1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rối loạn điện giải ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

7 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 665,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm thường gặp với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Rối loạn điện giải là một trong những rối loạn không phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường nhưng rất ít thông tin về rối loạn loạn điện giải trên đối tượng đái tháo đường Các rối loạn điện giải thường gặp là Natri, Kali, Magnesium.

Trang 1

RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Hồ Trường Bảo Long

Bệnh viện đa khoa Lâm Đồng

DOI: 10.47122/vjde.2021.46.8

TÓM TẮT

Bệnh đái tháo đường là một trong những

bệnh không lây nhiểm thường gặp với tỷ lệ

mắc bệnh và tử vong cao Rối loạn điện giải là

một trong những rối loạn không phổ biến ở

bệnh nhân đái tháo đường nhưng rất ít thông

tin về rối loạn loạn điện giải trên đối tượng đái

tháo đường Các rối loạn điện giải thường gặp

là Natri, Kali, Magnesium Rối loạn điện giải

có thể liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ bệnh tật

và tử vong Những rối loạn này đặc biệt

thường gặp ở đái tháo đường mất bù, người

cao tuổi hoặc có suy thận Bên cạnh đó sử

dụng các thuốc điều trị đái tháo đường hoặc

bệnh kèm cũng có thể gây ra các rối loạn này

Vì thế nắm rõ cơ chế sinh lý bệnh của những

rối loạn này sẽ dễ thành công hơn trong việc

điều trị Các bác sỹ lâm sàng cần lựa chọn hợp

lý giữa các thuốc điều trị đái tháo đường

không chỉ dựa vào hiệu quả làm giảm glucose

máu và giảm nguy cơ tim mạch mà còn chú ý

đến nguy cơ gây rối loạn điện giải hoặc thăng

bằng toan-kiềm của bệnh nhân Ngưng dùng

các thuốc có khả năng gây rối loạn điện giải,

cũng như kiểm soát chặt chẽ đường máu có

tầm quan trọng đặc biệt trong việc ngăn ngừa

rối loạn điện giải ở bệnh nhân đái tháo dường

Nồng độ các chất điện giải cần được xem như

xét nghiệm thường quy trong theo dõi điều trị

bệnh nhân đái tháo đường

ABSTRACT

Electrolyte disturbance in type 2

diabetic patients

Ho Truong Bao Long Lam Dong general hospital

Type 2 Diabetes mellitus is one of the most

associated with high morbidity and mortality

Electrolyte disturbances are not uncommon

among diabetic patients in hospital However,

there are limited data on the magnitude of

electrolyte disturbances in the diabetic population Common electrolyte disorders are sodium, potassium, magnesium and may be associated with an increase in morbidity and mortality These disorders are particularly common in decompensated diabetes, the elderly, or with renal failure Besides the use

of drugs for diabetes mellitus or comorbidities can also cause these disorders Therefore, knowing the pathophysiology of electrolyte disturbance will be more successful in treatment Clinicians need to make the right choice between antidiabetic agents not only on their effectiveness in lowering blood glucose and reducing cardiovascular risk, but also on the risk of electrolyte and acid–base

Discontinuation of potentially disruptive drugs, as well as tight control of blood glucose, is of particular importance in the prevention of electrolyte disturbances in diabetic patients Electrolyte concentrations should be considered as a routine test in the monitoring and treatment of diabetic patients Chịu trách nhiệm chính: Hồ Trường Bảo Long

Ngày nhận bài: 09/01/2021 Ngày phản biện khoa học: 09/02/2021 Ngày duyệt bài: 01/04/2021

Email: pmbslong@gmail.com Điện thoại: 0983029373

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người lớn (độ tuổi 20-79) tương đương 1 trong

11 người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Dự đoán vào năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 700 triệu người Bệnh đái tháo đường gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi [1] Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính, phức tạp cần chăm sóc điều trị liên

