1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tài liệu Bai du thi_1000 nam Thang Long_Nam_Da chinh lan 3 (1) doc

88 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lời mở đầu Cuộc thi Tìm Hiểu Thăng Long - Hà Nội Nghìn Năm Văn Hiến và Anh Hùng
Trường học Trường Đại Học (Chưa rõ tên) - [Trang chủ Trường](https://www.universitywebsite.com)
Chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 9,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lêi më ®Çu Cuộc thi tìm hiểu “Thăng Long - Hà Nội nghìn năm Văn hiến và Anh hùng” với quy mô toàn quốc chính thức được phát động ngµy 11/10/2009.Cuộc thi gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm liên

Trang 1

Lêi më ®Çu

Cuộc thi tìm hiểu “Thăng Long - Hà Nội nghìn năm Văn hiến và Anh hùng” với quy mô toàn quốc chính thức được phát động ngµy 11/10/2009.Cuộc thi gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến lịch sử Thăng Long - HàNội và một câu hỏi tự luận để người viết được tự do bày tỏ cảm xúc, tình yêucủa mình với Thủ đô nghìn năm văn hiến và anh hùng qua một bài viết nêubình luận, cảm tưởng về câu mở đầu trong bài hát "Người Hà Nội" của tác

giả Nguyễn Đình Thi Mục đích của cuộc thi nhằm góp phần tuyên truyền, giáodục sâu rộng ý nghĩa kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nâng cao hiểubiết về truyền thống lịch sử văn hóa, phát huy giá trị tốt đẹp của Thăng Long -

Hà Nội nghìn năm văn hiến, Thủ đô Anh hùng, Thành phố vì hòa bình trongthanh niên và nhân dân cả nước, hướng tới việc hình thành phong trào thi đuathiết thực chào mừng Đại lễ kỷ niệm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Trang 2

Là những ngời con quê hơng Bắc Ninh anh hùng, quê hơng của vị vua tài ba anh minh và lỗi lạc Lý Công Uẩn, ngời đã xây dựng lên vơng chiều nhà Lý và đặt nền móng xây dựng thủ đô Thăng Long - Hà Nội của dân tộc Việt nam anh hùng; Chúng tôi BTV đoàn xã Văn Môn, Yên Phong - Bắc Ninh đón nhận và tham gia cuộc thi này với tình cảm tự hào về Lý Công Uẩn, về vơng triều nhà Lý, về quê hơng Bắc Ninh và Thủ đô Thăng Long - Hà Nội Qua cuộc thi này chúng tôi đã hiểu rõ hơn về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, với trách nhiệm cao nhất thu thập những t liệu và sự hiểu biết của mình để cùng với mọi công dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh hiện nay trao đổi, nghiên cứu và

đặc biệt nhằm giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống oai hùng của dân tộc Việt Nam, về thủ đô Hà Nội và quê hơng Bắc Ninh anh hùng.

Trang 3

Chưa đầy một năm sau (năm 1010) ông đã ban Thiên Đô Chiếu (Chiếudời đô) từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, đổi tên thành Thăng Long Đó làquyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất của Lý Công Uẩn thể hiện một trítuệ việt trác, thiên tài, một tầm nhìn xa vượt ngàn năm, một tấm lòng lo toancho con cháu nước Việt muôn đời Đây cũng là một quyết sách của một vịhoàng đế mà hơn 10 thế kỉ sau vẫn còn sức trường tồn hẳn là quyết sách củatrời vậy!

Mét vµi nÐt vÒ Th¨ng Long - Hµ Néi

Trang 4

* VËy tªn Hà Nội nghĩa là gì và địa danh Hà Nội bắt đầu từ bao giờ?

Sau khi diệt triều Tây Sơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên(vốn là đất đai kinh thành Thăng Long cũ) ra là phủ Hoài Đức và vẫn coi làmột đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đạidiện là Tổng trấn Bắc Thành Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), vua nàyliền tiến hành đợt cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn

và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc và lập ra 15 tỉnh trực thuộc trung ương.Lúc đó phủ Hoài Đức trở thành một trong bốn phủ họp thành tỉnh Hà Nội.Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ Hà Nội nghĩa là phía trong sông Vìthực tế tỉnh mới này trên đại thể được bao quanh bởi hai con sông Hồng vàsông Đáy

Trang 5

Bản đồ Thăng Long lúc mang tên Trung Đô (vẽ năm 1490)

Bốn phủ đó là: phủ Hoài Đức (gồm 3 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận,

Từ Liêm), phủ Thường Tín (gồm 3 huyện Thượng Phúc, Thanh Trì, PhúXuyên), phủ Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh - nay là Ứng Hòa; Hoài An -nay là phía nam Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh - nay là Ứng Hòa; Hoài

An - nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức; Chương Đức - nay làChương Mỹ; Thanh Oai), phủ Lý Nhân (gồm 5 huyện: Nam Xang - nay là LýNhân, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục) Như vậy, tỉnh Hà Nội lúc

