Môn học kinh tế thương mại đại cương là một khoa học kinh tế nghiên cứu bản chất và những nguyên lý kinh tế cơ bản của thương mại và chủ yếu trên góc độ vĩ mô, cụ thể: Thứ nhất, kinh tế
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương được biên soạn nhằm
trang bị những kiến thức cơ bản và cốt lõi, mang tính tổng quan về kinh tế thương mại cho sinh viên chuyên ngành Kinh tế thương mại, cũng như các chuyên ngành đào tạo khác của Trường Đại học Thương mại
Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương do PGS.TS Hà Văn Sự làm chủ biên và tập thể các giảng viên trong Bộ môn Kinh tế thương mại thuộc Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương mại thực hiện, đặc biệt là sự tham gia trực tiếp biên soạn của các giảng viên:
1) PGS.TS Hà Văn Sự (Chủ biên và biên soạn các chương: Chương 1; Chương 5; Chương 7; Tham gia biên soạn chương 2);
2) TS Ngô Xuân Bình (Chương 2; Chương 3);
3) TS Thân Danh Phúc (Chương 4);
4) ThS Nguyễn Minh Phương (Tham gia biên soạn Chương 3); 5) ThS Dương Hoàng Anh (Chương 6)
Giáo trình Kinh tế thương mại đại cương được xuất bản lần đầu, các nội dung trong giáo trình có sự kế thừa, tiếp thu từ các tập bài giảng: Bài giảng Kinh tế thương mại (1997) của Bộ môn Quản trị doanh nghiệp Khách sạn - Du lịch; Bài giảng Kinh tế thương mại đại cương (2006) của
Bộ môn Kinh tế thương mại do TS Ngô Xuân Bình làm chủ biên
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học - Đối ngoại, Khoa Kinh tế - Luật, Bộ môn Kinh tế thương mại của Trường Đại học Thương mại đã động viên và tạo điều kiện về mọi mặt để nhóm tác giả hoàn thành giáo trình này Chúng tôi cũng xin cảm ơn những góp ý để bổ sung và hoàn thiện các nội dung giáo trình của các nhà khoa học trong và ngoài trường
Trang 4Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song giáo trình chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tập thể tác giả và Bộ môn Kinh tế thương mại mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, đồng nghiệp và bạn đọc Thư góp ý xin gửi về: Bộ môn Kinh tế thương mại, Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học thương mại
Chủ biên PGS.TS HÀ VĂN SỰ
Trang 5Chương 1
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU MÔN HỌC
Mục đích của chương là giới thiệu cho người học nắm được mục tiêu, đối tượng và nội dung nghiên cứu của học phần, đồng thời hướng dẫn người học phương pháp tiếp cận và nghiên cứu các nội dung của học phần một cách phù hợp
1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học
Trong lịch sử phát triển, điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mọi xã hội loài người là tái sản xuất của cải vật chất Tái sản xuất được chia thành hai kiểu, đó là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng Tái sản xuất giản đơn là lặp lại quá trình sản xuất với qui mô như cũ Tái sản xuất mở rộng là lặp lại quá trình sản xuất với qui mô lớn hơn
Quá trình tái sản xuất mở rộng bao gồm 4 khâu: Sản xuất - Phân phối - Trao đổi và Tiêu dùng Các khâu này có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với nhau Trong đó, hoạt động thương mại thuộc lĩnh vực trao đổi và phân phối sản phẩm
Tái sản xuất mở rộng kéo theo sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc Lý luận và thực tiễn đã chứng minh chính phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất
và tính chất sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm là mầm mống xuất hiện trao đổi hàng hóa Tuy nhiên, lúc đầu trao đổi hàng hóa diễn ra đơn giản và trong phạm vi hẹp dưới hình thức hiện vật, đó là hình thức trao đổi hàng hóa ngẫu nghiên hay còn gọi là trao đổi hàng
hóa trực tiếp (hàng đổi hàng) Cùng với sự phát triển của xã hội loài
người, các điều kiện phát triển trao đổi hàng hóa cũng ngày càng được
Trang 6hoàn thiện, theo đó, lưu thông hàng hóa ra đời, rồi sau này là sự ra đời của thương mại
Quá trình phát triển của trao đổi hàng hóa là yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa Cũng trong quá trình phát triển này, bên cạnh thương mại hàng hóa, lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng
đã được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng, phong phú
Trong nền kinh tế hàng hóa, mọi chủ thể kinh tế đều tham gia vào các hoạt động thương mại thông qua hành vi mua và bán Các hoạt động
này phụ thuộc vào bốn yếu tố cơ bản: 1) Hàng hóa và dịch vụ (đối tượng của hoạt động mua, bán); 2) Các chủ thể kinh tế (người mua hoặc người bán); 3) Tiền tệ (phương tiện thanh toán); 4) Thị trường (điều kiện thực hiện các hoạt động mua bán)
Với tiếp cận đó, có thể nói thương mại là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học và nhiều môn học khác nhau, trong đó có môn học kinh tế thương mại đại cương Môn học kinh tế thương mại đại cương là một khoa học kinh tế nghiên cứu bản chất và những nguyên lý kinh tế cơ bản của thương mại và chủ yếu trên góc độ vĩ mô, cụ thể:
Thứ nhất, kinh tế thương mại đại cương nghiên cứu các mối quan hệ
kinh tế diễn ra trong lĩnh vực trao đổi, lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm những mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán, cũng như mối quan hệ kinh tế có liên quan tới hoạt động mua, bán Trên cơ sở đó, nhận biết được vai trò và những lợi ích to lớn và cả những tác động tiêu cực của thương mại đối với quốc gia, nền kinh tế - xã hội
Thứ hai, kinh tế thương mại đại cương nghiên cứu xu hướng phát
triển kinh tế thương mại hàng hóa và dịch vụ, các điều kiện về thị trường, môi trường thương mại… trong mối quan hệ biện chứng với những tác động, điều tiết của hệ thống các qui luật kinh tế trong điều kiện nền kinh
tế thị trường
Thứ ba, nghiên cứu những nguyên lý kinh tế căn bản phát triển
thương mại mà điều kiện các nguồn lực phát triển có hạn trong khi nhu cầu là vô hạn Hay nói cách khác, kinh tế thương mại đại cương hướng vào nghiên cứu những nguyên lý khoa học cơ bản nhất làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược và chính sách phát triển thương mại trong
Trang 7điều kiện nguồn lực có hạn nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tối ưu ở từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Kinh tế thương mại đại cương là một khoa học kinh tế nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể trong nền kinh tế, đó là lĩnh vực lưu thông hàng hóa
và cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, kinh tế thương mại đại cương nghiên cứu các vấn đề trên chủ yếu ở phạm vi vĩ mô, tức là trên phạm vi quốc gia, của một vùng, địa phương trong mối quan hệ mở với thương mại khu vực và toàn cầu Các chủ thể kinh tế là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại được nghiên cứu trong mối quan hệ với một chỉnh thể hợp thành nền thương mại của một quốc gia hay một vùng, địa phương Cơ sở lý luận của kinh tế thương mại đại cương là kinh tế học chính trị Mác - Lênin, kinh tế học, các học thuyết về phát triển kinh tế, thương mại
1.1.2 Nội dung nghiên cứu của môn học
Với đối tượng nghiên cứu đã nêu, môn học sẽ tập trung vào nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, môn học nghiên cứu cơ sở, quá trình hình thành và phát triển
của trao đổi, bản chất kinh tế và chức năng của thương mại
Hai là, nghiên cứu những tác động của thương mại ở các phương
diện và góc độ đến sự phát triển của một quốc gia hay địa phương, đặc biệt là về kinh tế
Ba là, nghiên cứu các vấn đề cơ bản về kinh tế thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ
Bốn là, nghiên cứu nguồn lực và hiệu quả kinh tế của thương mại,
đồng thời nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực và phát triển thương mại theo hướng bền vững
Năm là, nghiên cứu những lợi thế so sánh và hội nhập, phát triển
kinh tế thương mại quốc tế của quốc gia
Các nội dung trên được nghiên cứu trong điều kiện nền kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và có định hướng vào điều kiện của Việt Nam Trong khuôn khổ chương trình và thời gian đào tạo, ngoài Chương 1 giới thiệu về Đối tượng, nội dung và
Trang 8phương pháp nghiên cứu của môn học, chúng tôi kết cấu và trình bày các
vấn đề trên thông qua 6 chương nội dung (từ chương 2 đến chương 7),
đó là:
Chương 2 Bản chất và chức năng của thương mại;
Chương 3 Những tác động của thương mại;
Chương 4 Thương mại hàng hóa;
Chương 5 Thương mại dịch vụ;
Chương 6 Lợi thế so sánh và hội nhập kinh tế thương mại;
Chương 7 Nguồn lực và hiệu quả kinh tế thương mại
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC
Là một khoa học kinh tế, bởi vậy phương pháp duy vật biện chứng được xem là phương pháp luận quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế thương mại đại cương Cụ thể:
Một là, nhận thức khoa học phải bắt đầu bằng sự quan sát các hiện
tượng cụ thể biểu hiện các quá trình kinh tế, rồi dùng phương pháp trừu tượng hóa để tìm ra bản chất và tính qui luật của sự phát triển, sau đó là
từ các mặt bản chất đến mối quan hệ nội tại, cơ chế tác động cụ thể của quá trình lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Hai là, thương mại là một bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội,
các qui luật của lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ bắt nguồn từ hệ thống qui luật nói chung, do vậy cần phải có quan điểm hệ thống và toàn diện trong nghiên cứu cũng như trong trình bày các phạm trù của thương mại trong quan hệ và tác động qua lại với sản xuất, phân phối và tiêu dùng Trong đó, sản xuất là điểm xuất phát, tiêu dùng là điểm kết thúc, phân phối và lưu thông là trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng
Ba là, quá trình hình thành và phát triển thương mại luôn gắn liền
với những hoàn cảnh lịch sử nhất định, do đó không thể nghiên cứu các vấn đề kinh tế của lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ nếu không có quan điểm lịch sử Đồng thời, sự vận động của mỗi quá trình đều do đấu tranh để giải quyết những mâu thuẫn nội tại, trong đó cần phải phân biệt
rõ ràng tính chất đối kháng và tính chất không đối kháng của mâu thuẫn
Trang 9để có biện pháp xử lý thích hợp Theo đó, kết hợp logic và lịch sử là một đòi hỏi quan trọng của phương pháp nghiên cứu và phân tích khoa học các vấn đề của kinh tế thương mại
Bốn là, các kết luận khoa học đều được rút ra từ nghiên cứu thực tế,
ngược lại, cần phải kiểm nghiệm thường xuyên nhằm hoàn thiện các quan điểm khoa học trong hoạt động kinh tế thương mại Đó chính là quá trình gắn lý luận với thực tiễn trong nghiên cứu các vấn đề của kinh tế thương mại Lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và trở lại chỉ đạo thực tiễn Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, kinh tế thương mại đại cương cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phi thực nghiệm: Đây là phương pháp dựa trên sự
quan sát, thu thập tư liệu đã hoặc đang tồn tại, phân tích xử lý để tìm ra các kết luận về sự vật và hiện tượng nghiên cứu Trong trường hợp này, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại mà không có
sự can thiệp, không gây bất cứ tác động nào làm biến đổi trạng thái của đối tượng khảo sát, đồng thời cũng không gây bất cứ tác động nào làm biến đổi môi trường xung quanh đối tượng khảo sát Phương pháp phi thực nghiệm được thực hiện thông qua các hoạt động quan sát, phỏng vấn, hội nghị, điều tra
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp nghiên cứu trên
đối tượng thực hay mô hình Việc nghiên cứu trên đối tượng đảm bảo tính tin cậy hơn, song trên thực tế thì khó thực hiện, vì vậy thường người
ta nghiên cứu trên mô hình Qua thực nghiệm để quan sát, từ quan sát để phát hiện bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, và cuối cùng là để đặt giả thuyết hay kiểm chứng giả thuyết đã đặt ra Cần lưu ý rằng việc chọn mô hình là vô cùng quan trọng vì là yếu tố chi phối kết quả nghiên cứu
Từ hai phương pháp chung trên, khi nghiên cứu kinh tế thương mại người ta sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp so sánh: Khi sử dụng phương pháp này cần phải có
ba điều kiện:
- Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh;
- Lựa chọn điều kiện so sánh;
Trang 10- Lựa chọn kỹ thuật so sánh, như so sánh bằng số tuyệt đối, tương đối, số bình quân…
Phương pháp cân đối: Phương pháp này được sử dụng như xây
dựng kế hoạch, qui hoạch, nghiên cứu mối quan hệ giữa cung và cầu, giữa xuất và nhập khẩu, giữa nguồn thu và nguồn chi…
Phương pháp toán kinh tế: Nội dung của phương pháp này là vận
dụng toán học làm công cụ để nghiên cứu môn học Sự vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu khoa học kinh tế nói chung và kinh tế thương mại nói riêng ngày càng phong phú và có hiệu quả nhờ vào phương tiện tính toán ngày càng hiện đại
1.3 VỊ TRÍ CỦA MÔN HỌC
Kinh tế thương mại đại cương là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ sở ngành của chuyên ngành kinh tế thương mại của Trường Đại học Thương mại Môn học cung cấp những kiến thức mang tính tổng quan về những vấn đề cơ bản của kinh tế thương mại, góp phần cung cấp những kiến thức cơ sở làm nền tảng cho việc tiếp cận những kiến thức chuyên ngành về kinh tế và quản lý thương mại
Ngoài ra, môn học Kinh tế thương mại đại cương còn được lựa chọn làm môn học cung cấp kiến thức cơ sở ngành cho các chuyên ngành đào tạo khác của Trường Đại học Thương mại, như: Chuyên ngành Luật Thương mại, Thương mại quốc tế, Quản trị doanh nghiệp…
Trang 11Chương 2
BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA THƯƠNG MẠI
Mục đích của chương là giới thiệu bản chất và chức năng của thương mại theo các góc độ tiếp cận, cụ thể là làm rõ điều kiện (cơ sở)
ra đời của trao đổi, các hình thức phát triển của trao đổi và sự ra đời của thương mại, nghiên cứu bản chất kinh tế của phạm trù thương mại thông qua các góc độ tiếp cận (là một hoạt động kinh tế, một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và là một ngành kinh tế quốc dân độc lập), trên cơ sở đó nghiên cứu các chức năng của thương mại Đây là những kiến thức tổng quan về thương mại, có tiếp cận mang tính toàn diện, hiện đại, là cơ sở quan trọng phục vụ cho các phần nghiên cứu tiếp theo của giáo trình
2.1 CƠ SỞ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI
2.1.1 Cơ sở ra đời của trao đổi
a Hàng hóa - Đối tượng của hoạt động trao đổi
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua - bán Một sản phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi sản phẩm đó được sản xuất để mang ra trao đổi trên thị trường Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những hàng hóa hữu hình
- đó là những hàng hóa có hình thái vật thể hữu hình, còn có những hàng hóa vô hình/phi vật thể hay còn gọi là dịch vụ được đưa ra cung ứng, mua - bán trên thị trường
Hàng hóa - một phạm trù lịch sử và nó chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa Hàng hóa là đối tượng của hoạt động trao đổi Bất cứ một hàng
hóa nào (bao gồm cả dịch vụ) khi đưa ra trao đổi, chúng đều có hai thuộc
tính là giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa, nó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Nhu cầu đó có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá
Trang 12nhân, như: Lương thực, thực phẩm, giày dép, quần áo , hoặc nhu cầu cho sản xuất, như: Nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị Là hàng hóa vô hình, dịch vụ cũng có những công dụng, giá trị thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, như: Dịch vụ du lịch thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, khám phá thế giới; dịch vụ y tế, giáo dục thỏa mãn nhu cầu về thể lực và trí lực của con người; dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hậu cần, kinh doanh, quảng cáo, tiếp cận thị trường thỏa mãn các nhu cầu mà đặc biệt là các nhu cầu hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hóa trong hàng hóa Giá trị của hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, nó phản ánh quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa Bởi vậy, giá trị hàng hóa là một phạm trù phản ánh quan hệ xã hội Trong trao đổi hàng hóa, giá trị của hàng hóa là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi hay nói cách khác nó là cơ sở chung của trao đổi
Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đều được tạo ra trong khâu sản xuất, nhưng giá trị của hàng hóa được thực hiện trong khâu lưu thông thông qua hoạt động trao đổi Còn giá trị sử dụng của hàng hóa lại được thực hiện trong khâu tiêu dùng, nằm ngoài lưu thông Ngoại trừ dịch vụ
là hàng hóa vô hình do quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng diễn ra đồng thời mà giá trị sử dụng có thể được thực hiện đồng thời trong chính quá trình sản xuất và lưu thông
Trong trao đổi, người bán quan tâm đến giá trị, còn người mua quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa Tuy nhiên, để đạt được mục đích của mình người bán phải quan tâm đến lợi ích của người mua và ngược lại người mua cũng phải quan tâm đến lợi ích của người bán Trên thị trường, các lợi ích của người mua và người bán đều được giải quyết thông qua hoạt động trao đổi và điều tiết của thị trường
b Cơ sở ra đời của trao đổi
Trao đổi hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa giữa những người sản xuất diễn ra trong một xã hội đã có những sự phát triển đến một trình
độ nhất định Lịch sử đã chứng minh, xã hội loài người phải phát triển
Trang 13đến một trình độ mà ở đó có sự xuất hiện của phân công lao động xã hội
và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất khi đó hoạt động trao đổi hàng hóa mới xuất hiện Đây không chỉ là cơ sở/điều kiện ra đời mà còn là cơ sở/điều kiện để phát triển trao đổi hàng hóa
Cụ thể:
Sự xuất hiện của phân công lao động xã hội Phân công lao động xã
hội là sự phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa lao động, chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành nghề khác nhau Do có sự phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một thứ hoặc vài thứ sản phẩm Tuy nhiên, nhu cầu của họ lại bao gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau, bởi vậy để thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi cần có sự trao đổi sản phẩm giữa
họ với nhau
Tuy nhiên, sự phân công lao động xã hội chưa thể hoàn toàn quyết định đến sự ra đời của trao đổi mà cần phải có điều kiện thứ hai là sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Tính tách biệt về mặt kinh tế này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất mà khởi thủy là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất qui định Chính do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã làm cho lao động của những người sản xuất mang tính chất lao động tư nhân, làm cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của người sản xuất tách biệt với nhau về mặt kinh tế Trong điều kiện đó, khi muốn thỏa mãn nhu cầu sản phẩm giữa những người sản xuất phải thực hiện thông qua hoạt động trao đổi
