1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe nâng cao khả năng tự quản lý của người bệnh đái tháo đường típ 2

9 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 678,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe về tự quản lý cho người bệnh đái tháo đường típ 2 đang được điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu và Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ.

Trang 1

HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE NÂNG CAO

KHẢ NĂNG TỰ QUẢN LÝ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Nguyễn Thị Gái 1 , Nguyễn Thị Bích Đào 2

, Kathy Fitzsimmons 3

1 Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu, BVĐK Quốc tế Vinmec Central Park

2 Viện tim Tâm Đức TP Hồ Chí Minh

3 USC Upstate Mary Black School of Nursing

DOI: 10.47122/vjde.2021.46.18

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chương trình

giáo dục sức khỏe về tự quản lý cho người

bệnh đái tháo đường típ 2 đang được điều trị

ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu và

Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Thiết kế

nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên

có nhóm chứng Đối tượng nghiên cứu: Bệnh

nhân ĐTĐ típ 2 đến điều trị ngoại trú tại bệnh

viện đa khoa Bạc Liêu và Bệnh viện Đa Khoa

Thanh Vũ từ tháng 02/2017 đến tháng 7/2017

Phương pháp nghiên cứu: 140 người bệnh

đái tháo đường típ 2 được phân ngẫu nhiên

vào 2 nhóm: nhóm can thiệp (giáo dục sức

khỏe cá nhân) và nhóm chứng Nhóm can

thiệp sẽ được giáo dục sức khỏe với hình thức

cá nhân về tự quản lý bệnh đái tháo đường

Can thiệp giáo dục sức khỏe này không áp

dụng cho nhóm chứng Sau 4 tuần, 2 nhóm sẽ

được khảo sát lại lần nữa Điểm số trung bình

về kiến thức, hành vi, niềm tin vào khả năng

bản thân tự quản lý của bệnh đái tháo đường

típ 2 được đánh giá, so sánh trước và sau giáo

dục sức khỏe Kết quả nghiên cứu: Đánh giá

tổng điểm kiến thức, niềm tin vào bản thân,

mức độ hành vi tự quản lý của người bệnh đái

tháo đường típ 2 ở nhóm can thiệp cao hơn

nhóm chứng phản ánh được hiệu quả bước đầu

của chương trình giáo dục sức khỏe Sự khác

biệt đường huyết lúc đói có ý nghĩa trước và

sau giáo dục khỏe ở nhóm chứng (p=0,027),

nhóm can thiệp (p<0,001) Kết luận: Giáo dục

sức khỏe có hiệu quả đóng vai trò đáng kể

trong việc điều trị, theo dõi và chăm sóc của

người bệnh đái tháo đường típ 2, đặc biệt là

đối tượng ngoại trú

Từ khóa: đái tháo đường típ 2, tự quản lý,

giáo dục người bệnh đái tháo đường tự quản

ABSTRACT

Effectiveness of health education program enhance self – management ability of patients with type 2 diabetes

Nguyen Thi Gai 1 , Nguyen Thi Bich Dao 2 ,

Kathy Fitzsimmons 3

1 Bac Lieu Medical College, International

Hospital Vinmec Central Park

2 Tam Duc Heart Hospital

3 USC Upstate Mary Black School of Nursing

Objectives: Evaluate the effectiveness of

health education program on self-management for type 2 diabetes are being treated as outpatients at Bac Lieu and Thanh Vu general

hospital Design: randomized controlled trial

Participants: Outpatients with type 2 diabetes

in Bac lieu and Thanh Vu General Hospita

from 02/2017 to 07/2017 Methods: 140

patients with type 2 diabetes was randomly assigned to 2 groups: intervention group (personal health education) and the control group The intervention group will be health education with individual forms of self-management of diabetes Health education interventions are not applied to the control group After 4 weeks, 2 groups was surveyed again The average score of knowledge, behavior, sefl - efficacy to self-management of type 2 diabetes was assessed, comparing

before and after health education Results:

Assessed of the total score of knowledge, sefl

- efficacy and self-management behavior of type 2 diabetes patients in the intervention group was higher than control group that reflected the first effectiveness of health education program The difference in fasting blood sugar was significant before and after healthy education in the control group (p =