đó gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh HàĐông thời Pháp Thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam Rõ ràng, tỉnh Hà Nội đại

bộ phận nằm kẹp giữa hai sông Hồng và sông Đáy

Trang 6

Có người cho rằng chữ Hà Nội lấy từ câu sách Mạnh Tử (Thiên Lương HuệVương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội”(Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về HàNội) Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử (thế kỷ thứ III tr.CN) phía bắcsông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía nam là Hà Ngoại Vùng đất Hà Nội ấynay ứng với tỉnh Hà Bắc Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tâyngày nay thì chạy theo hướng Bắc-Nam, trở thành ranh giới của hai tỉnhThiểm Tây và Sơn Tây Sơn Tây ở phía Đông sông Hoàng nên thời cổ có tên

là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây

Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên Nhưng đó làtrường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na,người ta mới dùng để gọi tỉnh Cầu Đơ là tỉnh Hà Đông dựa vào cái tên HàNội đã có từ trước

Trang 7

1397, Hồ Quý Ly ộp vua Trần Thuận Tụng dời đụ vào Thanh Húa đúng ởthành mới xõy gọi là Tõy Đụ Năm 1400, Hồ Quý Ly giành ngụi vua vẫnđúng ở Tõy Đụ, do vậy Thăng Long trở thành Đụng Đụ Từ năm 1407 đến

1427, Đụng Đụ bị quõn Minh chiếm đúng, chỳng đổi tờn là Đụng Quan.Năm 1428, Lờ Lợi giải phúng Đụng Quan, đến năm 1430 đổi tờn thànhĐụng Kinh Tuy vậy cỏi tờn Thăng Long vẫn được dựng

Đời Lờ Thỏnh Tụng, thành Đụng Kinh tức kinh đụ Thăng Long đượcgọi là phủ Trung Đụ rồi phủ Phụng Thiờn Đời Tõy Sơn đúng đụ tại PhỳXuõn (Huế) gọi Thăng Long là Bắc Thành Đời Nguyễn Gia Long vẫn gọi làBắc Thành nhưng đổi phủ Phụng Thiờn ra là phủ Hoài Đức Năm 1831 MinhMạng lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ: Hoài Đức, Ứng Hũa, Thường Tớn, Lý Nhõn

và tỉnh ly đúng ở phủ Hoài Đức tức thành Thăng Long cũ, do đú ThăngLong cũng được gọi là Hà Nội Cỏi tờn này được giữ cho tới tận nay ThờiPhỏp thuộc, bờn cạnh tờn Hà Nội, thành phố cũn được gọi là Hà Thànhnhưng tờn gọi này khụng thụng dụng

Về Chiếu dời đô

Trang 8

* Bản phiên âm Hán - Việt:

Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ.

Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa Thành tứ phương bức thấu

Trang 9

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa,

Trang 10

dõn cư khụng khổ thấp trũng tối tăm, muụn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đú là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đỳng là nơi thượng đụ kinh sư mói muụn đời.

Trẫm muốn nhõn địa lợi ấy mà định nơi ở, cỏc khanh nghĩ thế nào?

(Bản dịch của Viện Khoa học Xó hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản

Khoa học Xó hội, Hà Nội, 1993)

* í nghĩa của Chiếu dời đô:

Chiếu dời đụ đó thể hiện những ý tứ sõu sắc, tầm nhỡn thời đại của một

vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước khi ụng chọn Đại La làm kinh đụ mới đểmưu nghiệp lớn, tớnh kế phồn vinh, trường kỳ cho muụn đời sau Bản chiếunờu bật được vai trũ kinh đụ Thăng Longxứng đỏng là trung tõm chớnh trị, kinh

tế, văn hoỏ của quốc gia Thời gian sau đú, Thăng Long vẫn là kinh đụ củacỏc triều Trần, nhà Hậu Lờ, nhà Mạc, Lờ Trung Hưng và đang là Thủ đụ củanước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam. Thăng Long thực sự là “nơi kinh

đụ bậc nhất của đế vương muụn đời”

Trang 11

“Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt

là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùngtráng, ngôi báu vững bền, hình thể Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này”

Tuy nhiên bên cạnh đó thì chiếu dời đô lại nổi bật những nhược điểmkhiến nó không thể trở thành một áng văn tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, thểhiện ở các yếu tố sau:

Tinh thần dân tộc: là văn bản khai sinh ra một thủ đô Hà Nội nhưngchiếu dời đô không đề cập đến truyền thống đấu tranh dành độc lập dân tộc

mà các triều vua Việt Nam trước đó đã gây dựng Bản chiếu cũng không nêuvai trò của kinh đô Hoa Lư và các kinh đô trước đó như Phong Châu, MêLinh, Long Biên. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đếquốc Trung Hoa để noi gương Ông gọi đô hộ Cao Biền là "Cao Vương", gọithành Đại La là "đô cũ" Điều này khiến chiếu dời đô chưa toát nên được tinh

thần dân tộc chủ đạo mà các áng văn khác như Nam quốc sơn hà ("sông núi

Trang 12

nước Nam vua Nam ở") và Bình Ngô Đại Cáo ("từ Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập") đã có Chiếu dời đô chỉ có ý nghĩa trong nội bộ quốc gia mà

không thể ảnh hưởng ở tầm quốc tế

Khát vọng độc lập: Các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc lập đô củacác nhà Đinh và nhà Tiền Lê không phải là tự theo ý riêng, thiển cận Trongbối cảnh vừa thoát khỏi thời Bắc thuộc, chính quyền còn non trẻ, kinh đô CổLoa không còn trấn áp được loạn cát cứ thì việc lập đô ở Hoa Lư trở lên lợihại hơn cả Người Việt đã xây dựng kinh đô Hoa Lư của riêng mình mà khôngtheo một hình mẫu nào của Trung Hoa.[10] Sự xuất hiện của chiếu dời đô làbằng chứng cho thấy đất nước đã phát triển sang trang mới, vua Lý TháiTổkhông tự khởi nghiệp ở Thăng Long mà là người được triều đình Hoa

