Đến 1989, Bùi Văn Nguyên cũng nghiên cứu về văn học ở những thế kỷnày … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Các tác giả đã khái quát diện mạo của văn học thế kỷ
Trang 1NGUYỄN THANH HOÀI
VĂN HỌC THẾ KỶ XVI – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XVIII TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Tuấn Vũ
VINH - 2004
Trang 2lời cảm ơn
Luận văn đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn tận tình , nghiêm túc của Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ Nhân dịp hoàn thành đề tài , tác giả luận văn xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo , Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ - ngời đã giúp đỡ tôi rất tận tình và với tinh thần trách nhiệm cao
Đề tài Văn học thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam đợc hoàn thành đúng thời hạn cũng nhờ sự giúp đỡ nhiều mặt của Ban giám hiệu , Khoa sau Đại học , Khoa ngữ văn trờng Đại học Vinh ; Ban giám hiệu , tổ ngữ văn trờng Trung học phổ thông Nguyễn Du cùng bạn bè đồng nghiệp Tác giả luận văn xin cảm ơn !
Trang 31.1 Sự biến đổi trong lực lợng sáng tác văn học 6 1.2 Điều kiện hình thành loại hình nhà nho ẩn dật 7 1.3 Nội dung văn chơng nhà nho ẩn dật thế kỉ XVI - nửa
Ch ơng 3 : Văn học thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII 58
nhìn từ phơng diện nội dung
3.1 Một số đặc điểm nội dung văn học trung đại Việt Nam 58
3.2 Văn học thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII trong
sự tiếp nối nguồn mạch nội dung văn học dân tộc 63
3.3 Bớc phát triển mới về phơng diện nội dung ở vănhọc thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII 68
Ch ơng 4 : Văn học thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII 83
nhìn từ những thành tựu lí luận
4.1 Một số đặc điểm lí luận văn học trung đại Việt Nam 83
4 2 Những thành tựu lí luận văn học thế kỉ XVI - nửa đầuthế kỉ XVIII 85
Kếtuận 95
tài liệu tham khảo 99
Trang 4mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Lịch sử văn học một dân tộc là dòng chảy liên tục Nó không phải là
con số cộng đơn thuần của những tác giả, tác phẩm, thể loại, những hiện tợngvăn học … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sửvăn học Việt Nam Nó ra đời, phát triển bên cạnh dòng văn học dân gian,
đồng thời cũng là bớc tích lũy về chất cho văn học sau này Nh vậy, mỗi giai
đoạn văn học cụ thể là sự tiếp nối giai đoạn trớc một cách lôgíc và có qui luật
Văn học thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII có một vị trí quan trọngtrong tiến trình văn học trung đại Việt Nam Nó vừa tiếp nối những thành tựucủa văn học thế kỷ X - XV, vừa là sự chuẩn bị tạo cho giai đoạn văn học nửacuối thế kỷ XVIII - XIX có nhiều thành tựu Nghiên cứu đề tài này nhằm tìmhiểu sự tiếp nối và chuẩn bị đó
1.2 Từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII , lực lợng sáng tác văn học
có sự biến động đáng kể, hệ thống thể loại của văn học dân tộc đ ợc bổ sung,
có những hình thức nghệ thuật và nội dung phản ánh mới Những điều đó
đóng góp vào sự chuyển biến , phát triển của văn học dân tộc Nghiên cứu đềtài này nhằm tìm hiểu cái mới của văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷXVIII ở phơng diện nội dung và hình thức
1.3 Trong một số bộ sách viết lịch sử văn học , đặc biệt một số giáo
trình dùng cho Đại học và Cao đẳng , cha chú trọng sự chuyển mình quantrọng của văn học ở những thế kỷ này, cha đánh giá đúng mức thành tựu màgiai đoạn văn học này đã tạo ra đợc để chuẩn bị cho bớc nhảy vọt của vănhọc nửa sau thế kỷ XVIII - XIX Thành tựu rực rỡ ở văn học giai đoạn nửacuối thế kỷ XVIII - XIX chính là sự hoàn thiện của những gì đã bắt đầu từcác thế kỷ trớc, đặc biệt từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII Nhà nghiêncứu Bùi Duy Tân viết : " Trong lịch sử văn học , giai đoạn thế kỷ XVI , XVII
và đầu XVIII thờng đợc coi là để lại ít tác gia, tác phẩm tiêu biểu hơn cácgiai đoạn khác ấn tợng chung của chúng ta đối với giai đoạn văn học nàycha sâu và cũng có thể nói là vì thế mà cha khách quan "[ 35, 74 ] Giải
Trang 5quyết đề tài này góp phần có cái nhìn khách quan hơn , sâu và hệ thống hơn
về vai trò, vị trí mà giai đoạn văn học này đã tạo ra trong tiến trình vận động,phát triển của văn học trung đại nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung
1.4 Kết quả luận văn góp phần giảng dạy tốt hơn bài văn học sử giai
đoạn thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói cha có một công trình nào thật chú trọng đặt giai đoạn vănhọc thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII trong sự đối sánh với văn học củanhững thế kỷ trớc và những thế kỷ sau trên tất cả các phơng diện để có cáinhìn hệ thống , toàn diện hơn về diện mạo của văn học ở những thế kỷ nàytrong tiến trình văn học trung đại Việt nam
Trong các bộ sách : Lợc thảo lịch sử văn học Việt Nam nhóm Lê Quí
Đôn ( Nhà xuất bản Xây dựng , Hà nội 1957) , Sơ thảo lịch sử văn học Việt
Nam 3 tập , Văn Tâm , Nguyễn Hồng Phong , Nguyễn Đổng Chi ( Nhà xuất
bản Văn sử địa , Hà Nội 1958 1959 ) , Văn học Việt Nam từ thế kỷ XVI
-nửa đầu thế kỷ XVIII của Đinh Gia Khánh , Bùi Duy Tân , Mai Cao Chơng
( Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp , Hà Nội 1978 -1979)
Đến 1989, Bùi Văn Nguyên cũng nghiên cứu về văn học ở những thế kỷnày … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Các tác giả đã khái quát diện mạo của văn học thế kỷ XVI - nửa đầuthế kỷ XVIII trên tất cả các mặt : thể loại, ngôn ngữ , nội dung và cả vềnhững tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn văn học này Mặc dầu vậy,
họ mới chỉ dừng lại ở việc mô tả chứ cha chú trọng đúng mức vai trò, vị trí
mà giai đoạn văn học này đã tạo ra Vả lại, các nhà nghiên cứu vẫn xem vănhọc giai đoạn này gắn với "sự suy thoái của chế độ phong kiến ", là giai đoạn
để lại ít tác phẩm và tác giả tiêu biểu nên cha làm rõ đợc vai trò của nó trongviệc kế thừa , sáng tạo những giá trị cho văn học trung đại Việt Nam
Việc khẳng định thành tựu của văn học giai đoạn này nằm rải rác trongnhững bài nghiên cứu trên từng phơng diện cụ thể : Vấn đề thể loại (bài Vấn
đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ của Bùi DuyTân, Tạp chí Văn học
số 3 năm 1976 ) ; vấn đề loại hình tác giả nhà nho (của Trần Ngọc Vơng in
trong Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Nhà xuất bản Giáo
dục , Hà Nội 1999 ) Hay chỉ dừng lại ở việc " thực hiện một lát cắt ngang"của văn học thế kỷ XVI trong cả giai đoạn văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế
kỷ XVIII nh ở bài viết Đặc điểm văn học Việt nam thế kỷ XVI - các bớc tiếp
Trang 6nối và phát triển của Nguyễn Hữu Sơn (Tạp chí Văn học số 5 - 6 , năm
1988 ) ; hoặc bài Khái luận văn học Việt Nam thế kỷ XVI của Bùi Duy Tân
(in trong Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt
Nam, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1997) ở những bài viết ngắn
này, các nhà nghiên cứu đã từng bớc khẳng định thành tựu của văn học giai
đoạn này trên một số phơng diện chứ cha khẳng định trên tất cả các mặt Ngoài ra, văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII cũng đợc bàn tới ở
một số công trình khác nh : Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại của Bùi
Văn Nguyên - Hà Minh Đức , ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội , Hà Nội 1971
; Từ trong di sản … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử tập hợp những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầuthế kỷ XX ở nớc ta do Nguyễn Minh Tấn chủ biên (Nhà xuất bản Tác phẩmmới, Hội nhà văn Việt Nam, Hà nội 1981)… Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử ở đây, một số vấn đề của vănhọc thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII cũng tiếp tục đợc đề cập tới nhngcũng chỉ dừng lại ở một số phơng diện: thể loại, lí luận và ở một số tác giảtiêu biểu
Sở dĩ có cách đánh giá cha thấu đáo trên là bởi việc khẳng định thành tựuvăn học trung đại Việt nam thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII trớc hết gắnvới nhà Mạc và các vơng triều đơng thời Xem đó là "ngụy triều ", là "mở
đầu một thời kì mới của lịch sử chế độ phong kiến Việt nam - thế kỉ khủnghoảng và suy vong kéo dài" [ 30 , 410 ] Dựa vào những thành tựu nghiêncứu mới , các nhà sử học đã nhận định : " Có thể nói từ thế kỷ XV cho đến
đầu thế kỷ XVIII , chế độ phong kiến Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ pháttriển của nó ( … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử ), chúng ta không thể đặt triều Mạc vào thời kỳ suy vongcủa chế độ phong kiến để kết luận đây là vơng triều đồi bại" [ 43, 62] Chúng ta đều biết, ngoài quy luật gắn bó với đời sống xã hội lịch sử thì vănhọc còn có quy luật của bản thân nó, có lúc nó phát triển nghịch biến với đờisống chính trị xã hội
Đánh giá một hiện tợng , một giai đoạn hay cả thời kỳ văn học chính làxem xét với thái độ khách quan, toàn diện đời sống văn học ấy,dựa vàonhững thành tựu mà bản thân đối tợng tạo ra chứ không phải dựa trên sự áp
đặt chủ quan hay thiên kiến về chính trị , lịch sử … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Nh vậy, có thể thấyrằng văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII đã đợc các nhà nghiên cứuquan tâm nhng cha thật chú trọng đặt giai đoạn văn học này trong sự đối sánh
để có cách nhìn đúng về vị trí mà nó tạo ra ; xem nó có ý nghĩa chuẩn bị
đáng kể tiến tới bớc nhảy vọt cho " văn học cổ điển Việt Nam "
Trang 73 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế
kỷ XVIII trong sự đối sánh với giai đoạn trớc ( thế kỷ X - XV) và sau ( cuốithế kỷ XVIII - XIX ) nhằm xác định rõ hơn bộ mặt văn học giai đoạn này
3.2 Nhận thức sâu hơn sự đóng góp của cả giai đoạn này cho văn học
trung đại trên các phơng diện : tác giả , thể loại , nội dung , lí luận
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi vào nghiên cứu những lĩnh vực chủ yếu của giai đoạn vănhọc thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII trên những phơng diện : tác giả, thểloại, nội dung văn học, thành tựu lý luận
5 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu : phơng pháplịch sử , phơng pháp hệ thống , phơng pháp tổng hợp , phơng pháp phân tích ,
đặc biệt là phơng pháp so sánh
6 Đóng góp mới của luận văn
6.1 Làm rõ giai đoạn văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII trong
sự đối sánh với văn học những thế kỷ trớc và sau trên các phơng diện : tác giả, thể loại , nội dung , lý luận để khẳng định đúng vị trí của giai đoạn văn họcnày trong tiến trình văn học trung đại Việt nam
6.2 Kết quả luận văn góp phần giảng dạy tốt hơn phân môn văn học sử
trong nhà trờng phổ thông , sẽ là tài liệu hữu ích cho giảng dạy bài văn học
sử thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII ở bậc Đại học , Cao đẳng và Trung họcphổ thông
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận , luận văn triển khai trong 4 chơng.Chơng 1 : Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII nhìn từ phơng diện tác giả
Trang 8Chơng 2 : Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII nhìn từ phơng diện thể loại
Chơng 3 : Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII nhìn từ phơng diện nội dung
Chơng 4 : Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII nhìn từ những thành tựu lý luận
Sau cùng là Tài liệu tham khảo
Nội dung
Chơng 1
Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
nhìn từ phơng diện tác giả
1.1 Sự biến đổi trong lực lợng sáng tác văn học
" Tác giả " theo nghĩa chung nhất là ngời sản xuất ra các sản phẩm củasáng tạo trí tuệ , của tình cảm Tác giả văn học chỉ chủ thể của các sáng tác
