1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi

12 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạ đường huyết (HĐH) là một trong những biến chứng quan trọng của đái tháo đường. Nhận diện những bệnh nhân có nguy cơ cao là chiến lược trọng yếu để làm giảm gánh nặng của ĐTĐ. Nguy cơ HĐH nặng ở bệnh nhân lớn tuổi thì cao, đặc biệt trong dân số lão trên 60 tuổi. Hạ đường huyết nặng tác động lên kinh tế và ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống. Bài viết trình bày xác định nhân trắc, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng; các yếu tố nguy cơ HĐH ở bệnh nhân ĐTĐ nội trú.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ HẠ ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CAO TUỔI

Châu Mỹ Chi

Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

DOI: 10.47122/vjde.2021.46.9

TÓM TẮT

Giới thiệu: Hạ đường huyết (HĐH) là một

trong những biến chứng quan trọng của đái

tháo đường Nhận diện những bệnh nhân có

nguy cơ cao là chiến lược trọng yếu để làm

giảm gánh nặng của ĐTĐ Nguy cơ HĐH

nặng ở bệnh nhân lớn tuổi thì cao, đặc biệt

trong dân số lão trên 60 tuổi Hạ đường huyết

nặng tác động lên kinh tế và ảnh hưởng xấu

đến chất lượng cuộc sống Mục tiêu: Xác định

nhân trắc, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng;

các yếu tố nguy cơ HĐH ở bệnh nhân ĐTĐ

nội trú Đối tượng và phương pháp: Chúng

tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang bệnh nhân

ĐTĐ trên 60 tuổi bị hạ đường huyết nhập viện

tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

Kết quả: 105 bệnh nhân được nghiên cứu

Tuổi trung bình 75,25±7,6 Nữ chiếm tỉ lệ cao

hơn nam (65,71% so với 34,29%) Tiền sử có

HĐH trước đó 24,76% Bệnh thận từ giai đọan

3-5: 53,33% Thiếu máu mạn (Hb<11g/dl)

chiếm 41,9% Thay đổi tri giác từ lơ mơ đến

hôn mê 72,38% Bệnh nhân có thiếu máu cơ

tim 81,9%; Rối loạn nhịp tim 30,48%; Tăng

huyết áp 95,24%; Rối lọan lipid máu:95,71%;

Tiền sử có đột quỵ 26,67%; Nhiễm trùng bàn

chân 10,48%; có 87,62% không biết xử trí

HĐH kịp thời; Kết cục khi ra viện: hồi phục là

103 trường hợp (98,1%), tử vong 2 trường hợp

(1,9%); Các yếu tố hay gây HĐH là ăn kiêng

quá mức (61,9%), thay đổi liều điều trị

(13,33%), có bệnh cấp tính kèm ăn uống kém

(12,38%), bỏ ăn hoặc ăn muộn (6,67%), nôn

ói (5,71%) Thuốc gây HĐH thì đơn chất

chiếm 40%, phối hợp thuốc 60%, thuốc gây

HĐH hay gặp là insulin hoặc sulfonylureas;

HĐH có liên quan đến bệnh cấp tính kèm theo

(p=0,002), liên quan đến tri giác (p=0,0002),

liên quan đến mức độ lọc cầu thận (p=0,04) và

mức độ thiếu máu (p=0,04) Kết luận: Hạ

đường huyết là biến chứng chung hay gặp ở

bệnh nhân ĐTĐ Hạ đường huyết ở người lớn

tuổi phải được tích cực tránh để giảm mắc và

tử vong Giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc rất quan trọng trong phòng ngừa và điều trị hạ đường huyết

Từ khóa: Đái tháo đường, hạ đường huyết,

người lớn tuổi

ABSTRACT

Clinical characteristics, laboratory tests and some hypoglycemia risk factors of hypoglycemia in elderly diabetic inpatients

Chau My Chi Tien Giang Central hospital

Background: Hypoglycemia is one of the

most important complications of diabetes treatment Identifying patients at higher risk is

a key strategy to reduce the burden of

hypoglycemia is higher in elderly patients especially in the geriatric population above sixty Severe hypoglycemia has a significant economic impact and adverse effect on quality

of life Objectives: To assess demographic and

clinical characteristics and laboratory tests of hypoglycemia; to study the risk factors of hypoglycemia in elderly diabetic inpatients

