1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân phần công dân với pháp luật ở trường trung học phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học

60 1,7K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Đóng Vai Vào Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Phần “Công Dân Với Pháp Luật” Ở Trường Trung Học Phổ Thông
Tác giả Bùi Thị Thương
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Bình
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 753 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáokhoa lớp 10 THPT, có viết “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người họcthực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó

Trang 1

Trờng đại học vinh khoa giáo dục chính trị

===  ===

bùi thị thơng

Vận dụng phơng pháp đóng vai vào dạy học

môn giáo dục công dân phần “Công dân với pháp luật”

ở trờng trung học phổ thông

khóa luận tốt nghiệp đại học

Ngành giáo dục Chính trị

vinh - 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh khoa giáo dục chính trị

===  ===

Vận dụng phơng pháp đóng vai vào dạy học

môn giáo dục công dân phần “Công dân với pháp luật”

Trang 3

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện khóa luận.

Tôi cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới những người bạn luôn động viên, khích lệ tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó !

Vinh, tháng 5 năm 2011

Tác giả

Bùi Thị Thương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu 2

3 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu 4

5 Phương phỏp nghiờn cứu 4

6 í nghĩa thực tiễn và đúng gúp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 5

B NỘI DUNG 6

Chương 1 Lý luận chung về phơng pháp đóng vai 6

1.1 Quan niệm về phương phỏp đúng vai 6

1.1.1 Quan niệm về phương phỏp và phương phỏp dạy học 6

1.1.2 Quan niệm về phương phỏp đúng vai 8

1.2 Cỏc kiểu dạy học đúng vai trong dạy học mụn GDCD ở trường THPT .12

1.3 Quy trỡnh sử dụng phương phỏp đúng vai trong dạy học mụn GDCD ở trường THPT 16

1.4 Một số yờu cầu sư phạm đối với việc vận dụng phương phỏp đúng vai trong dạy học mụn GDCD ở trường THPT 19

Chương 2 phơng pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD phần “công dân với pháp luật” ở trờng thpt 23

2.1 Sự cần thiết phải vận dụng phương phỏp đúng vai vào dạy học mụn GDCD phần “Cụng dõn với phỏp luật” ở trường THPT 23

2.1.1 Xu hướng đổi mới phương phỏp dạy học mụn GDCD hiện nay 23

2.1.2 Đặc điểm và cấu trỳc chương trỡnh phần “Cụng dõn với phỏp luật” .24

Trang 5

2.1.3 Ưu thế của việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học

môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” 27

Trang 6

2.2 Thực trạng của việc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học

môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT 302.2.1 Những mặt đạt được 302.2.2 Những mặt hạn chế 332.3 Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học một số bài cụ thể

trong chương trình GDCD phần “Công dân với pháp luật” ởtrường THPT 352.3.1 Bài Công dân bình đẳng trước phát luật (1 tiết) 352.3.2 Bài Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời

sống xã hội 402.4 Một số giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả sử dụng

phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 462.4.1 Các cấp quản lí có cơ chế đánh giá, tạo điều kiện, khíh lệ giáo viên

vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phươngpháp dạy học đóng vai nhằm nâng cao chất lượng dạy và họcmôn GDCD 462.4.2 Thay đổi và khắc phục “lỗi hệ thống” của giáo dục phổ thông là

hướng vào việc thi đại học nên hình thành quan niệm về mônchính, môn phụ 472.4.3 Xây dựng các phòng học tiêu chuẩn đảm bảo cho việc thực hiện

dạy học qua hình thức đóng vai 472.4.4 Định kỳ tổ chức các chương trình tập huấn, hội nghị đánh giá,

trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp dạy học, trong đó

có phương pháp dạy học đóng vai cho giáo viên THPT nóichung, giáo viên bộ môn GDCD nói riêng 48

C kÕt luËn 50

d danh môc tµi liÖu tham kh¶o 51

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ mạng lưới công nghệthông tin toàn cầu Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một yếu tốkhách quan đối với tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Xu thếnày đang đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam những thời cơ và thách thức mới,đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có những điều chỉnh và đổi mới cho phù hợp.Trong những năm gần đây, nền giáo dục Việt Nam đã và đang thực đổi mớinội dung và phương pháp dạy học (PPDH) Mục tiêu quan trọng nhất củachiến lược đổi mới này là lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học, gắn lí luận với thực tiễn, nâng cao khảnăng thực hành cho học sinh Mục tiêu này đã được Đảng ta khẳng định trongVăn kiện Đại hội Đảng lần thứ X: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phươngpháp dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phát huy trí sáng tạo củangười học, khả năng vận dụng thực hành của người học”[8, tr36] Điều nàycũng được cụ thể hóa trong Luật giáo dục (2005) của nước ta tại điều 24khoản 2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của người học; phù hợp với đặc điểm của từng lớphọc, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú họctập cho học sinh”[10, tr42]