Như vậy, sự ra đời của phân công lao động xã hội đã tạo ra lao động của những người sản xuất mang tính chất là lao động xã hội, song sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế lại tạo ra lao động của họ mang tính chất là lao động tư nhân, cá biệt, độc lập Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua hoạt động trao đổi sản phẩm của những người sản xuất cho nhau và theo đó hoạt động trao đổi hàng hóa ra đời
Trang 142.1.2 Quá trình phát triển của trao đổi và sự ra đời của thương mại
Thương mại là một phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại gắn liền với những cơ sở, điều kiện tiền đề ra đời của trao đổi, đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất như đã nghiên cứu ở trên Thương mại là một hình thái - hình thái phát triển trong trao đổi hàng hóa, bởi vậy khi nghiên cứu sự ra đời của thương mại cần nghiên cứu quá trình và các hình thái phát triển của trao đổi
a Hình thái trao đổi hàng hóa trực tiếp
Về mặt lịch sử, trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã trải qua hai hình thái kinh tế, đó là: Hình thái kinh tế tự nhiên và hình thái kinh tế hàng hóa Hình thái kinh tế tự nhiên là hình thái đầu tiên, sơ khai của kinh tế loài người Nó xuất hiện vào giai đoạn chế độ công xã nguyên thủy Trong giai đoạn sơ khai của nền kinh tế tự nhiên, mặc dù phân công lao động xã hội đã hình thành, song chưa có những tách biệt tương đối về mặt kinh tế, con người sản xuất ra các sản phẩm chủ yếu với mục đích phục vụ cho nhu cầu của bản thân họ, vì thế chưa có trao đổi hàng hóa Thực tế, trong giai đoạn công xã Ấn Độ thời cổ, lao động
đã có sự phân công xã hội, nhưng chưa xuất hiện trao đổi hàng hóa Bởi
vì, chỉ có sản phẩm của những người sản xuất mang tính tư nhân độc lập
và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa và khi đó trao đổi hàng hóa mới xuất hiện.1
Vào giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy và thời kỳ đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ, khi hình thức tư hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm xuất hiện cũng là lúc trao đổi hàng hóa ra đời Tuy nhiên, lúc đầu trao đổi hàng hóa mang tính ngẫu nhiên và giản đơn, vì thế người ta gọi hình thái ban đầu của trao đổi là trao đổi hàng hóa trực tiếp hay trao đổi hàng hóa giản đơn, trao đổi hàng hóa ngẫu nhiên Hình thái trao đổi này được tiến hành trực tiếp theo hình thức hàng đổi hàng, theo công thức chung là: H - H’ Hình thái trao đổi hàng hóa trực tiếp ra đời không
1 C Mác và Ph Ăng ghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993; Tr 23, tr 72
Trang 15những đã góp phần thỏa mãn nhu cầu trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất mà còn có vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người, trong đó phải nói đến sự thúc đẩy phân công lao động xã hội
b Hình thái lưu thông hàng hóa
Hình thái trao đổi hàng hóa trực tiếp có những giới hạn về phạm vi không gian và điều kiện trao đổi Bởi vậy, khi xã hội loài người phát triển mà đặc biệt là sự phát triển của phân công lao động xã hội thì hình thái trao đổi hàng hóa trực tiếp không còn đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa của xã hội loài người
Trong điều kiện đó, cùng với sự ra đời của tiền tệ với tư cách là hàng hóa trung gian, trao đổi hàng hóa trực tiếp được thay thế bằng hình thái
trao đổi cao hơn đó là lưu thông hàng hóa Lưu thông hàng hóa là hình thái phát triển của trao đổi hàng hóa, là hình thái trao đổi hàng hóa thông qua môi giới của tiền tệ [4, tr 22] Công thức chung của lưu thông
hàng hóa là: H – T – H’ Lưu thông hàng hóa ra đời đã mở ra kỷ nguyên mới cho hoạt động trao đổi hàng hóa, nó khắc phục được những hạn chế của trao đổi hàng hóa trực tiếp Đó là phạm vi hoạt động trao đổi được
mở rộng, điều kiện trao đổi và khả năng thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa
cả về không gian, thời gian, số lượng thuận tiện hơn
Lưu thông hàng hóa ra đời đã tạo ra sự tách rời quá trình mua và bán
cả về không gian (người ta có thể mua ở nơi này, bán ở nơi khác), về thời gian (có thể bán ở thời điểm này, mua ở thời điểm khác) và về số lượng (có thể bán nhiều lần, mua một lần hoặc ngược lại)… Do sự tách
rời quá trình mua, bán này mà trong hình thái lưu thông hàng hóa đã xuất hiện mầm mống của mâu thuẫn giữa cung và cầu, giữa sản xuất và tiêu dùng Bởi vậy, bắt đầu từ đây nảy sinh mầm mống của khủng hoảng sản xuất và tiêu thụ
c Sự xuất hiện của thương gia và sự ra đời, phát triển của thương mại
Với sự phát triển ngày càng cao của phân công lao động xã hội, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu trao đổi có tính chuyên nghiệp và nâng cao hiệu
Trang 16quả lao động xã hội mà một bộ phận lao động trong xã hội đã được tách
ra khỏi sản xuất chuyên làm nhiệm vụ mua rồi lại bán nhằm mục đích kiếm lời Bộ phận lao động này được gọi là những thương gia Hoạt động kinh tế của những thương gia thông qua mua bán để kiếm lời chính là hoạt động thương mại Hoạt động đó thể hiện qua công thức: T - H - T' (T’ = T + T)
Khác với trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, hoạt động thương mại bắt đầu bằng tiền với hành vi mua và kết thúc cũng bằng tiền với hành vi bán Mục đích của hoạt động thương mại không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, cụ thể là nhằm thu lợi nhuận
Với những đặc điểm hoạt động và vai trò của mỗi hình thái trao đổi hàng hóa ta có thể thấy: Lưu thông hàng hóa ra đời đã phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp, song ngược lại thương mại ra đời không đưa đến sự phủ định lưu thông mà trái lại nó làm cho lưu thông hàng hóa phát triển ở một trình độ cao hơn
Như vậy, sự xuất hiện của hoạt động thương mại gắn liền với sự xuất hiện của thương gia Về lịch sử, những thương gia xuất hiện vào cuối chế độ công xã nguyên thủy và đầu chế độ phong kiến
Những hoạt động thương mại lúc đầu chỉ giới hạn chủ yếu trong lĩnh
vực trao đổi các sản phẩm hữu hình (thương mại hàng hóa), sau đó được
mở rộng sang các sản phẩm vô hình (thương mại dịch vụ) Trong nền
kinh tế hiện đại, thương mại còn liên quan rất chặt chẽ với các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ
Những thương gia ngày càng đông đảo trong xã hội như là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội ngày càng mở rộng và chuyên sâu
Ngành thương mại ra đời và phát triển như là kết quả tất yếu của sự phát triển trao đổi và phân công lao động xã hội Trong lịch sử phát triển,
xã hội loài người đã trải qua 3 cuộc cách mạng trong phân công lao động
xã hội Phân công lao động lần thứ nhất là việc tách chăn nuôi ra khỏi trồng trọt Quá trình này đã thúc đẩy sự phát triển của trao đổi hàng hóa,
và tiền tệ xuất hiện trong giai đoạn này Phân công lao động lần thứ hai
là quá trình tách thủ công nghiệp khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa
Trang 17hình thành Phân công lao động lần thứ ba với việc tách riêng chức năng tiêu thụ khỏi chức năng sản xuất và theo đó đã làm xuất hiện một ngành kinh tế chuyên làm chức năng trao đổi, mua bán nhằm mục đích kiếm lời trong nền kinh tế - đó là ngành thương mại
Phân công lao động xã hội vẫn tiếp tục phát triển và tạo ra nhiều ngành kinh tế mới Trong lĩnh vực thương mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm bán buôn và bán lẻ, còn có các ngành thương mại dịch vụ chuyên đảm nhận
việc cung ứng dịch vụ cho thị trường vì mục đích lợi nhuận (theo phân loại của WTO, ngay trong lĩnh vực thương mại dịch vụ lại được phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành dịch vụ khác nhau)
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thương mại ra đời vừa
là một tiến bộ của lịch sử, một nấc thang phát triển của trao đổi hàng hóa, vừa là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là hai yếu tố cơ bản hợp thành kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa tất nhiên sản sinh và hình thành thị trường
Vì thế, nói tới thương mại, nói đến kinh tế hàng hóa, không thể tách rời phạm trù thị trường và kinh tế thị trường Bởi vậy, kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường, hay thương mại và thị trường là những phạm trù, những mặt không thể tách rời nhau của cùng một hiện tượng trong nền kinh tế còn tồn tại những điều kiện của trao đổi hàng hóa
2.2 BẢN CHẤT KINH TẾ VÀ PHÂN LOẠI THƯƠNG MẠI
2.2.1 Bản chất kinh tế của thương mại
Bản chất kinh tế của thương mại được xem xét và nghiên cứu thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong giáo trình này, bản chất kinh tế của thương mại được rút ra từ ba cách tiếp cận, đó là: Thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế, là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và với tư cách là một ngành kinh tế quốc dân, cụ thể:
a Tiếp cận thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế
Nếu xem xét dưới góc độ một hoạt động kinh tế thì thương mại là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản và rất phổ biến trong nền kinh
tế thị trường Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua
Trang 18và kết thúc bằng hành vi bán Mục đích của hoạt động thương mại là nhằm tìm kiếm lợi nhuận Có thể tóm tắt hoạt động thương mại bằng công thức sau: T - H - T'
Đối tượng mua bán của các hoạt động thương mại là hàng hóa và
dịch vụ Chủ thể của hoạt động thương mại gồm những người bán (người sản xuất hàng hóa, người cung ứng dịch vụ, thương gia) và những người mua (người sản xuất, thương gia và người tiêu dùng) Bên cạnh đó, tham
gia vào hoạt động thương mại còn có một số chủ thể khác, như: Những người môi giới, đại lý thương mại Hoạt động thương mại xảy ra trong khâu lưu thông, trên thị trường với những điều kiện kinh tế, xã hội, luật pháp, chính trị và môi trường vật chất cụ thể