Methods: We perform cross-sectional study on

hypoglycemia indiduals who are above sixty

at Tien Giang Center General Hospital

Results: One hundred and five diabetic

inpatients diagnosed to have hypoglycemia was studied The patients’ mean age was 75.25±7.6 Hypoglycemia was higher in females than in males (65.71% vs 34.29%) Individuals with past history of hypoglycemia was 24.76% The prevalence of CKD stages 3

to 5 was 53.33% Chronic anemia (Hb

<11g/dl) was 41.9%, loss of consciousness to coma 72.38% Among patients who reported hypoglycemia, 81.9% of patients had ischemic heart disease; 30.48% of patients had

Trang 2

arrhythmia; 95.24% of patients had

hypertension; 95.71% of patients had lipid

disorders; past history of stroke was 26.67%;

foot infection was 10.48%; 87.62% of patients

didn’t learn to treat low blood sugar promptly

Outcome: Recovery from hypoglycemia was

103 cases (98.1%), death was 2 cases (1.9%)

Some risk factors causing hypoglycemia were

little foods intake or excessive abstinence

(61.9%), change in diabetes medication dose

(13.33%), little foods intake and acute

infections (12.38%), skipping or delayed a

meal (6.67%), vomiting (5.71%) The risk of

hypoglycemia in case of monotherapy was

40%, in combination was 60% Most of

hypoglycemia patients have been treated with

insulin or sulfonylurea alone or in

combination Hypoglycemia associated with

acute infections (p=0.002), with loss of

consciousness (0.0002); with Renal

dysfunction and with anemia (p=0.04)

Conclusion: Hypoglycemia still represents a

common acute complication for individuals

with diabetes Hypoglycemia in the older adult

must be proactively avoided to decrease

significant morbidity and mortality Education

of the patients and caregivers is important in

prevention and treatment of hypoglycemia

Keywords: Diabetes mellitus, elderly,

hypoglycemia,…

Chịu trách nhiệm chính: Châu Mỹ Chi

Ngày nhận bài: 09/01/2021

Ngày phản biện khoa học: 09/02/2021

Ngày duyệt bài: 01/04/2021

Email: chichaudr@gmail.com

Điện thoại: 0918046515

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ đường huyết (HĐH) là tình trạng glucose

máu giảm dưới mức bình thường Theo Hiệp hội

Đái tháo đường Mỹ thì HĐH khi đường huyết

giảm dưới 70 mg / dl (3,9 mmol / l) Hạ đường

huyết là một trong những biến chứng cấp tính

thường gặp của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Hạ

đường huyết do thuốc có thể xảy ra trong bất kỳ

loại bệnh ĐTĐ khi điều trị như với insulin hoặc

sulfonylureas Hạ đường huyết nặng cần sự trợ

giúp của người khác để cung cấp carbohydrate,

glucagon, hoặc các hoạt động khác Theo UKDPS mỗi năm HĐH nặng xảy ra ở 4 – 6/

1000 bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ típ 2 được điều trị bằng sulfonylureas (glibenclamide, chlorpropamide) và 23/1000 bệnh nhân được điều trị bằng insulin Hạ đường huyết nặng có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời Biểu hiện lâm sàng của HĐH không chỉ phụ thuộc về mức đường huyết hiện tại mà còn lệ thuộc tốc độ giảm đường huyết, thời gian và mức độ kiểm soát trao đổi chất của bệnh, tuổi, loại thuốc Hạ đường huyết có các biểu hiện như đổ mồ hôi, run, đói, đánh trống ngực Những triệu chứng phụ thuộc vào sự tăng tiết catecholamine, kích hoạt hệ thống thần kinh thực vật Hạ đường huyết vừa có thể rối loạn chức năng hệ thống thần kinh trung ương biểu hiện như chóng mặt, lo lắng, bối rối, mất điều hòa, mờ mắt Mức glucose máu dưới 45 mg / dl (2,5 mmol / l) có thể gây xáo trộn hệ thống thần kinh trung ương như bị mất ý thức và co giật Hôn mê do HĐH là một cấp cứu y tế thường liên quan với mức đường huyết khoảng 20 mg / dl (1,1mmol / l) Hạ đường huyết nặng kéo dài có thể dẫn đến rối loạn thần kinh vĩnh viễn Hạ đường huyết tái phát nhiều lần có thể dẫn đến thoái hóa não với rối loạn cảm xúc và giảm chức năng nhận thức Hạ đường huyết cũng tác động tiêu cực đến tim mạch, làm mất triệu chứng thiếu máu cơ tim, làm rối loạn nhịp thất (QT kéo dài) Hạ đường huyết cũng là nguyên nhân gây

té ngã, chấn thương, tai nạn giao thông ở bệnh nhân ĐTĐ Hạ đường huyết nặng là một biến chứng với những hậu quả về tâm lý và xã hội đối với các bệnh nhân và gia đình của họ

