên giấy của thời kỳ này còn xấu, mặt không phẳng, khó viết, nên chủ yếu là dùng để gói
Trang 5 Đến thời Đông Hán, năm 105, viên hoạn quan tên là Thái Luân đã thay đổi triệt để cục diện này
Thái Luân tổng kết kinh nghiệm làm giấy của thế hệ trước, dẫn nhiều thợ dùng vỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát để làm giấy
Trang 6+Quá trình phát triển
Thái Luân ra sức thúc đẩy, kỹ thuật làm giấy của Trung Quốc ngày càng được hoàn thiện Từ đó giấy được dùng để viết một cách phổ biến thay thế cho các vật liệu được dùng trước đó
Vào khoảng thế kỷ III nghề làm giấy truyền sang Việt Nam, khoảng thế kỷ IV truyền sang Triều
Tiên, thế kỷ V truyền sang Nhật Bản, thế kỷ VII truyền sang Ấn Độ
Trang 7 Thái giám Thái Luân, tranh vẽ thế
kỷ 18
Trang 8• Cách sản xuất giấy của Thái Luân
Thái Luân chế giấy
bằng cách lấy bên trong vỏ thân cây dâu
tằm và xơ cây tre đem trộn với nước rồi giã nát với dụng cụ bằng gỗ, xong ông đổ hỗn hợp lên tấm vải căng phẳng
và trải mỏng rồi để ráo nước. Khi đã khô, Thái Luân khám phá ra rằng
có thể viết lên dễ dàng
mà lại nhẹ nhàng.
Trang 9của người
Trung Quốc
Trang 11 Giữa thế kỷ VIII, xảy ra cuộc chiến giữa
nhà Đường và các Vương Quốc Arập, để đổi lấy tự do, người Trung Quốc đã
truyền lại nghề làm giấy
Vào thế kỷ thứ X, người Arập dùng bông vải để chế giấy để có loại giấy mỏng tốt
Arập đi nhưng ngành sản xuất giấy được giữ vững
Trang 12 Năm 1150, người Arập lại truyền nghề làm giấy sang Tây Ban Nha
Đến năm 1189, xưởng làm giấy đầu tiên được dựng lên tại Pháp và từ của ngõ này, kỹ thuật
Trang 13Da cừuGiấy papirut
Trang 14+Vai trò
Ở Trung Quốc, trước hết nó được dùng rộng rãi trong nghệ thuật trang trí, trong tế lễ và hội hè là phương tiện tín dụng và tiền tệ, được dùng làm
đồ trang sức và vật trang hoàng nhà cửa, trong
vệ sinh y tế và trong các trò chơi giải trí
Đến đầu thế kỷ thứ I CN, giấy mới được dùng
cho việc viết lách và mãi đến thế kỷ thứ III CN nó mới hoàn toàn thay đổi thay thế những thẻ gỗ tre nặng nề cồng kềnh để làm sách vở
Trang 15Tiền giấy
Trang 16=> Sự ra đời của giấy đã đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi đó của xã hội Trung quốc
Ở phương Tây, trước khi giấy ra đời người ta dùng sách viết trên giấy da làm bằng da cừu hay
da bò con Sau đó loại giấy papyrus được người
Hy Lạp, La Mã ưa chuộng Tuy nhiên giấy da hay giấy papyrut đều quá đắt Vì thế nên giấy ra đời
đã giúp các nước phương Tây cải thiện được tình hình đó
Trang 17+Ý nghĩa
Là một trong các sáng chế quan trọng
nhất trong lịch sử loài người
Nó đã cho phép Trung Quốc phát triển nền văn minh của mình nhanh hơn trước đây khi còn dùng tre hay trúc để lưu chữ viết
và nó cũng kích thích sự phát triển của
châu Âu khi kỹ thuật giấy đến đây vào
khoảng thế kỷ XII hay thế kỷ XIII
Trang 18 => Như vậy giấy viết ra đời đóng góp rất lớn vào việc phát triển văn hóa, tạo điều kiện cho nghề in ra đời
Trang 19Kỹ thu t in bắt nguồn từ việc khắc ch trên các con dấu đã có từ ậ ữ thời Tần Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, và đạo giáo đã in nhiều bùa chú để trừ ma.