Lư tiến cử lên ngôi thay nhà Tiền Lê Vì thế mà hệ thống triều đình và cơ sở

Trang 13

Lư Sự kiện ban Chiếu dời đô vừa khẳng định vừa phủ định vai trò của kinh

đô Hoa Lư Là mốc son đánh dấu lịch sử hình thành thủ đô Hà Nội của ViệtNam trên cơ sở, nền tảng kinh đô Hoa Lư

* Hành trình dời đô:

Hơn 1 năm sau khi lên ngôi Hoàng đế, tháng 7 năm Canh Tuất, Lý Thái

Tổ bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La Việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn

bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể

đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà

Lý dời đô bằng đường nào Các nhà nghiên cứu đã kết luận: nhà Lý dời đôbằng đường thuỷ Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tảiđược cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm

Trang 14

Năm Thái Bình thứ 7 (976) dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng đã có việcbuôn bán với nước ngoài bằng thuyền Các nhà nghiên cứu khẳng định LýCông Uẩn dời đô cũng cần đưa đội thuyền đi theo Đoàn thuyền xuất phát từbến Ghềnh Tháp (nay là khu vực giữa phủ Vườn Thiên và nhà bia Lý Thái

Tổ ở khu di tích cố đô Hoa Lư) Rồi thuyền vào sông Sào Khê, qua cầuĐông, cầu Dền ở Hoa Lư để ra bến đòTrường Yên vào sông Hoàng Long Đitiếp đến Gián Khẩu thì rẽ vào sông Đáy Từ sông Đáy lại rẽ vào sông ChâuGiang Đến Phủ Lý đoàn thuyền ngược sông Hồng, rồi vào sông Tô Lịch trướccửa thành Đại La

Như vậy hành trình dời đô đi qua 6 con sông khác nhau, trong đó cáchành trình trên sông Sào Khê, sông Hoàng Long, sông Châu Giang là đi xuôidòng, trên sông Đáy, sông Hồng, sông Tô Lịch là đi ngược dòng Sở dĩ nhà

Lý đi bằng đường sông chứ không đi bằng đường biển cũng là bảo đảm an

Trang 15

Tr¶ lêi c©u hái cuéc thi t×m hiÓu:

“Th¨ng long - Hµ Néi ngh×n n¨m v¨n hiÕn vµ anh hïng”

*

* *

PhÇn 1: c©u hái tr¾c nghiÖm

Câu hỏi 1: Trong bài “Chiếu dời đô”, Hoàng đế Lý Thái Tổ đã xác định

những lợi thế nào của đất Thăng Long?

Là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương

Được thế rồng cuộn hổ ngồi

c Có núi cao sông dài

      Muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh

Lêi b×nh:

a Là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương:

Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư lên ThăngLong, bắt đầu khởi công xây dựng hoàng thành Vào giai đoạn hưng thịnh củanhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị - kinh

tế, văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước Kỷ nguyên văn minh Đại Việttrong lịch sử dân tộc ta cũng được mở ra từ đây

a

b

d

Trang 16

Thăng Long - Hà Nội, kinh đô ngàn năm

Việc từ Hoa Lư lên Thăng Long đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng củaNhà Vua Lý Thái Tổ trong việc xác định xây dựng trung tâm nước Việt

Việc dời đô từ Hoa Lư lên Thăng Long là một sự kiện lịch sử quan trọngbáo hiệu sự thống nhất đất nước và sự tập trung chính quyền về Trung ương

đã thực hiện được ở Việt Nam Đó là điều chưa có trong các thời đại trước vàrất cần thiết để đẩy mạnh sự phát triển xã hội và bảo đảm lâu dài nền độc lậpcủa Tổ quốc

Trước thế kỷ XI, các triều đại xưa đã từng đóng đô ở nhiều nơi: HùngVương (2897 - 258 trước Công nguyên) ở Phong Châu (Phú Thọ); An DươngVương (257 - 207 trước Công nguyên) ở Cổ Loa

Hà Nội là trung tâm của đất nước Việt Nam đương thời Giao thông liênlạc giữa Hà Nội với các địa phương khác trong nước, bằng đường thủy cũng

Trang 17

Triều đỡnh muốn liờn hệ chặt chẽ được với tất cả cỏc địa phương trongtoàn quốc thỡ việc đúng đụ ở Thăng Long lỳc ấy là thuận lợi hơn ở Hoa Lư cả

về ngoại giao, về chớnh trị cũng như về kinh tế Lý Thỏi Tổ chọn miền Hà Nội,

vỡ ngoài những điều kiện thiờn nhiờn thuận lợi sẵn cú, Hà Nội cũn cú nhữngđiều kiện kinh tế - xó hội rất tốt làm nền tảng cho việc xõy dựng kinh thànhmới bền vững lõu dài: “Muụn vật cực kỳ giàu thịnh đụng vui Xem khắp nướcViệt, đấy là chỗ đẹp nhất, thật là nơi đụ hội trọng yếu để bốn phương tụ họp"

Sau khi dời đụ về Hà Nội, Vua Lý Thỏi Tổ chỉnh đốn lại việc cai trị, chiađất nước làm 24 lộ