Trước yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy và học trên đây, dạy họcmôn giáo dục công dân (GDCD) cũng cần thiết phải đổi mới cho phù hợp.Môn GDCD là một môn khoa học có vai trò quan trọng trong việc hình thànhthế giới quan, tạo tư tưởng, niền tin cho các em học sinh Tuy nhiên, lâu nay

Trang 10

môn GDCD vẫn bị coi là một môn phụ, mang tính chất bổ trợ Giờ học mônGDCD không được đầu tư, ít đựoc đổi mới cho phù hợp Vì thế, đôi khi giờhọc môn GDCD được xem là một giờ sinh hoạt lớp, giáo viên dạy GDCD cóthể là giáo viên của các ngành khác như văn, sử, địa… Vì vậy đổi mới PPDHmôn GDCD đang là một vấn đề cấp thiết để góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc bộ môn trong hệ thống các môn học ở trường trung học phổ thông(THPT) Một trong những định hướng đổi PPDH môn GDCD là tích cực vậndụng PPDH tích cực, trong đó có phương pháp đóng vai (PPĐV)

Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Vận

dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD - phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT” làm khoá luận tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu

Đóng vai hay còn gọi là đóng kịch được sử dụng phổ biến trong nghệthuật biểu diễn sân khấu (kịch, cải lương, chèo, tuồng…) và điện ảnh Ngàynay, với sự vận động và phát triển của xã hội loài người đã làm nảy sinhnhững mối quan hệ đa dạng và phức tạp hơn, do đó mỗi con người trong cuộcsống cũng phải thể hiện nhiều vai diễn khác nhau Đóng vai không còn giớihạn trong phạm vi nghệ thuật sân khấu, điện ảnh nữa mà đã phổ biến rộng rãitrong đời sống xã hội PPĐV ngày càng được sử dụng trong nhiều lĩnh vựckhác nhau, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục và đào tạo Trong nền giáo dục hiệnđại, PPĐV trở thành một PPDH bên cạnh nhiều PPDH hiện đại khác nhưphương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tình huống, phương pháp dự án…Nhưng cho đến nay mới có rất ít những công trình nghiên cứu lý luận vềPPDH thông qua hình thức đóng vai

Một số công trình tiêu biểu có đề cập đến PPĐV là:

- Giáo trình giáo dục học hiện đại, Trần Thị Tuyết Oanh, Nhà xuất bản

Đại học Sư phạm, 2007

Trang 11

- Giáo trình giáo dục học, tập 1, Trần Thị Tuyết Oanh, Nhà xuất bản

- Dạy và học môn GDCD ở trường THPT, những vấn đề lí luận và

thực tiễn, Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên, Nhà xuất bản Đại học Sư

phạm, 2007

- Phương pháp dạy học tích cực với sách giáo khoa lớp 10, Dương

Minh Đức, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2007

Từ những công trình nghiên cứu trên đây có thể thấy rằng PPĐV đãđược quan tâm nghiên cứu để ứng dụng vào giảng dạy Tuy nhiên, các côngtrình đó mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm, cách thức tiến hành màchưa có một công trình nào nghiên lí luận và vận dụng PPĐV vào dạy họcmôn GDCD - phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT Bởi vậy, tôichọn đề tài: “Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn GDCD -phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT” là một đề tài mới khôngtrùng với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về PPĐV và cách vận dụngPPĐV trong giảng dạy môn GDCD nói chung và phần “Công dân với phápluật” ở trường THPT nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn trongtrường THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận chung về PPĐV như: Quan niệm về PPĐV, cáckiểu dạy học theo hình thức đóng vai, quy trình vận dụng PPĐV…

Trang 12

- Tìm hiểu thực trạng vận dụng PPĐV và vận dụng PPĐV vào giảngdạy một số bài cụ thể trong chương trình GDCD - phần “Công dân với phápluật” ở trường THPT Trên cở sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả việc vận dụng PPĐV vào dạy học môn GDCD - phần “Công dân vớipháp luật” ở trường THPT.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