Trang 9văn học, ngời sáng tạo ra những giá trị văn học Tác giả là phạm trù quantrọng để xác định diện mạo đặc sắc cho sự tiến triển của cả một quá trình vănhọc ứng với mỗi thời kỳ văn học có một kiểu tác giả sáng tạo ra những giátrị văn học tiêu biểu cho thời kỳ ấy Văn học nhà nho với ba loại hình : nhànho hành đạo , nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử đã làm nên diện mạo của vănhọc Việt Nam thời trung đại
Thời Lí – Trần ( thế kỷ X –XV ), lực lợng sáng tác văn học chủ yếu là
các nhà s Theo sách Thiền Uyển tập anh có khoảng trên 40 nhà s làm thơ
văn Chính họ đã sáng tác những tác phẩm văn học giàu sinh khí , giàu lòngyêu đời, yêu cuộc sống, mang lại giá trị cho văn học lúc bấy giờ Đến cuối
đời Trần, đầu đời Lê (thế kỉ XV) tầng lớp nho sĩ đã trở thành lực lợng sángtác văn học lớn mạnh Trong số non một trăm rỡi tác phẩm còn lu truyền đếnngày nay, trừ ba ông vua (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông) thì đều
là nho sĩ Đại bộ phận là quan chức nhà nớc phong kiến, nhiều ngời sáng tácdới sự chỉ đạo trc tiếp của nhà vua Những tác phẩm văn học của họ đãkhẳng định tinh thần dân tộc, lòng tự hào của con ngời Việt Nam trớc vẻ đẹp
đất nớc trong âm hởng ngợi ca hào hùng
Tác giả văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII nhìn chung vẫn nằmtrong nguồn mạch của lực lợng sáng tác thời trung đại Lực lợng sáng tác vănhọc giai đoạn này vẫn là trí thức mang ý thức hệ phong kiến, tức là nhữngnho sĩ quan liêu đang c quan, nhiệm chức ở triều đình nh Vũ Duệ, ĐặngMinh Khiêm, Nguyễn Giản Thanh… Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Bên cạnh nhà nho hành đạo xuất hiệnmột lực lợng sáng tác có thể xem là mới so với lực lợng sáng tác văn học nửasau thế kỉ XV: đó là nho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân sống ở thôn dã Nói làmới vì hiện tợng nho sĩ ẩn dật sáng tạo văn chơng tuy đã có trớc nhng đến
đây mới đông đảo, thực sự thổi một luồng sinh khí mới, làm nên những giátrị đặc sắc cho văn học giai đoạn này Biến động của đời sống lịch sử kéotheo sự phân hóa mạnh mẽ loại hình tác giả nhà nho.Thế kỷ XVI -nửa đầu thế kỉ XVIII là điều kiện tốt cho loại hình nhà nho ẩn dật tồn tại, vănchơng của họ trở thành một khuynh hớng chủ đạo với những tài năng đíchthực: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ… Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Mặc dù đều là tríthức phong kiến nhng do vị trí xã hội và hoàn cảnh sống khác nhau nên thái
độ của họ đối với các tập đoàn phong kiến và nhân dân cũng khác nhau Từ
bỏ nơi quyền quí , luôn gần gũi với nhân dân nên vốn sống của nho sĩ ẩn dậtrất phong phú Do không bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hóa trực tiếp, các tác
Trang 10phẩm của họ tiếp thu đợc quan điểm của nhân dân, đặt ra và lí giải đợc nhữngvấn đề ít nhiều đúng với quan điểm của nhân dân, phản ánh đợc tình cảnh
đau khổ và nguyện vọng chính đáng ở họ Những tâm t, tình cảm của con
ng-ời đợc các tác giả có tài năng văn chơng đích thực thể hiện qua ngôn ngữbình dị của dân tộc Họ góp phần đổi mới diện mạo, tính chất của văn họcviết , làm phong phú nội dung nhân đạo chủ nghĩa, chuẩn bị cho sự hoànthiện các thể loại văn học Việt Nam trung đại
1.2 Điều kiện hình thành loại hình nhà nho ẩn dật
Việt Nam không phải là nơi phát tích của một trong ba học thuyết Nhogiáo, Phật giáo, Đạo giáo ; cũng không phải là nơi một trong ba học thuyếttrên phát triển đến đỉnh cao nh Nho, Lão ở Trung Quốc, Phật giáo ở NhậtBản Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói riêng, văn họctrong khu vực nói chung đều chịu ảnh hởng , tác động của các học thuyết đó.Mặc dầu là những học thuyết biệt lập nhau nhng trong quá trình xuất hiện,phát triển trên cùng một không gian lịch sử đã diễn ra sự xích lại gần nhau
đến mức không chỉ cùng tồn tại mà còn tạo nên sự pha trộn , hoà nhập giữa
ba học thuyết , hiện tợng đó gọi là "tam giáo đồng nguyên"
Hơn bất cứ học thuyết nào trong tam giáo, Nho giáo có vai trò ảnh hởngquyết định đến lịch sử văn học Việt Nam cũng nh một số nền văn học kháctrong khu vực : Trung Quốc , Nhật Bản , Triều Tiên … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Nền văn học viết ViệtNam bắt đầu hình thành và phát triển liên tục từ cuối thế kỷ X, ngay từ đầucha phải là nền văn học Nho giáo mà chịu sự chi phối mạnh mẽ của Phậtgiáo Sang thế kỷ XIII, Nho giáo dần dần chiếm u thế và đạt tới mức toànthịnh thế kỷ XV ở vị trí ý thức hệ chính thống , Nho giáo chi phối sâu sắctới văn học nghệ thuật trên nhiều mặt và qua nhiều nhân tố khác nhau "Tấtcả làm hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, văn nghệ, mộtloại hình văn học nghệ thuật viết cùng những thể loại , theo cùng một quanniệm văn học, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật “[11 , 21 ]
Nh vậy , chính sự ảnh hởng mạnh mẽ của Nho giáo đối với văn học ViệtNam cũng nh nhiều nớc trong khu vực đã hình thành một loại hình tác giả -nhà nho , một loại hình văn học - văn học nhà nho Vấn đề này đã đợc một
số nhà nghiên cứu nh Trần Đình Hợu, Trần Ngọc Vơng bàn tới trong nhữngcông trình chuyên sâu của mình ở đây , chúng tôi muốn nhắc lại để có cái
Trang 11nhìn hệ thống về loại hình nhà nho , đặc biệt là loại hình nhà nho ẩn dật - lựclợng sáng tác chủ yếu có nhiều thành tựu cho văn học thế kỷ XVI - nửa đầuthế kỷ XVIII
" Văn học nhà nho " là phần chủ yếu của văn học viết Việt Nam thờitrung đại Khái niệm này cũng để chỉ văn học do nhà nho viết dới ảnh hởngcủa quan niệm Nho giáo Tác giả nhà nho có các dạng thức : nhà nho hành
đạo, nhà nho ẩn dật , nhà nho tài tử Nếu nh loại hình nhà nho tài tử ra đờimuộn hơn , gắn với sự phát triển eo hẹp của nền kinh tế đô thị ; ngời tài tử coi
"tài " và " tình " làm nên giá trị đạo đức của con ngời thì nhà nho hành đạo vànhà nho ẩn dật là con sinh đôi , thay thế nhau xuất hiện trong những tình thếkhác nhau của xã hội nông thôn - cung đình Không có sự ngăn cách tuyệt
đối giữa hai loại hình nhà nho này Trong tâm thức họ bao giờ cũng có haitâm thế : hành và tàng , trong xử sự của họ có hai khả năng : xuất và xử.Nguyên lý chung chính là : “ Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” ( Đợcdùng thì làm, không đợc dùng thì giấu mình đi ), hay : " Đạt, tắc kiêm thiệnthiên hạ ; cùng, tắc độc thiện kỳ thân " ( Lúc thành đạt thì làm điều thiệncho thiên hạ; lúc khốn khó thì giữ gìn lấy sự thiện cho riêng mình)
Đó là hai dạng thức sống , mà dạng thức thứ nhất tích cực nhập thế cứu đời loại hình nhà nho hành đạo , dạng thức thứ hai chính là con đờng trở thànhnhững ngời ở ẩn , an bần lạc đạo - loại hình nhà nho ẩn dật Giữa họ luôn tồntại những điểm chung nhất nên đều đợc coi là mẫu ngời chính thống, ngờichuyển tải những nội dung Nho giáo từ thế hệ này sang thế hệ khác Mặtkhác, giữa hai mẫu ngời cơ bản đó vẫn có sự khác biệt lớn Khi mà âm mu
-và sức mạnh là linh hồn của các quan hệ quốc gia thì Nho giáo bị hắt hủi
Đến lúc " thiên hạ thu về một mối " , cần thiết lập sự ổn định trật tự thì Nhogiáo đóng vai trò quan trọng Với lý thuyết nhân nghĩa , các bậc thánh hiềnNho giáo và về sau các cao đồ của họ tự coi mình là "kẻ tri thiên mệnh " cótrách nhiệm giúp kẻ " thủ mệnh " " phù nghiêng đỡ lệch " Nh vậy tất cả cácthế hệ nhà nho hành đạo đều không ngừng mơ ớc đến một xã hội đạo đứctheo mô hình " vua Nghiêu Thuấn , dân Nghiêu Thuấn" Mô hình xã hộiNghiêu Thuấn , lý tởng chính trị của nhà nho hành đạo chỉ là không tởng,một sản phẩm của trí tởng tợng chứ cha và không bao giờ tồn tại trong thực
tế Và những ngời trung thành nhất với lý tởng chính trị đó cũng là ngời cảmnhận sớm và sâu sắc nhất tính không tởng đó Bởi không có một ông vuachuyên chế nào khi đã ở ngôi " trời " rồi lại muốn quay trở về với đời sống
Trang 12thanh đạm kiểu Nghiêu Thuấn, mà dẫu cho có ai trong số họ muốn làm nhvậy thì lợi ích thực tế của toàn bộ giai cấp thống trị sẽ là trở ngại không baogiờ khắc phục đợc Điều đó dẫn đến một thực trạng là hầu nh rất hiếm nhữngnhà nho hành đạo , cho dẫu hoạn lộ hanh thông đến mấy cũng công khai bày
tỏ sự hài lòng với những thành đạt của mình Ngợc lại , liên tục xuất hiệnnhững ngời chán nản với thực tế cai trị của triều đình, và dấn thêm một bớcnữa là cáo quan về ở ẩn Ngay cả khi họ cha đủ điều kiện để trở thành ẩn sĩthì cũng luôn tìm cách "giấu mình "
Nếu cơ sở kinh tế của loại hình nhà nho hành đạo - đội ngũ quan lại làviệc chia sẻ , chiếm dụng phần tô thuế thu đợc trong nhân dân dới dạng lơng ,bổng và lộc thì cơ sở kinh tế của nhà nho ẩn dật là nền kinh tế tự cấp tự túc Không xuất chính , không nhận áo mũ của triều đình , ngời ẩn dật " càylấy ruộng mà ăn , đào lấy giếng mà uống " Họ tự tách mình ra khỏi nhữngsinh hoạt chính trị , coi mình " vô can " , thờng đứng ngoài , thậm chí nhiềulúc đứng lên trên mọi thay đổi xã hội Một số lớn trong họ vốn là những ôngquan bất đắc chí lui về Số khác nữa ngay từ đầu cho rằng triều đình chỉ là "lới trần ", tự chọn thú vui nhàn tản không ham danh lợi Hoặc họ phải tạmthời ẩn dật vì cha gặp thời , cha chọn đợc bậc thánh nhân … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Lý do dẫn mộtnhà nho đến sự lựa chọn đời sống ẩn dật thờng thấy nhất là nớc loạn , hay n-
ớc bị ngoại bang cai trị , triều đại đang cầm quyền bị coi là không chínhthống , hoặc triều đình đang bị quyền thần lũng đoạn Và đôi khi có những lý
do riêng của dòng họ hay của bản thân khiến họ khó xử trong quan hệ vớitriều đình Trong số họ cũng không hiếm ngời thực sự có tài năng, cha baogiờ nguôi khát vọng nhập thế nhng lại không vợt qua đợc " vũ môn quan "trong khoa cử , trở nên ngời ẩn dật bất đắc chí
Có thể tìm thấy rất nhiều biểu hiện của tình huống " lỡng nan " trongtâm hồn nhà nho " Ngời hành đạo có lý khi phê phán ngời ẩn dật là ích kỷ,
là vô trách nhiệm , là chỉ lo cho số phận riêng mình mà không chăm lo đến lẽ
đạo Mà ngời ẩn dật - căn cứ vào thực tế cũng không kém phần có lý khi chêtrách hay nhạo báng những nhà nho nhập cuộc " hám phù danh , chạy theo bảvinh hoa" , " say mê danh lợi " , nổi chìm theo " thói tục " Tuy nhiên trongthâm tâm của mỗi ngời thuộc "quân số" của một trong hai loại hình nhà nho
đó, đều đồng vọng lí lẽ của cả hai phía" [41 ,48] Cho nên về cơ bản, cả haimẫu nhà nho đó đều đợc coi là chính thống bởi họ bao giờ cũng thừa nhận vàthực hành những nguyên lý đạo đức của Nho giáo
Trang 13Tuy Nho giáo đợc truyền bá vào Việt Nam rất sớm nhng quá trình Nhogiáo hoá nhà nớc và xã hội Việt Nam lại diễn ra muộn hơn so với TrungQuốc, Nhật Bản , Triều Tiên và vẫn lặp lại những nét chung nào đó Số phậnlịch sử của Nho giáo ở Việt Nam không khác lắm so với số phận lịch sử của
nó ở Trung Quốc ở Việt Nam từ thế kỷ XI, Nho giáo bắt đầu đợc các triềuvua nhà Lý chú ý vì nó có khả năng phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng
đất nớc Tới những năm bản lề của hai thế kỷ XIII - XIV đội ngũ nhà nhohành đạo trở nên đông đảo hơn Nhng cũng trong giai đoạn này còn lu lại vị
ẩn sĩ đầu tiên của làng nho Việt Nam : Chu Văn An Bất bình vì cảnh rốiloạn ngày càng tăng của triều chính , ông lớn tiếng hạch tội một số quyềnthần, viết " thất trảm sớ " ý kiến không đợc xem xét, ông cáo quan về trí sĩ ,
tự mình thực thi nhân nghĩa , nêu tấm gơng đạo đức Kể từ những thế kỷ này,lịch sử Việt Nam chứng kiến sự củng cố từng bớc nhng khá vững chắc củaNho giáo trên con đờng tiến lên địa vị hệ t tởng độc tôn.Sự xâm lợc của nhàMinh với hai mơi năm đô hộ , sự rối loạn của triều đình liền sau cái chết của
Lê Thánh Tông (1497) đã làm Nho giáo Việt Nam lung lay Cho nên bêncạnh khuynh hớng nhập thế cứu đời là xu thế ẩn dật từ Lý Tử Cấu, Vũ MộngNguyên , Nguyễn Húc và cả Nguyễn Trãi Tiếp đến sự xuất hiện của VơngTriều Mạc , rồi sự tồn tại ngôi chúa bên cạnh ngôi vua… Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử khiến các thế kỷtiếp theo trở thành bối cảnh thuận lợi cho việc gia tăng số lợng nhà nho lựachọn ẩn dật làm phơng thức tồn tại Điểm đặc trng của văn chơng nhà nho ởthế kỷ XVI, XVII, XVIII là sự gia tăng mạnh mẽ khuynh hớng văn chơng ẩndật Lực lợng sáng tác thời này là ẩn sĩ - những ngời từng học hành và đỗ đạtcao; những ngời đã rút lui khỏi chốn quan trờng hoặc cha từng ra nhậmchức , sống ẩn dật nơi thôn dã Họ là những ngời không còn mong thực hiện