Trong hành vi mua, người ta chuyển đổi hình thái giá trị của hàng hóa từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật và cùng với quá trình này
là sự chuyển đổi về sở hữu, người mua đổi quyền sở hữu tiền tệ để có được quyền sở hữu hàng hóa Nhờ vậy mà có được quyền sử dụng sản phẩm cho việc thỏa mãn nhu cầu Trong hành vi bán hàng, quá trình diễn
ra hoàn toàn ngược lại
Hoạt động thương mại là một quá trình bao gồm các hoạt động cơ bản là mua và bán Ngoài các hoạt động cơ bản còn có các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động mua bán, người ta gọi chung các hoạt động này là dịch vụ thương mại
Dịch vụ thương mại bao gồm tất cả những hoạt động thương mại
ngoài hoạt động thương mại cơ bản (hoạt động mua và bán), chúng phát
sinh gắn liền với hoạt động mua bán, hỗ trợ cho hoạt động mua bán được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả
Hoạt động thương mại được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và cùng có lợi Vì thế, quá trình mua bán vừa là quá trình cạnh tranh, vừa là quá trình hợp tác giữa người bán và người mua
Thông qua các hoạt động thương mại, người bán đạt được giá trị nhằm mục đích lợi nhuận, người mua có được giá trị sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng khác nhau Chính nhờ hoạt động thương mại
mà sản xuất và tiêu dùng được nối liền với nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong điều kiện của kinh tế hàng hóa
Trang 19b Tiếp cận thương mại với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội
Quá trình tái sản xuất xã hội gồm bốn khâu cơ bản, đó là: Sản xuất - Phân phối - Trao đổi và Tiêu dùng Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau, trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất
Là hình thái phát triển của trao đổi và lưu thông hàng hóa, thương mại được coi là một khâu cơ bản và quan trọng của quá trình tái sản xuất,
đó là khâu trao đổi - khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện sản xuất và lưu thông hàng hóa ngày một phát triển, hàng hóa được tạo ra trong khâu sản xuất, sau đó được chuyển sang khâu lưu thông qua các giai đoạn khác nhau của khâu lưu thông: Mua, vận chuyển, dự trữ, bán Kết thúc khâu lưu thông, hàng hóa sẽ được chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng
Tuy nhiên, giai đoạn trước chủ nghĩa tư bản, thương mại còn tồn tại độc lập với sản xuất, do thương mại vận động theo công thức T – H – T’, còn sản xuất vẫn chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng Lúc này lưu thông chưa chi phối được sản xuất mà coi sản xuất như một tiền đề có sẵn của lưu thông, bởi vì thường chỉ có những sản phẩm dư thừa mới trở thành hàng hóa Bởi vậy, khi đó lưu thông hàng hóa chưa trở thành một khâu của quá trình tái sản xuất và cũng vì thế lợi nhuận thương mại chủ yếu là
do mua rẻ, bán đắt từ những người sản xuất và tiêu dùng mà có Sau này, với nhiệm vụ quan trọng là thực hiện tái sản xuất sản phẩm nhanh chóng trong điều kiện thị trường không ngừng mở rộng và cạnh tranh quyết liệt thì thương mại đã thực sự trở thành một khâu không thể thiếu phục vụ cho sản xuất Sự có mặt của thương mại không những đem lại lợi ích cho khâu sản xuất và các thương nhân mà còn cho toàn xã hội
Như vậy, có thể nói trong xã hội ngày nay với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất, thương mại trở thành cầu nối tích cực giữa các khâu trong quá trình tái sản xuất, đặc biệt là giữa sản xuất và tiêu dùng,
là phương tiện mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, khu vực Đối với mỗi nền kinh tế, thương mại phát triển, lưu thông hàng hóa thông suốt là biểu hiện của sự phát triển kinh tế lành mạnh, thịnh vượng
Trang 20c Tiếp cận thương mại với tư cách là một ngành kinh tế
Nếu xem xét dưới góc độ phân công lao động xã hội thì thương mại được coi là một ngành kinh tế quốc dân độc lập trong nền kinh tế Đó là ngành đảm nhận chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh lợi Như vậy, nghiên cứu thương mại dưới các góc độ cơ bản: Là một hoạt động kinh tế, một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, cũng như góc độ là một ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân, chúng ta đều nhận thấy đặc trưng chung nhất của thương mại là buôn bán, trao đổi hàng hóa
và cung ứng dịch vụ gắn với tiền tệ và nhằm mục đích lợi nhuận Bởi
vậy, có thể rút ra bản chất kinh tế chung của thương mại là tổng thể các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn liền và phát sinh cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận
2.2.2 Phân loại thương mại
a Theo phạm vi hoạt động thương mại
Theo phạm vi hoạt động, người ta phân loại thương mại thành 2 bộ
phận: Thương mại nội địa và thương mại quốc tế
Thương mại nội địa hay còn gọi là nội thương/thương mại trong nước phản ánh những quan hệ thương mại của các chủ thể kinh tế của một quốc gia Các hoạt động thương mại nội địa về cơ bản diễn ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia Các hoạt động thương mại nội địa diễn ra chủ yếu chịu sự quản lý và điều tiết của nhà nước Bởi vậy, các quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại nội địa vừa thể hiện quan hệ mang tính thị trường, song lại vừa phản ánh những chủ trương và chính sách của nhà nước Thương mại nội địa
có thể được phân thành: Thương mại thành thị; Thương mại nông thôn; Thương mại biên giới, hải đảo; Thương mại vùng sâu, vùng xa
Thương mại quốc tế hay còn gọi là ngoại thương, bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia có thể ở phạm vi toàn cầu, phạm vi khu vực hoặc thương mại song phương giữa hai quốc gia Thương mại quốc tế phản ánh những mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia với nhau Chúng tuân thủ
Trang 21những luật lệ và những thông lệ buôn bán toàn cầu, khu vực và các hiệp định thương mại ký kết song phương giữa các quốc gia
Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài và nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ rất lâu Tuy nhiên, nó chỉ thực sự phát triển từ thời đại tư bản chủ nghĩa và từ đó đến nay ngoại thương đã trở thành động lực quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đặc biệt, ngày nay khi toàn cầu hóa và
tự do hóa thương mại đã trở thành một xu thế và hiện tượng phổ biến của thời đại thì vị trí, vai trò và sự phát triển của ngoại thương ngày càng được khẳng định Ngoại thương không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là sự trao đổi buôn bán hàng hóa, dịch vụ với bên ngoài mà thực chất cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác, ngoại thương đã góp phần tham gia tích cực vào quá trình thúc đẩy phân công lao động quốc tế và sự tiến bộ của xã hội loài người
Thương mại nội địa diễn ra trên thị trường nội địa, ngoại thương là hoạt động thương mại diễn ra trên thị trường quốc tế Vì vậy, thương mại nội địa và ngoại thương được thực hiện theo những hình thức và phương pháp có thể không hoàn toàn giống nhau Quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu ngày càng diễn ra sâu rộng, các định chế thương mại cũng ngày càng trở nên thống nhất và được áp dụng cho mọi quốc gia, bởi vậy việc phân biệt thương mại trong nước và thương mại quốc tế theo đó cũng mang tính chất tương đối, đồng thời hai bộ phận này ngày càng thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với nhau hoặc bổ sung và thúc đẩy nhau phát triển
b Theo các khâu/đặc điểm của quá trình lưu thông
Theo các khâu/đặc điểm của quá trình lưu thông, thương mại được
phân thành 2 loại: Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ
Thương mại bán buôn chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực buôn bán các sản phẩm hữu hình Chủ thể của hoạt động thương mại bán buôn là những nhà sản xuất và các thương gia Chúng phản ánh các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa những nhà sản xuất, giữa nhà sản xuất với
Trang 22thương gia và giữa những người thương gia với nhau Khi hoàn thành các hoạt động mua bán buôn, hàng hóa vẫn chưa kết thúc quá trình lưu thông
mà chúng còn nằm lại trong khâu sản xuất để sau khi kết thúc sản xuất lại tiếp tục quay trở lại lưu thông hoặc vẫn nằm trong lưu thông để chờ bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Trong khi đó, thương mại bán lẻ phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ giữa những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thương gia với bên kia là những người tiêu dùng cuối cùng Khi hoàn thành các hoạt động mua, bán lẻ hàng hóa sẽ kết thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của xã hội
Sự phân biệt giữa thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ chủ yếu ở sự khác biệt theo các khâu trong quá trình lưu thông của sản phẩm Bất kỳ mối quan hệ thương mại nào mà một bên có sự tham gia của người tiêu dùng cuối cùng thì quan hệ thương mại đó thuộc về thương mại bán lẻ và ngược lại thì đó là thương mại bán buôn
Các hoạt động bán buôn diễn ra ở các chợ đầu mối, thị trường với trung tâm buôn bán trong nước và quốc tế… Ngược lại, hoạt động bán lẻ diễn ra chủ yếu ở các chợ, các cửa hàng chuyên doanh, tổng hợp, các siêu thị, hội chợ thương mại
c Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội
Khi xem xét theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm - đối tượng của hoạt động thương mại trong quá trình tái sản xuất xã hội, người ta phân thương mại thành 2 loại: Thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ là những khái niệm phân biệt với nhau chủ yếu dựa vào sự khác biệt về đối tượng của hoạt động trao đổi, mua bán trong thương mại Nếu thương mại hàng hóa về