Trang 2

tục với các chiến lược làm giảm nhiều yếu tố

nguy cơ ngoài việc kiểm soát glucose máu [2]

Các rối loạn điện giải (RLĐG) mắc phải

trong cộng đồng, dù mạn tính hay vừa phải,

đều liên quan đến tiên lượng xấu RLĐG chủ

yếu được phát hiện ở BN nội trú trên nhiều đối

tượng bệnh (từ BN không triệu chứng đến BN

rất nặng), làm gia tăng tỷ lệ thương tật và tử

vong Trong thực hành lâm sàng, chúng ta

thường gặp tình trạng RLĐG, đặc biệt trong

quá trình theo dõi điều trị bệnh nhân (BN) đái

tháo đường type 2 (T2DM) Việc làm rõ cơ

chế sinh lý bệnh, xét nghiệm thường quy nồng

độ các chất điện giải và điều chỉnh kịp thời

RLĐG sẽ giúp chúng ta thành công hơn trong

điều trị BN T2DM, góp phần hạn chế thương

tật và tử vong [6]

2 VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT ĐIỆN

GIẢI TRONG ĐTĐ TÍP 2

ĐTĐ là một trong những bệnh có sự tăng

tần suất các bất thường điện giải, vì trên BN

ĐTĐ, có nhiều nguyên nhân sinh lý bệnh cũng

là các yếu tố thường gặp gây RLĐG như:

 Tình trạng dinh dưỡng

 Khả năng hấp thu của dạ dày-ruột

 Bất thường toan-kiềm kèm theo

 Thuốc điều trị

 Các bệnh kèm (chủ yếu bệnh thận)

 Bệnh cấp tính, đơn độc hoặc phối hợp

Rối loạn cân bằng điện giải có thể dẫn đến

các rối loạn sinh lý học, vì các chất điện giải

đóng vai trò quan trọng trong một số cơ chế

của cơ thể như:

 Giúp duy trì cân bằng toan - kiềm

 Duy trì điện thế màng

 Co cơ

 Dẫn truyền thần kinh

 Kiểm soát dịch cơ thể

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh Insulin

làm hoạt hóa enzyme Na+/K+ _ ATPase Vì

vậy, ở BN ĐTĐ, nồng độ Insulin huyết thanh

thấp làm:

 Giảm hoạt động của Na+/K+ _ ATPase

với giảm chuyển hóa Na+ và K+

 Giảm vận chuyển qua màng

 Ngăn cản tế bào biểu mô ruột hấp thu monosaccharide

Ngoài ra, trong ĐTĐ, glucose máu tăng sẽ gây lợi niệu thẩm thấu, làm mất dịch cơ thể và các chất điện giải [6][9]

3 CÁC NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

ĐTĐ là 1 trong những bệnh lý có sự gia tăng tần suất các bất thường điện giải do các tác nhân thường gặp trong ĐTĐ, chủ yếu là do suy giảm chức năng thận, các hội chứng kém hấp thu, các rối loạn toan-kiềm và chế độ dùng nhiều thuốc

3.1 Các rối loạn về Natri máu

Hạ Natri máu

- Giả hạ Natri máu (tăng lipid máu đáng kể)

- Nước di chuyển ra ngoại bào (hạ Natri máu do pha loãng) do tăng glucose máu (ưu trương)

- Hạ Natri máu giảm thể tích do lợi niệu thẩm thấu

- Hạ Natri máu do thuốc gây ra: các thuốc

Tolbutamide, Insulin) hoặc các thuốc khác (lợi tiểu, Amitriptyline)

Natri máu giả bình thường (tăng lipid

máu đáng kể, giảm protein máu nghiêm trọng)

Tăng Natri máu

- Giả tăng Natri máu (giảm protein máu nghiêm trọng)

- Mất nước nhiều hơn mất Natri và Kali (lợi niệu thẩm thấu), nếu lượng nước mất này không được bù đủ