lý tởng tu , tề , trị , bình của kẻ sĩ chỉ mong giữ đợc tấm lòng trong sạch Đến đầu thế kỷ XVI loại hình nhà nho ẩn dật là lực lợng sáng tác chủyếu, làm nên những giá trị đặc sắc cho văn học giai đoạn này Đó là sự thay
đổi hợp qui luật Bởi sau khi thắng giặc Minh, triều Lê đợc thiết lập Nhà nớc
Đại Việt chuyển dần từ hệ t tởng hoà đồng đa ý thức hệ sang độc tôn Nhogiáo Công việc đó từng bớc đợc Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông
đặt nền móng và Lê Thánh Tông là ngời hoàn thiện cuối cùng Nhng sau khi
Lê Thánh Tông mất , nhất là lúc Lê Hiến Tông (1498-1504) qua đời, các ôngvua : Lê Uy Mục , Lê Tơng Dực đã làm kỷ cơng đất nớc đảo tung Ngời đờigọi Lê Uy Mục là " vua quỉ " , còn sứ giả Trung Hoa gọi Lê Tơng Dực là "
Trang 14vua lợn" Triều Lê nh một cỗ xe đang lao nhanh xuống vực thẳm Nạn tranhchấp quyền lực diễn ra giữa các phe phái phong kiến , xung đột giữa các côngthần tôn thất và ngoại thích Cuối cùng Lê Uy Mục bị bắt uống thuốc độc tự
tử , Lê Tơng Dực bị giết Lê Chiêu Tông lên thay nhng cũng đành bất lực vìgiữa lúc kinh thành đang loạn chiến , quyền bính không ở trong tay mình, lạinghe lời xiểm nịnh, ngu tối , tự phụ … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Trong cảnh hỗn loạn ấy , Mạc ĐăngDung dần dần loại các phe phái đối lập, quyền bính chuyển về tay họ Mạc
Đến đây , nền tảng Nho giáo gặp bớc ngoặt lớn: Nhà Lê mất , nhà Mạc thay(1527) lập nên một triều đại phong kiến mới Nhà Mạc giai đoạn đầu, sau khithay nhà Lê đã giữ cho cỗ xe chính trị khỏi lao xuống dốc Nếu so với triều
Lê đổ nát kéo dài mấy chục năm trớc đó thì triều Mạc xuất hiện là tiến bộ ,phù hợp hơn với xu thế tiến hóa lịch sử Sau khi ra đời và tồn tại , triều Mạc
đã có những đóng góp tích cực đối với lịch sử dân tộc về văn hoá , nghệthuật , kinh tế … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Nhng dần về sau, ngay trong bản thân của chế độ quân chủquan liêu đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt Mặt khác lòng hoài Lê và t t-ởng trung quân Nho giáo đã bén rễ sâu vào tầng lớp trí thức cùng đám cựuthần Bởi triều đình nhà Mạc về bản chất không thể là một kiểu mẫu lý t ởngcủa Nho gia Kết cục là thất bại của chính triều Mạc vào năm 1592 Vớicuộc nội chiến Lê - Mạc cha chấm dứt thì chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã nổ
ra trong thế kỷ XVII Tình trạng cát cứ, phân liệt kéo dài , nội chiến bạo loạntriền miên Trong vòng 150 năm kể từ 1527 đến 1677 đất nớc lâm vào cảnhnồi da xáo thịt, huynh đệ tơng tàn cha từng có Dù là bên thua ( nhà Mạc)hay bên thắng ( Lê , Nguyễn ) cũng phải đổi bằng chết chóc đau thơng Cay
đắng hơn, đất nớc bị chia cắt, nhân dân lầm than cực khổ, nền kinh tế kiệtquệ, đạo đức băng hoại không cách nào cứu vãn nổi
Trong tình cảnh ấy , lẽ ra giai cấp thống trị phải tận dụng thời cơ hoàbình để phát triển kinh tế, bồi dỡng sức dân Song ngợc lại, các tập đoànthống trị đơng thời Đàng ngoài cũng nh Đàng trong ra sức ăn chơi hởng lạc,vơ vét tiền của , thóc gạo và sức lao động của ngời dân ở Đàng ngoài, trênvai ngời dân phải gánh hai chính quyền : Vua Lê - Chúa Trịnh Tình hình
Đàng trong cũng không sáng sủa gì hơn, lòng dân oán hận ngút trời Cáccuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp và phát triển đến cao trào Đỉnh cao,cũng là thành công thuộc ngời anh hùng áo vải Tây Sơn- Nguyễn Huệ Ông
đã thu giang sơn về một mối, thống nhất đất nớc mang lại hoà bình cho nhândân
Trang 15Chế độ phong kiến từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII đã bộc lộ rõmâu thuẫn nội tại và mâu thuẫn với xu thế tiến triển của lịch sử dân tộc.Trong bối cảnh chính trị nh thế , Nho giáo vẫn đợc đề cao, đợc sử dụng đểcủng cố trật tự phong kiến, ràng buộc, kiềm chế hành vi, tình cảm và lý trícon ngời Nhng trớc thực tế loạn lạc , rối ren , trớc sự rạn nứt của t tởng Nhogiáo chính thống , kỷ cơng đổ nát , luân thờng điên đảo, việc học hành thi cửcũng dần dần " theo thói phù hoa chấp nhặt … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử, tập tục kẻ sĩ ngày một kém "[16,361] T tởng Nho giáo không còn ở địa vị độc tôn nh cuối thế kỷ XV Cùng với sự khủng hoảng bớc đầu của t tởng Nho giáo, t tởng phi nho ngàycàng xuất hiện nhiều T tởng phi nho ấy chủ yếu là t tởng nhân dân và cả sựhỗn dung của tam giáo Nho - Phật - Lão Khi Mạc Đăng Dung cớp ngôi vua
Lê , khi nhà Mạc thất thế, khi họ Trịnh chuyên quyền lấn át ngôi vua cũng cómột số sĩ phu vì nghĩa mà tuẫn tiết, ngời thì ném nghiên mực, nhổ vào mặt kẻnghịch thần … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử còn phần lớn thì a dua, xu nịnh Các nhà nho trởng thànhtrong những thế kỷ ấy không thể không đụng chạm tới vấn đề day dứt nh lẽxuất xử, nguyên tắc chính danh, đòi hỏi lòng trung thành trong thân phận bềtôi Tuỳ theo lời đáp trớc những câu hỏi nh vậy , tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể
mà trong số họ, mỗi ngời có sự lựa chọn lối sống khác nhau Nhà nho ẩn dậtgần nửa thế kỷ trớc đó đã xuất hiện nhng còn lẻ tẻ , đến thời kỳ này xuất hiệnngày càng đông đảo, có nhiều đóng góp cho sáng tạo văn học của thế kỷ XVI
- nửa đầu thế kỷ XVIII Trong số họ có những tài năng văn chơng đích thực :Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử
Nguyễn Hàng đỗ Hơng Cống khoảng niên hiệu Hồng Thuận 1516) đời Lê Tơng Dực Khi họ Mạc cớp ngôi vua Lê , ông bỏ thi Hội sốngtrọn đời trong cảnh lâm tuyền ở rừng vầu Tuyên Quang với t tởng thoát ly
(1509-đậm màu sắc Lão Trang Khác với những nho sĩ xuất rồi lại xử hoặc xử rồilại xuất, Nguyễn Hàng sống trọn đời trong cảnh ẩn dật , cha hề có lấy mộtthời gian ngắn ra làm quan với một triều đại hoặc một tập đoàn phong kiếnnào Ông không cộng tác với triều Mạc vì cho đó là ngụy triều, điều đó cũng
dễ hiểu Nhng tập đoàn họ Vũ với danh nghĩa " phù Lê diệt Mạc " cũngkhông ràng buộc đợc dù ông sống trong vùng đất của họ Là ngời đỗ HơngCống, lại học ở Quốc Tử Giám chắc chắn Nguyễn Hàng có hoài bão lớn - đó
là hành đạo để phụng sự một triều đại chính thống Nhng rồi ông phải chọncon đờng ẩn dật để giữ tròn khí tiết kẻ sĩ thời loạn Ông đã sáng tác văn ch -
ơng để " thể hiện niềm tự hào của kẻ sĩ ẩn dật trong cảnh an bần lạc đạo , là
Trang 16niềm mến yêu tha thiết thiên nhiên , đất nớc hùng vĩ , tơi đẹp, là nghệ thuật
sử dụng khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc để miêu tả đất nớc Việt , conngời Việt"[16,528]
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) lớn lên vào lúc xã hội rối ren , dù họcgiỏi nhng không chịu ra ứng thí Bất mãn với thời cuộc , Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã sống nh một ẩn sĩ Sau nhiều năm ở ẩn , 1534 ông quyết định nhập thế ĐỗTrạng nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan dới triều Mạc, con đờngthăng quan , tiến chức khá trôi chảy , thuận lợi Sau gần 8 năm , những tởnggắn bó với nhà Mạc để thực hiện hoài bão nhà nho của mình nhng khi dâng
sớ đàn hặc xin xử chém 18 lộng thần không đợc nhà vua chấp nhận ông hiểurằng chính sự đã đổ nát Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về vui thú điền viên ,dựng am Bạch Vân , lấy hiệu Bạch Vân c sĩ Ông là tác gia tiêu biểu cho mộtgiai đoạn văn học Sáng tác của ông phản ánh t tởng tình cảm của tầng lớp tríthức dân tộc phải sống trong buổi suy vi của chế độ phong kiến Nhân sinhquan của ông là sự phủ nhận hiện thực thối nát của xã hội phong kiến , bảo
vệ đạo đức và nhân phẩm con ngời Thơ Trạng Trình đợm khí vị u du nhàntản , nhng không vì thế mà thiếu đi ý nghĩa tích cực
Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ XVI , đã từng thi Hơng đậu giải nguyên, thiHội trúng tam trờng , đợc bổ làm tri huyện Thanh Trì nhng một năm sau cáoquan về ở ẩn Từ đó ông sống cuộc đời xử sĩ ở nơi thôn dã và viết tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục để tố cáo kẻ cầm quyền bạo tàn , xa hoa trụy lạc đồng thời
ký thác tâm sự , thể hiện hoài bão của mình và nhiều nhà nho ẩn dật đơngthời
Ngoài ra , còn phải nhắc tới Ngô Thì ức , Phùng Khắc Khoan và ĐàoDuy Từ Ngô Thì ức (1709 - 1736 ) đỗ Hơng Cống vào năm 24 tuổi Ông làngời không chỉ để chí hớng vào con đờng khoa hoạn , thích sống nhàn tản,phóng khoáng Ông để lại phần nhiều là thơ tả cảnh , qua đó thấy đợc phongthái ung dung của con ngời gắn bó với thiên nhiên , luôn muốn tránh xa
chính trờng bon chen danh lợi Trong Tuyết trai thi tập còn thể hiện tấm
lòng yêu mến quê hơng , ruộng đồng bình dị dân dã Phùng Khắc Khoan và
Đào Duy Từ là những nho sĩ quan liêu tích cực nhập thế nhng kẻ trớc ngờisau đều đã có lúc đi ở ẩn Những ngày ẩn chí đợi thời , những ngày bị đi đày
ở Thành Nam , có lúc Phùng Khắc Khoan say sa với thú lâm tuyền và có tâm
trạng giống nh tâm trạng của ngời ẩn sĩ trong Lâm tuyền vãn Đào Duy Từ
cũng vậy , là một kẻ sĩ hành động nhng trớc khi tìm thấy công việc xây dựng
Trang 17ở địa vực Đàng trong thì ông cũng đã từng ở ẩn Ngọa Long cơng vãn là tác
phẩm phản ánh tâm trạng của chính tác giả trong những ngày tháng ẩn dật đó
Nh vậy , hiện tợng nhà nho ẩn dật trớc thế kỷ XVI đã có nhng cha phải
là một hiện tợng phổ biến Trongvăn học từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷXVIII những kẻ sĩ rút lui khỏi chốn quan trờng ca tụng lối sống ẩn dật trởthành một loại hình tác giả quan trọng Trong số những tài năng văn chơng
đích thực nh Nguyễn Bỉnh Khiêm , Nguyễn Hàng , Nguyễn Dữ họ là nhữngngời học hành , đỗ đạt cao , làm nên thành tựu thực sự cho văn học giai đoạnnày
1.3 Nội dung văn chơng nhà nho ẩn dật thế kỷ XVI - nửa đầu thế
kỷ XVIII
Khi nhà nho ẩn dật trở nên một loại hình tác giả phổ biến thì văn chơng
ẩn dật trở thành bộ phận thứ hai của văn chơng Nho giáo Hàng ngũ nho sĩnày tuy không đông nh nho sĩ quan liêu nhng nhiều ngời có tài năng văn ch-
ơng thực sự Loại hình nhà nho ẩn dật đã manh nha từ khoảng cuối thế kỷXIII , đầu thế kỷ XIV với ngời mở đầu là Chu Văn An (1292-1370) Ông
đậu tiến sĩ nhng không ra làm quan , mở trờng dạy học ở quê Đến đời vuaTrần Minh Tông đợc vời ra Thăng Long giữ chức T nghiệp Quốc Tử Giám,sau thăng làm Tế Tửu nhà Thái học Đến đời Trần Dụ Tông chính sự đổ nát ,bọn nịnh thần lộng hành , Chu Văn An đã dâng " thất trảm sớ " đòi chém bảytên gian thần làm " rung động cả trong triều ngoài quận " Yêu sách đókhông đợc thực hiện , ông bèn bỏ quan về ẩn c ở núi Phợng Hoàng , huyệnChí Linh , tỉnh Hải Dơng tiếp tục mở trờng dạy học và làm thơ Nếu nh cuộc
đời Chu Văn An có thể chia làm hai thời kỳ thì thời kì thứ nhất là một nhàgiáo sôi nổi , mạnh mẽ chống lại bạo quyền trong hành đạo, còn thời kỳ thứhai là ngời ẩn sĩ hái củi trên núi Phợng hoàng Từ đó sáng tạo hai tập thơ
Tiểu ẩn: Tiểu ẩn thi tập bằng chữ Hán và Tiểu ẩn quốc ngữ thi bằng chữ
Nôm Mặc dầu cả hai đều đã thất truyền nhng với những tác phẩm còn lạichúng ta thấy đợc phần nào khí vị hoài cổ , u t đôi khi biểu lộ sự bất lực , tâmtrạng chán chờng của chính ông đối với công danh
Đến cuối thế kỷ XIV chính tính chất " ngụy triều " của nhà Hồ tạo ratình trạng lỡng nan trong các quyết định hành chỉ xuất xử của từng sĩ phu;
Trang 18đẩy một bộ phận nho sĩ lựa chọn sự bất hợp tác và chống đối Cùng ca ngợicảnh sống ẩn dật , thể hiện những nhân cách cao đẹp nhng trong những sángtác của họ cũng có lúc in dấu nhiều tâm sự gây xúc động và đáng cảmthông ; có khi phản ánh cảnh loạn lạc của đất nớc , thể hiện tâm sự đau xót ,tâm trạng bơ vơ trong cảnh loạn lạc chiến tranh Và đến Nguyễn Trãi , mộtcon ngời đã từng tiêu biểu cho mẫu hình nhà nho hành đạo, tích cực nhập thếcứu đời nhng trong cuộc đời và trong sáng tác của mình lại in rõ dấu ấn của
một nhà nho ẩn dật - nhiệt liệt ca tụng thú nhàn dật,viết Côn Sơn ca nổi tiếng.