cơ bản là trao đổi các sản phẩm "hữu hình" thì thương mại dịch vụ là lĩnh vực trao đổi, mua bán các sản phẩm "vô hình"
Thương mại dịch vụ là lĩnh vực rất rộng và phức tạp Trong nền kinh
tế hiện đại, thương mại dịch vụ ngày càng phát triển mạnh mẽ Thương
Trang 23mại dịch vụ tồn tại song song cùng thương mại hàng hóa và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của xã hội hiện đại
Thương mại hàng hóa gồm thương mại hàng tư liệu sản xuất và thương mại hàng tiêu dùng Người ta cũng có thể phân chia thương mại hàng hóa theo từng nhóm hàng, ví dụ: Thương mại nhóm hàng công nghiệp, hàng nông sản, thực phẩm, thủy sản, hay theo mặt hàng, ví dụ: Thương mại mặt hàng gạo, cà phê, chè hay sắt thép, máy nông nghiệp
d Theo kỹ thuật giao dịch
Trong một vài thập kỷ gần đây, với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế số hóa mà ngoài kỹ thuật trao đổi, buôn bán truyền thống đã xuất hiện việc trao đổi, buôn bán thông qua các phương tiện kỹ thuật số Sự tham gia của các phương tiện kỹ thuật số ở thời đại ngày nay đã mở ra một
xu thế và loại hình thương mại mới - đó là thương mại điện tử Bởi vậy, theo kỹ thuật giao dịch trong trao đổi, buôn bán, người ta phân thương
mại thành 2 loại: Thương mại truyền thống và thương mại điện tử
Sự phân biệt giữa hai khái niệm này dựa trên sự khác biệt về các phương thức mua bán trong thương mại Các phương thức mua bán trong thương mại truyền thống được thực hiện trong môi trường tự nhiên, những người tham gia vào hoạt động mua, bán thường tiếp xúc trực tiếp với nhau trên thị trường dưới nhiều hình thức khác nhau Ở đó, họ gặp gỡ trực tiếp, tiến hành các giao dịch mua bán ở các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, hội chợ triển lãm Thương mại truyền thống đã có từ rất lâu cùng với sự ra đời của trao đổi
Ngược lại, thương mại điện tử là một phương thức trao đổi mua bán bằng các phương tiện truyền thông kỹ thuật trong môi trường điện tử Thương mại điện tử chỉ xuất hiện trong xã hội hiện đại Hiện nay, thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh chóng trên toàn thế giới và đó là xu hướng phát triển tất yếu, là yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa Mặc dù, thương mại điện tử sẽ trở thành phương thức thương mại phổ biến trong xã hội hiện đại, tuy nhiên thương mại truyền thống vẫn giữ nguyên giá trị về kinh tế và văn hóa Nó vẫn tồn tại song song cùng với thương mại điện tử mặc dù kinh tế thị trường và thương mại thế giới không ngừng mở rộng và phát triển
Trang 24e Theo mức độ tham gia quá trình tự do hóa thương mại
Khi xem xét thương mại trong bối cảnh tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại khu vực và toàn cầu, người ta phân thương mại thành
2 loại, đó là: Thương mại có bảo hộ và thương mại tự do hóa
Thương mại có bảo hộ thường được các quốc gia áp dụng trong một
số lĩnh vực nhạy cảm để bảo vệ các lợi ích quốc gia hoặc để bảo vệ sản xuất trong nước, nhất là đối với những ngành công nghiệp, dịch vụ non trẻ, mới hình thành Các biện pháp thường được sử dụng trong thương mại bảo hộ là thuế quan và các biện pháp phi thuế quan Các biện pháp phi thuế quan được sử dụng trong chính sách bảo hộ thương mại bao gồm: Các biện pháp hành chính, hạn ngạch, giấy phép, các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn môi trường Đồng thời, việc bảo hộ thương mại của quốc gia còn được áp dụng thông qua các chính sách ưu đãi đối với sản xuất trong nước
Thương mại tự do hóa được thể hiện qua việc xóa bỏ và giảm thiểu hàng rào thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, bảo đảm quyền tự
do kinh doanh cho các thương nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa trong nước và quốc tế lưu thông thông suốt Thương mại tự do hóa có nhiều cấp độ và hình thức khác nhau Việc thực hiện bảo hộ và tự do hóa trong thương mại của các quốc gia vừa có tính mâu thuẫn, vừa có tính thống nhất với nhau Về thực tế, không có quốc gia nào bảo hộ một cách hoàn toàn hoặc ngược lại thực hiện một cách tự do thương mại với bên ngoài một cách hoàn toàn, mà bảo hộ để hội nhập thương mại có hiệu quả và bền vững hơn, bảo hộ để tiếp tục mở cửa, tự do thương mại nhiều hơn
Các phân loại thương mại trên tuy chỉ mang tính tương đối, song việc nghiên cứu này có ý nghĩa rất to lớn cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là góp phần làm rõ thêm bản chất kinh tế và những mối quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của thương mại, cũng như trong việc hình thành các chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy và phát triển thương mại một cách toàn diện, hiệu quả và bền vững
Trang 252.3 CÁC CHỨC NĂNG CỦA THƯƠNG MẠI
2.3.1 Chức năng chung của thương mại
Chức năng của thương mại là một phạm trù khách quan, được hình thành trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phân công lao động xã hội Thương mại đã từng tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Bản chất kinh tế - xã hội của các hình thái kinh tế - xã hội này mặc dù có sự khác nhau nhưng chức năng của thương mại là không thay đổi Bởi vậy, con người chỉ có thể nhận thức
và vận dụng các chức năng của thương mại chứ không thể tùy tiện áp đặt hoặc thay đổi các chức năng đó
Trong mọi hình thái kinh tế - xã hội còn tồn tại sản xuất và lưu thông hàng hóa thì chức năng chung của thương mại là thực hiện lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ thông qua mua bán bằng tiền Tuy nhiên, cũng cần phân biệt chức năng thương mại với các tư cách là một hoạt động kinh tế, một khâu của tái sản xuất và một ngành kinh tế, cụ thể: Nếu xem xét thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế thì thương mại có chức năng thực hiện việc mua bán, cung ứng hàng hóa và các dịch vụ bằng tiền
Nếu xem xét thương mại là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội thì thương mại có chức năng thực hiện cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng thông qua trao đổi, đảm bảo thực hiện tái sản xuất nhanh chóng, hiệu quả trong điều kiện của kinh tế hàng hóa
Nếu xem xét thương mại là một ngành kinh tế thì thương mại thực hiện chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ thông qua mua bán để gắn liền sản xuất với thị trường trong và ngoài nước nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường về hàng hóa và dịch vụ với chi phí thấp nhất
Chức năng của ngành thương mại là một phạm trù phản ánh đặc trưng cơ bản của ngành thương mại mà qua đó phân biệt ngành thương mại với các ngành kinh tế khác Ở đây cũng cần phân biệt hai phạm trù chức năng và nhiệm vụ của ngành thương mại Nếu chức năng là phạm trù khách quan thì nhiệm vụ là một phạm trù mang tính chủ quan Nhiệm
Trang 26vụ của ngành thương mại có thể thay đổi tùy thuộc vào đòi hỏi của từng giai đoạn lịch sử Thông thường, cơ sở để xác định nhiệm vụ của ngành thương mại trước hết là căn cứ vào chức năng của ngành thương mại, cùng với đó là căn cứ vào trình độ phát triển, mục tiêu phát triển của nền kinh tế - xã hội, bối cảnh kinh tế, thị trường khu vực và thế giới
2.3.2 Các chức năng cụ thể của thương mại
a Các chức năng cụ thể của thương mại hàng hóa
Đối với thương mại hàng hóa, chức năng của thương mại có thể được chia thành hai nhóm chức năng cơ bản, đó là:
Chức năng thay đổi hình thái giá trị của thương mại
Thương mại có chức năng thay đổi hình thái giá trị từ tiền sang hàng, và ngược lại từ hàng sang tiền thông qua hành vi mua (T - H) và hành vi bán (H – T) Đây còn được gọi là chức năng lưu thông thuần túy của thương mại
Cùng với việc thay đổi hình thái giá trị là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu về hàng hóa và tiền tệ Quyền sở hữu tiền tệ được chuyển
từ người mua sang người bán, và ngược lại quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua
Nhờ chức năng thay đổi hình thái giá trị của thương mại mà người bán đạt được mục đích của mình là giá trị nhằm tìm kiếm lợi nhuận, người mua có được các giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng khác nhau của mình
Để thực hiện được chức năng này, thương mại phải tiến hành hàng loạt những hoạt động gắn với việc thay đổi hình thái giá trị và chuyển đổi quyền sở hữu, như: Mua hàng, bán hàng, xúc tiến thương mại, tiếp thị, quảng cáo
Về lý thuyết, các hành vi thương mại khi thực hiện chức năng này không tạo ra giá trị mới, không làm tăng giá trị sử dụng của hàng hóa nhưng nó rất cần thiết và có ích cho xã hội
Chức năng phân phối hàng hóa của thương mại
Sản xuất và tiêu dùng thường không ăn khớp với nhau về không gian, thời gian, số lượng, chủng loại Vì vậy, để khắc phục sự không ăn
Trang 27khớp đó cần thiết phải có hoạt động phân phối để đưa sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng một cách hợp lý Trong nền kinh tế hàng hóa, hoạt động phân phối này được thực hiện thông qua thương mại
Thương mại thực hiện chức năng tổ chức quá trình phân phối hàng hóa nhằm đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến thị trường và tiếp tục hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lưu thông
Nhờ có chức năng này mà thương mại có thể tiếp tục thực hiện chức năng thay đổi hình thái giá trị, thực hiện giá trị hàng hóa mà chúng ta vừa
đề cập ở trên Đảm bảo việc thực hiện đưa các sản phẩm sản xuất ra đến thị trường nơi mà người tiêu dùng có nhu cầu phù hợp về số lượng, cơ cấu, thời gian và không gian với chi phí thấp nhất Thực hiện chức năng phân phối, thương mại góp phần giải quyết những mâu thuẫn vốn có giữa cung và cầu, giữa sản xuất và tiêu dùng trong điều kiện kinh tế hàng hóa Chức năng phân phối hàng hóa của thương mại được thực hiện thông qua hàng loạt những hoạt động khác nhau, cụ thể:
Hoạt động vận chuyển nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng và những dịch vụ có liên quan đến vận tải, như: Làm các thủ tục vận tải, giao nhận hàng hóa
Hoạt động giữ gìn, bảo quản hàng hóa Những hoạt động này nhằm bảo vệ giá trị sử dụng của hàng hóa về số lượng, chất lượng trong quá trình vận chuyển, cũng như lưu kho phát sinh do sự không ăn khớp giữa sản xuất và đòi hỏi của thị trường về không gian và thời gian
Các hoạt động phân loại, chọn lọc, đóng gói, bao bì, gia công, chế biến… làm hoàn thiện và làm cho giá trị sử dụng của hàng hóa thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng
Các hoạt động thương mại khi thực hiện nhóm chức năng phân phối
là các hoạt động mang tính sản xuất Chúng xảy ra trong khâu lưu thông
và được thực hiện bởi ngành thương mại Khi thực hiện chức năng phân phối, thương mại đã thực hiện bảo vệ và hoàn thiện giá trị sử dụng, đồng thời góp phần làm tăng giá trị hàng hóa Hoạt động thương mại xét về góc độ này đã trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập quốc dân Bởi vậy, chức năng này còn được gọi là chức năng tiếp tục sản xuất trong lưu thông của thương mại
Trang 28Các chức năng của thương mại được nghiên cứu có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc Qua nghiên cứu, một mặt chỉ ra rằng để quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra thông suốt, hiệu quả cần đảm bảo sự thông suốt của các dòng vận động, đó là dòng vận động của hàng hóa, tiền tệ, thông tin và quyền sở hữu Mặt khác, các chức năng của thương mại vốn diễn ra đồng thời và có mối quan hệ biện chứng với nhau, việc tách bạch trong nghiên cứu là để thấy bản chất kinh tế và vai trò của từng chức năng trong quá trình lưu thông hàng hóa Theo đó, nếu quá trình lưu thông hàng hóa được tổ chức hợp lý sẽ giảm thiểu được những hư phí phát sinh trong quá trình lưu thông
Trong xã hội hiện đại, hàng loạt yếu tố mới tác động và chi phối tới
hoạt động lưu thông hàng hóa, đó là: Thứ nhất, nhu cầu và đòi hỏi của
con người đối với thương mại ngày càng cao về chất lượng phục vụ, về
sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian; Thứ hai, cạnh tranh trên thị trường trong tiêu thụ hàng hóa ngày càng gay gắt; Thứ ba, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng; Thứ tư, vai trò
của khâu phân phối hàng hóa ngày càng trở nên quan trọng trong chuỗi
giá trị hàng hóa; Thứ năm, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật
cho phép công tác vận chuyển hàng hóa, giao dịch thương mại có những tiến bộ vượt trội về không gian, thời gian, chi phí… Bởi vậy, các chức năng của thương mại cần được nhận thức và vận dụng phù hợp với điều kiện của xã hội hiện đại Một mặt, tổ chức các hoạt động thương mại phải được tiếp cận, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại, xu hướng phát triển thương mại toàn cầu Mặt khác, cần nâng cao chất lượng phục vụ trước, trong và sau bán, tổ chức tiêu dùng để cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước, cũng như kiểm soát và tham gia tích cực vào chuỗi giá trị của hàng hóa
b Những đặc thù của các chức năng thương mại trong lĩnh vực dịch vụ
Do những đặc tính riêng biệt của dịch vụ: Tính vô hình; sản xuất, lưu thông và tiêu dùng đồng thời nên các chức năng của thương mại trong lĩnh vực dịch vụ cũng có sự biểu hiện đặc thù so với trong thương mại hàng hóa Cụ thể:
Trang 29Trong thương mại dịch vụ, chức năng sản xuất, lưu thông và tổ chức tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ thường diễn ra đồng thời Nghĩa là, trong thương mại dịch vụ, các nhà cung ứng dịch vụ không chỉ thuần túy thực
hiện việc mua bán (như trong thương mại hàng hóa) mà nó còn đồng thời
thực hiện chức năng sản xuất ra các dịch vụ và tổ chức cả quá trình tiêu dùng các dịch vụ đó cho khách hàng Các chức năng này về cơ bản được thực hiện đồng thời ở cùng một không gian và trong cùng một thời gian Bởi vậy, đối với chức năng thay đổi hình thái giá trị, trong thương mại dịch vụ mặc dù diễn ra quá trình chuyển quyền sở hữu tiền tệ từ người mua sang người bán, song không có sự chuyển quyền sở hữu dịch
vụ từ người bán sang người mua Đây chính là đặc thù được qui định bởi đặc điểm dịch vụ không tách rời khỏi người sản xuất ra chúng
Về chức năng phân phối, do dịch vụ thường khó có khả năng vận tải, bảo quản, dự trữ Bởi vậy, trong thương mại dịch vụ việc thực hiện vận chuyển, bảo quản, dự trữ, phân loại, chọn lọc, đóng gói… thường không xảy ra Theo đó, trong thương mại dịch vụ khả năng điều hòa cung - cầu, lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị trường dịch vụ khi không có sự
ăn khớp là rất khó khăn Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử thì một số khác biệt trên cũng có thể thay đổi, ví dụ: Khả năng vận chuyển dịch vụ qua hệ thống kỹ thuật truyền thông số, khả năng dự trữ một số loại dịch vụ…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân (2012), Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
2 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia
(1999), Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội
3 Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải (2007), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội
Trang 304 Nguyễn Mại (1985), Giáo trình kinh tế thương mại Việt Nam (tập
1), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
5 Lê Danh Vĩnh (2006), 20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN
1 Phân tích điều kiện (cơ sở) ra đời của trao đổi? Trên cơ sở đó
chứng minh sự ra đời của thương mại là một tất yếu khách quan? Luận
giải quan điểm cho rằng: Lưu thông hàng hóa ra đời đã phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp, song thương mại ra đời không những không phủ định lưu thông hàng hóa mà còn thúc đẩy lưu thông hàng hóa phát triển?
2 Phân tích bản chất kinh tế của thương mại thông qua các tiếp cận:
Là một hoạt động kinh tế, là một khâu của quá trình tái sản xuất, và là một ngành kinh tế? Ý nghĩa của nghiên cứu bản chất kinh tế của thương mại dưới các góc độ tiếp cận này trong quản lý nhà nước về thương mại?
3 Trình bày các phân loại thương mại? Ý nghĩa của từng cách phân loại này trong nghiên cứu và quản lý nhà nước về thương mại?
4 Trình bày chức năng chung của thương mại? Phân biệt chức năng của thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế, một khâu của quá trình tái sản xuất và một ngành kinh tế?
5 Phân tích các chức năng cụ thể của thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa? Những biểu hiện đặc thù của chức năng thương mại trong lĩnh vực thương mại dịch vụ? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu này trong quản lý nhà nước về thương mại?
Trang 31Chương 3
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI
Trong nền kinh tế thị trường, những tác động của thương mại có tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực, thể hiện trên nhiều phương diện, mức độ Mục đích của chương này là nghiên cứu những cơ sở luận và phân loại tác động của thương mại, qua đó đi sâu nghiên cứu những tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của thương mại Đây là những cơ sở cần thiết và quan trọng cho các lựa chọn về kinh tế trong phát triển thương mại của quốc gia, địa phương gắn với mục tiêu phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay
3.1 CƠ SỞ LUẬN VÀ PHÂN LOẠI TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI 3.1.1 Cơ sở luận nghiên cứu tác động của thương mại
Khi nghiên cứu tác động của thương mại cần xem xét và xuất phát từ những cơ sở luận sau:
Thứ nhất, khi xem xét thương mại là một hoạt động kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động kinh tế đều gắn với hoạt động thương mại, vì thế thương mại trở thành hoạt động kinh tế cơ bản
và phổ biến của nền kinh tế Chủ thể hoạt động thương mại là những người mua và những người bán Người bán gồm những nhà sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thương gia bán buôn hoặc bán lẻ thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Người mua hàng hóa, dịch vụ có thể là chính phủ, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc các cá nhân Do vậy, bất kỳ chủ thể nào tham gia vào hoạt động mua, bán trên thị trường đều chịu ảnh hưởng tác động của thương mại
Hoạt động thương mại phản ánh mối quan hệ kinh tế của các chủ thể tham gia mua, bán Chúng chịu sự dẫn dắt của "bàn tay vô hình", chi phối của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết Cơ
Trang 32chế thị trường lấy cạnh tranh làm động lực và lấy lợi ích làm mục đích,
vì thế tác động của thương mại tới các chủ thể mua bán rất linh hoạt, nhanh nhạy song cũng chứa đựng rất nhiều những yếu tố tự phát và nhiều khi gây ra những lãng phí Đồng thời, tác động của thương mại cũng rất
đa dạng, phức tạp và nhiều chiều Cách nhìn nhận về tác động của thương mại rất khác nhau từ phía người mua hay người bán, người sản xuất, người tiêu dùng hay từ phía chính phủ
Thứ hai, khi xem xét thương mại là một ngành kinh tế
Trong nền kinh tế bao gồm ba khu vực kinh tế, đó là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Thương mại là một trong những ngành thuộc khu vực dịch vụ Tuy nhiên, thương mại hàng hóa hay ngành phân phối trong khu vực dịch vụ có phạm vi hoạt động rộng lớn, chi phối phần lớn mọi lĩnh vực, mọi khâu của nền kinh tế Ngành dịch vụ phân phối đóng vai trò như hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế Nó thực hiện chức năng cung cấp các yếu tố đầu vào, đồng thời đảm nhận việc tiêu thụ tất cả các sản phẩm đầu ra của sản xuất Ngoài ra, ngành phân phối cũng thực hiện chức năng truyền tải các thông tin từ sản xuất tới thị trường và ngược lại