Kinh đụ Thăng Long được xõy dựng thành 2 khu riờng biệt: Khu HoàngThành, nơi cú cỏc cung điện hoàng gia và nơi thiết triều, khu dõn sự, nơi dõn

cư sinh sống thành phường nghề

Kinh thành được bao bọc bởi một tũa thành bằng đất phỏt triển từ đờcủa 3 con sụng: Sụng Hồng ở phớa Đụng, sụng Tụ ở phớa Bắc và phớa Tõy vàsụng Kim Ngưu ở phớa Nam, đõy là cụng trỡnh xõy dựng thành lũy lớn nhấttrong cỏc triều đại phong kiến Việt Nam

Hoàng đạo Bắc Môn cùa thành Thăng Long đợc phục dựng bằng kỹ thuật 3D

Trang 18

b Được thế rồng cuộn hổ ngồi: Bản dịch Việt ngữ của “Chiếu dời đô”

cũng có câu này Còn nguyên văn Hán ngữ thì đó là: “Long bàn Hổ cứ” Đây

là 4 chữ của thuật phong thủy, nói về một thế đất rất quý, là nơi ở của Rồng

và Hổ (những vật tượng trưng cho sức mạnh và hiển vinh)

Trong bản Chiếu dời đô  lịch sử ấy có đoạn viết: “Thành Đại La đô cũcủa Cao Vương ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chínhgiữa nam bắc tây đông, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng

mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì thấp trũng tốităm, muôn vật hết sức tốt tươi phồn thịnh, xem khắp nước Việt, đó là nơithắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng

đô kinh sư mãi muôn đời”

Trong văn kiện quan trọng này, cụm từ “rồng cuộn hổ ngồi” đượcchuyển dịch từ thành ngữ “long bàn hổ cứ” trong tiếng Hán Thành ngữ nàyđược sử dụng nhiều lần trong các tác phẩm chữ Hán của cha ông ta, đôi khicòn thấy xuất hiện cả trong tác phẩm Nôm, đặc biệt còn thấy tách thành longbàn và hổ cứ để dùng, chẳng hạn như trong một bài thơ của Chúa Trịnh Căn(1872-1709) chép trong tác phẩm Thiên hòa doanh bách vịnh

Về cách lý giải thành ngữ long bàn hổ cứ này cũng có ý kiến giải thíchchưa thuyết phục Có người cho rằng long bàn là địa bàn của rồng, và hổ cứ

Trang 19

1 Long bàn, đôi khi còn thấy nói là bàn long, như ngọn núi Bàn Long ở

xã Hồng Sơn huyện Mỹ Đức Hà Nội Đây là từ dùng để miêu tả động tác dichuyển vị trí của con rồng Rồng là loài động vật thuộc họ rắn, nó di chuyểnthế nào hẳn hiếm người biết được Thế nhưng con rắn di chuyển trên mặt đấtnhư thế nào hẳn là nhiều người đã tận mắt nhìn thấy Rắn thuộc loài bò sátkhông có chân, nó di chuyển vị trí bằng cách uốn các đốt xương sống lại đểnhích đi từng chút, giống như con sâu đo Quan sát cách di chuyển của loàirắn, chúng ta có thể phần nào mường tượng thấy cách di chuyển của loàirồng Các thầy địa lý phong thủy ngày xưa quan sát dãy núi nhấp nhô trùngđiệp, ngọn cao ngọn thấp nối nhau chạy dài mãi, họ cho đó là hình ảnh conrồng di chuyển vị trí trong không gian nên gọi là Sơn mạch hay Long mạch.Con rồng vận động trong vũ trụ như thế, gặp được nơi địa lợi nó liền cuộn lạinhiều hơn, tiếng Hán gọi động tác đó là long bàn, có thể giải nghĩa ra tiếngViệt là con rồng cuộn mình làm tổ

2 Hổ cứ, là tư thế ngồi xổm chuẩn bị vồ mồi của con hổ Trong tiếngHán, từ cứ có nghĩa là ngồi với tư thế hai mông không chạm đất mà đặt nhẹlên hai gót chân, tức là ở tư thế sẵn sàng bật dậy tấn công đánh trả kẻ địch

Trang 20

Vậy thì thành ngữ long bàn hổ cứ có thể dùng để miêu tả thế đất chắcchắn bền vững, vừa tiện lợi cho việc phòng thủ giữ gìn, vừa phù hợp với việcphát triển phồn vinh, để lại cho con cháu muôn đời Bản thần tích xã LiênNgạc huyện Từ Liêm viết bằng chữ Hán lưu giữ ở Thư viện Viện Nghiên cứuHán Nôm, ký hiệu AE a2/66 có một đoạn viết rất sâu sắc, xin dịch là:

“Xét, theo sách Giao Châu ký và Báo cực truyện thì thần vốn họ Tô tênLịch, làm quan lệnh ở Long Đỗ, sống ở bên bờ sông nhỏ ở hương Long Đỗ…Khi Lý Thái Tổ dời đô, thường thác mộng đến gặp, chắp tay chúc mừng tung

hô vạn tuế Nhà vua thấy lạ liền hỏi xem tên họ là gì Thần tâu rõ họ tên nhưtrên Nhà vua mừng lắm liền hỏi, ông liệu xem đất này có kéo dài hương hỏađược trăm năm không? Thần nhân thưa, mong rằng phúc tộ đất này có thểkéo dài được ức vạn năm! Khi vua tỉnh giấc liền cho đốt nến sáng rồi phongtặng thần làm Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương”

Lời của tôn thần Tô Lịch quả đã ứng nghiệm, kinh đô Thăng Long mộtngàn năm tuổi thực sự đã và đang vững vàng trong thế long bàn hổ cứ vàchắc chắn là hương hỏa của đất này phải là kéo dài ức vạn năm

Hồ Gươm nhìn từ nóc nhà cao tầng

d Muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh:

"Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời

Trang 21

sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sángsủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồnthịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếucủa bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời" (trích Chiếudời đô- Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử kýtoàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993).