Từ thế kỷ XVI – nửa đầu thế kỷ XVIII , lực lợng sáng tác chủ yếu lànho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân Loại hình nhà nho này cũng là lực lợngsáng tác có nhiều thành tựu xuất sắc cho văn học thời đại Phần lớn các tácphẩm của loại hình nhà nho này tiếp thu đợc quan điểm của nhân dân , đặt ra
và lí giải đợc những vấn đề ít nhiều đúng với quan điểm của nhân dân , phản
ánh đợc tình cảnh đau khổ và nguyện vọng chính đáng của họ
1.3.1 Ca ngợi lối sống tự do tự tại , nhân cách cao đẹp tiết tháo của trí thức ẩn dật
Bắt đầu từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII " ẩn dật " trở thànhcảm hứng chủ đạo của cả một khuynh hớng văn học Hình tợng văn học tiêubiểu trong sáng tác của ngời ẩn dật là hình ảnh chính họ và hình ảnh thiênnhiên Hình ảnh chính họ - những ngời ẩn sĩ chờ thời, thay thế cho con ngờihành động trớc đó Nhận thức rằng thời buổi mới khó bề để lại một sựnghiệp hiển hách , họ lập chí ở ngôn từ và đức hạnh Trớc tình cảnh rối ren,
lý tởng hành đạo dang dở , không hành thì tàng họ đành " lánh đục về trong
" tìm đến cuộc sống thanh bạch ở nơi rừng núi , thôn dã để giữ trọn khí tiết Trong sáng tác , các nhà nho ẩn dật thờng ca tụng lối sống tự do, tự tại thôngqua chữ “nhàn” Tự gọi mình là “ông nhàn”, vui với cảnh sống thanh bần Tìm đến cảnh nhàn dật chính là tìm đến nơi vắng vẻ , tránh sự “huyên náo vềcon đờng lợi danh”, sống theo lẽ tự nhiên , an nhiên tự tại Tìm đến với lốisống thanh bạch để giữ cho tâm hồn đợc yên tĩnh trong trẻo “nhàn một ngày
là tiên một ngày” Xét đến cùng , tìm đến với “nhàn” chính là để giữ trònthanh danh , khí tiết của bản thân trong thời trọc loạn này Nhàn không hoàntoàn là sự trốn tránh thời cuộc bởi nhàn ở đây có nghĩa đối lập với công danhphú quí , với dục vọng xấu xa Nhàn là không để vật dục làm vẩn đục tâm
Trang 19hồn, không dính vào việc cạnh tranh đua chen với đời , không vì “năm đấugạo buộc mình trong đám lợi danh”
Quan niệm " nhàn " có nhiều sắc thái , gắn bó với từng thời đại , từnghoàn cảnh riêng ở mỗi tác gia, tác phẩm nhng những nhà nho ẩn dật đều lấychữ nhàn làm lẽ sống khi từ bỏ công danh phú quí , khi muốn giữ vững nhâncách , khí tiết của mình Trong các sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm,Nguyễn Hàng , Nguyễn Dữ lối sống ẩn dật luôn là cảm hứng chủ đạo, là chủ
đề lớn , thờng trực
Thoát chân khỏi chốn giàu sang Tuổi già mong đợc chữ nhàn thong dong
( Nguyễn Bỉnh Khiêm - Ngụ hứng , bài 6 )
Già đã khỏi áng công danh
Tự tại , nào âu lụy đến mình
( Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thơ Nôm , bài 15 ) Trong Tịch c ninh thể phú Nguyễn Hàng viết :
Cánh buồm nhẹ dong chơi bể bắc, kìa ai lánh đục về trong ;
Cuộc cờ tàn nằm mát non Đông , nọ kẻ phù nghiêng đỡ lệch
Tựa mây tắm suối , miễn đợc tiêu giao …
Chí hớng " ẩn c " của Nguyễn Dữ đợc thể hiện thông qua hình tợng văn học
mà tập trung tiêu biểu nhất là hình ảnh ngời tiều phu núi Na trong tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục :
Sáng chừ ta ra đi ,
Chiều chừ ta về ngàn.
áo ta mặc chừ sẵn đây cây lá,
Cổ ta đeo chừ nào chuỗi cỏ lan
Núi phơi xanh chừ bình phong sơng sớm Ruộng trãi biếc nh gối thác chon von Mặc ai xe ngựa ,
Mặc ai phố phờng ,
Nớc non riêng chiếm , bụi đời khôn vơng
Trang 20Thú vui của ngời ẩn dật là sống thích chí, tự do Vì thế thiên nhiên chính
là "môi trờng sống" của họ " Ông nhàn " vui sống với cảnh trí thiên nhiên,với trăng , hoa , với chim kêu , thú du ngoạn ; làm bạn với hòn đá, cây thông,khe suối … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Tìm tới thiên nhiên là tìm đến môi trờng thanh khiết Các nhànho ẩn dật chủ trơng sống trong không gian ấy để di dỡng tính tình, bảo toànphẩm giá trong sạch , tỏ rõ thái độ khinh thờng lợi danh … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Cho nên, ởNguyễn Bỉnh Khiêm , Nguyễn Hàng … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử ta đều bắt gặp sự gắn bó giao hoà sâusắc giữa con ngời với cảnh sắc tự nhiên ấy
Đèo núi vỗ tay cời khúc khích
Rặng thông vắt cẳng hát ngêu ngao
Đòi nơi phong nguyệt vui thay đấy
Dầu phận công hào bận đợc nao.
( Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thơ Nôm , bài 143 )
Khách nhàn họp ba chồi cúc muộn, đứng dựa bên thềm ; Bạn lão sum mấy gốc mai già , chén kề tận ngạch
Quạt nhân là quạt mát , điểm trần ai thay thảy tan không ; Nớc trí ấy gơng trong , niềm tục lụy lâng lâng rửa sạch
( Nguyễn Hàng - Tịch c ninh thể phú )
Sống, hoạt động , hoà mình vào thiên nhiên không hề là " độc quyền " củanhà nho ẩn dật bởi xu hớng phổ biến của các nhà nho thờng ghi lại ấn tợng,xúc cảm về vẻ đẹp của đất trời , sông núi mà mình tình cờ bắt gặp Nhng đốivới nhà nho ở ẩn thì thiên nhiên lại là một phần rất quan trọng trong lẽ sống
ở đó , ngời ẩn dật tự cho phép mình phóng túng hơn trong sinh hoạt, có thểung dung thởng thức cái đẹp của tạo vật , lạc thú bình dị của đời sống Tựnhận mình là " bất tài " , " ngu dốt " , " lời biếng " để chỉ sống với thiên nhiên
cỏ cây , hoa lá tránh sự buộc ràng của nghĩa và phận trong t tởng Nho giáo Vì vậy, ngời ẩn dật cần một cuộc sống vắng vẻ, cần sự cô độc với y nghĩa đợcsống nhiều, sống thật nhất với chính mình Cô độc đem lại tự do và tự do
đem lại thú vui Với nền kinh tế tự túc tự nhiên, nghèo khổ không làm ngời
ẩn sĩ đau khổ họ chỉ đau khổ khi không đợc yên thân , không đợc tự tại Vàtrong thâm tâm, cô độc chính là chỗ tự hào của ngời ẩn sĩ Vì chỉ trong điềukiện ấy mới tự phân biệt với phàm phu tục tử, mới bộc lộ rõ bản chất củamình: Sự thách thức cứng cỏi “Chính vì thế , chúng ta mới tìm thấy ở họnhững tâm sự, những xúc cảm thành thực hơn , mang sắc thái chiêm nghiệmcủa cá nhân một cách rõ ràng hơn[49,57]
Trang 21Xuất xử là lý thuyết của Nho giáo Nhng Nho giáo không cho họ triết lý
để sống cô độc , không cho họ nhìn ra cảnh đẹp thiên nhiên mà vui thú, nhìn
ra cái vô nghĩa của cuộc đời để xa lánh, để yên tâm hởng cảnh nhàn Cho nênngời ẩn dật đã tìm chỗ thiếu đó ở t tởng Lão Trang, nh Trần Ngọc Vơng viết :
" Khi lựa chọn lối sống nh vậy họ tìm đến một sự cân bằng, nhờ đến một sự
tự điều chỉnh cả trong nhận thức lẫn trong cảm giác Dễ hiểu vì sao, ngời ẩn
sĩ thấm dần từ mệnh đề bộ phận, lẻ tẻ đến chỗ nhập vào tinh thần của t tởngLão Trang và Thiền " [ 49,61] Triết lý nhàn dật, con đờng tìm đến tự do ,thể hiện nhân cách cao khiết của ngời ẩn sĩ chính là một hình thức pha trộn ttởng Nho, Phật , Lão - Trang
Tuy có mặt tiêu cực , biểu hiện của sự bất lực nhng ẩn dật không cónghĩa " đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ " trớc biến động đời sống xã hội Dầu cóchán ghét con đờng công danh , cực lực ca tụng thú nhàn dật thì trong họcũng đã từng canh cánh nghĩa quân thân và vẫn còn bao hàm nhiệt tình vớicuộc sống , với trách nhiệm làm ngời Vì thế , trong sáng tác , họ không chỉ
ca ngợi lối sống tự do, tự tại, nhân cách cao đẹp tiết tháo mà còn thể hiệnniềm u ái của kẻ sĩ lánh đời, phê phán gay gắt những tệ lậu xã hội nhằm hớngtới một xã hội phong kiến lý tởng
1.3.2 Niềm u ái của kẻ sĩ lánh đời , phê phán gay gắt những tệ lậu xã hội , hớng tới một chế độ phong kiến lý tởng
Mặc dù xa lánh đời sống chính trị xã hội nhng thực ra con ngời tự do tựtại mà họ tìm tới không nhằm trực tiếp phủ định những tín điều cơ bản trongtruyền thống của Nho giáo Dù có chịu ảnh hởng mức độ này hay mức độkhác của các học thuyết , về cơ bản trong t tởng của họ vẫn không phá vỡnhững nguyên lý đạo đức của Nho giáo Vì vậy lánh đời mà trong sâu thẳmcõi lòng họ vẫn đau đáu một niềm u ái với đời
Trớc đây, Chu Văn An đã từng muốn chối bỏ lụy phiền, đứng ngoài ràngbuộc xã hội , khát khao trở thành cánh chim tự do Dầu thế nào, mãi tronglòng ông vẫn đau đáu nỗi niềm về cuộc sống trần thế :
Thốn tâm thù vị nh hôi thổ ,
Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy.