0.027), and the intervention group (p <0.001)

Trang 2

Conclusions: Especially outpatients, effective

health education plays a significant role in the

treatment, monitoring and caring of people

with type 2 diabetes

Key words: Diabetes type 2 ,Self –

managemen, Self – managemen education

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Gái

Ngày nhận bài: 09/01/2021

Ngày phản biện khoa học: 09/02/2021

Ngày duyệt bài: 01/04/2021

Email: nguyenthigai02021989@gmail.com

Điện thoại: 0939696390

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mãn

tính, không lây Tỷ lệ người bệnh ĐTĐ đang

ngày càng gia tăng trên thế giới cũng như ở

nước ta, và ngày càng phát triển theo chiều

hướng phức tạp [1] Chi phí chăm sóc người

bệnh đái tháo đường thì cao và ngày càng tăng

trên toàn thế giới [4], [6], [9]

Tự quản lý đề cập đến khả năng của một cá

nhân để quản lý các triệu chứng, điều trị, thể

chất, tâm lý xã hội và thay đổi lối sống vốn có

để thích ứng với tình trạng bệnh mãn tính

Khái niệm tự quản lý được hiểu như là hai quá

trình giáo dục và tự quản lý Nó trang bị cho

người bệnh những điều kiện, kỹ năng cần thiết

để giảm các tác động tiêu cực của bệnh, có

hoặc không có sự cộng tác với đội ngũ y tế

Hành vi tự quản lý của một cá nhân có ảnh

hưởng đến chăm sóc bệnh tiểu đường hằng

ngày và kết quả lâm sàng và chuyển hóa Nền

tảng của kết quả thành công trong ĐTĐ là tự

quản lý, chăm sóc hiệu quả [7]

Giáo dục tự quản lý đái tháo đường cải

thiện lâm sàng và chất lượng cuộc sống của

người bệnh ĐTĐ ít nhất là trong thời gian

ngắn Cụ thể, giáo dục tự quản lý đái tháo

đường giúp cải thiện về kiến thức, hành vi,

các kết cục điều trị của người bệnh ĐTĐ cả

típ 1 và 2, đặc biệt là kiểm soát đường huyết,

ổn định chỉ số HbA1C, huyết áp, BMI,

cholesterol [4], [6] Ngoài ra, nó còn quả hiệu

quả kinh tế, giúp người bệnh tiết kiệm chi phí

nhập viện bằng cách phòng ngừa để hạn chế

việc nhập viện và vào cấp cứu

Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói

riêng, có rất nhiều nghiên cứu về điều trị, chăm sóc bệnh ĐTĐ đặc biệt là ĐTĐ típ 2, có rất ít nghiên cứu về thực trạng, hành vi bệnh nhân tự quản lý bệnh ĐTĐ Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm bước đầu đánh giá hiệu quả của chương trình tư vấn, giáo dục sức khỏe về tự quản lý cho những người bệnh đái tháo đường típ 2 đang điều trị tại bệnh viện

Đa khoa Bạc Liêu và bệnh viện Đa Khoa

Thanh Vũ với các mục tiêu sau:

1 Xác định sự thay đổi về kiến thức, hành

vi, niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý của người bệnh đái tháo đường típ 2 trước và sau khi giáo dục sức khỏe

2 Xác định sự thay đổi đường huyết của người bệnh đái tháo đường típ 2 trước và sau khi giáo dục sức khỏe

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 2/2017 đến tháng 7/2017

2.2 Thiết kế nghiên cứu: Thực nghiệm

lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng

2.3 Đối tượng nghiên cứu:

Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đến điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Bạc Liêu và Bệnh viện

Đa Khoa Thanh Vũ từ tháng 02/2017 đến tháng 7/2017

Tiêu chí đưa vào:

- Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 (theo tiêu chuẩn chẩn đoán của hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2015) đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu và Bệnh viện Đa khoa Thanh

Vũ từ tháng 02/2017 đến tháng 7/2017

- Trên 18 tuổi

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ:

- Người bệnh bị tâm thần, đang mang thai

- Người bệnh có các bệnh cấp tính nặng (đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp tính, viêm gan cấp, suy thận cấp, viêm phổi nặng )