Chiếu dời đô đã thể hiện những ý tứ sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một

vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm về trước khi ông chọn Đại La làm kinh đô mới đểmưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho muôn đời sau Bản chiếunêu bật được vai trò kinh đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị,kinh tế, văn hoá của quốc gia

Nhận xét về kinh đô Thăng Long, sử gia Ngô Sỹ Liên viết:

“Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt làbiển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùngtráng, ngôi báu vững bền, hình thể Việt Nam không nơi nào hơn được nơinày”

Trang 22

Cöa B¾c kinh thµnh Th¨ng Long

Câu hỏi 2: Tòa thành cổ nhất trên đất Thủ đô là tòa thành nào?

Đất Thủ đô là trung tâm (đầu não) hành chính - chính trị của quốc gia

Là một Thủ đô có lịch sử rất lâu đời, Hà Nội tất phải xây dựng rất nhiều thành

cổ qua các đời, để thể hiện và làm căn cứ cho chức năng đứng đầu cả nướcb

Trang 23

vào đất Thủ đô nhiều miền đất cổ, vốn cũng đã sẵn có nhiều thành cổ đượcxây dựng ở đấy rồi, cho nên càng thêm nhiều di sản thành cổ

* Thành Cổ Loa: Tòa thành kỳ vĩ này, gọi thế vì còn vết tích ở xã Cổ

Loa, huyện Đông Anh Ba chức năng quan trọng được thành Cổ Loa xưa thựchiện là: quân thành, thị thành, và đặc biệt là Kinh thành Vì có đến 2 lần, CổLoa là kinh đô nước Việt Lần thứ nhất, ngay khi khởi dựng vào thế kỷ IIItrước Công nguyên, Cổ Loa là kinh đô của triều đại An Dương Vương Lầnthứ hai, vào thế kỷ X, Cổ Loa là Kinh đô của Ngô Vương Quyền

Trang 24

Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn

cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong

đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền Chu vingoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó,thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trongxoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m,

có chỗ cao đến 8 m-12 m Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m.Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối

* Thành nội: hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt

thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.

* Thành trung: là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng,

dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hoàng.

* Thành ngoài: cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000 m,

cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m).

* Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ

Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình

độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất

là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều làm chứng nghệ thuật

và văn hóa thời An Dương Vương Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những

Trang 25

người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương Hiện nay Cổ Loa là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam

Trang 26

Câu hỏi 3: Ngôi “Làng hai Vua” ở phía Tây Thủ đô - là quê hương của

Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Vương Quyền, tên là gì?

d

Trang 27

* Làng Đường Lâm: Thuộc thị xã Sơn Tây Đây là ngôi làng Việt cổ nổi

tiếng, giá trị như đô thị cổ Hội An Cùng với đặc điểm kiến trúc nhũng ngôi nhànông thôn dùng nguyên vật liệu là đá ong, Đường Lâm còn sở hữu nhiều kiếntrúc tôn giáo - tín ngưỡng nổi tiếng: chùa Mía, đình Mông Phụ, nhà thờ sứthần Giang Văn Minh…Đặc biệt có di tích đền thờ, lăng mộ của Anh hùng dântộc - Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, và Anh hùng dân tộc - Ngô VươngQuyền Cả những chứng tích huyền kỳ về cuộc đời và sự nghiệp của hai vịAnh hùng dân tộc này (như: nơi đánh cọp, chỗ buộc voi, trường luyện võ…)

Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước traobằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006

Đây là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân như vua Ngô Quyền, Bố Cái Đạivương Phùng Hưng, Thám hoa Giang Văn Minh, bà Man Thiện (mẹ của hai

Bà Trưng), bà chúa Mía (người xây chùa Mía, vương phi của chúa TrịnhTráng), Khâm sai đại thần, Bộ trưởng Nội vụ, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại,Thám hoa Kiều Mậu Hãn, Họa sĩ Phan Kế An, Phó Tổng thống Nguyễn Cao

Trang 28

Kỳ Chính vì vậy, Đường Lâm còn được gọi là đất hai vua - Ngô Quyền vàPhùng Hưng.

Tuy gọi là làng cổ nhưng thực ra Đường Lâm từ xưa gồm 9 làng thuộctổng Cam Giá Thịnh huyện Phúc Thọ trấn Sơn Tây, trong đó 5 làng MôngPhụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau Các làngnày gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tínngưỡng hàng ngàn năm nay không hề thay đổi Đầu thế kỷ 19, Đường Lâm lànơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Tây

Sách Đại Việt địa dư toàn biên, Nguyễn Văn Siêu viết: " Bố Cái ĐạiVương là Phùng Hưng Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm.Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước là xãCam Tuyền) có 2 đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương Còn có mộtbia khắc rằng: Bản xã đất ở rừng rậm, đời xưa gọi là Đường Lâm, đời đời cóanh hào Đời nhà Đường có Phùng Vương tên húy Hưng, đời Ngũ Đại có NgôVương tên húy Quyền Hai vương cùng một làng, từ xưa không có Uy đứccòn mãi, miếu mạo như cũ Niên hiệu đề là Quang Thái năm thứ 3 (TrầnThuận Tông - 1390) mùa xuân tháng 2, ngày 18 làm bia này "