( Tấc lòng cha thể nh tro nguội , Nghe nhắc tiên hoàng giọt lệ sa )
Hay niềm day dứt khôn nguôi trong tấc lòng Nguyễn Trãi :
Trang 22Bui một tấc lòng u ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông
Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm dầu đã nói " nhàn một ngày là tiên một ngày"nhng trong thơ ông có một phần không nhỏ thể hiện tấm lòng u ái với nghĩaquân thân , với dân với nớc thiết tha :
ái u vằng vặc : trăng in nớc
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa
( Thơ Nôm , bài 1 ) Tấm lòng tiên u đến già cha thôi
Cùng, thông, đắc , táng , ta có lo chi cho riêng mình
( Tự thuật )
Cùng với Nguyễn Dữ dù " chân không bớc đến thị thành , mình không vào
đến cung đình , nhng vẫn thờng đợc nghe ông vua ấy bây giờ là ngời thế nào
", vẫn hiểu tờng tận cuộc sống khốn khó của ngời dân ra sao
Niềm u ái ấy là tấm lòng, là tâm huyết với dân, với nớc của những bậc ẩn
sĩ Vì thế, trong sáng tác của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử đã
đứng về phía nhân dân để phê phán , lên án những tệ lậu xã hội phong kiến :phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa ; tố cáo sự tham tàn, bạo ngợc, đồitrụy của vua quan , nho sĩ ; lên án sự băng hoại của nhân tâm thế đạo Nh ngtrong vòng luẩn quẩn , bế tắc của chế độ phong kiến , những trí thức có tráchnhiệm ấy không mang lý tởng lập công Nguyện vọng hòa bình, an lạckhông sớm đợc thực hiện nên đành lui về để lập ngôn , dùng văn chơng đểtruyền thụ đạo lý Hơn ai hết, họ có ý thức dùng thơ văn để giáo huấn ng ời
đời , cải thiện nhân tâm thế đạo trớc sự suy vi của đạo đức với nội dung tíchcực , giản dị , thiết thực Bởi sự suy thoái xã hội bắt nguồn từ sự suy đồi của
đạo lý , của nhân phẩm Muốn phục hồi lại lễ giáo , xây dựng lại kỷ cơngchế độ trớc hết phải vãn hồi đạo lý suy đốn , nhân phẩm bị thoái hoá Nhữngnhà nho ẩn dật này trớc sau vẫn là ngời thuộc ý thức hệ phong kiến , vẫn làmẫu ngời chính thống của Nho giáo Cho nên , dầu có lên án , phê phán thìtính chất của nó không phải là sự phủ định mà chỉ phê phán những tệ hại củachế độ phong kiến đang diễn ra trớc mắt , nhằm phục hồi chế độ phong kiếntheo mô hình lý tởng có " vua sáng tôi hiền" , nhân dân đợc sống yên ổn dới
sự thống trị của giai cấp phong kiến Niềm tin , hy vọng vào sự phục hng củathời cuộc, ổn định đất nớc vẫn còn mạnh mẽ
Trang 23Những nội dung chủ yếu trong những sáng tác của nhà nho ẩn dật đã làmnên sự thay đổi lớn , tạo bớc phát triển cho văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế
kỷ XVIII
1.4 Nhà nho ẩn dật với sự phát triển của văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
Điểm đặc trng nổi bật nhất các tác giả sáng tác văn học thế kỷ XVI - nửa
đầu thế kỷ XVIII chính là sự gia tăng mạnh mẽ nhiều nho sĩ ẩn dật và nho sĩbình dân Tầng lớp trí thức thời kỳ này có sự phân hoá mạnh mẽ Trớc thế kỷXVI , nhà nho hành đạo là khuôn mặt tiêu biểu của văn chơng nhà nho nêndẫu nhà nho ẩn dật đã xuất hiện từ những thế kỷ trớc , thì nhìn tổng thể mớichỉ dừng lại ở sự manh nha cho quá trình hình thành một khuynh hớng vănhọc Loại hình nhà nho ẩn dật cũng cha phải là một loại hình tác giả quantrọng Hơn nữa , khí vị u du , nhàn tản trong các tác phẩm từ Chu Văn An
đến Nguyễn Trãi có vẻ lạc lõng không ăn nhịp với âm điệu anh hùng của thời
đại Lúc bấy giờ , nhà nho hành đạo trung nghĩa mới thực sự là loại hình tácgiả gây ấn tợng mạnh mẽ , xúc động nhất Âm điệu chủ đạo trong thơ văn họchính là âm điệu anh hùng
Nh vậy , ở những thế kỷ trớc đã lẻ tẻ có những kẻ sĩ muốn thoát khỏivòng danh lợi , nhng việc kẻ sĩ rút lui khỏi chốn quan trờng ca tụng lối sống
ẩn dật với tính cách một khuynh hớng văn chơng phải kể đến thế kỷ XVI mớixuất hiện Chính những biến động của đời sống xã hội thời kỳ này đã phá vỡnghĩa quân thần , đạo cơng thờng mà những thế kỷ trớc cố gắng xây dựng Tầng lớp nho sĩ phân hóa , một số khá đông không chịu tham gia triều chính ,hoặc bất đắc chí thì chỉ tham gia thời gian ngắn rồi rút lui về ở ẩn nơi thôn dã, mở trờng dạy học , bốc thuốc Có những tác gia tạm thời ở ẩn vì cha gặpthời , cha chọn đợc bậc thánh nhân , hoặc có những ngời tự chọn thú vui nhàntản , không ham danh lợi , không a hành động … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Chính họ khẳng định u thếsáng tác ngoài cung đình Các tác phẩm có giá trị văn học thời kỳ này hầuhết do các nho sĩ đó viết ra Sự thay đổi trong lực lợng sáng tác đã dẫn tới sự
đổi thay trên hầu khắp các tiêu chí cơ bản của sự vận động lịch sử văn học :
hệ thống đề tài, chủ đề , hình tợng văn học trung tâm, hệ thống thể loại vàngôn ngữ văn học
1.4.1 Văn chơng nhà nho ẩn dật với sự mở rộng của hệ thống đề tài, chủ đề và hệ thống hình tợng
Trang 24Thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII , văn học viết do những nho sĩ bìnhdân và nho sĩ ẩn dật sáng tác đã nhanh chóng chuyển từ âm hởng ca tụngsang âm hởng phê phán Dầu không phải hoàn toàn mới nhng chỉ đến thời kỳnày âm hởng phê phán mới là một âm hởng chủ đạo của văn học Nội dungvăn học thiên về mặt phê phán những tệ lậu , hủ bại của các triều đại phongkiến: sự tham tàn , đồi trụy của vua quan , nho sĩ , lên án chiến tranh phongkiến dẫn tới sự băng hoại đạo đức ; hoặc trực tiếp hay gián tiếp chống đối cáctập đoàn phong kiến để nhằm vãn hồi xã hội phong kiến lý tởng
Nguyễn Dữ với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đã phê phán giai cấp
thống trị từ trên xuống dới , từ vua quan trong triều đến bọn cờng hào ác bá ởnông thôn Xuất phát ở cuộc sống nhân dân để lên án , tố cáo từ những ôngvua " thích ham săn bắn " , " thờng hay dối trá " , " tính nhiều tham dục" … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử
(Bữa tiệc đêm ở Đà Giang) đến viên tớng (Truyện Lý tớng quân): " Quyền vị
đã cao , Lý bèn làm những việc trái phép , dựa lũ trộm cớp nh lòng ruột , coingời nho sĩ nh thù cừu , thích sắc đẹp , ham tiền tài, tham lam không chán
Điều này trong những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiệnkhá đậm nét Trong niềm u ái đối với dân chúng , ông đã phê phán gay gắtbọn quí tộc quan liêu thối nát , những kẻ hám danh trục lợi sống không tìnhnghĩa , phê phán sự đảo điên của trật tự xã hội :
Phong vũ thời hối minh ,
Cơng thờng nhật điêu thỉ
Lễ nghĩa thán quải trơng ,
Quan cái tùy đảo trí
Trang 25Lễ nghĩa , than ôi ngang trái ,
Mũ lọng theo đó đảo ngợc
Thờ vua , tôi chẳng ra tôi
( Thơ chữ Hán , Cảm hứng )
Cũng trong tác phẩm này , Nguyễn Bỉnh Khiêm còn thể hiện rõ sự đốilập giữa một bên cảnh xa hoa của giai cấp thống trị với một bên cảnh khốn
đốn của dân chúng Để sống xa hoa , chúng bóc lột nhân dân vô cùng tàn tệ
và sự khinh ghét căm phẫn của tác giả đợc bộc lộ rõ qua hình tợng ẩn dụ ở
bài Tăng thử Trớc sự suy vi, đảo điên của cơng thờng làm băng hoại đạo
đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cất tiếng nói lên án thói đời trọng của hơn
ng-ời hám lợi ấy :
Giàu sang : Ngời trọng , khó : ai nhìn ?
Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn
Thuở khó dẫu chào , chào cũng lặng
Khi giàu chẳng hỏi , hỏi thì quen
( Thơ Nôm , bài 5 )
Các nhà nho ẩn dật cũng là ngời viết nhiều nhất , lên án gay gắt nhất nhữngcuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa Chiến tranh liên miên gây nên baocảnh loạn li , đầu rơi máu chảy " khắp nơi máu chảy thành sông , xơng chất
đầy núi " ( Nguyễn Bỉnh Khiêm - Ngụ ý ) ý thức miêu tả và lên án chiến
tranh phi nghĩa đợc thể hiện qua việc miêu tả cuộc sống khổ đau của nhân
dân (Truyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu , Ngời con gái Nam Xơng … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử củaNguyễn Dữ) Các tác giả thực sự cảm thông với nỗi cơ cực , lầm than của ng-
ời dân trong cảnh loạn li , mong mỏi thái bình cho đất nớc, an lạc cho dân
Tố cáo , lên án chiến tranh phi nghĩa của chế độ phong kiến đơng thờinhng đồng thời cũng muốn bảo vệ danh tiết, đạo nghĩa nên văn học của cácnhà nho ẩn dật thờng đậm tính chất chuyển tải đạo lí phong kiến Dùng thơvăn cảm hóa ngời đời, cải thiện nhân tâm thế đạo là nội dung chủ yếu trongtác phẩm do các nhà nho ẩn dật sáng tác Nguyễn Bỉnh Khiêm - một đại biểuxuất sắc của dòng thơ này thực sự lo ngại trớc tình thế đảo điên , lòng ngờingả theo điều ác , chạy theo lợi danh Nhà thơ nhắc lại đạo lí làm ngời :
“Trung với vua, hiếu với cha, thuận giữa anh em , hoà giữa vợ chồng, tín
nghĩa giữa bạn bè ấy là trung vậy” ( Bi kí quán Trung Tân ) Đặc biệt ông
Trang 26nhấn mạnh đạo hiếu sinh và tấm lòng từ thiện của con ngời Để chống lại lốisống danh lợi, ích kỷ tốt nhất con ngời ta nên sống an phận :
Yên phận thì hơn hết mọi điều
( Thơ Nôm , bài 5 ) Đợc thua phú quí dầu thiên mệnh
Chen lấn làm chi cho nhọc công
( Thơ Nôm , bài 5 )