3.2 Các rối loạn về Kali máu

Hạ Kali máu

- Hạ Kali máu do dịch chuyển: do có điều trị bằng Insulin

- Mất Kali do dạ dày-ruột: Hội chứng kém hấp thu (rối loạn vận động dạ dày-ruột do ĐTĐ, vi khuẩn phát triển quá mức, tình trạng tiêu chảy mạn)

- Mất Kali do thận: lợi niệu thẩm thấu, hạ

Mg máu, các thuốc lợi tiểu (Thiazides, lợi tiểu giống thiazides, furosemide)

Trang 3

Tăng Kali máu

- Tăng Kali máu do dịch chuyển: tình trạng

toan máu, thiếu hụt Insulin, tiêu cơ vân, các

thuốc (chẹn beta)

- Giảm lọc cầu thận đối với Kali: bệnh thận

cấp và mạn

- Giảm bài tiết Kali tại ống thận: hội chứng

giảm renin giảm aldosterone, do các thuốc gây

ra (ACEIs, ARB, thuốc ức chế renin, chẹn

beta, lợi tiểu giữ Kali)

3.3 Các rối loạn về Magnesium huyết

thanh

Hạ Magnesium huyết thanh

- Giả hạ Mg máu: giảm albumin máu

- Hạ Mg máu do dịch chuyển: do dùng

Insulin

- Chế độ ăn nghèo Mg

- Mất Mg qua dạ dày-ruột: tiêu chảy hậu

quả của bệnh thần kinh tự động ĐTĐ

- Tăng mất Mg qua thận do lợi niệu thẩm

thấu, tăng lọc cầu thận, dùng lợi tiểu

- Toan chuyển hóa tái phát

3.4 Các rối loạn về Calci máu

Hạ Calci máu

- Giả hạ Calci máu: gỉảm albumin máu

- Suy thận cấp do tăng phosphate máu kèm

theo

- Suy thận mạn tiến triển do tăng phosphate

máu và nồng độ Vitamin D thấp

- Hội chứng thận hư: do mất

25-hydroxyvitamin D3 và protein liên kết (với

nó) trong nước tiểu

Tăng Calci máu

- Hội chứng cường cận giáp xảy ra đồng

thời

- Liệu pháp lợi tiểu

3.5 Các rối loạn về Phospho

Hạ phosphate máu

- Lợi niệu thẩm thấu

- Các thuốc: thiazides, lợi tiểu quai, Insulin

- Các hội chứng kém hấp thu

- Hội chứng cường giáp nguyên phát

- Thiếu hụt Vitamin D [6]

4 RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI THƯỜNG

GẶP Ở BN ĐTĐ TÍP 2

Có nhiều nghiên cứu về RLĐG trên BN

ĐTĐ, chủ yếu trên BN T2DM, cho thấy có

RLĐG ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu ít cho thấy sự thống nhất về kết quả RLĐG cụ thể, có thể do các nghiên cứu này được thực hiện trên T2DM không cùng giai đoạn bệnh, hoặc không có cùng giai đoạn rối loạn chức năng thận Nghiên cứu gần đây nhất được thực hiện ở Bangladesh trong 6 tháng (năm 2020) trên 90 T2DM và 50 chứng, cho thấy RLĐG là thường gặp ở BN ĐTĐ, ngay cả trên BN có mức Creatinin và eGFR bình thường, và có liên quan đến thời gian

mắc ĐTĐ và kiểm soát ĐM [13]

Nghiên cứu ở Benin năm 2016 trên 150 BN ĐTĐ (110 chứng) cho thấy 48% BN ĐTĐ có tăng Kali máu, 43,3% hạ Mg, 45,3% hạ Natri máu khi so với nhóm chứng là 19,1%, 9,1% và 11,8% tương ứng [4] Kết quả hạ Natri máu, tăng Kali máu cũng thấy ở nghiên cứu ở Ấn