- Người bệnh câm, điếc, không có khả năng giao tiếp

- Người bệnh không có đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 3

- Người bệnh là nhân viên y tế

2.4 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn, áp

dụng công thức tính cỡ mẫu:

: độ lệch chuẩn 1

: độ lệch chuẩn 2

: trung bình 1

: trung bình 2

Trong nghiên cứu của Nazli (2008) [9]:

= 3,2 là độ lệch chuẩn về điểm hành vi

tự chăm sóc của người bệnh sau GDSK

= 4 là độ lệch chuẩn điểm hành vi tự

chăm sóc của người bệnh trước GDSK

= 21,9 điểm trung bình hành vi tự

chăm sóc của người bệnh sau GDSK

= 20 là điểm trung bình hành vi tự chăm

sóc của người bệnh trước GDSK

Thay vào công thức ta được n= 57,1 người

Vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 58 người/ nhóm

Dự trù mất mẫu 10%: 12 người Vậy tổng

mẫu của nghiên cứu là :

58 x 2+12 = 128 người

160 người bệnh ĐTĐ típ 2 đã được máy

tính chọn ngẫu nhiên (sử dụng hàm Random

trong Exel) từ danh sách người bệnh ĐTĐ đến

khám tại Khoa khám bệnh – Bệnh viện Đa

Khoa Bạc Liêu và Bệnh viện Đa Khoa Thanh

Vũ Có 140 người bệnh đáp ứng đúng, đủ tiêu

chí chọn vào và đồng ý tham gia vào nghiên

cứu

Phân nhóm ngẫu nhiên bằng cách: có 140

mảnh giấy được đánh số từ 1 đến 140 và xếp

lại vào phong bì (người đánh số sẽ không

tham gia vào bất cứ khâu nào của nghiên cứu

nữa) Điều tra viên sẽ đưa cho họ 1 phong bì

bất kỳ Nếu trong phong bì là số lẻ, người

bệnh được phân vào nhóm can thiệp, số chẵn

thì người bệnh sẽ được phân vào nhóm chứng

2.5 Công cụ thu thập số liệu

Chúng tôi sử dụng Bộ câu hỏi được dịch từ

phiên bản gốc tiếng Anh sang tiếng Việt với sự cho phép sử dụng của tác giả Các chuyên gia ngoại ngữ và bác sĩ nội tiết dịch xuôi và dịch ngược bộ câu hỏi giữa tiếng Anh và tiếng Việt theo qui trình của WHO để đảm bảo về ngữ nghĩa và tính chuyên môn của bộ câu hỏi trong quá trình chuyển ngữ

Cấu trúc bộ câu hỏi gồm 4 phần:

- Phần 1 bao gồm các câu hỏi đánh giá các đặc điểm nhân khẩu học

- Phần 2 gồm 16 câu hỏi kiến chung về bệnh đái tháo đường [4], [hu]

- Phần 3 gồm 12 câu hỏi đánh giá các hoạt động tự chăm sóc của bệnh nhân ĐTĐ típ 2 trong thời gian 7 ngày (1 tuần) vừa qua (C – SDSCA)

- Phần 4 gồm Gồm 16 câu hỏi đánh giá Niềm tin vào khả năng bản thân của người bệnh ĐTĐ típ 2 trong việc quản lý bệnh (C-DMSES)

Các phần 2,3,4, của bộ câu hỏi được tính điểm trung bình và so sánh trước sau can thiệp

Đồng thời, bộ câu hỏi được đánh giá độ tinh cậy Cronbach alpha bằng cách khảo sát thử trên 30 đối tượng