PPĐV trong giảng dạy môn GDCD

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu việc vận dụng PPĐV trong dạy học môn GDCD phần

“Công dân với pháp luật” ở trường THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài, trongquá trình thực hiện khoá luận, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Vận dụng phương pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các tài liệu

có liên quan đến PPĐV để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, khảo sát,quan sát…nhằm thu thập thông tin về việc vận dụng PPĐV ở trường THPT

6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài

- Khoá luận hoàn thành góp phần làm sáng tỏ hơn về PPĐV, góp phầncung cấp cơ sở lý luận cho việc vận dụng PPĐV vào quá trình dạy học mônGDCD nói chung, phần “Công dân với pháp luật” nói riêng nhằm nâng caochất lượng, hiệu quả của dạy và học bộ môn Qua đó khoá luận sẽ góp phầnnhỏ bé vào quá trình đổi mới PPDH nói chung, PPDH môn GDCD nói riêng

ở trường THPT

Trang 13

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tàigồm hai chương:

Chưong 1: Lý luận chung về phương pháp đóng vai

Chưong 2: Phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD - phần

“Công dân với pháp luật” ở trường THPT

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1

Lý luận chung về phơng pháp đóng vai

1.1 Quan niệm về phương phỏp đúng vai

1.1.1 Quan niệm về phương phỏp và phương phỏp dạy học

Thuật ngữ phương phỏp cú nguồn gốc từ tiếng Hilạp là “methodos”, cúnghĩa là con đường, cỏch thức hoạt động nhằm đạt được mục đớch Phươngphỏp hiểu theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là: những cỏch thức, thủ đoạnđược chủ thể sử dụng để thực hiện mục đớch nhất định Cũn theo nghĩa khoahọc, phương phỏp là hệ thống những nguyờn tắc được rỳt ra từ tri thức về cỏcquy luật khỏch quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễnnhằm thực hiện mục tiờu nhất định Phương phỏp vừa là sự đỳc rỳt kinhnghiệm, vừa là khoa học, đồng thời là nghệ thuật, nú đũi hỏi tớnh sỏng tạo vàmang dấu ấn của chủ thể sử dụng phương phỏp Trong mọi hoạt động của conngười đều cần phương phỏp

Dạy học là một lĩnh vực hoạt động đặc trưng bởi cả chủ thể và đốitượng của hoạt động đều là con người Hoạt động dạy học là quỏ trỡnh giảngdạy của người thầy (giỏo viờn) và học tập của người học (học sinh) - quỏ trỡnh

xử lý, chuyển giao thụng tin, định hướng của giỏo viờn và thu nhận, xử lýthụng tin, ứng dụng phỏt triển của học sinh Trong quỏ trỡnh đú nhất thiết phảithụng qua phương phỏp đặc thự gọi là PPDH Như vậy, bản chất của PPDHchớnh là việc sử dụng hệ thống phương phỏp giảng dạy và phương phỏp họctập nhằm thực hiện mục đớch, yờu cầu đặt ra Để đạt hiệu quả cao trong quỏtrỡnh dạy và học, phải xuất phỏt từ phương phỏp dạy của giỏo viờn vỡ phươngphỏp dạy quyết định đến thành cụng của giờ học

Cú rất nhiều định nghĩa khỏc nhau về phương phỏp dạy học:

Trang 15

- Theo Lu K Babanxki, 1983: “PPDH là cách thức tương tác giữa thầy

và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trongquá trình dạy học” [11, tr46]

- Các nhà giáo dục học Kazanski và Nazarova cho rằng: PPDH là cáchthức làm việc giữa giáo viên và học sinh để cho học sinh lĩnh hội tri thức, kỹnăng và kỹ xảo [9, tr22]

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy vàtrò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tựgiác, tích cực tự lực đạt tới mục đích dạy học” [16, tr45]

- Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “PPDH là cách thức hoạt độngphối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học đượctiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu

và các nhiệm vụ dạy học” [12, tr204]

Một số nhà giáo dục học khác quan niệm: PPDH là tổ hợp những thaotác được sắp xếp theo một trình tự hợp lý, hợp với quy luật khách quan màchủ thể tác động lên đối tượng nhằm tìm hiểu và cải tiến nó

Khi định nghĩa về PPDH, các tác giả đã xét trên nhiều mặt khác nhaucủa quá trình dạy học, có tác giả chú trọng đến cách thức tương tác giữa giáoviên và học sinh, có tác giả lại xét về mặt điều khiển học…

Tuy nhiên, các tác giả đều chỉ ra rằng PPDH có những dấu hiệu đặctrưng sau:

+ PPDH phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhàtrường quy định

+ PPDH phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinhnhằm đạt được mục đích đề ra

+ PPDH phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

Trang 16

+ PPDH phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xâydựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức, kiểm tra, đánh giá kết quảhoạt động.