Phùng Khắc Khoan có cả "Ngôn chí thi tập ", khuyên mọi ngời " gặpviệc phải xử trí theo đạo trung dung, xuất thân phải noi theo con đờng chính.Một khi dục vọng của con ngời đã hết thì lẽ trời lại hiện ra , cần chi phải kh
kh mu cầu bổng lộc ( Miễn học giả )
Truyền kỳ mạn lục là một tập truyện giàu chất hiện thực, chan chứa
những ý hớng đạo lý Nguyễn Dữ thờng nhấn mạnh đến cơ sở của nhânnghĩa, nêu cao tác dụng của lòng nhân Hình tợng nhân vật ở những câuchuyện về ngời hay truyện ma quái đều bao hàm ngụ ý khuyên răn : rănnhững kẻ bạc bẽo, khuyên ngời ăn ở trung hậu … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử
Dùng "văn " để chở "đạo " là điều thờng thấy trong văn học của các nhànho ở giai đoạn trớc Có điều, nói đến đạo lý trong thơ văn các nhà nho ởnhững thế kỷ trớc bao giờ cũng gắn với lối tụng ca vua sáng , tôi hiền , dângiàu nớc mạnh, xã hội thái bình thịnh trị Hơn ai hết , các nhà nho ẩn dậtthời kỳ này có ý thức hơn về việc " lập ngôn ", nên họ đã sử dụng thơ văn
đạo lý để giáo huấn ngời đời, cải thiện nhân tâm thế đạo, phục hồi cuộc sốngtinh thần lành mạnh trớc sự suy đốn đạo đức đơng thời Dù nhiều khi chathoát khỏi t duy minh họa , nhng đạo lý mà các tác giả nêu lên ở đây có nộidung tích cực , giản dị thiết thực Đó là nhờ ảnh hởng của những t tởng lànhmạnh , những mối quan hệ thuần phác dân dã trong cuộc đời ẩn dật gầndân , làm cho đạo lý trong các tác phẩm có nội dung gần với đạo lý dân tộc
và kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân
Giá trị nhân đạo trong sáng tác của nho sĩ ẩn dật không chỉ dừng lại ở
đây Quá trình tiếp xúc với văn hóa dân gian, với đời sống khổ đau của nhândân trớc sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến, chủ đề về quyền sống con ngời
đã bớc đầu đợc đề cập tới Vấn đề ngời phụ nữ và những biểu hiện trực tiếpquan niệm về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi đã đợc các tác giả quan tâm thểhiện
Trang 27Lần đầu tiên trong văn học Việt nam, hình ảnh ngời phụ nữ xuất hiện
đông đảo trong Truyền kỳ mạn lục với cả diện mạo, tâm hồn, tình cảm, nhu
cầu và khát vọng về số phận của chính mình Trớc đây , hình ảnh ngời phụnữ Việt Nam cũng đã xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi, NguyễnHúc, Lê Thánh Tông nhng có thể khẳng định rằng cha trở thành đối tợngnhận thức , đối tợng thẩm mĩ trọn vẹn, thành vấn đề ngời phụ nữ - một nhânvật quan trọng của văn học Đó là hình ảnh ngời phụ nữ xuất thân rất bình
thờng nh Vũ Thị Thiết trong truyện Ngời con gái Nam Xơng , Lệ Nơng trong
Truyện Lệ Nơng , nàng Tuý Tiêu ở Chuyện nàng Tuý Tiêu, nàng Nhị Khanh
trong Truyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu và đặc biệt hình ảnh nàng Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào Thị Thông qua số phận ngời
phụ nữ , Nguyễn Dữ đã cất tiếng kèn cấp báo đòi quyền sống cho con ngời,quyền đợc yêu và hạnh phúc Dù số phận của ngời phụ nữ trong những tácphẩm đó còn bế tắc nhng với các sáng tác này thực sự Nguyễn Dữ đợc xem làngời mở đầu cho khuynh hớng quan tâm đến ngời phụ nữ
Bên cạnh chủ đề về quyền sống con ngời , về tình yêu , hạnh phúc lứa đôi
và hình ảnh ngời phụ nữ trong văn học thế kỷ XVI – nửa đầu thế kỷ XVIIIcòn có nhiều nội dung khác Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vơng khẳng định : "Chính trong văn chơng của Đào Duy Từ ta có thể tìm thấy đợc hình ảnh mớilạ : hình ảnh ngời hào kiệt, ngời anh hùng thời loạn " Chuỗi hình tợng bắt
đầu từ hình ảnh Khổng Minh trong Ngọa long cơng vãn sẽ cộng hởng nhiệt
liệt vào thế kỷ XVIII cho đến đầu thế kỷ XIX với những sáng tác của Nguyễn
Hũ Cầu, Nguyễn Hữu Chỉnh … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử và khép lại hình ảnh một kẻ đại trợng phutrong sáng tác của Nguyễn Công Trứ , Cao Bá Quát Và " nếu thiếu đi loạihình văn học này, sẽ không thể có hình tợng ngời chí sĩ - hào kiệt tự nhiệmtrong văn chơng Phan Bội Châu , Phan Chu Trinh và hàng loạt tác giả nhànho cách tân khác đầu thế kỷ XX " [49,146 ]
Sở dĩ nhắc tới Đào Duy Từ ở loại hình nhà nho ẩn dật là bởi trớc khi hoạt
động tích cực ở Đàng trong ông đã từng ẩn dật Vả lại , Ngoạ Long cơng vãn
là tác phẩm vừa ca tụng phong thái thanh cao , phóng dật của một ẩn sĩ cao
đạo , vừa thể hiện bản lĩnh , chí khí của con ngời có hoài bão , ẩn chí đợi thời Đó không chỉ là tâm trạng của riêng Đào Duy Từ mà còn là tâm trạngchung của những sĩ phu đơng thời có tiết tháo , có lý tởng muốn giúp đời annguy trị loạn mà cha gặp thời Văn chơng nhà nho ẩn dật dầu có lên án vuaquan , có tố cáo hiện thực , có bộc lộ xu hớng đòi quyền sống cho con ngời
Trang 28thì cũng để nhằm khẳng định một xã hội phong kiến lý tởng mà họ mơ ớc :Xã hội có vua sáng tôi hiền , nhân dân sống yên ổn , chứ không phải là sựphủ định chế độ phong kiến Lý tởng chính trị xã hội ấy góp phần tạo nênniềm tin ở nho sĩ ẩn dật về khả năng phục hồi thế cuộc, sự ổn định đất nớctrong tơng lai
1.4.2 Văn chơng nhà nho ẩn dật với sự mở rộng của hệ thống thể loại và ngôn ngữ văn học
Lực lợng sáng tác ngoài cung đình gồm các trí thức bình dân và nho sĩ ẩn dật
có khả năng hấp thu đợc ngôn ngữ đời sống, thể hiện khát vọng tình cảm củanhân dân Họ là nhân tố trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết Quan hệ giữa sáng tác của họ và sáng tác dân gian là quan hệ hai chiều Mộtmặt, họ tiếp thu ảnh hởng sáng tác dân gian, mặt khác họ cũng tác động đếnnhững sáng tác dân gian Do vậy, văn học chữ Nôm giai đoạn này rất pháttriển Tác phẩm Nôm thừa hởng đợc những thành tựu của văn học dân gian
về ngôn ngữ, hình tợng văn học Cũng dới ảnh hởng của văn học dân giannhững thể loại văn học thời kỳ này có sự biến đổi , đáp ứng nhu cầu phản ánhtrớc hiện thực sinh động và lý giải những vấn đề có ý nghĩa thời đại đang đặt
kỳ này đã đợc các tác giả của dòng văn học viết nâng lên thành thể thơ dântộc chuẩn mực Lê Đức Mao , Đào Duy Từ , Phùng Khắc Khoan, các tác giảkhuyết danh … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử sử dụng hai thể thơ này để viết ca trù, vãn, truyện, diễn calịch sử … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Chính các tác giả u tú của thời kỳ này đã đặt cơ sở vững chắc cho
sự phát triển thể thơ dân tộc từ thế kỷ XVIII trở về sau
Gắn với quá trình dân tộc hóa các thể loại văn học dân gian là quá trìnhviệt hoá các thể loại văn học nớc ngoài Chính quá trình này đã đóng gópvào việc xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc Nguyễn Hàng đã đa ngôn ngữbiền văn Nôm gần gũi với ngôn ngữ văn học dân tộc Ông đã sử dụng ngônngữ dân tộc để phản ánh, miêu tả những trạng huống , phong cảnh bình dị,dân dã của ngời dân đặc biệt là những nét sinh hoạt vật chất của nhân dân
Trang 29miền núi Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã là ngời Việt hóa truyện ký
chữ Hán rất thành công Đặc biệt Nguyễn Bỉnh Khiêm - một tác gia lớn đãnâng ngôn ngữ thơ Nôm lên trình độ thuần thục, giản dị và trong sáng Đóng
góp của Bạch Vân quốc ngữ thi tập không phải ở thể thơ Lối thơ thất ngôn
xen lục ngôn đã có từ bài thơ của Điểm Bích, Hàn Thuyên đời Trần Đến
Quốc Âm thi tập , Nguyễn Trãi có dụng ý tạo ra một thể loại văn học nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển của thơ ca dân tộc và đã đạt đợc thành tựu đáng kể
Trải qua Hồng Đức Quốc Âm thi tập , đến Nguyễn Bỉnh Khiêm - ngời đi sau
nhng Trạng Trình đã cũng cố và hoàn chỉnh các thành tựu mà Nguyễn Trãi
đã có công khai phá Điều mà Bạch Vân am thi tập đóng góp chính là sự tiến
bộ ở nơi cơ cấu từ cú , cách đặt câu dùng chữ, thêm nhiều tính cách thuần túyViệt Nam Tính cách bao trùm của thơ Bạch Vân là sự giản dị mộc mạc, íthoa mĩ, nhiều chất phác, lời thơ có chỗ thật thà quê kiểng:
Phơ phơ đầu bạc ông câu cá
Leo lẻo dòng xanh con mắt mèo Âu lộ cùng ta nh có ý
Đến đâu thì cũng cố đi theo.
Các tác giả thời này trau dồi ngôn ngữ Việt bằng cách sử dụng nguồn vănliệu dân gian và đồng hóa nhuần nhuyễn nguồn văn liệu Hán học NguyễnBỉnh Khiêm có một nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao : có thểlấy ý mà không lấy từ, có chỗ lấy cả ý cả từ, có lúc mợn trọn cả ý, thêm vài
từ trở thành câu thơ chứa đựng tình cảm riêng của mình
Đỏ thì son đỏ, mực thì đen ( Thơ Nôm , bài 31 )
Cờ đến tay ai, ai mới phất ( Thơ Nôm , bài 69 )
Rút dây lại nớc động dừng chăng ( Thơ Nôm , bài 96 )
Cũng nh các tác giả cùng thời, hầu nh bài thơ Nôm nào của NguyễnBỉnh Khiêm cũng có từ Hán Việt Song chúng không bị "cộm" lên làm câuthơ trúc trắc khó hiểu, trái lại chúng hoà đồng vào những từ thuần Việt trởnên dễ hiểu và giữ đợc vẻ hài hoà cho toàn bài Nhiều khi chính từ Hán Việt
đã là sáng giá cả câu thơ, khiến chúng thêm gợi cảm, đạt giá trị thẩm mĩ cao :
Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà, Nào của, nào chăng phải của ta
Trang 30đạt tình cảm con ngời tinh tế , sâu sắc hơn.