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp

2.7 Xử lý và phân tích số liệu:

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20 Thống kê mô tả: tần số, tỉ lệ % được sử

dụng để mô tả các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu và các biến định tính, điểm trung bình và độ lệch chuẩn được sử

dụng để mô tả cho các biến định lượng Thống kê phân tích: độ tin cậy hằng định

bên trong bộ câu hỏi được xác định bởi hệ số Cronbach’s alpha, sự khác biệt về điểm trung bình về kiến thức, hành vi, niềm tin vào khả năng bản thân trong nội tại nhóm can thiệp hoặc nhóm chứng trước vào sau giáo dục sức khỏe được xác định bằng phép kiểm T-test bắt cặp, giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp được xác định bằng phép kiểm T-test không bắt cặp

các biến số không thỏa điều kện T test sử dụng phép kiểm Mann-Whitney

Trang 4

2.8 Các biến số:

Biến số nền: tuổi, giới tính, dân tộc, tôn

giáo, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân,

Biến số đọc lập: kiến thức, niềm tin, hành

vi tự quản lý của người bệnh ĐTĐ típ 2 trước

giáo dục sức khỏe

Biến số phụ thuộc: kiến thức, niềm tin,

hành vi tự quản lý của người bệnh ĐTĐ típ 2 sau giáo dục sức khỏe

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu:

Nghiên cứu này được tiến hành sau khi được sự chấp thuận của hội đồng y đức Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh ĐTĐ típ 2 Biến số

p Tần

số (n)

Tỷ lệ (%)

Tần số (n)

Tỷ lệ (n)

Tần số (n)

Tỷ lệ (n)

Dân tộc

0,25**

Học vấn

0,49*

Nghề

nghiệp

0,21**

Công

Già, Nghỉ

Hôn

nhân

0,49**

Chung

sống

Trang 5

** Phép kiểm chính xác Fisher *** Phép kiểm T test không bắt cặp

Nhận xét: Qua kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về đặc

điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu giữa 2 nhóm cũng như giữa 2 cơ sở điều trị trước và sau can thiệp

3.2 Hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe

Bảng 3.2 So sánh kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp

trước và sau giáo dục sức khỏe

TV(KTPV)

Nhóm can thiệp

TV(KTPV)

Nhóm chứng

Kiến

thức

Nhận xét:

- Trước giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm can

thiệp và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,052)

- Sau giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ giữa nhóm can thiệp

và nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

- Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ ở nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p = 0,016)

- Sự khác biệt về kiến thức chung về bệnh ĐTĐ ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p< 0,001)

3.2.1 Niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTD típ 2 của đối tượng nghiên cứu:

Bảng 3.3 So sánh niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2

giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe

TV (KTPV)

Nhóm can thiệp

TV (KTPV)

Nhóm chứng

Nhận xét:

- Trước giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,564)

- Sau giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh

ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p <0,001)

- Sự khác biệt về niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p< 0,001)

- Sự khác biệt về niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 ở nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe không có ý nghĩa thống kê (p = 0,510)

Trang 6

3.2.2 Mức độ hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 trước và sau giáo dục sức khỏe:

Bảng 3.3 So sánh hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng

trước và sau khi giáo dục sức khỏe

TV(KTPV)

Nhóm can thiệp

TV(KTPV)

Nhóm chứng

Mức độ

hành vi

Nhận xét:

- Trước giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về mức độ hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,632)

- Sau giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về mức độ hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 giữa

nhóm can thiệp và nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p <0,001)

- Sự khác biệt về mức độ hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p< 0,001)

- Sự khác biệt về mức độ hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 ở nhóm chứng trước và sau giáo

dục sức khỏe không có ý nghĩa thống kê (p = 0,646)

3.3 Đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 trước và sau giáo dục sức khỏe:

Bảng 3.5 So sánh đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 giữa nhóm can thiệp

và nhóm chứng

TV (KTPV)

Nhóm can thiệp

TV (KTPV)

Nhóm chứng

Đường

huyết

lúc đói

** Phép kiểm phi tham số Wilcoxon * Phép kiểm Mann – Whithney

Nhận xét:

- Trước giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về trung bình đường huyết giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,401)

- Sau giáo dục sức khỏe: Sự khác biệt về về trung bình đường huyết giữa nhóm can thiệp và

nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,776)

- Sự khác biệt về trung bình đường huyết ở nhóm can thiệp trước và sau giáo dục sức khỏe

có ý nghĩa thống kê (p = 0,001)

- Sự khác biệt về trung bình đường huyết ở nhóm chứng trước và sau giáo dục sức khỏe có ý nghĩa thống kê (p = 0,027)