Hạ đường huyết ở người cao tuổi khó nhận biết do triệu chứng không điển hình, chủ yếu là các triệu chứng thần kinh, dễ bỏ qua chẩn đoán khi có triệu chứng giống như đột quỵ (chóng mặt, nhìn mờ,…), suy giảm nhận thức (rối loạn

lo âu, thay đổi ý thức, ), người cao tuổi thường

đi kèm bệnh lý sẵn có, đặc biệt là sa sút trí tuệ, khiến bệnh nhân không tự nhận biết được triệu chứng của HĐH Người cao tuổi bên cạnh tuổi

là yếu tố nguy cơ gây HĐH còn có các yếu tố khác như sử dụng thuốc chưa hợp lý, bệnh lý nội khoa khác đi kèm… Hơn nữa bệnh nhân đã HĐH rất dễ bị hạ đường huyết tái phát nếu như

Trang 3

các yếu tố nguy cơ vẫn còn tồn tại Tần suất và

mức độ nghiêm trọng của HĐH ảnh hưởng tiêu

cực đến chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sợ hạ

đường huyết trong tương lai Nỗi sợ này có liên

quan đến giảm tự chăm sóc và kiểm soát

glucose kém Vì vậy việc tìm hiểu đặc điểm

lâm sàng, cận lâm sàng HĐH ở người cao tuổi,

nhận diện các yếu tố nguy cơ thường gặp để

giáo dục bệnh nhân, thân nhân bệnh nhân

phòng tránh các đợt HĐH mà vẫn đảm bảo

được mục tiêu điều trị, góp phần nâng cao chất

lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ của người

bệnh là một vấn đề cần đặt ra Vì vậy chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài này Mục tiêu

nghiên cứu:

1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng về

hạ đường huyết ở người cao tuổi

2 Xác định tỉ lệ các yếu tố nguy cơ hạ

đường huyết ở người cao tuổi

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

 Đối tượng nghiên cứu:

Bệnh nhân đái tháo đường bị hạ đường

huyết và nhập viện tại Bệnh Viện Đa Khoa

Trung tâm Tiền Giang

 Tiêu chuẩn chọn bệnh:

- Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường: Dựa

vào tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA năm 2010

- Đang điều trị ngoại trú bằng thuốc hạ đường huyết uống hoặc chích insulin đơn thuần hoặc phối hợp cả thuốc uống và chích

- Đường huyết lúc nhập viện ≤ 70mg/dl (≤3,9mmol/l) có hoặc không có kèm triệu chứng hạ đường huyết

- Tuổi từ 60 trở lên

 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các bệnh nhân bị hạ đường huyết nhưng không bị đái tháo đường trước đó

- Bệnh nhân đái tháo đường được chẩn đoán nhưng chỉ điều trị bằng chế độ ăn và tập thể dục

- Hạ đường huyết trong khi đang nằm viện

 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên

cứu cắt ngang, phân tích

 Phương pháp thu thập số liệu:

Hỏi và khám lâm sàng theo mẫu nghiên cứu đã thiết kế

Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Stata 8.0

để xử lý số liệu

Các biến liên tục được mô tả ở dạng trung bình± độ lệch chuẩn, các biến định tính được trình bày tỉ lệ phần trăm

So sánh các trị số trung bình bằng phép kiểm chi bình phương ở cỡ mẫu >5 ở mỗi ô, phép kiểm chính xác Fisher cho cỡ mẫu <5 Ngưỡng có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

 Cỡ mẫu: Lấy mẫu theo công thức

Z2

1 - α/2 P (1 – P)

n = d2 1.962 x (0.5)(0.5)

n = = 97 0.1

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu được thực hiện trên 105 bệnh nhân HĐH nhập viện, kết quả:

3.1 Đặc điểm nhân trắc, lâm sàng và cận lâm sàng

Gia đình đưa vào viện

Xe chuyển viện

Cấp cứu 115

85,71% (n=90) 13,33% (n=14)

0,95% (n=1)

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về cách thức vào viện

Trang 4

Bảng 3.1 Phân bố về địa dư

36 (34,29%)