Độ năm 2017 ở nhóm BN T2DM kiểm soát

ĐM kém so với nhóm còn lại [3]

4.1 Rối loạn về Natri

ĐTĐ gây rối loạn Natri bằng nhiều cơ chế khác nhau

Hạ Natri máu

Hạ Natri máu là RLĐG thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng, liên quan đến tình trạng tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong Ngay cả

hạ Natri máu dù không trầm trọng cũng liên quan đến khả năng xuất hiện hậu quả xấu (giảm nhận thức, té ngã, loãng xương, gãy xương) [7]

Liamis G và cs trong nghiên cứu năm 2013 trên 5179 người trên 55 tuổi cho thấy ĐTĐ có liên quan đến hạ Natri máu, không lệ thuộc vào sự hiện diện của tăng glucose máu (ĐM) [6][7] Ông cho rằng thay đổi trong chuyển hóa Vasopressin, tương tác giữa Insulin và Vasopressin, cả 2 việc này tác động lên ống góp, và sự tái hấp thu nhiều dịch nhược trương hơn do chậm rỗng dạ dày hơn đã được đề xuất

có thể là cơ chế chính của mối liên hệ giữa tăng ĐM và hạ Natri máu [6] Trong nghiên cứu năm 2017 giữa 2 nhóm BN T2DM kiểm soát kém ĐTĐ (nhóm 1, ĐM bất kỳ > 300mg%) và nhóm còn lại (nhóm 2, ĐM bất

kỳ ≤ 300 mg%), Shridhar R và cs thấy nhóm

1 có nồng độ Natri máu giảm đáng kể và nồng

độ Kali tăng so với nhóm 2 [12] Nghiên cứu ở

Trang 4

Bangladesh năm 2020 cho thấy đa số các

trường hợp ĐTĐ có hạ Natri máu, và nồng độ

Natri máu hạ có liên quan đến tăng HbA1c và

thời gian mắc ĐTĐ [13]

ĐM tăng làm tăng độ thẩm thấu huyết

tương, làm nước dịch chuyển ra ngoại bào,

hậu quả làm giảm nồng độ Natri do pha loãng

Vì vậy, ở BN ĐTĐ, nồng độ Natri hiệu

chỉnh cần được tính thêm vào 1,6 mmol/l

Natri cho mỗi 5,55 mmol/l glucose tăng trên

mức bình thường; và thêm 2,4 mmol/l Natri

khi nồng độ ĐM trên 22,2 mmol/l Cần chú

ý rằng nồng độ Natri sau khi đã hiệu chỉnh (vì tác dụng pha loãng của tăng ĐM) cần được xem là công cụ hữu ích trong theo dõi điều trị [6]

Đo áp lực thẩm thấu (ALTT) huyết tương giúp phân biệt giữa hạ Natri máu nhược trương (giảm áp lực thẩm thấu) và hạ Natri máu trương lực bình thường hoặc ưu trương (hạ Natri máu trong tình trạng ưu trương thường do ĐM tăng cao đi kèm) [7]

Hình 1 Sơ đồ chẩn đoán hạ Natri máu ở BN ĐTĐ [7]

Tăng Natri máu

Nồng độ Natri máu tăng hoặc bình thường

trên nền glucose máu tăng cho thấy trên lâm

sàng có sự thiếu hụt đáng kể lượng nước toàn

thân [10] Mất nước qua thận có tính chất

nhược trương (mất nước nhiều hơn mất Natri

và Kali) do lợi niệu thẩm thấu có thể dẫn đến

tăng Natri máu nếu lượng nước mất không được bù đủ [6] Natri máu tăng cũng hàm ý có

sự kiểm soát kém glucose máu trong một số trường hợp [10] Nghiên cứu của Sarguru D

và cs năm 2016 tại Ấn Độ cho thấy nồng độ Natri ở BN ĐTĐ là cao hơn so với nhóm chứng, và Natri tương quan nghịch có ý nghĩa