Trang 29

Câu 4: Năm 1010, Hoàng đế Lý Thái Tổ đã cho xây Tòa chính điện Càn

Nguyên của Kinh đô Thăng Long ở trên cao điểm nào?

và truyền thuyết Đồng thời được làm thăng hoa bằng những kiến trúc cungđình và tôn giáo tín ngưỡng Chính điện Càn Nguyên khởi dựng ngay vàonăm đầu định đô Thăng Long, là một kiến trúc quan trọng hàng đầu trong sốb

Trang 30

đó Nó làm vẻ vang cho cao điểm được chọn để xây dựng chính điện Còncao điểm được chọn làm nền xây dựng chính điện, thì cũng đem vị thế củamình mà làm oai cho kiến trúc cung đình ở bên trên nó.

* Núi Nùng:      

Núi Nùng, sông Nhị là những núi sông tiêu biểu của Hà Nội - ThăngLong xưa Ca dao Hà Nội xưa có câu:

Dạo xem phong cảnh Long Thành

Đủ mùi đường phố, đủ vành núi sôngNhị Hà quanh bắc sang đôngKim Ngưu, Tô Lịch là sông bên nàyNùng sơn, Long đỗ đây đâyTam sơn núi đất cao tầy khán sơn

(Dạo xem phong cảnh Long Thành)

Vậy núi Nùng ở ngay trong thành cổ Hà Nội Đại Nam nhất thống chícủa nhà Nguyễn, trong mục Núi, sông, có chép: “Núi Nùng ở trong thành, cótên nữa là núi Long Đỗ Lý Thái Tổ đóng kinh đô, dựng chính điện ở trên núi,đời Lê gọi là điện Kính thiên, bản triều (Nguyễn) đặt làm hành cung, vẫn gọitheo tên cũ, năm Thiệu Trị thứ ba, đổi gọi là điện Long Thiên, điện Đình ở núiNùng, có xây bệ cao chín bậc, tả hữu có hai con rồng, dài hơn một trượng,

Trang 31

Cái lạ của núi Nùng, còn mang ý nghĩa triết học nữa, đó là có mà nhưkhông không mà có Đi trên nền điện Kính Thiên, tức là đặt chân lên núiNùng, một danh sơn của Hà Nội mà ta không biết là có núi Và rõ ràng là đãđứng ngay trên núi mà chỉ thấy nền điện, hoàng thành

Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên tập I chép: “Tháng sáu, năm

Kỷ Tỵ 1029 rồng hiện ở nền cũ điện Càn Nguyên Vua Lý Thái Tông bảo cácquan hầu rằng: “Trẫm phá điện ấy, san phẳng nền rồi, mà rồng thần còn hiện,hay là chỗ ấy là đất tốt đức lớn dấy nghiệp ở chính giữa trời đất chăng?” Bènsai quan theo quy mô rộng hơn, nhắm hai phương hướng, làm lại mà đổi tên

là điện Thiên An ” (trang 207)

Vậy điện Càn Nguyên, còn có tên là điện Thiên An, được mở rộnghơn, hướng điện được khảo cứu kỹ lưỡng hơn, sau này trở thành điện KínhThiên do nhà Lê đổi tên tọa lạc trên núi Nùng

Câu hỏi 5: Những công trình nào trong “Tứ đại khí” nước Đại Việt thời

Lý - Trần đã được tạo tác ở Thăng Long?

Tháp Báo ThiênChuông Quy Điền

c Tượng Quỳnh Lâm

Trang 32

ngợi) này được tạo tỏc theo tinh thần và khớ thế rồng bay lờn - Thăng Long(Lý) và “hào khớ Đụng A” (Trần)

An Nam tứ đại khớ, theo Từ điển bỏch khoa Việt Nam, là bốn

cụng trỡnh nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng của văn húa thời Lý, Trần gồm:

- Tượng Phật chựa Quỳnh Lõm (Đụng Triều, Quảng Ninh);

- Thỏp Bỏo Thiờn ở Thăng Long (Hà Nội);

- Chuụng Quy Điền (chuụng ruộng rựa) ở chựa Diờn Hựu (chựa Một Cột), Hà Nội;

- Vạc Phổ Minh ở chựa Phổ Minh, Thiờn Trường (Nam Định)

Nhng chỉ có hai đại khí đợc tạo tác ở Thăng Long bao gồm:

a Thỏp Bỏo Thiờn: Đõy là ngọn Thỏp cú tờn là “Đại Thắng Tư Thiờn”

nhưng vỡ là Thỏp của chựa “Sựng Khỏnh Bỏo Thiờn” nờn được quen gọi theotờn chựa là “Thỏp Bỏo Thiờn” Vua Lý Thỏnh Tụng là người cho xõy dựngThỏp vào năm 1057 Tài liệu cũ cho biết thỏp cú nhiều tầng, cao vài chụctrượng (60-80m) và được xem như cõy “Kỡnh Thiờn Trụ” (cột chống trời) củaKinh đụ Thăng Long Thỏp nay khụng cũn nữa, khu Nhà thờ lớn Hà Nội xõydựng vào cuối thế kỷ XIX đang chồng lờn nền cũ của Thỏp Bỏo Thiờn