Giữa thế kỷ VII (đầu đời Đường) kỹ thuât in đã xuất hiện Nhà sư Huy n ề Trang đã cho in số lượng lớn t ượ ng Ph Hi n ổ ề để phân
phát Năm 1996, phát hiện đươc kinh Đàlan in vào khoảng năm
704-751 và đây được xem là ấn phẩm đầu tiên và cổ nhất trên thế giớib) Nghề in
+Sự ra đời
Trang 20Để khắc phục nhược điểm đó, đến thập kỉ 40 của thế kỉ XI, Tất Thăng đã phát minh ra cách in chữ rời bằng đất sét nung nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Và từ thế kỉ XI, chữ gỗ được thay thế
nhưng vẫn chưa có kết quả.
Kĩ thuật in khi mới ra đời được in vào ván khắc, đây là phát minh quan trọng giúp người ta có thể in nhiều bản trong thời gian ngắn,
ít tốn và được sử dụng lâu dài Vì vậy cách in này không được tiện lợi lắm nếu không cần in nữa thì ván khắc sẽ vô dụng.
Sau đó, còn dùng chữ rời bằng thiếc, đồng, do khó tô mưc nên được sử dụng rộng rãi như trong việc in kinh thánh…
Trang 22+Ý nghĩa
Nghề in ra đời đã hỗ trợ cho việc phát triển ngôn ngữ và văn học dân tộc, tăng cường ý thức dân tộc, dân chủ hóa việc giáo dục học hành, xóa
nạn mù chữ và các hàng rào xã hội
Tăng cường khả năng bảo tồn lâu dài các văn
bản, lưu truyền cho các thế hệ đời sau, giảm bớt nguy cơ mất mát tiêu vong bởi sự thờ ơ quên
lãng hoặc do các sưu tập riêng lẻ bị phát tán
Trang 23 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và lưu hành sách với số lượng giá rẻ, do đó đã gây
được ảnh hưởng đáng kể đối với tư tưởng và đời sống xã hội ở châu Âu
Góp phần phổ biến và cổ vũ tinh thần “Phục
hưng” và “Cải cách” và qua đó cũng đẩy mạnh việc sản xuất giấy và các nguyên vật liệu cho ngành in, cuối cùng đưa tới sự phồn thịnh của nghệ thuật ấn loát
Trang 24 Hỗ trợ cho nhiều đổi thay mạnh mẽ và
căn bản trong lĩnh vực tư tưởng và xã hội
Trang 25 Thời chiến quốc (cuối thời Đông Chu),
người Trung Quốc đã tìm ra nam châm
(từ thạch), dùng nam châm thiên nhiên
mài giũa mà thành và được đặt trên một địa bàn hình vuông.
24 hướng, tức là 8 căn Giáp, Ất, Bính,
Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi Thềm có 4 duy: Càn,
Trang 26 Vào đời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam châm nhân tạo
Thời Nguyên: la bàn đã hoàn chỉnh (được Crixtop Colombus sử dụng) sau đó truyền
sang châu Âu
Khoảng nửa sau thế kỷ XII, la bàn do đường biển truyền sang Arập rồi truyền sang châu
Trang 27La bàn của người Trung Quốc
Trang 28LA BÀN LA BÀN
Trang 29 Người châu Âu cải tiến thành “la bàn khô” tức là
la bàn có khắc các vị trí cố định
Nửa sau thế kỷ XVI la bàn khô lại truyền trở lại
Trung Quốc.