69 (65,71%)

Đặc điểm về giới

Nam Nữ

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về giới

33

41

31

0 10 20 30 40 50

60-70 t 71-80 t ≥81 t

75,25±7,6 (60-91 t)

Biểu đồ 3.3 Phân bố theo độ tuổi

Trang 5

0 10 20 30 40 50 60 0-8 giờ (39/105): 37.14%

8-20 giờ (53/105) 50.48%

≥ 20 giờ (13/105) 12.38%

Biểu đồ 3.4 Thời gian vào viện Bảng 3.2 Đăc điểm về các thông số nghiên cứu

79 (75,24%)

15 (14,29%)) 11 (10,47%)

0 20 40 60 80 100

HĐH 1 lần HĐH 2 lần HĐH >2 lần

HĐH 1 lần HĐH 2 lần HĐH > 2 lần

Biểu đồ 3.5 Tiền sử hạ đường huyết

Trang 6

Bảng 3.3 Xử trí HĐH trước nhập viện

3.2 Đặc điểm các bệnh lý kèm theo hoặc biến chứng

Bảng 3.4 Đặc điểm về chức năng thận (Tính theo công thức MDRD)

Giai đoạn MDRD (ml/phút/1,73m 2 ) Số lượng (N) Tỉ lệ (%)

Bảng 3.5 Mức độ thiếu máu

Bảng 3.6 Tình trạng tri giác lúc nhâp viện:

Bảng 3.7 Bệnh lý cấp tính đi kèm

Bảng 3.8 Bệnh lý đi kèm hoặc biến chứng

Trang 7

52

44

Nặng, ĐH<20mg/dl (n=9; 8,57%)

TB, ĐH: 20-45mg/dl (n=52; 49,52%) Nhẹ, ĐH>45mg/dl (n=44; 41,9%)

Biểu đồ 3.6 Phân nhóm mức đường huyết

Bảng 3.9 Kết cục ra viện

3.3 Xác định tỉ lệ các yếu tố nguy cơ và mối liên quan với hạ đường huyết

7 (6,67%)

65(61,9%)

13 (12,38%) 14 (13,33%)

6(5,71%)

0 10 20 30 40 50 60 70

mức

Bệnh cấp tính, ăn uống kém

Thay đổi liều điều trị

Nôn ói

Các yếu tố gây hạ đường huyết

Biểu đồ 3.7 Các yếu tố gây hạ đường huyết

Trang 8

Bảng 3.10 Đặc điểm về số thuốc điều trị HĐH

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa HĐH với các yếu tố

HGB

Trang 9

Tri giác 0,0002

4 BÀN LUẬN

Nghiên cứu tiến hành thực hiện 105 bệnh

nhân, kết quả đạt được như sau:

4.1 Đặc điểm nhân trắc, lâm sàng và cận

lâm sàng

Đa số các trường hợp được người thân và

gia đình trực tiếp đưa vào bệnh viện (87,71%);