Nói chung, khi định nghĩa về PPDH, tuy các tác giả đề cập tới nhiềumặt của quá trình dạy học nhưng sự tương tác giữa thầy và trò được nhiều tácgiả quan tâm và đi sâu nghiên cứu nhất Hiện có nhiều cách hiểu khác nhau vềPPDH xét trên mặt tương tác giữa thầy và trò nhưng tựu chung lại, chúngthuộc một trong ba cách hiểu sau:

+ PPDH là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiếnthức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục học sinh theo mục đích của nhà trường

+ PPDH là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việc của giáoviên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm đạt tới mục đích của giáo viên

+ PPDH là cách thức hướng dẫn và chủ đạo của giáo viên nhằm tổ chứchoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc họcsinh dễ dàng lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan vàphát triển năng lực nhận thức

Từ cách tiếp cận trên có thể đưa ra định nghĩa về PPDH như sau:

PPDH là tổ hợp cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.

PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học có sự tương tácvới nhau, trong đó phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp họcgiữ vai trò chủ động, có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối và tác độngtrở lại phương pháp dạy

1.1.2 Quan niệm về phương pháp đóng vai

W Shakespeare đã từng nói: “Toàn thế giới là nhà hát Trong nhà hát

có đàn ông, đàn bà Tất cả đều là diễn viên Ở họ, đều có lối ra sân khấu và lốirời sân khấu của mình”[4, tr99] Quả vậy, trong xã hội, mỗi cá nhân hay mỗinhóm đều đảm nhận những vai trò nhất định Điều này giống như các vai diễn

Trang 17

trên sân khấu, nhưng khác biệt ở chỗ những vai diễn trên sân khấu thì hoáthân thành người khác, còn trong sân khấu cuộc đời và sân khấu xã hội, mỗingười tự thể hiện chính mình với những vị trí, vai trò khác nhau.

Do vậy, thuật ngữ “đóng vai” là một thật ngữ không còn xa lạ vớichúng ta và trên thực tế nó được ứng dụng, thể hiện rất phổ biến Tuy nhiên,trong nhận thức và quan niệm của nhiều người, từ xa xưa cho đến nay vẫnthường đồng nghĩa đóng vai với hoá thân thành các vai diễn trong các loạihình nghệ thuật (sân khấu, chèo, tuồng, ca kịch, cải lương…), thông dụng vàphổ biến nhất đóng vai là đóng kịch

Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được tiếp xúc với các loại hình nghệ thuậtphải diễn bằng cách nhập vai hoá thân vào nhân vật Chẳng hạn, ngay từ khihọc mẫu giáo, chúng ta được tham gia vào các trò chơi đóng vai theo chủ đềnhư: gia đình (mẹ cho con ăn, ru con ngủ), chủ đề bác sĩ khám bệnh cho bệnhnhân, người bán hàng và người mua hàng,… Đóng vai qua trò chơi hay đóngvai theo các nhân vật trong các câu chuyện được thực hiện trên lớp hoặc ởnhà của trẻ chính là những hoạt động đơn giản đầu tiên - bước đầu làm quen

và thể hiện PPĐV Sự nhập vai đó, khi được vận dụng vào quá trình dạy học,

nó trở thành một phương pháp tương đối phổ biến và mang lại hiệu quả cao

đó chính là PPĐV hay một số tác giả còn gọi là phương pháp dạy học bằnghình thức đóng kịch Dựa trên cách quan niệm dạy học đóng vai là dạy họcbằng hình thức đóng kịch, nhiều tác giả đã đưa ra định nghĩa về PPĐV nhưsau:

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Phương pháp đóng kịch trong dạy học

là giáo viên cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vaidiễn Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng

như các kỹ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản” [6, tr283].

Trang 18

PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng “Đóng kịch là PPDH, trong đógiáo viên tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiệnkịch bản đó nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập”[9, tr227].