+Vai trò
Sự xuất hiện của la bàn đã mang một luồng
không khí mới cho sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc, từ những nghề kiếm sống quen thuộc như: nông nghiệp, thủ công thì nay người dân có thể chinh phục đại dương bao la với nghề đi biển,
Trang 30=>Từ đó ngàng hàng hải của Trung Quốc
phát triển rất mạnh mẽ
Tạo điều kiện cho nghề đi biển được thúc đẩy và ngày càng phát triển mạnh mẽ, là điều kiện để giao lưu, học hỏi những kinh nghiệm giữa các dân tộc trong từng vùng, miền cũng như các nước trên thế giới với nhau
Trang 31 =>Nhờ đó quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia ngày càng bền vững và thân
thiện hơn tạo điều kiện ổn định tình hình trong nước, là điều kiện rất quan trọng để phát triển kinh tế và ổn định chính trị trên toàn thế giới
+Ý nghĩa
Những vùng đại dương bao la dần dần
được con người chinh phục và làm chủ
Trang 32 Các tài nguyên hải sản được người dân Trung Quốc phát hiện và đánh bắt, từ đó cải thiện đời sống hằng ngày.
châu Âu mới thực hiện được những cuộc phát kiến địa lý, tìm ra được các vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ
Trang 33Vào khoảng thế kỷ thứ VI, các nhà Giả Kim thuật (còn gọi là nhà Luyện đan, kiêm đạo sĩ, chiêm tinh, chuyên tìm tòi, pha chế các dược liệu, hoá chất… mong tìm ra phương thuốc
“Trường sinh bất tử” dâng lên Hoàng đế) trong khi mày mò,
vô tình tạo ra thuốc nổ từ diêm tiêu và lưu huỳnh.
Bấy giờ, thuốc nổ chỉ ứng dụng làm pháo đốt, pháo bông phục vụ cho lễ hội vui chơi ở cung đình, sản xuất từ các
công xưởng thuộc triều đình.
d)Thuốc súng
+Sự ra đời
Trang 34Năm 682, nhà Giả Kim thuật Tôn Tư Mạc đã đưa ra công thức thuốc nổ trộn từ lưu huỳnh, diêm tiêu (Kali Nitrat) và bột gỗ Năm 808, nhà Giả Kim thuật Xin Xui Sử lại chế thuốc súng từ lưu huỳnh, diêm tiêu, than gỗ, và thuốc súng được sử dụng
Trang 35Mãi đến đời nhà Tống (thế kỷ XII) họ mới chế ra hoả khí bằng ống tre hoặc quả cầu bằng giấy bồi, nhồi thuốc súng với đá, mảnh sành, mảnh gang, bịt sắt, gắn ngòi nổ, châm cháy rồi ném vào địch quân hoặc chôn ở chiến trường, đó chính là
loại mìn, lựu đạn, súng sơ khai có tên gọi là “Hoả Thương”
và “Chấn Thiên lôi”.
Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tấn công Trung Quốc, học được thuật chế thuốc súng Rồi họ viễn chinh sang Tây Á, kỹ thuật này lan truyền dần từ Ả Rập sang Hy Lạp, Tây Ban Nha
Trang 36THUỐC
Trang 38Lưu huỳnh Than gỗ
Trang 39=> Từ đó vũ khí ngày càng được cải thiện và nâng cao dần thay thế những vũ khí thô
Trang 40 Thuốc súng giữ vai trò rất lớn trong quân sự
Người châu Âu đã nhanh chóng tiếp thu và sử dụng phát minh này của Trung Thuốc một cách hữu hiệu để làm súng trường, hỏa mai và thuốc súng còn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc phát kiến địa lý của châu Âu
+Ý nghĩa
Giữ vững được lãnh thổ, bảo tồn và phát huy
được những giá trị dân tộc
Trang 41 Với sự ra đời này, những cuộc xâm lược lãnh thổ để mở rộng bờ cõi ngày càng
được tiến hành, kéo theo đó là sự thay
Trang 42 TỔNG KẾT
Như vậy, suốt thời kỳ cổ trung đại nền văn minh Trung Quốc phát triển rực rỡ, đặc biệt là về khoa học kỹ thuật Những thành tựu đạt được trên
lĩnh vực này đã làm cho Trung Quốc trở thành một trung tâm văn minh quan trọng ở vùng Viễn Đông và trên thế giới.