chuyển viện từ tuyến y tế huyện 13,33% Đây

là những trường hợp nặng, hạ đường huyết

kéo dài hoặc khó chẩn đoán, có bệnh lý nền

hoặc cấp tính kèm theo; chỉ có 1trường hợp

(0,95%) gọi cấp cứu 115 Hạ đường huyết là

cấp cứu nội khoa cần được chẩn đoán nhanh

và đưa nhanh vào viện Bệnh nhân hôn mê

hoặc bệnh nhân còn tỉnh nhưng chưa biết xử

trí tại nhà thì cấp cứu 115 là phương tiện có

thể nhanh chóng đưa bệnh nhân vào viện nếu

được vận dụng tốt

Trong 105 trường hợp hạ đường huyết

nhập viện thì khu vực Mỹ Tho chiếm 41,9%,

kế đến là Chợ Gạo (25,71%), và Châu Thành

(15,24) Hạ đường huyết là cấp cứu đa số

được điều trị ổn nếu được nhận diện sớm

Trong nghiên cứu các khu vực còn lại có số

lượng ít có lẽ bệnh nhân HĐH vào các tuyến

cơ sở đã được điều trị ổn

Theo thống kê của Tổng cục Dân số Kế

hoạch hóa gia đình, hiện nay Việt Nam có

khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11%

dân số Người cao tuổi Việt Nam cũng đối

diện với gánh nặng bệnh tật kép, bị nhiều bệnh

một lúc, đặc biệt là các bệnh nội khoa mãn

tính (đái tháo đường, huyết áp, bệnh phổi tắt

nghẽn mãn tính…) Riêng tỉnh Tiền Giang số

người cao tuổi tăng nhanh những năm gần đây,

tỉ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên năm 2016

chiếm 13,04%

Tuổi trung bình trong nghiên cứu là

75,25±7,6 Nữ chiếm tỉ lệ cao hơn nam

(65,71% so với 34,29%) Hạ đường huyết là

một vấn đề hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ cao

tuổi Lão hóa làm thay đổi nhận thức, triệu

chứng và đáp ứng điều hòa hormone nội tiết tố với HĐH Tuổi cao làm tăng nguy cơ không nhận biết HĐH cũng như làm HĐH nặng tái phát Mặc dù HĐH ở người cao tuổi là hậu quả hay gặp của kiểm soát đường huyết chặt chẽ, nhiều bệnh đồng mắc như bệnh thận mãn, suy tim mãn, suy dinh dưỡng và sử dụng nhiều thuốc có thể tăng nguy cơ biến chứng này Ở người cao tuổi, các đợt HĐH làm thay đổi lượng máu lưu thông ở não làm tăng nguy cơ thiệt hại thần kinh

Hạ đường huyết về đêm xảy ra trong khỏang thời gian từ 20 giờ đến 8 giờ sáng có

52 trường hợp, chiếm tỉ lệ 49,52% Tỉ lệ này chiếm khá cao ở người lớn tuổi Điều này phải đặc biệt lưu tâm vì HĐH về đêm liên quan đến hôn mê, co giật, chết trên giường bệnh nếu qua khỏi cũng là nguyên nhân làm rối loạn chức năng nhận thức HĐH về đêm đôi khi không có triệu chứng và bệnh nhân tử vong do rối lọan tim mạch Đây cũng là dạng HĐH không được cảnh báo, không có triệu chứng trước để cảnh báo điều trị nên có thể khó chẩn đoán và tăng nguy cơ HĐH không được cảnh báo trong 48-72 giờ tiếp theo

Trong số bệnh nhân hạ đường huyết có 26 trường hợp đã từng bị HĐH trước đó, có 10 trường hợp (10,47%) hạ đường huyết nhiều lần phải nhập viện Tuy nhiên khi khảo sát về hiểu biết cơ bản để xử trí HĐH khi bệnh nhân còn tỉnh, uống được trước khi được đưa đến bệnh viện cấp cứu có tới 92 trường hợp (87,62%) không biết cách xử trí Điều này cho thấy cần tăng cường hướng dẫn người bệnh và thân nhân người bệnh cách nhận diện và xử trí

hạ đường huyết khi người bệnh còn tỉnh táo dưới các hình thức như thông qua bác sĩ trực tiếp điều trị, điều dưỡng khoa nội tiết, sinh hoạt câu lạc bộ bệnh nhân, tờ rơi…mỗi người bệnh nên trang bị 1 máy thử đường huyết cá nhân, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi, điều trị insulin, phối hợp nhiều thuốc hoặc sống một