Thỏp Bỏo Thiờn đó được hai danh sĩ Phạm Đỡnh Hổ, Nguyễn Án viếtnhư sau trong sỏch Tang Thương Ngẫu Lục:

Cõy Thỏp Đại Thắng Tư Thiờn tại chựa Bỏo Thiờn dựng từ đời vua LýThỏi Tụng (1054-1072) Thỏp này xõy 12 tầng, cao mấy chục trượng …Khoảng năm Tuyờn Đức nhà Minh, Đức Thỏi Tổ Hoàng đế tiờn triều [Lờ Lợi]tiến binh võy Đụng Đụ Viờn quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thụngphỏ hủy cõy thỏp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414] Tiờn triềunhõn nền cũ, đắp cỏc nỳi đất phủ lờn trờn … Năm Giỏp dần [1791] lại cho đàolấy những gạch đỏ ở nền thỏp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long Khi phỏ nền

Trang 33

có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, cácthứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá

b Chuông Quy Điền: Dịch nôm ra thì đây có nghĩa là “Chuông Ruộng

Rùa” Nguyên thủy của cái tên gọi kỳ lạ này là như sau:

Chùa Một Cột còn có tên là chùa Diên Hựu xây ngay ở trung tâmcủa kinh thành Thăng Long Ngôi chùa được dựng lên trong giai đoạn đầutiên bắt nguồn từ một giấc mơ Tương truyền rằng: vào năm 1049, vua LýThánh Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm hiện ra, cầm tay nhà vuadẫn lên toà sen Khi tỉnh dậy nhà vua đã đem toàn câu chuyện kể cho triềuthần nghe Có người cho là điềm không lành Nhà sư Thiền Tuệ khuyên nênxây chùa ở trên cột đá giữa hồ làm toà sen thờ đức Quan Âm Khi xây cấtxong, nhà vua lại sai lập trai đàn chẩn tế để cầu cho nhà vua được sốnglâu Vì thế có tên là chùa Diên Hựu Ba năm sau đó, Ỷ Lan Phu Nhân cũngcho đúc một quả chuông rất to, tương truyền là nặng đến một vạn hainghìn cân Chuông nầy có tên là Giác Thế Chung, ngụ ý là tiếng chuông sẽ

Trang 34

thức tỉnh người trên cõi đời Nhưng sau khi hoàn thành thì chuông giónglên không kêu liền cho đem bỏ ngoài ruộng, Ruộng này ngập nước khiến loàirùa đến làm tổ, ở rất đông V× thÕ Chuông có tên là "chuông Quy Điền"

Lối kiến trúc một cột có từ trước đời Lý Ở Hoa Lư, trong ngôi chùa congái vua Đinh Tiên Hoàng, có cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh LăngNghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981-1005) Phía trên cột là tòa sen chạm Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xâyđiện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáucạnh hình bông sen.Vậy đó là một lối kiến trúc của Việt Nam vào thế kỷ 10-11.Sách cũ chép là vào năm 1049, đời Lý Thái Tông, xây chùa Một Cột:

Trang 35

"Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột nằm trongkhu chùa Diên Hựu Tên chùa Một Cột sau này mới gọi)

Lối kiến trúc một cột đâu có phải bắt nguồn từ một giấc mơ! Trước

1049, nó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền, một công trình nghệ thuật.Năm 1080, mùa xuân, tháng 2, chuông Quy Điền được đúc Chuông Quy Điền

là thế nào mà được liệt vào hàng "Tứ đại khí"? Không có tài liệu nào nói đến

cả Tuy nhiên, có thể so với chuông Báo Thiên Nhớ lại, năm 1056, xây chùaSùng Khánh Báo Thiên, triều đình phát 12.000 cân đồng trong kho vua để đúcchuông treo ở chùa đó Vua Lý Thánh Tông thân làm bài minh để khắc vàochuông

Một cân ta là hơn nửa ki-lô-gam (600 gam) Như vậy chuông Báo Thiênnặng gần 7 tấn Vậy mà chuông chưa được liệt vào hàng "Đại khí" thế thìchuông Quy Điền còn lớn nặng biết bao nhiêu!Người ta bảo: Phải dựng mộttòa phương đình cao 8 trượng (20 - 25 m) xây bằng đá xanh để treo chuông.Nhưng chuông đánh không kêu nên chẳng được treo, mà để ở ngoài ruộngphía tây thành Thăng Long, gần chùa Diên Hựu Năm 1426, giặc Minh phátháp Báo Thiên, cũng phá mất quả chuông kỳ vĩ này

Trang 36

Lại nói về chùa Diên Hựu: năm 1101, đời Lý Nhân Tông có "sửa chữa",

và đến năm 1105, mùa thu, tháng 9 thì xây hai tháp lợp sứ trắng ở chùa này.Văn bia tháp Sùng thiện diên linh (chùa Đọi, Nam Hà), năm 1121 viết:

"Do lòng sùng kính đức Phật và dốc lòng mộ đạo nhân quả (đạo Phật) nênhướng về vườn Tây Cấm nổi danh (Ngôi vườn ở phía tây cấm thành ThăngLong đời Lý) mà xây ngôi chùa sáng Diên Hựu theo dấu vết chế độ cũ, cùngvới ý mưu mới của nhà vua (ý nói: theo dấu vết lề lối xây dựng chùa đời LýThánh Tông, có thêm ý mới của Lý Nhân Tông mà chữa lại chùa đẹp hơntrước) Rồi đào hồ thơm Linh Chiểu Giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nởđóa sen nghìn cánh Trên bông sen dựng vững tòa điện mầu xanh (Tòa điệnlợp ngói sứ tráng men xanh, khảo cổ học đã phát hiện được loại ngói này ởgần chùa) Trong điện đặt pho tượng vàng tải nặng, nhân đức (Tức là tượngđức Quan Thế Âm Bồ Tát) Vòng quanh hồ là dãy hành lang chạm vẽ Lại đào

ao Bích Trì Mỗi bên đều bắc cầu vồng (cầu uốn cong) để đi qua Phía sàncầu đằng trước, ở hai bên phải bên trái, có xây tháp quý lưu ly (Ngói lưu ly làngói sứ) Hằng tháng, vào sớm mồng một (ngày sóc) và hằng năm thì vào dịp

du xuân, nhà vua ngồi xe ngọc, đến chùa mở tiệc chay, làm lễ dâng hươnghoa cầu cho ngôi báu dài lâu và bày chậu làm lễ tắm tượng Phật Trang sức

Trang 37

Như vậy, quy mô chùa Một Cột thời Lý to hơn ngày nay Và cả kiểu dáng, cảnhững bộ phận hợp thành cũng phức tạp hơn Thời Trần, có bài thơ Đề chùaMột Cột của sư Huyền Quang, dịch ra như sau:

Chùa khuya một tiếng chuông vangTrăng thu tãi sóng, lá bàng nhuộm sonChùa vuông, "chim thú" ngủ ngonTháp cao đôi ngọn: búp tròn tay ai

Đến thời Trần, chùa đã không phải là ngôi chùa đời Lý nữa vì sách cũ

đã ghi: Năm 1249, "mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuốngchiếu vẫn làm ở nền cũ".Và với thời gian, chùa ngày càng khác trước mãi đi

Câu hỏi 6: Trong khu di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Hà Nội, di sản nào là của thời Lê?

a Khuê Văn Các

b Đại Bái Đường

Trang 38

và là sản phẩm trí tuệ, tình cảm, công sức của nhiều đời góp lại

Bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám là các bia đá ghi tên những

người đỗ Tiến sĩ các khoa thi thời Hậu Lê và thời Mạc (1442 - 1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Việt Nam Các bia đá này đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức Thế giới vào ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc Sau Mộc bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu là di sản tư liệu thứ hai của Việt Nam được đưa vào danh mục Di sản tư liệu Thế giới.

Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long gồm 82 tấm bia đá, được dựng từ năm 1484 (niên hiệu Hồng Đức thứ 15) đến năm 1780 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 41), khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình từ năm 1442 (niên hiêu Đại Bảo thứ 3) đến năm 1779 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40).

Năm 1484, với chủ chương đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã cho dựng các tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho các khoa thi Đình các năm trước đó của nhà Hậu Lê, 7 bia đầu tiên, trong số 82 bia, được dựng nămd

Trang 39

Đình, được lấy làm đại diện, của các triều vua trước, là khoa thi năm 1442

và khoa thi năm 1448, được Lê Thánh Tông cử hai vị Đông Các đại học sĩ (sau này cũng là 2 phó soái Tao đàn Nhị thập bát Tú) là: Thân Nhân Trung

và Đỗ Nhuận soạn các bài văn bia, và được dựng riêng trong hai bi đình Tả

vu, Hữu vu.

Số lượng bia tiến sĩ được dựng vào thời đại nhà Lê sơ gồm 12 bia tiến sĩ đầu tiên, cho các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1514 (bia tiến sĩ khoa thi năm 1514 được dựng năm 1521) Những người soạn nội dung văn bia đều là các bậc danh nho bậc nhất đương thời của Đại Việt, như các tiến sĩ: Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ, Lê Ngạn Tuấn,

Trang 40

Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trùng Xác, Lưu Hưng Hiếu, Lê Trung, Vũ Duệ, Nhà Mạc do điều kiện đang tiến hành nội chiến với nhà Lê trung hưng, nên chỉ dựng được 2 bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, mặc

dù tổ chức được khá nhiều kỳ thi tiến sĩ Nho học, đó là bia tiến sĩ cho khoa thi năm 1529 (niên hiệu Minh Đức thứ 3), khoa thi đầu tiên của triều Mạc Thái Tổ, và bia tiến sĩ cho khoa thi năm 1518 (niên hiệu Quang Thiệu thứ

3 thuộc triều đại Lê sơ, được dựng năm 1536) Như vậy, trong suốt thời kỳ nhà Mạc nắm giữ kinh thành Thăng Long, với 22 khoa thi Đình được tổ chức, nhưng chỉ có duy nhất một khoa thi tiến sĩ nhà Mạc được dựng bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Sang triều đại Lê trung hưng, các kỳ thi tiến sĩ Nho học được khôi phục ngay từ thời triều vua Lê Trung Tông khi đang còn đóng đô ở Thanh Hóa và chưa chiếm lại được Thăng Long, với khoa thi Điện (thi Đình) đầu tiên là khoa thi Chế khoa năm 1554 Sau khi chiếm lại được Thăng Long

Ngày đăng: 23/12/2013, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ vị trí khai quật Hoàng Thành Thăng Long - Tài liệu Bai du thi_1000 nam Thang Long_Nam_Da chinh lan 3 (1) doc
Sơ đồ v ị trí khai quật Hoàng Thành Thăng Long (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w