Cả hai tác giả trên đều nhấn mạnh PPĐV là PPDH trong đó giáo viênhình thành kịch bản có nội dung học tập, yêu cầu người học đóng các vai diễnsẵn có Bản chất của nó là sự gia công sư phạm của giáo viên, chế biến nộidung dạy học thành kịch bản phù hợp để người học sử dụng kịch bản đó vànhập vai

Trong Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáokhoa lớp 10 THPT, có viết “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người họcthực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giảđịnh”.[13, tr17] Theo định nghĩa này, các tác giả đã tiếp cận theo hướng giáoviên nên cho tình huống mở, không cho trước “kịch bản” và người học sẽ tựsáng tạo kịch bản, lời thoại liên quan đến nội dung kiến thức, thái độ, kỹ năngcần đạt được của bài học để đóng vai

Những định nghĩa trên dù có sự khác nhau nhất định về sự thể hiện vaitrò - ai đóng vai trò chủ động hơn giữa người dạy (giáo viên) và người học(học sinh) nhưng về cơ bản các tác giả cho rằng PPĐV là sự thể hiện vai diễncủa người học theo các vai diễn đã được định trước (hoặc là của người dạyhoặc là của người học) Những định nghĩa trên đã cho thấy bản chất của dạyhọc đóng vai chính là dạy học thông qua hình thức đóng kịch Tuy nhiên, cầnphải nhấn mạnh rằng, đóng vai có các hình thức phản ánh mức độ, yêu cầu vàmang lại hiệu quả khác nhau Do đó, dạy học bằng PPDV không chỉ dừng lại

ở việc đóng kịch Nó bao gồm việc xác định, lựa chọn nội dung, xây dựngkịch bản, phân vai, tập luyện và thể hiện vai diễn mà điều quan trọng hơn là

từ việc đóng kịch ấy rút ra bài học nhận thức, thái độ và kỹ năng gì cho ngườihọc Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển các định nghĩa trước đây, căn cứ

Trang 19

vào hình thức thể hiện và phạm vi, hiệu quả ứng dụng của đóng vai trong dạyhọc, có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ về PPĐV như sau:

PPĐV là PPDH thông qua hình thức đóng kịch, diễn xuất - sự nhập tâm, hoá thân của học sinh vào những nhân vật cụ thể và thể hiện thái độ, tư tưởng, hành vi ứng xử của những nhân vật đó, trên cơ sở đó giúp học sinh thực hành, trải nghiệm và rút ra những bài học nhận thức và kỹ năng sống phù hợp, tích cực.

Định nghĩa trên khẳng định rằng, trọng tâm hay bản chất của PPĐVchính là việc ứng dụng các giá trị của nghệ thuật đóng kịch vào dạy học,nhưng không bó hẹp ở khuôn khổ của hình thức đóng kịch - một loại hìnhnghệ thuật Việc đóng vai của học sinh, không nhất thiết phải là sự thể hiệncác vai diễn của nhiều người có sự đối thoại hay ngôn ngữ biểu diễn, mà cókhi chỉ là những lời độc thoại kết hợp hành vi - ngôn ngữ không dùng lời nói

để thể hiện (chẳng hạn học sinh đóng vai chính khách, nhà hoạt động chính trị

- xã hội, nhà quản lý, lãnh đạo…thuyết trình, diễn thuyết, hùng biện, biện hộ

về một nội dung hay vấn đề nào đó); cũng có thể học sinh đóng vai giáo viên

để điều hành, “làm thử” tổ chức một hoạt động, một nội dung học tập nào đó

Việc định hướng nội dung và giao nhiệm vụ cho học sinh lựa chọn nộidung đóng vai về cơ bản thuộc về vai trò của người giáo viên

Còn việc xây dựng kịch bản và thể hiện kịch bản lại chủ yếu thuộc vềhọc sinh - từ việc chọn nội dung kiến thức của bài học để viết nội dung kịchbản đóng vai, viết lời thoại, phân vai, luyện tập cho đến khi thể hiện diễn xuấttrên lớp Trong những trường hợp cụ thể, đòi hỏi có tính định hướng sâu, giáoviên mới có thể là người xây dựng kịch bản cho học sinh thể hiện Tuy nhiên,

sẽ là hứng thú hơn, kích thích, khích lệ và phát huy được tối ưu hơn, nhiềuhơn sự sáng tạo, tham gia của học sinh nếu giáo viên giao nhiệm vụ, xâydựng, tập luyện và thể hiện kịch bản cho học sinh chủ động