Trang 5

với glucose [10] Liamis G và cs trong nghiên

cứu 2008 trên 113 BN tăng Natri máu cho thấy

34,5% BN (1/3 số trường hợp) là do kiểm soát

kém ĐM [6]

Tăng Natri máu cũng liên quan đến rối loạn

nội tiết Có vài chứng cứ cho thấy tăng Natri

máu và tăng ALTT có liên quan đến sự suy

giảm chuyển hóa glucose qua trung gian

insulin và cả sự phóng thích glucose do

glucagon Vì vậy, tăng Natri máu và tăng

ALTT cần được xem như là các yếu tố góp

phần vào sự xuất hiện ĐM tăng cao ở các BN

nặng [6]

4.2 Rối loạn về Kali

Hạ Kali máu

Các nguyên nhân chính của hạ Kali máu ở

BN ĐTĐ bao gồm: (1) Tái phân bố Kali từ

khoang dịch ngoại bào vào nội bào (hạ Kali

máu dịch chuyển do chỉ định Insulin); (2) Mất

Kali qua dạ dày-ruột do hội chứng kém hấp

thu; và (3) Mất Kali qua thận (do lợi niệu thẩm

thấu và/hoặc hạ Mg máu kèm: nồng độ Mg nội

bào thấp kích hoạt kênh Kali ở lớp ngoài tủy

thận làm tăng bài tiết Kali) Ngoài ra, cần chú

ý tình trạng hạ Kali máu do dùng lợi tiểu [6]

Đa số BN bị nhiễm toan-ceton hoặc tăng

ALTT có nồng độ Kali kiệt quệ đáng kể Thiếu

hụt Kali khoảng 3-5 mEq/kg, một số ca có thể

đến 10 mEq/kg Các nguyên nhân chính do

nôn, tăng mất Kali qua thận do lợi niệu thẩm

thấu và bài tiết anion (toan-ceton), và các tế

bào mất Kali do phân giải glycogen và phân

giải protein [6]

Chỉ định Insulin ở BN thiếu hụt Kali

nghiêm trọng cần được trì hoãn cho đến khi

nồng độ Kali trên 3,3 mEq/l để tránh loạn

nhịp, ngưng tim hoặc nhược cơ hô hấp; các

biến chứng này đặc biệt cao ở BN ĐTĐ có

THA, nhồi máu/thiếu máu cơ tim, hoặc suy

tim kèm theo [1][6][8]

Tăng Kali máu

Tỷ lệ tăng Kali máu ở BN ĐTĐ cao hơn so

với dân số chung Tái phân bố Kali từ khoang

nội bào ra ngoại bào (tăng Kali máu do dịch

chuyển) có thể làm tăng Kali máu mà không

tăng lượng Kali toàn cơ thể; tình trạng này bao

gồm toan máu (pH giảm mỗi 0,1 thì Kali tăng

xấp xỉ 0,4 mmol/l), thiếu hụt insulin, tình trạng

ưu trương, ly giải tế bào (tiêu cơ vân), và thuốc (như beta blockers) Giảm lọc Kali ở cầu thận (tổn thương thận cấp và bệnh thận mạn) và nhiều thuốc can thiệp vào bài tiết Kali (ACEIs, ARB, ức chế renin, beta blockers, lợi tiểu giữ Kali) làm tăng Kali máu [4][6] Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là hội chứng giảm renin-giảm aldosterone máu (làm giảm bài tiết Kali qua ống thận), trong đó bệnh thận ĐTĐ chiếm 43% - 63%, là nguyên nhân thường gặp nhất Hội chứng này có đặc điểm suy thận nhẹ đến vừa và bệnh nhân biểu hiện điển hình là tăng Kali máu không triệu chứng Sự tiến triển thành tăng Kali máu rõ rệt thường gặp ở các BN với các yếu tố nguy cơ khác làm giảm hiệu quả của bài tiết Kali, như suy thận, giảm thể tích, hoặc sự sử dụng các thuốc ảnh hưởng đến bài tiết Kali, đặc biệt ở