4 BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Trong số người bệnh ĐTĐ típ 2 được

phỏng vấn trước và sau can thiệp có 67,7% là

nữ Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu

trong và ngoài nước Nghiên cứu của Mai Yến

Linh (2015) cho thấy có đến 65,74% người bệnh ĐTĐ là nữ, Nguyễn Văn Lành (79,5% ) [8] Các báo cáo toàn cầu cũng cho thấy rằng trong vài thập niên của thế kỷ trước, nữ là đối tượng chính mắc ĐTĐ típ 2 với số mắc cao hơn so với nam

Trang 7

Trong những năm gần đây, các nhà khoa

học nhận thấy có sự dịch chuyển nhẹ về tỷ lệ

mắc ĐTĐ típ 2 từ nữ sang nam

Tuổi trung bình của người bệnh ĐTĐ típ 2

trong nghiên cứu của chúng tôi là 60,58 ±

8,66, nhỏ nhất là 39 tuổi và lớn nhất là 82

tuổi Kết quả này tương tự với các nghiên

cứu khác ở trong và ngoài nước Trong

nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Chi

(65,9±10,3) [6] Nguyên nhân của sự chênh

lệch này có thể do hiện nay bệnh ĐTĐ típ 2

đang trẻ hóa đối tượng mắc trên toàn cầu

cũng như ở nước ta Từ đó dẫn đến độ tuổi

trung bình của người bệnh ĐTĐ típ 2 trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với một

số nghiên cứu trước đây

4.2 Hiệu quả chương trình giáo dục sức

khỏe nâng cao khả năng tự quản lý bệnh

ĐTĐ típ 2:

4.2.1 Kiến thức:

Chương trình tư vấn, giáo dục sức khỏe đã

có hiệu quả nâng cao kiến thức của người

bệnh ĐTĐ típ 2, thể hiện rõ ở sự khác biệt về

điểm trung vị kiến thức của nhóm can thiệp

(13,5 điểm) và nhóm chứng (9 điểm),

(p<0,001)–bảng 3.2 Kết quả này phù hợp với

các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Thu

Thảo [4], Bradshaw [6] Đây là nền tảng của

sự thay đổi trong việc tự quản lý bệnh ở người

bệnh nói chung và người bệnh ĐTĐ típ 2 nói

riêng Đồng thời là cơ sở để tiến hành và duy

trì GDSK tốt hơn bởi vì GDSK không những

được tiến hành cho mọi người và vì lợi ích của

mọi người trong cộng đồng xã hội, mà còn

được mọi người tham gia thực hiện Mọi

người vừa là đối tượng của giáo dục sức khỏe

vừa là người tiến hành giáo dục sức khỏe

4.2.2 Niềm tin vào khả năng bản thân tự

quản lý của nguời bệnh

Trong nghiên cứu này cho thấy sau GDSK

mức độ niềm tin vào khả năng tự quản lý của

người bệnh ĐTĐ típ 2 cao hơn (65 điểm) so

với trước khi được giáo dục sức khỏe (46,5

điểm) – bảng 3.3 Từ đây, cho ta thấy chương

trình giáo dục sức khỏe có tác động tích cực

đến niềm tin vào khả năng bản thân tự quản lý

của người bệnh ĐTĐ típ 2 Điều này cũng

tương tự như kết quả nghiên cứu của Jone &

cộng sự và Odgers-Jewell sau giáo dục, nhận thức, cũng như sự tự tin của người bệnh sẽ tăng lên theo hướng tích cực

4.2.3 Mức độ hành vi tự quản lý của nguời bệnh

Mức độ hành vi tự quản lý của người bệnh ĐTĐ típ 2 trong nghiên cứu này nhìn chung

có sự khác biệt trước và sau giáo dục (p<0,001) Nhưng hành vi tự theo dõi đường huyết thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (p= 1) Cũng có thể nói chương trình giáo dục sức khỏe này chưa có tác dụng rõ rệt lên hành vi tự theo dõi đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 Điều này có thể lý giải do đa phần đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp là nông dân (chiếm 32,3%) và người cao tuổi (chiếm 28,5%), trình độ học vấn chưa cao (≤

cấp 1 chiếm 51,5 %) – Bảng 3.1 nên mặc dù

có sự thay đổi kiến thức, nhưng trong một thời gian ngắn (2 tháng) thì chưa làm thay đổi