Trang 20

Đánh giá hiệu quả hay kết quả việc đóng vai của học sinh nói riêng,PPĐV nói chung, không dừng lại ở việc quan sát, đánh giá năng lực hay khảnăng diễn xuất của học sinh - với tư cách “diễn viên”, tức là sự nhập tâm, hoáthân, mà nó còn thể hiện thái độ, tư tưởng, hành vi của những nhân vật đượchình tượng hoá để đóng vai Điều quan trọng hơn trong PPDH bằng hình thứcđóng vai là thông qua sự thể hiện vai diễn, nội dung kịch bản - thông tin,thông điệp được truyền tải, học sinh được thực hành trải nghiệm cách ứng xử,giải quyết vấn đề theo “hiện thực tưởng tượng”, “hiện thực tái hiện”, “hiệnthực có thể”, phân tích, tranh luận, rút ra bài học nhận thức, kinh nghiệm và

kỹ năng sống, kỹ năng hành động, xử lý thông tin như thế nào

Như vậy, dạy học thông qua đóng vai là một PPDH giúp học sinh tíchcực tham gia, sáng tạo, thể hiện bản thân, hoà nhập vào quá trình dạy học,vào môi trường học tập linh hoạt, năng động Đóng vai, phân tích tìnhhuống, cách ứng xử, giải quyết vấn đề, truyền tải thông tin, thông điệp vềkiến thức, thái độ, kỹ năng sẽ tác động sâu sắc tới suy nghĩ và hành động của

cả người dạy và người học Song để ứng dụng và phát huy giá trị, hiệu quảcủa PPĐV, đòi hỏi phải có những yêu cầu nhất định đối với nhà trường, giáoviên và học sinh

1.2 Các kiểu dạy học đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

PPĐV có nhiều kiểu dạy học và có nhiều hình thức tổ chức vận dụngdạy học khác nhau, nhưng căn cứ vào nội dung kiến thức của bộ môn GDCD,của từng bài, căn cứ vào mức độ nhận thức và khả năng xây dựng kịch bảncủa học sinh, có thể quy tụ những kiểu dạy học đem lại hiệu quả cao bằngphương pháp đóng vai Việc phân loại hình thức đóng vai được dựa trênnhững tiêu chí hay cách tiếp cận khác nhau Dựa trên tiêu chí về thời gian, lấytiết học tại một thời điểm làm căn cứ để xác định thì có hình thức đóng vaitrực tiếp và hình thức đóng vai chuẩn bị trước; dựa theo tiêu chí yêu cầu về

Trang 21

việc nắm và vận dụng kiến thức thì có hình thức đóng vai tái hiện - ghi nhớ,đóng vai suy luận - phát triển và đóng vai liên hệ - ứng dụng; dựa theo tiêuchí sự tương tác, mức độ tham gia của học sinh thì có hình thức đóng vai độclập tương đối và hình thức đóng vai theo nhóm; dựa vào nội dung kiến thứcthì có đóng vai chủ điểm và đóng vai chủ đạo.

- Phân loại hình thức đóng vai dựa theo tiêu chí thời gian chuẩn bị:

+ Đóng vai trực tiếp là hình thức đóng vai mà yêu cầu về việc xây dựngkịch bản theo nhiệm vụ học tập được đặt ra và thể hiện trực tiếp trong cùngmột tiết học Đóng vai theo hình thức này rất ít hoặc không có thời gian chuẩn

bị, nó diễn ra một cách nhanh chóng, dựa trên một định hình nội dung, kịchbản siêu tốc, một cá nhân hoặc nhóm học sinh sẽ thể hiện việc diễn xuất ngaytrên lớp, với những lời thoại mang đậm chất ngẫu hứng nhưng không vượt rangoài khuôn khổ đã định hướng Đóng vai theo hình thức này là một tháchthức, ban đầu khó thực hiện nhưng với những nhóm học sinh có năng khiếu,năng lực và tự tin thì sẽ nhanh chóng vượt qua, sự thể hiện ở những lần tiếpsau sẽ tốt hơn Hình thức này là thách thức nhưng có thế mạnh là khơi dậyhoặc khích lệ rất lớn đối với học sinh vì nó khích lệ sự thể hiện bản lĩnh, thểhiện bản thân của người học trong bối cảnh