ở chơng này chúng tôi đã cố gắng làm rõ loại hình nhà nho ẩn dật làlực lợng sáng tác cơ bản, tạo nên giá trị tiêu biểu cho văn học thế kỷ XVI -nửa đầu thế kỷ XVIII Vạch ra từng kiểu loại tác giả là tơng đối " Xét vềlịch sử, không có một lát cắt tuyệt đối dành riêng cho từng loại hình nhà nho,nhng nhìn chung dới góc độ lịch sử t tởng và lịch sử văn học Việt Nam thìloại nhân vật này gây ảnh hởng lớn nhất , bộ phận văn chơng có giá trị đặcsắc,nổi bật trên văn đàn là nhà nho ẩn dật và văn chơng của họ"[49,143] Trên đây mới chỉ là những khái quát bớc đầu, ở những chơng kế tiếp củaluận văn chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu tìm hiểu thành tựu mà các tác giả nhànho ẩn dật đạt đợc trong quá trình sáng tác
Trang 31Chơng 2
Văn học Việt nam thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
nhìn từ phơng diện thể loại 2.1 Sơ lợc quá trình phát triển thể loại văn học trung đại Việt Nam cho
đến trớc giai đoạn thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác phẩm văn học tồn tại theo thể loại nên sự hình thành và phát triển
đời sống văn học qua các giai đoạn cũng chính là sự hình thành và phát triểncủa thể loại văn học Sản phẩm của sự phát triển văn học, thể loại là một hiệntợng siêu cá thể mang tính thời đại, tính lịch sử và tính dân tộc sâu sắc ; gắnliền với ngôn ngữ , tâm lý và truyền thống văn hoá của chính dân tộc đó
“Thể loại văn học là những cách thức tổ chức ngôn ngữ thành những hìnhthức nghệ thuật riêng biệt, có chức năng khác nhau, nhằm thể hiện cách nghĩ,cách cảm,tâm trạng, thái độ khác nhau của con ngời trớc cuộc sống”[ 9,18]
ở Việt Nam hệ thống thể loại văn học phát triển muộn, bắt đầu manh nhatrong văn học dân gian và tiếp thu từ văn học Trung Quốc Trong thời kỳtrung đại thể loại văn học phát triển qua hai ngôn ngữ : Hán và Nôm Cho tớinhững năm 20 của thế kỷ XX, các thể loại văn học hiện đại mới xuất hiện
đầy đủ Nh vậy, hệ thống thể loại của văn học dân tộc hình thành, phát triển,biến đổi qua từng thời kỳ, trong những thời đại khác nhau Đặc trng của nó ởmỗi thời điểm ấy cũng khác nhau, vì thế không nên dùng những thang giá trịcủa hiện tại áp đặt cho thể loại văn học quá khứ ở đây, chúng tôi chỉ nghiêncứu hệ thống thể loại của nền văn học viết từ lúc hình thành đến lúc hệ thốngthể loại đó tơng đối hoàn chỉnh ( nửa đầu thế kỷ XVIII)
Trang 32
2.1.1 Thể loại văn học thời Lý - Trần : Thế kỷ X - XIV
Thế kỷ X - XIV là thời kỳ nền văn học viết đầu tiên của Việt Nam hìnhthành và phát triển trong bối cảnh vừa thoát khỏi một ngàn năm Bắc thuộc.Thời kỳ nhà nớc phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển cho nên ítnhiều tác động trực tiếp tới văn học : vừa mô phỏng Trung Quốc , vừa có bảnsắc riêng độc đáo ở hệ thống thể loại cũng vậy, trên cơ sở vừa tiếp thu mộtcách có chọn lọc vừa chủ động, sáng tạo để thích ứng với yêu cầu cuộc sống,phù hợp với trình độ t duy nghệ thuật, nhu cầu , thị hiếu của con ngời Nhữngtác phẩm văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm còn lại đến ngày nay cho tathấy rõ hệ thống thể loại lúc bấy giờ , chúng bao gồm : thơ , phú , hịch, chiếu, kệ , văn bia , văn chuông, văn chép sử, văn truyện , ký, văn nghị luận … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sửKhẳng định rằng toàn bộ hệ thống thể loại văn học thời Lý - Trần đều đợctiếp thu từ Trung Quốc không có nghĩa là nói ngời Việt chỉ biết rập khuôn,sao chép , bắt chớc Vay mợn nhng bao giờ cũng dựa trên cơ sở tiếp thu cảibiến và chủ động sáng tạo Tiếp thu chỉ ở phơng diện hình thức thể loại cònnội dung tác phẩm mang dấu ấn dân tộc và thời đại rõ nét Nội dung chứcnăng và phơng tiện biểu cảm của thể loại có những biến thái nhất định
Thể loại văn học Lý - Trần đều mang tính chức năng cao Thơ Thiền vàluận thuyết tôn giáo phục vụ yêu cầu tu hành của tăng lữ Hịch phục vụ chonhiệm vụ chiến đấu ; chiếu , chế , biểu , tấu … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử phục vụ nhiệm vụ giao tiếphành chính quan phơng và thơ trớc hết là để nói chí Thể loại văn học thời kỳnày còn thể hiện sâu sắc tính chất " văn sử triết bất phân " Nhiều văn bảntác phẩm không chỉ có giá trị văn học mà còn có giá trị sử học , giá trị triết
học Điều đó thể hiện rõ ở những bài thơ Thiền của Mãn Giác thiền s Cáo tật
thị chúng , của thiền s Không Lộ Ngôn hoài , thiền s Pháp Bảo với Bài minh
ở chùa Linh Xứng , những bài hịch nh Lộ bố của Lý Thờng Kiệt, Hịch tớng sĩ
của Trần Quốc Tuấn , và cả ở những tác phẩm thuộc thể truyện, sử, văn ngữlục … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Tính nguyên hợp này in dấu đậm nét trong văn học viết Việt Namnhững thời kỳ đầu tạo nên nét riêng so với văn học các thời kỳ sau
Sở dĩ hệ thống thể loại văn học Lý - Trần có những đặc điểm trên làbởi văn học thời kỳ này thờng gắn bó trực tiếp với cuộc sống , trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong đời sống con ngời Nó trực tiếp tham gia vàocác hoạt động xã hội , phục vụ các nhiệm vụ mà cuộc sống đòi hỏi trong quá
Trang 33trình đấu tranh giành độc lập , quá trình xây dựng , kiến thiết đất nớc Đókhông chỉ là sản phẩm của hoạt động nghệ thuật mà trớc hết đáp ứng nhữngchức năng do xã hội yêu cầu Một đất nớc vừa thoát khỏi ách nô lệ , một dântộc vừa ra đời nền văn học viết , một đất nớc đang trong thời kỳ " khángchiến kiến quốc " nên việc lựa chọn những thể loại mang tính cao nhã trongviệc phô diễn đời sống tinh thần con ngời, trang trọng trong truyền đạo, trongviệc ngợi ca chiến công oanh liệt, trong việc phô diễn ý chí kẻ sĩ mong phòvua giúp nớc, trong những nghi thức giao tiếp quan phơng, tôn giáo hay thếtục … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử là điều hợp lý Do đó ở quá trình tiếp thu , ngời Việt đã ít nhiều Việthóa thể loại của văn học Trung Hoa với những biến thái về nội dung và ph-
ơng thức biểu cảm trong việc phô diễn đời sống tinh thần và cảm xúc của
ng-ời Việt
2.1.2 Thể loại văn học thời Lê sơ ( Thế kỷ XV )
Thể loại văn học thế kỷ XV vẫn tiếp tục hệ thống thể loại của văn họcthời kỳ thế kỷ X – thế kỷ XIV và bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới , khác
biệt so với trớc Đó là thơ Nôm trữ tình thất ngôn xen lục ngôn Thể thơ này
ra đời trên cơ sở kết hợp hai thể thơ thất ngôn và lục ngôn vốn có trong thơ caTrung Quốc Nó ra đời ở thời Trần, có thể do Hàn Thuyên đề xớng , tiếp đó
đợc các tác giả khác nh Nguyễn Sĩ Cố , Chu Văn An , Hồ Quí Ly hởng ứng.Song cứ liệu khảo sát đã mất nên khó có thể biết luật thơ đó nh thế nào
Văn học chữ Nôm bắt đầu phát triển mạnh ở thế kỷ XV, không chỉ phôdiễn đời sống thông tục mà còn dùng để diễn tả đời sống cao nhã , trangtrọng Hình thức văn học Nôm có thành tựu nhất ở thời kỳ này chính là thơthất ngôn xen lục ngôn , đợc Nguyễn Trãi , Lê Thánh Tông sử dụng thànhcông Đây là một thể loại văn học có đặc điểm riêng Đặc diểm tiêu biểu vềmặt hình thức của nó là sự đan xen không đều số câu thơ sáu chữ với câu thơbảy chữ trong một bài thơ " ở cấu tạo của ngôn ngữ câu thơ sáu chữ thựcchất là những câu bảy chữ trong thơ thất ngôn luật của Trung Quốc, bị giảm
đi một chữ , tạo ra những nhịp ngắt phong phú và sinh động Khả năng ngắtnhịp của câu thơ sáu chữ chủ yếu thiên về nhịp chẵn (2 / 2 / 2, 2 / 4 , 4 / 2)hay nhịp lẻ rất động (3 / 3 , 5 / 1 , 1 / 5 ) Còn ở câu thơ bảy chữ trong thểthơ này cũng chủ yếu chuyển sang nhịp ngắt 3 / 4, một nhịp ngắt mà lúc nàocũng có thể giảm đi một " bớc thơ " Nh vậy, khả năng tạo ra câu sáu chữluôn thờng trực " [ 10 , 63 ]
Trang 34Do đặc điểm ngôn từ này bài thơ đã phá vỡ đợc trạng thái đều đều, sự gò
bó quá chặt chẽ trong những câu thơ Đờng luật, tạo nên những biến đổi vềnhịp thơ , chỗ ngắt , nghỉ , đáp ứng diễn biến nhanh , gọn Tình huống đợcdiễn đạt trong câu thơ phù hợp với việc diễn tả đời sống nội tâm có nhiềubiến động , nỗi lòng uẩn khúc , dằn vặt , bế tắc , những tình cảm riêng t thầmkín khó giải tỏa
Trong văn học Trung Quốc có cả thơ thất ngôn và thơ lục ngôn nhng thểthơ thất ngôn xen lục ngôn là sự sáng tạo độc đáo của riêng ngời Việt.Nguyễn Trãi là ngời có công trong việc tiếp thu sâu sắc thi pháp luật Đờng,
cố gắng xây dựng lối thơ Việt Nam ," thi pháp Việt Nam " in đậm cách nghĩViệt Nam, tâm hồn thơ Việt Nam Dù thi luật cha chặt chẽ và cố định, dùkhông tồn tại lâu dài trong đời sống văn học nhng thể thơ thất ngôn xen lụcngôn ra đời đã đánh dấu sự trởng thành của ngời Việt trong sáng tác nghệthuật , trên con đờng tìm kiếm một thể thơ dân tộc
Xét về mặt thể loại , giai đoạn văn học từ thế kỷ X - XV về cơ bảnkhông có quá trình hình thành và phát triển thể loại mà chỉ có quá trình ứngdụng các thể loại đã đợc tiếp thu từ văn học Trung Quốc Nói cách khác, đó
là quá trình Việt hoá các thể loại từ văn học nớc ngoài , chủ yếu của TrungQuốc Quá trình Việt hoá này nhằm phục vụ trực tiếp yêu cầu của cuộcsống, nhu cầu phô diễn đời sống tinh thần thuộc tầng lớp trên của xã hội Thể
thơ thất ngôn xen lục ngôn ra đời báo hiệu tơng lai của các thể loại văn học
tiếng Việt sẽ chiếm địa vị trọng yếu trên văn đàn dân tộc
2.2 Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII với những chuyển biến
về phơng diện thể loại
Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII là giai đoạn có vị trí trọngyếu đối với sự hình thành , phát triển của hệ thống thể loại nền văn học cổViệt Nam " Một giai đoạn có thể gọi là bản lề hay đột biến , nhảy vọt vớinhững sự kiện giàu ý nghĩa " [ 35 ,75 ] về phơng diện thể loại Đó là sự hìnhthành tơng đối hoàn chỉnh hệ thống thể loại văn học viết với các thể loại củavăn học dân gian đợc bác học hoá và những thể loại Việt hóa từ văn học nớcngoài
2.2.1 Quá trình Việt hóa các thể loại văn học nớc ngoài
Trang 35Đặc điểm chung của sự phát triển lịch sử văn học là văn học mỗi quốcgia, dân tộc khi mới hình thành thờng chịu ảnh hởng của các nớc láng giềng
có nền văn học lớn , từng phát triển phong phú lâu dài mà ngời ta gọi là các "dân tộc chủ thể của các nền văn minh " Chính các dân tộc chủ thể ấy tạonên nền móng vững chắc cho từng vùng văn học xung quanh, trở thành nềnvăn học" kiến tạo vùng " Vì thế những dân tộc có nền văn hoá , văn minh trẻ
có điều kiện giao lu văn hoá thờng phát triển dới ảnh hởng lâu dài , phongphú, phức tạp của nền văn học kiến tạo vùng làm nên truyền thống " đồngvăn " hàng ngàn năm lịch sử
Không nằm ngoài '' hệ hình văn hóa '' ấy, nền văn học Việt Nam - nềnvăn học trẻ với sự thuận lợi về điều kiện địa lý , lịch sử trong quá trình giao l-
u, tiếp xúc đã bị thu hút vào quĩ đạo phát triển của nền văn học lâu đời nớcláng giềng Trung Hoa là tất yếu ở giai đoạn đầu , nền văn học viết ViệtNam chịu ảnh hởng của văn học Trung Quốc chủ yếu theo cách mô phỏng.Nhng qua thời gian , nền " văn học đợc hội hợp " ấy không chỉ dừng lại ở môphỏng, tái tạo , mà là sự tân tạo , Việt hóa hình thành nên nền văn học dântộc ở những thế kỷ đầu, hệ thống thể loại văn học Việt Nam cha có sự khácbiệt đáng kể so với hệ thống thể loại văn học Trung Quốc Sang thế kỷ XV ,
hệ thống thể loại văn học Việt Nam đã có sự chuyển biến theo chiều hớngViệt hóa trên cơ sở dân tộc Từ thế kỷ XVI trở đi, với sự thay đổi cơ bảntrong lực lợng sáng tác nên quá trình Việt hoá ấy vẫn tiếp tục đợc duy trì ,song chủ yếu dựa trên cơ sở của nhân dân mà trớc hết là văn học dân gian đểnói lên tiếng nói con ngời Việt, đất nớc Việt ; đặt cơ sở cho sự hoàn thiện hệthống thể loại văn học viết ở giai đoạn sau
Tiếp tục thành tựu mà ngời trớc đã có công khai phá , Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã sáng tác nhiều bằng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn - một sự sáng
tạo biểu hiện của khuynh hớng muốn thoát khỏi cấu trúc gò bó đơn điệu củathơ Đờng luật , để tìm về điệu thức dân tộc Có thể xem Nguyễn Bỉnh Khiêm
là ngời đóng góp vai trò khẳng định thể thơ mới, riêng của dân tộc, bên cạnhthể thơ luật Đờng Số lợng bài thất ngôn pha lục ngôn chiếm tỷ lệ khá lớn :
97 / 161 trong tổng số thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh khiêm Số lợng và vị trícủa câu sáu trong từng bài không giống nhau Có lúc đứng ở vị trí là câu mở
đầu, có lúc đứng ở vị trí thứ hai , có khi sóng đôi nhau Và số lợng câu lụcngôn trong mỗi bài thơ cũng không cố định