BN ĐTĐ trên 60 tuổi (có sự giảm sản xuất renin) [6]

Nghiên cứu của Sarguru và cs cho thấy sự tăng nhẹ Kali ở BN ĐTĐ so với nhóm chứng [10] Godwill và cs trong nghiên cứu năm

2018 thấy có sự tăng rõ rệt Kali máu ở T2DM

so với chứng [5] Một số nghiên cứu tương tự cho thấy Insulin ngoại sinh có thể làm tăng nhẹ Kali máu vì nó thúc đẩy luồng Kali vào hệ

cơ xương và tế bào gan, làm tăng hoạt động của bơm Na+-K+ ATPase [10]

Tăng Kali máu cũng do sự thiếu hụt tiết Insulin và sự giảm sử dụng glucose ngoại biên làm giảm dung nạp carbohydrate và tăng ĐM [6][10]

4.3 Rối loạn về Magnesium

Trong nhiều nguyên nhân gây hạ Mg ở BN ĐTĐ, lợi niệu thẩm thấu làm mất Mg không thích đáng trong nước tiểu là cơ chế nổi bật Thiếu hụt Mg có thể thúc đẩy sự sinh xơ vữa thông qua nhiều cơ chế khác nhau như làm tăng các cytokines gây viêm và quá trình oxy hóa lipid, gia tăng sự tăng trưởng tế bào nội mô và ức chế sự sửa chữa DNA của tế bào Thiếu hụt Mg có tầm quan trọng lâm sàng vì vai trò đồng tác nhân trong các phản ứng enzyme liên quan đến các tiến trình chuyển hóa [3][6] Hậu quả lâm sàng quan trọng nhất của hạ Mg máu là do sự biến đổi về chức năng của màng tế bào dễ bị kích thích trong hệ thần

Trang 6

kinh, cơ, hệ thống dẫn truyền của tim Hạ Mg

máu liên quan nhiều biến chứng mạn tính ở

BN ĐTĐ như THA, dày thành ĐM cảnh, bệnh

ĐM vành, rối loạn lipid máu, bệnh võng mạc

ĐTĐ, bệnh lý thần kinh, đột quỵ do thiếu máu

cục bộ, loét bàn chân, bệnh thận ĐTĐ (từ

Albumin niệu vi thể đến bệnh thận tiến triển),

cũng như là yếu tố dự đoán bệnh thận giai

đoạn cuối trên BN bệnh thận ĐTĐ [6]

Một số nghiên cứu cho thấy có hạ Mg máu

trên BN ĐTĐ tại Trung Quốc, Pakistan, Ấn

Độ [4] Nghiên cứu của Shenqi W và cs (343

BN, năm 2013) cho thấy nồng độ Mg giảm

chủ yếu ở BN ĐTĐ có biến chứng mạch máu

lớn [11] Deepti G.N và cs thực hiện nghiên

cứu (năm 2017, Ấn Độ) nhằm tìm hiểu kiểu

RLĐG ở BN ĐTĐ và so sánh kết quả giữa BN

ĐTĐ được kiểm soát tốt và không tốt, cho

thấy giảm đáng kể nồng độ Mg ở BN ĐTĐ, và

có tương quan nghịch có ý nghĩa giữa HbA1c

và Mg máu

Ở BN ĐTĐ không được kiểm soát tốt thì

có sự biến động về nồng độ Mg so với BN

ĐTĐ được kiểm soát tốt ĐM [3]

Thiếu hụt Mg liên quan đến bất dung nạp

carbohydrate và kháng insulin, từ đó gây ra

ĐTĐ hoặc làm xấu thêm ĐTĐ có sẵn [6]