được hành vi

Đây có thể là những rào cản cũng như thách thức cho việc thiết kế, triển khai sao cho chương trình GDSK thật sự phù hợp, có hiệu quả với các đối tượng khác nhau Theo tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Chi (2014), giữa niềm tin vào khả năng bản thân và hoạt động

tự chăm sóc có mối liên quan thuận, có ý nghĩa thống kê (r= 0,67, 0 <0,001) Niềm tin vào khả năng càng lớn thì hoạt động tự chăm sóc càng cao [6], tương tự như tác giả Sharoni (2012) cũng cho rằng niềm tin và hoạt động tự chăm sóc có mối liên quan với nhau tỷ lệ thuận với nhau Vậy nguyên nhân

có thể do niềm tin tự điều chỉnh đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 chưa thay đổi sau giáo dục (p= 0,909) nên dẫn đến chưa thay đổi hành vi

Thực tế, thông qua phỏng vấn, một số người bệnh mặc dù có máy thử đường huyết tại nhà vẫn ít tin rằng họ có thể chủ động kiểm tra và thực hiện thao tác đúng để theo dõi chính xác lượng đường trong máu Theo tác giả Ong, sự lo lắng khi phải sử dụng kim tiêm và đau đớn khi kiểm tra đường huyết có thể làm giảm niềm tin từ đó dẫn đến giảm hành vi của người bệnh Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc củng cố niềm tin của

Trang 8

người bệnh, từ đó cải thiện hành vi tự chăm

sóc Vì vậy, nhân viên y tế phải cân nhắc đến

những vấn đề này trong quá trình tư vấn cho

người bệnh

Người bệnh nên được thuyết phục rằng họ

có thể vượt qua mọi khó khăn và nên được

hướng dẫn về kỹ thuật trích tay ít đau và có

thể luân phiên thay đổi vị trí lấy máu như

cánh tay, bụng hay đùi để cho ngón tay được

nghỉ ngơi

4.2.4 Hiệu quả của chương trình can

thiệp đối với đường huyết của người bệnh

ĐTĐ típ 2:

Ở Bảng 3.5 Sau giáo dục sức khỏe đường

huyết lúc đói của nhóm can thiêp và nhóm

chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê

(p= 0,776)

Nhưng sự khác biệt đường huyết có ý

nghĩa thống kê ở nhóm can thiệp trước và sau

giáo dục sức khỏe (p= 0,001) Mặc dù, chưa

khẳng định được sự ảnh hưởng tích cực của

giáo dục sức khỏe lên đường huyết của nhóm

can thiệp so với nhóm chứng, nhưng trong

nghiên cứu này, kết quả cũng cho thấy sự cải

thiện của đường huyết trong nhóm người bệnh

được giáo dục sức khỏe so với lúc đầu

Điều này có thể được lý giải vì các nguyên

do sau: Thứ nhất, có lẽ do thời gian theo dõi

ngắn (8 tuần) chưa đủ để đánh giá chính xác

được sự thay đổi của đường huyết Thứ hai,

trong nhóm can thiệp, người bệnh được giáo

dục, hướng dẫn, về các nội dung tự quản lý

bệnh ĐTĐ típ 2 trong đó có phần tự theo dõi

đường huyết, ổn định đường huyết bằng cách

dùng thuốc, thực hiện chế độ ăn, tập thể

dục,… nên đã tác động làm tăng kiến thức,

niềm tin của người bệnh

Từ đó, tạo được sự thay đổi các hành vi tự

chăm sóc Từ các hành vi tự chăm sóc được

thay đổi tốt đó, tạo nên hiệu quả tác động trên

đường huyết lúc đói

Nhưng do thời gian theo dõi ngắn (8 tuần)

nên tác động này chỉ tạo được sự cải thiện

trong nội bộ nhóm can thiệp so với trước giáo

dục sức khỏe, mà chưa làm nổi bật rõ sự cải

thiện so với nhóm chứng

Nghiên cứu của Bradshaw (2015) [6] cũng

cho thấy thời gian là cần thiết để khảo sát tác

dụng của chương trình can thiệp cũng như sự thay đổi của chỉ số đường huyết

5 KẾT LUẬN 5.1 So sánh điểm trung vị kiến thức, niềm tin vào khả năng bản thân và hành vi

tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 trước và sau giáo đục sức khỏe:

Ở nhóm can thiệp, sau giáo dục sức khỏe điểm trung vị kiến thức (13,5 (10 - 15)), niềm tin vào khả năng bản thân (133 (115 – 142)) và hành vi tự quản lý của người bệnh ĐTĐ típ 2 (65 (58,5 – 71,7)) cao hơn so với trước khi giáo dục sức khỏe (8 (6-9)), (99 (82 - 126), (50 (43 – 54))

Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê ở nhóm chứng Sau giáo dục sức khỏe, nhóm can thiệp có điểm trung vị kiến thức (13,5 (10 – 15), niềm tin vào khả năng bản thân (133 (115 – 142), và hành vi tự quản lý bệnh ĐTĐ típ 2 (65 (58,5 – 71,7), cao hơn nhóm chứng (9 (8 - 11)), (93 (76,7 – 113,5)), (46,5 (37 – 54)) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0.001)

5.2 So sánh điểm trung vị đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 trước và sau giáo dục sức khỏe:

Ở nhóm can thiệp, sau giáo dục sức khỏe điểm trung vị đường huyết lúc đói của người bệnh ĐTĐ típ 2 (7,2 (6,42 – 8,5)) thấp hơn so với trước khi giáo dục sức khỏe (7,8 (6,9 – 9,47)), (p= 0,001) Ở nhóm chứng sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p=0,027) Sau giáo dục sức khỏe, điểm trung vị đường huyết lúc đói của người bệnh ĐTĐ típ

2 ở nhóm can thiệp (7,2 (6,42 – 8,5)) thấp hơn

so với nhóm chứng (7,3 (6,5 – 9,0)) Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,776)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2015) Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2015 - 2025 Bộ Y

tế

2 Mai Yến Linh (2015) Rào cản kiểm soát

Trang 9

đường huyết và các yếu tố liên quan trên

bệnh nhân Đái tháo đường type 2 cao tuổi

tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức

năm 2013-2014, Đại Học Y Dược Thành

Phố Hồ Chí Minh, tr 64

3 Nguyễn Thị Quỳnh Chi (2014) Niềm tin

vào khả năng bản thân và hoạt động tự

chăm sóc của người bệnh Đái tháo đường

típ 2 Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Khoa

Kỹ thuật - Điều dưỡng Y học, Đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh tr 30

4 Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Thanh

Minh (2009) "Đánh giá ảnh hưởng truyền

thông giáo dục về kiến thức, thái độ thực

hành & các chỉ số kiểm soát trên bệnh

nhân đái tháo đường típ II" Y Hoc TP Ho

Chi Minh 13 (6), tr 71 - 78

5 Nguyễn Văn Lành (2014) Thực trạng

bệnh đái tháo đường ở người Khmer tỉnh

Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số

biện pháp can thiệp, Luận văn tiến sĩ y

học, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, tr

66

6 Bradshaw RD (2015) Diabetes

Self-Management Education for Adults With

Type 2 Diabetes Mellitus, Doctoral

studies, Walden University, pp 47 – 49

7 Hu J, Gruber K J, Garcia A A (2013)

"Diabetes knowledge among older adults

with diabetes in Beijing, China" Journal

of Clinical Nursing, 22 (1-2), 51-60

8 Min Y (2013) Effects of self-management

education on diabetic control among patients with type 2 diabetes : a systematic review, Degree of Master of

Public Health Project, School of Public Health, The University of Hong Kong,

pages 11 - 12

9 Nazli A (2008) "The effect of education

behaviours and self effcacy of patients

with type 2 diabetes" AUSTRALIAN

JOURNAL OF ADVANCED NURSING 26

(2), pp 66 - 74

10 Odgers-Jewell K, Ball LE, Kelly JT, Isenring AE, Reidlinger DP, Thomas R (2017) "Effectiveness of group-based

individuals with Type 2 diabetes: a systematic review with meta-analyses and

meta-regression" Diabet Med., 34 (8), pp

1027-1039

Ngày đăng: 15/09/2021, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w