từ thị trường tới sản xuất Với chức năng này, ngành phân phối có mối quan hệ chặt chẽ và tương tác qua lại với tất cả các ngành khác của nền kinh tế
Thương mại theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các ngành dịch vụ cung
ứng dịch vụ thông qua thị trường với mục đích lợi nhuận (trong đó có ngành dịch vụ phân phối), chúng không chỉ cung cấp các dịch vụ đầu vào
cho nền kinh tế mà còn cung cấp cả những dịch vụ đa dạng phục vụ nhu cầu đời sống của mọi cá nhân và cộng đồng trong xã hội Bởi vậy, tác động của thương mại không chỉ nằm trong khuôn khổ lĩnh vực sản xuất của cải vật chất của nền kinh tế mà vượt ra khỏi lĩnh vực sản xuất, tác động tới hầu hết các khía cạnh của tiêu dùng xã hội, hay nói cách khác thương mại có thể tạo ra ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực, các mặt khác nhau của đời sống xã hội
Thứ ba, khi xem xét thương mại là một khâu (khâu trao đổi) của quá
trình tái sản xuất xã hội
Trang 33Cùng với phân phối, thương mại là một trong hai khâu trung gian của quá trình tái sản xuất xã hội Thương mại giữ vai trò cầu nối giữa khâu sản xuất và khâu tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất với tiêu dùng không thể kết nối với nhau nếu không có thương mại Một mặt, thương mại chịu sự chi phối của sản xuất và tiêu dùng, mặt khác thương mại cũng có tác động tới quy mô, cơ cấu và sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng xã hội
Thương mại không chỉ tác động qua lại trực tiếp tới sản xuất và tiêu dùng, mà thương mại còn tác động qua lại với khâu phân phối và thông qua phân phối nó gián tiếp tác động tới sản xuất và tiêu dùng xã hội Ngoài ra, nghiên cứu tác động của thương mại dù dưới góc độ nào
(là hoạt động kinh tế, ngành kinh tế, hoặc một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội) cũng phải xuất phát từ quan điểm xem xét thương mại là một
hệ thống Theo đó, thương mại là một hệ thống kinh tế mở với môi trường bên ngoài Hệ thống thương mại được hình thành bởi hai hệ thống con là cung và cầu Các hệ thống con này hoạt động và liên hệ với nhau qua hoạt động của người mua và người bán, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau Trong quá trình phát triển, thương mại vừa hấp thu các yếu tố cần thiết từ môi trường, vừa tạo ra cho môi trường những yếu tố nhất định Những yếu tố này có thể tích cực hoặc tiêu cực Thương mại một mặt chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa,
xã hội Những yếu tố môi trường này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển thương mại Song ngược lại, thương mại cũng tác động trở lại làm biến đổi những yếu tố môi trường nói trên Tác động thương mại không chỉ thuần túy mang tính chất kinh tế mà chúng còn mang tính chất
xã hội, chính trị, luật pháp, công nghệ và ảnh hưởng mật thiết tới môi trường tự nhiên
3.1.2 Phân loại tác động của thương mại
Từ những cơ sở luận trên, ta có thể thấy tác động của thương mại là rất đa dạng, thể hiện ở nhiều phương diện với những tính chất và mức độ khác nhau Bởi vậy, khi nghiên cứu những tác động của thương mại cần thiết phải tiến hành phân loại những tác động đó để nhận dạng và thấy rõ tính chất, mức độ, phạm vi, đối tượng tác động của chúng Đó cũng là cơ
Trang 34sở cho việc hoạch định chính sách thương mại ở tầm vĩ mô của nhà nước, cho việc lựa chọn ứng xử của các chủ thể kinh tế trên thị trường nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường của quốc gia
Ta có thể phân loại tác động của thương mại theo nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể:
a Theo xu hướng ảnh hưởng của tác động Theo tiêu chí này, tác
động của thương mại được chia thành 2 loại là: Tác động tích cực và tác động tiêu cực
Những tác động của thương mại mà kết quả ảnh hưởng của nó có thể
là những lợi ích (vật chất hoặc tinh thần) hoặc tạo ra sự thúc đẩy vận
động của các quá trình kinh tế - xã hội theo chiều hướng tiến bộ thì đó là những tác động tích cực Ví dụ: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa có thể đem lại những lợi ích vật chất, như mang lại thu nhập ngoại tệ cho nền kinh tế, lợi nhuận cho doanh nghiệp xuất khẩu, thu nhập cho những người lao động Xuất khẩu hàng hóa cũng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành sản xuất có lợi thế so sánh của quốc gia, thúc đẩy các doanh nghiệp đưa khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường quốc tế Đó là những tác động mang tính tích cực
Ngược lại, những tác động của thương mại mà kết quả mang lại là
những tổn thất (về vật chất hay tinh thần) hay tạo ra xu hướng kìm hãm,
đẩy lùi sự vận động của các quá trình kinh tế - xã hội được coi là những tác động tiêu cực
Trong đời sống kinh tế, chúng ta khó tìm thấy một hoạt động thương mại hay một chính sách thương mại nhất định chỉ thuần túy mang tính tiêu cực hoặc tích cực Thông thường tác động của thương mại chứa đựng cả hai mặt tích cực và tiêu cực Ví dụ: Buôn lậu là hiện tượng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường Buôn lậu gây ra những tác động tiêu cực là làm thất thu nguồn thu của nhà nước, gây tổn thất kinh doanh cho các doanh nghiêp làm ăn chân chính vì sự cạnh tranh không lành mạnh, người tiêu dùng khi mua
Trang 35hàng hóa buôn lậu phải chịu nhiều rủi ro về vật chất và tinh thần mà không được luật pháp bảo vệ Ở một khía cạnh khác, buôn lậu lại đem lại giá cả rẻ và theo đó cho phép một số tầng lớp dân cư có thể được tiếp cận với hàng hóa dễ dàng hơn Nhưng xét về tổng thể, buôn lậu gây tổn thất nhiều hơn lợi ích mà nó mang lại cho cả nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Vì thế, trong quản lý kinh tế vĩ mô, tất cả các chính phủ đều kiên quyết thực hiện chính sách chống buôn lậu
b Theo phạm vi ảnh hưởng Theo phạm vi ảnh hưởng, tác động của
thương mại có thể phân thành 2 loại là: Những tác động diễn ra ở phạm
vi hẹp và những tác động diễn ra ở phạm vi rộng
Những tác động diễn ra ở phạm vi hẹp là những tác động có thể chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một số bộ phận, đối tượng trong nền kinh tế - xã
hội (một bộ phận người tiêu dùng, doanh nghiệp; một số địa phương…)
Thường những tác động này có ảnh hưởng đến đối tượng có những đặc thù về trình độ phát triển hoặc đặc thù về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh…
Trong khi đó, những tác động ở phạm vi rộng là những tác động mà ảnh hưởng của nó có thể liên quan đến đại bộ phận các chủ thể trong nền kinh tế, có thể diễn ra ở phạm vi quốc gia, thậm chí trên phạm vi toàn
cầu hoặc một khu vực kinh tế (ASEAN, EU…) Những tác động thương
mại ở phạm vi rộng thường thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, thường gây ra những hậu quả phức tạp và khó lường Vì thế, những tác động ở phạm vi rộng này thường cần có sự phối hợp trong việc hoạch định chính sách và phối hợp hoạt động quản lý ở phạm vi quốc gia hoặc nhiều quốc gia trong một khu vực, thậm chí có khi cần tới sự phối hợp quản lý và kiểm soát ở phạm vi toàn cầu Ví dụ: Dịch bệnh từ gia súc, gia cầm, dịch bò điên có thể lây lan nhanh chóng từ vùng này qua vùng khác trong một quốc gia hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác và trở thành đại dịch thông qua con đường buôn bán thương mại quốc tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại hiện nay cần có những sự phối hợp quản lý, kiểm soát các hoạt động xuất nhập khẩu ở phạm vi quốc tế nhằm chống sự lây lan dịch bệnh qua con đường thương mại
Trang 36c Theo lĩnh vực tác động Theo lĩnh vực tác động, những tác động
của thương mại có thể được phân thành 3 loại, đó là: Những tác động
về kinh tế, về xã hội (xã hội, chính trị, văn hóa…) và những tác động về
môi trường
Những tác động về kinh tế của thương mại, bao gồm những ảnh hưởng của thương mại đến quy mô, tốc độ và hiệu quả tăng trưởng kinh
tế, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, hoạt động đầu tư và hội nhập kinh tế quốc
tế, các cân đối kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế quốc dân
Những tác động về xã hội của thương mại, bao gồm những ảnh hưởng của thương mại tới sự ổn định chính trị quốc gia, tới thực hiện đường lối, chính sách của nhà nước, ảnh hưởng tới hệ thống luật pháp của quốc gia Ngoài ra, nó còn bao gồm cả những tác động tới yếu tố dân
cư, hôn nhân và tổ chức gia đình, mức sống và lối sống, phong tục, tập quán, hệ thống giá trị trong xã hội
Những tác động về môi trường của thương mại, bao gồm những ảnh hưởng của thương mại tới môi trường sống, đó là sự bảo tồn các yếu tố
tự nhiên (khí hậu, nguồn nước, khoáng sản, hệ thực vật, động vật ), các yếu tố hạ tầng (giao thông vận tải, hệ thống thông tin, truyền thông )
Con người càng ngày càng nhận thức về mức độ cần thiết và tầm quan trọng của sự phát triển bền vững Vì vậy, nghiên cứu các tác động thương mại không chỉ nhấn mạnh, coi trọng đến những ảnh hưởng của thương mại về kinh tế Những tác động về xã hội và môi trường cũng ngày càng được chú trọng và cân nhắc toàn diện trong mối liên hệ chặt chẽ với những tác động về kinh tế nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển thương mại của các quốc gia, cũng như việc tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại ở phạm vi doanh nghiệp
d Một số cách phân loại khác về tác động của thương mại