Trang 36Chính những câu thơ lục ngôn một mặt không phá vỡ hình thức kết cấuchung của bài thơ nhng mặt khác lại tạo đợc sự phá cách về nhịp nhằm đạt tới
ấn tợng cảm xúc mạnh mẽ Chính ở đó Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tập trung thểhiện t tởng , cảm xúc đồng thời mở rộng dung lợng hiện thực nh phê phánchiến tranh , lên án thói đời đen bạc , thể hiện triết lý nhân sinh … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử mà nhữngthế kỷ trớc cha có
Về vấn đề này đã có một số bài viết phân tích kỹ , ở đây chúng tôimuốn khái quát lại để khẳng định rằng dầu thể thơ này trong những sáng táccủa Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự vận động nhng không thể nói rằng nó đánhdấu một bớc tiến rất xa so với những sáng tác của Nguyễn Trãi Song với sự
mở đầu ở đời Trần và kết thúc ở Nguyễn Bỉnh Khiêm , thất ngôn xen lục
ngôn - thể thơ Tiếng Việt đầu tiên đã đi một chặng đờng để tìm kiếm một thể
thơ của dân tộc phù hợp hơn trong việc chuyển tải những cung bậc của đờisống tình cảm con ngời Nên vận mệnh của thể thơ thất ngôn xen lục ngônkết thúc khi thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát ra đời
Bên cạnh thể thơ thất ngôn xen lục ngôn thì Phú Nôm cũng là một thể
loại đánh dấu bớc phát triển mới trong quá trình Việt hoá các thể loại văn họcTrung Quốc Thể loại văn học này đã đợc ngời Việt tiếp nhận và Việt hóasuốt thời kỳ trung đại Phú Việt Nam gồm hai bộ phận : Hán và Nôm ởnhững thế kỷ đầu của nền văn học viết , nhìn chung phú chữ Hán và phú chữNôm còn chịu ảnh hởng lớn của chức năng thể loại : Cảm hứng ngợi ca tán
tụng, suy tôn với phép thậm xng , ví von là cách thức chủ đạo Bạch Đằng
đều là những tác phẩm phù hợp với tính chất ca tụng sự nghiệp xây dựng đấtnớc , ngợi ca công đức của các vị vua , cảnh trí non sông tơi đẹp với lòng tựhào sâu sắc Mặc dầu đời Trần đã để lại năm bài phú Nôm nhng vẫn nặng vềgiảng giải đạo nghĩa, lý lẽ khô khan ở thời kỳ này thành tựu chủ yếu nằm ởphú chữ Hán
Phải tới thế kỷ XVI, phú Nôm mới bắt đầu trởng thành Từ đây, phúNôm thực sự trở thành thể loại đợc a chuộng tạo tiền đề cho phú Nôm hoànthiện ở những thế kỷ sau Đóng góp cho thành tựu của thể loại này phải kể
đến Nguyễn Giản Thanh với tác phẩm Phụng thành xuân sắc phú , Bùi Vịnh
Cung trung bảo huấn phú , Hoàng Sĩ Khải Tiểu độc lạc phú, Nguyễn Bá Lân
cho phú Nôm phát triển và trởng thành Từ đây phú Nôm bắt đầu chuyển
Trang 37h-ớng từ phong cách trang trọng, hoành tráng, ngợi ca sang phong cách tảthực , bình dị , trào lộng Từ một thể loại cung đình đợc viết chủ yếu bằngchữ Hán nay trở thành thể loại văn học dân dã do các nhà nho ẩn dật sángtác
Các tác phẩm còn lại đến ngày nay Tịch c ninh thể phú, Đại Đồng
phong cảnh phú chứng tỏ phú Nôm đã có sự tiến bộ vợt bậc so với những thế
kỷ trớc Cũng là nói chí nhng ở đây không phải là những lý lẽ khô khan,cũng ca ngợi cảnh trí tơi đẹp tráng lệ của đất nớc nhng đi vào tác phẩm lànhững gì bình dị , chất phác, đậm đà phong vị dân tộc :
( Tịch c ninh thể phú )
Ngôn ngữ trong phú Nôm từ Nguyễn Hàng đánh dấu sự trởng thành củangôn ngữ văn học dân tộc Lời văn giản dị , mộc mạc , trong sáng với nghệthuật sử dụng lớp từ Hán đã đợc Việt hoá , vốn từ gốc Việt với phong cáchdân gian , gần với khẩu ngữ hàng ngày … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử nghệ thuật dùng từ láy, từ điệp,chơi chữ để phác hoạ một tính cách , một cảnh sinh hoạt đậm phong vị Việt Khả năng phán ánh nghệ thuật Tiếng Việt điêu luyện ấy đợc bộc lộ rõ trong
Tịch c ninh thể phú khi ông tả cách ăn mặc :
Ta thờng :
Vấn khăn gốc đen sì
Vận quần nâu đỏ oạch
Mũ để ngăn sơng chống tuyết, mũ mỏng bao trùm điệp cánh dơi áo vừa ấm cật che hình , áo bao quản sóng bài chân bịch
Hạ làm màn , đông làm đệm ; mấy lần sô coi đã hăm sì ,
Tay là túi , vạt là khăn ; ba bức thổn mặc dù cũ rích
Nằm võng tre , ngấn cật vằn vè
Lê guốc gỗ , nhịp chân lách cách …
Trang 38Từ thể loại bác học cao siêu đến Nguyễn Hàng phú Nôm đã trở thành " nôm
na mách qué " gần gũi , thành thể loại bình dân với những yếu tố tả thực tràolộng rõ nét Mặc dù phú Nôm ở thời kỳ này cha đạt tới những thành tựu rực
rỡ nh ở thời kỳ sau ( nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX) nhng so vớitrớc đó , đây thực sự là bớc tiến vợt bậc , đánh dấu sự chuyển mình quantrọng Tạo tiền đề cho thể loại phú , đặc biệt phú Nôm chuyển từ thể loạingợi ca tán tụng vua chúa với ngôn ngữ sang trọng , thích dùng từ hiểm hócdần dần đợc Việt hóa trên cơ sở chịu ảnh hởng của văn vần dân gian, chuyểnhoá thành phú ẩn c , phú trào lộng … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Nội dung của Phú gần gũi với cuộcsống bình thờng , tăng tính chất nghệ thuật cho lời văn , giàu giá trị nhân vănhơn , làm cho thể loại này trởng thành , đạt đợc thành tựu xuất sắc và có đờisống rộng lớn hơn trong văn học trung đại Việt Nam với những sáng tác củaNguyễn Công Trứ , Cao Bá Quát … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử ở các thế kỷ sau
Có thể khẳng định rằng thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII là thế kỷcủa truyện truyền kì Việt Nam Mặc dầu đây là một thể loại văn học cổ xuấthiện ở đời Đờng và là thành tựu to lớn của tiểu thuyết cổ Trung Quốc
Truyện truyền kì có đặc điểm dùng phơng thức kì ảo để chuyển tải nội
dung, miêu tả những chuyện lạ lùng, kì quái nhằm phản ánh thế giới trần tụccủa con ngời Truyện truyền kì chứa đựng nhiều thể, kết hợp đan xen giữathơ ca , viết sử và nghị luận Truyện truyền kì thờng dùng văn xuôi để kể , tảngời , tả cảnh dùng văn biền ngẫu , khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thờng làmthơ Lời kể uyển chuyển , lời tự biểu lộ hoa mĩ Bố cục truyện thờng gồm baphần : mở đầu giới thiệu nhân vật ( tên họ, quê quán , tính tình ) , phần thứhai là phần trung tâm kể các chuyện kì ngộ lạ lùng và phần kết lí do kểchuyện Nghệ thuật truyện truyền kì là kết hợp tài tình giữa hiện thực vàhoang tởng , lịch sử và kì ảo , xây dựng thế giới nhân vật sinh động , hấp dẫnthể hiện tính h cấu sáng tạo Miêu tả nhân vật, sự việc khúc chiết , rõ ràng , tỉ
mỉ bộc lộ rõ trí tởng tợng phong phú , tự do và phóng khoáng là đặc điểmcủa truyện truyền kỳ
Thể loại truyền kì ở Việt Nam đã đợc hình thành ở đời Trần ( thế kỉ XIII
- XIV ) Đến thế kỉ XV với tác phẩm Thánh Tông di thảo ( Lê Thánh Tông)
mới đạt đợc những thành tựu đáng kể Nhng phải đến thế kỉ XVI, thể loạinày đánh dấu sự chín muồi của nghệ thuật tự sự Việt Nam Đỉnh cao của thể
loại truyền kì chính là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Với tác phẩm Truyền kì mạn lục , tác giả không chỉ Việt hóa thể tài của văn học
Trang 39Trung Quốc mà còn chịu ảnh hởng của thể loại tự sự dân gian Đây là bớcphát triển từ ghi chép dân gian sang sáng tạo ra những câu chuyện mới mang
ý nghĩa thời sự
Nguyễn Dữ ảnh hởng truyền thống truyền kì Trung Quốc trớc hết ởcách đặt tên " Truyền kì " , ở việc dùng hình thức kì ảo làm phơng thứcchuyển tải nội dung hiện thực , ở tính chất h cấu tởng tợng rất rõ và ở mô típcốt truyện : ngời lấy tiên , ngời biết hoá phép , biến hoá … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Nhng điều đángnói ở đây chính ở quá trình tiếp thu và khả năng sáng tạo của tác giả
Khác với hệ thống nhân vật trong những tác phẩm truyền kì TrungQuốc chủ yếu là nhân vật lịch sử, nhân vật ở thể loại truyền kì Việt Nam ,
đặc biệt ở Truyền kì mạn lục đều là những ngời rất đỗi bình thờng : một gã đi
buôn hiếu sắc, một anh học trò nghèo đa tình , một tiều phu ẩn dật , haynhững cô gái là vợ , là mẹ, là ca kĩ với cuộc sống khổ đau … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Họ đều lànhững con ngời Việt Nam với cuộc sống bình dị trên đất Việt Từ nhữngnhân vật lịch sử , những nhân vật trong truyện dân gian Nguyễn Dữ đã xâydựng nên những nhân vật tiểu thuyết có diện mạo , tính cách , có cuộc sốngriêng bằng những tình tiết chọn lọc Nàng Nhị Khanh thủy chung, trung hậu,
đảm đang, tiết nghĩa; Tử Văn bớng bỉnh gân guốc " xả thân thủ nghĩa " … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sửNội tâm , cảm giác của nhân vật cũng đợc thể hiện bằng thơ và từ Dù chatham gia vào sự phát triển của cốt truyện , cha có cốt truyện tâm lí nhng nhthế Nguyễn Dữ đã vợt xa truyện kí lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách ,cuộc sống riêng của nhân vật và cũng vợt ra ngoài khuôn khổ của truyện dângian vốn ít đi sâu vào nội tâm nhân vật
Cốt truyện ở đây đã hoàn chỉnh , có thắt nút , phát triển mở nút nhnhững tác phẩm nghệ thuật Đây là bớc phát triển so với cốt truyện trong
Thánh Tông di thảo ở Thánh Tông di thảo cốt truyện không đều Có
truyện li kì, hấp dẫn nhng có truyện rất sơ sài Mặc dầu dung lợng trong
Truyền kì mạn lục không lớn , nhân vật ít , mỗi chuyện thờng chỉ xoay
quanh một vài sự kiện chính nhng mỗi tác phẩm đều có cốt truyện riêng,dùng việc để răn ngời Đối với thể loại truyện truyền kì , yếu tố hoang đờngkì ảo đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật phản ánh Do đó, Nguyễn Dữ
đã sử dụng những yếu tố ấy một cách có ý thức ở đây thế giới thần tồn tạivới thế giới ngời, những tình tiết thực xen lẫn những tình tiết ảo, ngời quan hệvới thần tiên, ma quỉ … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Tác giả đã trần tục hóa thánh thần, lấy con ngời làm
đối tợng trung tâm phản ánh Do đó có nói đến ma quỉ, thần tiên thì cũng để
Trang 40nói đến thế giới con ngời , số phận con ngời, làm nên giá trị nhân đạo sâu sắccho tác phẩm Mặc dầu không thoát khỏi những hạn chế nhng tác giả đã tìmmột hình thức nghệ thuật phù hợp Dới hình thức truyền kì , ngời cầm bút cóthể trực tiếp đối diện với hiện thực đơng thời, để dễ dàng lách vào nhữngmiền cấm kị Dùng một phơng thức để phản ánh, để chuyển tải nội dung phùhợp Nguyễn Dữ đã dựa vào sự tích cũ, phần nhiều là những câu chuyện luhành từ lâu trong xã hội mà viết nên thiên truyện mới , Việt Nam hoá câuchuyện , phản ánh sâu sắc hiện thực đơng thời nh phê phán chiến tranh phongkiến phi nghĩa , tố cáo những thế lực chà đạp cuộc sống con ngời , vấn đề sốphận con ngời đặc biệt là ngời phụ nữ … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử Qua đó bộc lộ rõ tình cảm và quan
điểm sống của tác giả trớc những vấn đề của xã hội đơng thời Hầu hết cốt
truyện đã đợc hình thành từ lâu nhng Truyền kì mạn lục không đơn thuần là
tập truyện ghi chép sự tích có sẵn Nó là tập truyện phóng tác nên phần tởngtởng tợng, h cấu, sáng tạo trong đó rất đáng kể Là tác phẩm đợc viết ra đểphản ánh những vấn đề của thế kỉ hiện thời
Truyền kì mạn lục đợc viết bằng cả ba lối : tản văn, biền văn, vận văn.
Lối văn nào cũng hay , kết hợp tự nhiên giữa văn tự sự và văn trữ tình, giữangôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả Trong đó , lời trần thuật của tác giả
đợc phân làm hai : lời trần thuật miêu tả câu chuyện và lời bàn cuối truyện Truyện truyền kì Việt Nam viết bằng chữ Hán có những thành tựu
đáng kể từ thế kỉ XV với tác phẩm Thánh Tông di thảo ( Lê Thánh Tông ) nhng đạt đến đỉnh cao chính là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ ở thế kỉ
XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII Nguyễn Dữ đã dựa vào mô típ truyện dân gian
và ảnh hởng tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu - Trung Quốc để tạo
ra những câu chuyện mới , mang ý nghĩa thời đại lúc bấy giờ Đấy là quátrình lột xác , chuyển từ văn học dân gian sang văn học viết , quá trình vănhọc hoá truyện dân gian ở những thế kỉ sau thể loại này vẫn tiếp tục đợc
sáng tác nh Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm , Lan trì kiến văn tiểu lục
của Vũ Trinh … Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn lớn trong lịch sử song đỉnh cao của nó đã đã thuộc về thời kì thế kỉ XVI - nửa
đầu thế kỉ XVIII với tác phẩm Truyền kì mạn lục đợc mệnh danh “ Thiên cổ
kì bút” Dần dần thể loại này chuyển hớng tiến gần đến hình thức truyện cận
- hiện đại Và bớc phát triển cao nhất của văn xuôi tự sự Việt Nam là thể loạitiểu thuyết chơng hồi
Thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII là thời kì khai sinh ra tiểu thuyết
ch-ơng hồi Việt Nam với tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí hay còn gọi