Can thiệp bổ sung Mg++ có thể cực kỳ hữu

ích trong việc ngăn ngừa và điều trị hội chứng

tim mạch chuyển hóa ở BN ĐTĐ [3]

5 RỐI LOẠN ĐIỆN GIẢI LIÊN QUAN

CÁC THUỐC HẠ ĐƯỜNG HUYẾT

Sự sử dụng các thuốc hạ ĐM đã tăng nhiều

từ khi tỷ lệ bệnh ĐTĐ gia tăng Các thuốc điều

trị hạ ĐM hiện dùng khá an toàn, nhưng chúng

có liên quan nhất định đến rối loạn toan-kiềm

và điện giải:

- Các thuốc hạ ĐM có thể gây hạ Natri máu

như: Chlorpropamide (do làm tăng hiệu quả

của ADH), Tolbutamide (giảm bài tiết nước

qua thận), Insulin; hoặc lợi tiểu (đặc biệt ở

người lớn tuổi), hoặc Amitriptyline trong điều

trị bệnh lý thần kinh ĐTĐ

- Sử dụng Metformin có liên quan đến sự

xuất hiện tình trạng toan lactic, dù nhiều

nghiên cứu còn nghi ngờ mối liên hệ trực tiếp

với biến chứng này

Ngoài ra, vài nghiên cứu cho rằng Metformin có liên hệ trực tiếp đến giảm nồng

độ Mg máu [14] Đã có trường hợp hạ Mg máu có triệu chứng (nồng độ Mg máu 0,66 mEq/l, hay 0,33 mmol/l) gặp trong trường hợp tiêu chảy do Metformin gây ra [6]

- Insulin có thể gây hạ Mg máu ở BN ĐTĐ kiểm soát kém do tăng ĐM làm tăng mất Mg qua thận do lợi niệu thẩm thấu [14] Liệu pháp Insulin

có thể gây hạ Kali máu trầm trọng, đặc biệt ở BN trước đó có nồng độ Kali máu thấp [6]

- Thiazolidinediones (Pioglitazone, Rosiglitazone) có tác dụng phụ gây ứ dịch nhưng được báo cáo gây hạ Natri chỉ 1 lần

- Các thuốc đồng vận thụ thể GLP1 tuy rằng trong thực nghiệm có ảnh hưởng đến cân bằng nước và điện giải, tuy nhiên, rối loạn Natri máu (hoặc các rối loạn điện giải khác) có liên quan đến các thuốc này chưa được báo cáo trên người

- Trong các nghiên cứu gần đây, thuốc hạ

ĐM thế hệ mới như thuốc ức chế SGLT2 cho thấy không liên quan đến bất thường điện giải [6] Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng thuốc ức chế SGLT2 có liên hệ với bệnh ĐTĐ nhiễm toan-ceton có ĐM cao, tuy hiếm nhưng nghiêm trọng, cũng như có làm tăng nồng độ Kali, Mg máu [14]

6 KẾT LUẬN

- Rối loạn điện giải là thường gặp ở BN ĐTĐ và có thể liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong Những rối loạn này đặc biệt thường gặp ở ĐTĐ mất bù, người cao tuổi hoặc có suy thận Bên cạnh đó sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ và bệnh kèm cũng có thể gây nên các rối loạn này Các chất điện giải liên quan thường gặp bao gồ Natri, Kali, Magnesium Nắm rõ cơ chế sinh lý bệnh của những rối loạn này sẽ dễ thành công hơn trong việc điều trị Ngưng dùng các thuốc có khả năng gây rối loạn điện giải, cũng như kiểm soát chặt chẽ

ĐM, có tầm quan trọng đặc biệt trong việc ngăn ngừa RLĐG ở BN ĐTĐ

Các bác sỹ lâm sàng cần lựa chọn hợp lý giữa các thuốc điều trị ĐTĐ không chỉ dựa vào hiệu quả làm giảm ĐM và giảm nguy cơ tim mạch mà còn vào nguy cơ gây rối loạn