- Tác động trực tiếp và gián tiếp: Những tác động có tính chất lan tỏa được xem là những tác động gián tiếp của thương mại Chẳng hạn, ngoài những đóng góp trực tiếp về GDP của ngành thương mại thì các hoạt động thương mại còn góp phần đem lại sự phát triển và gia tăng GDP ở nhiều ngành kinh tế khác và đó chính là những tác động lan tỏa, gián tiếp
Trang 37của thương mại Hay cụ thể trong trường hợp một doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ra thị trường quốc tế và đem lại thu nhập ngoại tệ thì hoạt động xuất khẩu cà phê tạo ra doanh thu ngoại tệ cho doanh nghiệp là tác động trực tiếp Tuy nhiên, số ngoại tệ không dừng lại ở doanh nghiệp đó
mà nó tiếp tục lan tỏa vào nền kinh tế theo nhiều con đường khác nhau Doanh nghiệp xuất khẩu để duy trì hoạt động kinh doanh của mình phải dùng số thu nhập ngoại tệ này để nhập nguyên liệu, chi trả tiền lương, lãi suất vốn vay, chi phí cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ vận tải, viễn thông, điện, nước, nộp thuế và các chi phí khác Những khoản chi trả này tiếp tục hình thành nên thu nhập của nhiều chủ thể khác Những chủ thể của những khoản thu này lại tiếp tục quá trình chi tiêu tương tự
Cứ như vậy, khoản thu nhập ngoại tệ ban đầu do xuất khẩu cà phê lan tỏa vào nền kinh tế ở những cấp độ và mức độ khác nhau
- Một số tác động của thương mại mà kết quả mang lại có thể lượng hóa được, tuy nhiên nhiều tác động khác lại chỉ có thể cảm nhận được bằng cảm giác mà rất khó đo lường được Vì thế, có thể phân chia tác động thương mại thành những tác động đo lường được và không đo lường được
- Một số tác động của thương mại mà hậu quả của nó gây ra có thể khắc phục được, nhưng ngược lại có những tác động lại không thể khắc phục được hoặc nếu có thể thì phải tốn nhiều thời gian, công sức, tiền bạc Khai thác thủy sản với mục đích thương mại bằng thuốc nổ có thể hủy diệt môi trường sống của nhiều loại thủy sản và sinh vật sống dưới nước Nạn buôn lậu ngà voi, săn bắt động vật hoang dã để lấy lông, da, sừng…
đã đưa đến sự tuyệt chủng nhiều loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ là những ví dụ cho những loại tác động này của thương mại…
Từ những phân loại trên, dưới đây chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu những tác động cụ thể của thương mại theo từng lĩnh vực tác động, đó là những tác động của thương mại về kinh tế, xã hội và môi trường
3.2 NHỮNG TÁC ĐỘNG VỀ KINH TẾ CỦA THƯƠNG MẠI
3.2.1 Thương mại đối với tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Mức
Trang 38gia tăng của cải này có thể đo lường bằng hiện vật hoặc giá trị Mức tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân theo đầu người Phát triển thương mại và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ rất mật thiết Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thương mại Một nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định luôn tạo ra sự hấp dẫn mạnh mẽ với các nguồn lực đầu tư trong nước và ngoài nước Tăng trưởng kinh tế suy cho cùng là vì con người, vì thế đi liền với tăng trưởng
là sự gia tăng thu nhập và sức mua của các tầng lớp dân cư trong xã hội
và đó là tiền đề để mở rộng tiêu thụ trong nước, cũng như nâng cao năng lực xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Đây chính là những điều kiện cần thiết và cơ bản cho sự phát triển thương mại Ngược lại, sự phát triển thương mại có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm tăng trưởng kinh tế của một quốc gia tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia và mỗi giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát triển của quốc gia đó Tác động của thương mại tới tăng trưởng kinh tế không chỉ về phương diện số lượng
mà cả về chất lượng của tăng trưởng kinh tế Điều này có thể xem xét ở một số khía cạnh cụ thể sau:
Thương mại là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, trực tiếp đóng góp vào việc tạo ra thu nhập quốc dân và gia tăng tổng sản phẩm quốc dân Các số liệu thống kê chỉ ra rằng bản thân ngành dịch vụ phân phối đóng góp từ 9 - 21% vào GDP tùy thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia Nếu chúng ta xem xét thương mại theo nghĩa gồm tất cả các ngành dịch vụ cung ứng các dịch vụ cho thị trường nhằm mục đích
sinh lời (trong đó có ngành dịch vụ phân phối) thì đóng góp của thương
mại vào GDP của nền kinh tế rất lớn Một số quốc gia phát triển như Mỹ
và các nước Châu Âu tỷ lệ đóng góp của các ngành dịch vụ vào thu nhập quốc dân lên đến 70 - 80% GDP, ở Việt Nam (năm 2013) khoảng 42% Thương mại một mặt trực tiếp làm tăng GDP nhờ chính hoạt động của mình, mặt khác gián tiếp tác động tới việc gia tăng GDP của các ngành kinh tế khác và đây chính là sự tác động có tính chất lan tỏa, hay khả năng mang lại hiệu quả bội số của thương mại cho tăng trưởng kinh tế
Trang 39Điều này thể hiện ở những tác động của thương mại đến thúc đẩy sản
xuất phát triển Thông qua việc cung ứng các yếu tố đầu vào (nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ…) cho sản xuất đúng, đủ và
kịp thời với giá cả hợp lý, đồng thời đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản xuất một cách nhanh chóng, ổn định và giá cả tốt, thương mại sẽ tác động đến năng suất, hiệu quả của sản xuất, gia tăng sản lượng hàng hóa Sự tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế thể hiện ở chỗ: Thương mại tạo ra khả năng huy động các nguồn lực sẵn có của quốc gia cũng như tác động tới việc di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia Nhờ vậy mà góp phần to lớn vào mở rộng quy mô sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các quốc gia, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, thông qua đó thương mại còn tác động đến tăng khả năng tiêu dùng của một quốc gia và gián tiếp sản xuất ra các sản phẩm có hiệu quả hơn là tự sản xuất
Thương mại tác động đến chất lượng của tăng trưởng kinh tế thể hiện ở một số phương diện: Đó là nhờ lợi thế về quy mô do các doanh nghiệp có thể tiếp cận và mở rộng ra các thị trường lớn hơn ở nước ngoài, qua đó giúp các doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi với trình độ công nghệ hiện đại, cải thiện năng lực cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động
và hiệu quả kinh doanh Hay thông qua sự tác động của thương mại tới người tiêu dùng trong việc kích cầu về số lượng, cơ cấu, chủng loại, chất lượng… của hàng hóa, thương mại đã góp phần tạo ra tính ổn định cho phát triển kinh tế trong thời gian dài Ngoài ra, hội nhập thương mại quốc
tế là nhân tố quan trọng thúc đẩy các quốc gia khai thác và phân bố các nguồn lực một cách hợp lý, làm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế Cũng chính hội nhập thương mại tạo điều kiện cho các quốc gia khai thác được tiềm năng và các lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế, thúc đẩy
sự hợp tác và phân công lao động quốc tế, phân bố hợp lý hơn các nguồn lực kinh tế, nhờ vậy nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực không chỉ
ở phạm vi quốc gia mà cả trong phạm vi quốc tế Đây cũng là những yếu
tố tạo ra chất lượng và hiệu quả tăng trưởng cho nền kinh tế
3.2.2 Thương mại đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ
Trang 40phận ấy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nó phản ánh quan hệ
tỷ lệ cả về mặt lượng và mặt chất của các yếu tố hợp thành của nền kinh
tế Trong lý luận cũng như thực tiễn, người ta tiếp cận cơ cấu kinh tế theo
ba loại chủ yếu, đó là: Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ; Cơ cấu kinh tế
theo ngành (hoặc lĩnh vực) kinh tế; cơ cấu kinh tế theo các quan hệ sản xuất (thành phần kinh tế) trong nền kinh tế Tuy nhiên, khi nói đến cơ cấu kinh tế thì cơ cấu kinh tế theo ngành (hoặc lĩnh vực) kinh tế đóng vai
trò quan trọng nhất, được coi như "bộ khung xương" của nền kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế được hiểu là cách thức liên kết, phối hợp các thành phần kinh tế tạo nên nền kinh tế Sự phát triển thương mại có thể tác động làm thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng đa dạng hóa các thành phần kinh tế Ở Việt Nam, từ năm 1986 đã có quá trình biến đổi mạnh mẽ từ một nền kinh tế gồm 2 thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể dựa trên chế độ sở hữu công hữu tư liệu sản xuất sang một nền kinh tế đa sở hữu với nhiều thành phần kinh tế: Kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Một mặt, đa thành phần kinh tế tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển thương mại, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Mặt khác, quá trình phát triển thương mại và hoàn thiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam lại tác động trở lại quá trình hình thành cơ cấu thành phần kinh tế ngày càng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Sự phát triển thương mại cũng tác động làm thay đổi vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Xu hướng biến đổi cơ cấu thành phần kinh tế có thể không giống nhau ở các nền kinh tế và trong các giai đoạn lịch sử khác nhau bởi sự tác động của thương mại Trong những thập kỷ vừa qua, ở Việt Nam và các nền kinh
tế chuyển đổi tác động của thương mại đến sự thay đổi vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế là rất rõ nét Sự tác động này đã từng bước xóa bỏ địa vị thống trị của thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, đồng thời gia tăng vai trò và tỷ trọng của các thành phần kinh tế tư nhân, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào ngân sách và tạo công ăn việc làm cho xã hội