Trang 10

mình không người hỗ trợ…Việc không nhận

biết được HĐH sẽ trì hoãn việc cấp cứu người

bệnh làm hạ đường huyết nặng hơn đưa đến

rối loạn chức năng não và để lại hậu quả nặng

nề về sau ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

thậm chí đưa đến tử vong nếu không cứu chữa

kịp thời

Masahiro Fukuda và cộng sự trong nghiên

cứu “ Khảo sát hạ đường huyết ở người cao

tuổi đái tháo đường týp 2 tại Nhật Bản” cho

thấy thời gian khám một bệnh nhân ĐTĐ dưới

10 phút là ngắn chưa đủ để khai thác lối sống

của người bệnh và người bệnh chưa đủ hiểu về

HĐH và đề nghị cần tập trung vào vấn đề này

hơn nữa trong các lần khám Trong khi đó tại

Việt Nam dù đã được Bộ Y tế khuyến cáo bác

sĩ không khám quá 65 bệnh mỗi ngày để tăng

cường tư vấn người bệnh nhưng thực tế vẫn

còn quá tải xảy ra ở các bệnh viện và bệnh

nhân được bác sĩ khám và tư vấn trong 10

phút vẫn còn là điều cần phấn đấu trong tương

lai

4.2 Đặc điểm các bệnh lý kèm theo hoặc

biến chứng của bệnh

Về chức năng thận: Độ lọc cầu thận trung

bình ở nhóm nghiên cứu là 58,6±25,81

ml/phút/1,73m2

Đa số thuốc điều trị ĐTĐ được chuyển hóa

và bài tiết qua thận Khi thận bị suy giảm thì

sẽ làm kéo dài thời gian hoạt động của thuốc,

gây HĐH nếu không điều chỉnh liều ở những

đối tượng này Theo Escorcio và cộng sự có

khoảng 40% bệnh nhân ĐTĐ bị ảnh hưởng

bởi chức năng thận Nghiên cứu của chúng tôi

vì đối tượng là người cao tuổi nên tỉ lệ bệnh

nhân có mức độ lọc cầu thận ≥ giai đoạn 3

chiếm khá cao (53,35%)

Về mức độ thiếu máu: Xảy ra khi hồng cầu

máu không đủ Điều này làm biến chứng của

ĐTĐ dễ xảy ra hơn như tổn thương ở mắt,

thần kinh Thiếu máu sẽ làm trầm trọng hơn

bệnh lý mạch máu, tim mạch, bệnh thận ở

người ĐTĐ Sự gia tăng các yếu tố tiền viêm

đóng vai trò quan trọng trong đề kháng insulin

và làm gia tăng xuất hiện biến chứng tim mạch

biến chứng mạch máu lớn, mạch máu nhỏ,

bệnh thận và thiếu máu Tăng các cytokine đặc

biệt là IL6 sẽ làm ảnh hưởng việc tạo ra

erythropoietin và thúc đẩy chết tế bào máu chưa trưởng thành dẫn đến giảm hemoglobin máu Biến chứng bệnh thận ĐTĐ cũng gây thiếu máu Thận bị suy sẽ không đủ tiết hormon erythropoietin giúp tủy xương tạo hồng cầu Thiếu máu là dấu hiệu sớm của bệnh thận ĐTĐ Ngoài ra 1 số thuốc điều trị ĐTĐ có thể làm giảm protein hemoglobin cần cho vận chuyển oxy trong máu Một số trường hợp thiếu máu có thể do chạy thận nhân tạo Nghiên cứu của chúng tôi thiếu máu xảy ra khi HGB <110g/l chiếm 42,9% Nếu theo định nghĩa thiếu máu của The National Kidney Foundation thì thiếu máu trong bệnh thận mạn khi mức Hb < 13,5 g/dL ở nam và 12,0 g/dL ở

nữ thì tỷ lệ thiếu máu của nghiên cứu chúng tôi sẽ còn cao hơn nữa

Thiếu máu sẽ làm giảm hoạt động thể lực, mệt mỏi, chán ăn, trầm cảm, rối loạn chức năng nhận thức, giảm hoạt động tình dục và các yếu tố khác nũa làm tăng nguy cơ tim mạch giảm chất lượng cuộc sống cũng như giảm tuổi thọ Vì vậy bệnh nhân cần phải được chẩn đoán và điều trị sớm góp phần vào sinh bệnh học, tiến triển bệnh tim mạch và mức độ năng hơn của bệnh lý võng mạc và bệnh thận ĐTĐ Kiểm tra thường xuyên thiếu máu cùng với các biến chứng khác liên quan đến ĐTĐ sẻ giúp làm chậm sự tiến triển biến chứng mạch máu ở những bệnh nhân này

Về tình trạng tri giác và kết cục ra viện: Trong nghiên cứu của chúng tôi tình trạng tri giác còn tỉnh chiếm 27,62%, lơ mơ 55,24% và hôn mê chiếm 17,14% Mức đường huyết từ 45-70mg/dl chiếm 41,9%; từ 20-45mg/dl chiếm 49,52%; đường huyết <20mg/dl chiếm 8,57% Kết cục khi ra viện tỉnh hòan tòan là 98,1%; tử vong 1,9%

Biểu hiện lâm sàng của HĐH phụ thuộc vào mức đường huyết hiện tại, tốc độ giảm đường trong máu, thời gian và mức độ kiểm soát chuyển hóa, tuổi, biến chứng đồng thời, các đợt HĐH nặng trước đó và thuốc gây HĐH HĐH có các biểu hiện như vã mồ hôi, run, đói, đánh trống ngực Các triệu chứng phụ thuộc vào sự tăng tiết của catecholamine, kích hoạt thần kinh tự chủ hệ thống Có thể có các biểu hiện khác như khi thay đổi tâm trạng

Ngày đăng: 15/09/2021, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w