Trang 7

điện giải hoặc toan-kiềm của BN

Nồng độ các chất điện giải cần được xem

như xét nghiệm thường quy trong qáu trình điề

trị và theo dõi bệnh nhân đái tháo đường

[6][8][14]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2020) , Hướng dẫn chẩn đoán và

điều trị đái tháo đường típ 2 (Ban hành

kèm theo Quyết định số 5481/QĐ-BYT

ngày 30 tháng 12 năm 2020)

2 ADA (2021), Introduction: Standards of

Medical Care in Diabetes - 2021,

Diabetes Care 2021 Jan; 44(Supplement

1): S1-S2

3 Deepti G.N., Sumina Cherian, K Lakshmi

(2017), A comparative study of electrolyte

imbalances in controlled and uncontrolled

diabetes mellitus, International Journal of

Clinical Biochemistry and Research

2017;4(1):22-24

4 Eugenie A.A.A, Thierry C.M.M., Casimir

D A., Henri T (2016), Electrolyte

disturbances in diabetic patients in

Cotonou, Benin, Int J Res Med Sci 2016

Dec;4(12):5430-5435

5 Godwill A.E., Friday N.N., Thom-Justus

C.A., Micheal C.A., Emmanuela N.A.,

Marian N.U., Ambrose N.N (2018),

Influence of Type 2 Diabetes on Serum

Electrolytes and Renal Function Indices

in Patients, Journal of Clinical and

Diagnostic Research, 2018 Jun,

Vol-12(6): BC13-BC16

6 Liamis G., Liberopoulos E., Barkas F.,

Elisaf M (2014), Diabetes mellitus and

electrolyte disorders, World J Clin Cases

2014;2(10):488–496

7 Liamis G., Tsimihodimos V., Elisaf M

Mellitus: Clues to Diagnosis and

Treatment, J Diabetes Metab 6: 560

8 Marco B., Pier P.S., Mattia B., Ettore B.,

Hyperosmolar State: A Pragmatic Approach to Properly Manage Sodium Derangements, Current Diabetes Reviews, 2018, 14, 534-541

9 Rashid N.K., Farhana S., Syedhh F.K.,

Muhammad H.S (2019), Pattern of

electrolyte imbalance in Type 2 diabetes patients: Experience from a tertiary care hospital, Pak J Med Sci May - June 2019

Vol 35 No 3

10 Sarguru D., Vanaja R., Balaji R (2016),

Evaluation of serum electrolytes in type II diabetes mellitus, Int J Pharm Sci Rev

Res., 40(1), September – October 2016; Article No 45, Pages: 251-253

11 Shenqi W., Xuhong H., Yu L., Huijuan L.,

Li W., Yuqian B., Weiping J (2013),

Serum electrolyte levels in relation to macrovascular complications in Chinese patients with diabetes mellitus,

Cardiovascular Diabetology 2013, 12:146

12 Shridhar R., Sushith S., Mangalore B P., D’Sa J., Gopal R M., Pragathi G., Kiran P.K K., Mohandas R., Bhuvanesh S.K

(2020), Serum electrolytes levels in

patients with type 2 diabetes mellitus: a cross-sectional study, Diabetes Mellitus,

2020;23(3):223-228

13 Tahniyah Haq., Shapur I., Mehruba A A.,

Shohael M A (2020), Electrolyte

abnormalities in diabetes mellitus in the presence of normal serum creatinine, Sri

Lanka Journal of Diabetes Endocrinology and Metabolism 2020/ Volume 10, No 2

14 Theodosios F., Elefthria T., Christos R.,

Moses E., George Liamis (2017),

Acid-base and electrolyte disorders associated with the use of antidiabetic drugs, Expert

OpinDrug Saf 2017

Oct;16(10):1121-1132

Ngày đăng: 15/09/2021, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w