+ Đóng vai chuẩn bị trước là hình thức đóng vai diễn ra theo một quytrình bắt đầu nhận nhiệm vụ từ khi kết thúc tiết học trước cho đến khi thựchiện ở tiết sau Hình thức này có ưu điểm là giáo viên và học sinh có sự lựachọn nội dung, có thời gian để xây dựng kịch bản, lời thoại, tập luyện nên khithể hiện trên lớp thường chặt chẽ, trôi chảy và đúng định hướng hơn Đây làhình thức được ứng dụng phổ biến nhất khi sử dụng phương pháp đóng vaitrong dạy học

- Phân loại hình thức đóng vai dựa vào yêu cầu nắm kiến thức-mục đích học tập:

Trang 22

+ Đóng vai tái hiện - ghi nhớ là hình thức đóng vai dựa trên nền kiếnthức đã biết, xây dựng nội dung kịch bản với những tình huống, vai diễn đơngiản chỉ là kịch bản hoá những kiến thức, kỹ năng đã được phân tích từ trước.Hình thức này có ưu điểm là giúp học sinh tái hiện, ghi nhớ kiến thức mộtcách bền vững nhưng ít có tính sáng tạo vì bị chi phối bởi những cái đã biết.

+ Đóng vai suy luận - phát triển là hình thức đóng vai mà kịch bản, lờithoại, những vấn đề đặt ra trong kịch bản và vai diễn được xây dựng, pháttriển từ những kiến thức đã biết suy luận mở rộng ra nội dung kiến thức vànhững cách ứng xử mới Hình thức này tạo cho học sinh những hứng thú bởiphải tìm tòi, khám phá để vượt qua những cái đã biết Phương châm của hìnhthức này là nếu chúng ta làm những cái đã biết thì chúng ta sẽ thu được nhữngcái đã có, nếu chúng ta làm những cái chưa biết thì chúng ta sẽ thu đượcnhững cái chưa có

+ Đóng vai liên hệ - ứng dụng là hình thức đóng vai trong đó nội dungkịch bản được xây dựng chủ yếu dựa trên những tình huống, những hành viứng xử diễn ra phổ biến trong cuộc sống nhưng được hình tượng hoá, kịchbản hoá và thể hiện thông qua các vai diễn qua đó giúp học sinh rút ra nhữngbài học nhận thức, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân khi gặp phảinhững vấn đề, tình huống tương tự

- Phân loại hình thức đóng vai dựa trên tiêu chí sự tương tác giữa học sinh trong quá trình thức hiện:

+ Đóng vai độc lập là hình thức đóng vai trong đó việc xây dựng kịchbản và thể hiện vai diễn chủ yếu được thể hiện bởi một cá nhân Hình thứcnày thường được áp dụng đối với những vai diễn có diễn biến tư tưởng, tâm

lý phức tạp Nội dung hay những tình huống có vấn đề là sự đấu tranh diễn ratrong bản thân một nhân vật (đấu tranh tư tưởng, nội tâm) Hình thức này ítđược ứng dụng nhưng có lợi thế về sự chuẩn bị, thể hiện bởi nó được thực

Trang 23

hiện bởi một học sinh, độc lập, tự chủ, sáng tạo về tư duy, xây dựng hướngkịch bản, lời thoại.

+ Đóng vai theo nhóm là hình thức đóng vai bao gồm các hoạt độngchuẩn bị, xây dựng kịch bản, thể hiện kịch bản dựa trên sự tương tác củanhóm học sinh Đây là hình thức đóng vai diễn ra phổ biến nhất, nó kết hợplinh hoạt phương pháp làm việc theo nhóm và PPĐV do đó phát huy được sứcmạnh chung của tinh thần nhóm, vì vậy hiệu quả mang lại rất cao

- Phân loại hình thức đóng vai dựa vào nội dung bài học:

+ Đóng vai cùng chủ điểm, chủ đề là hình thức đóng vai mà các nhómcùng chuẩn bị, thể hiện kịch bản, diễn xuất theo một chủ đề xác định, sau đóviệc nhận xét, thảo luận, đánh giá được thực hiện chung của cả lớp Hình thứcnày có ưu điểm là một chủ điểm, một chủ đề hay một vấn đề sẽ được tiếp cận,thể hiện với các nhóm khác nhau, do đó vừa sâu sắc vừa đa dạng, làm choviệc tiếp thu, nhận thức rõ ràng hơn Tuy nhiên, do giới hạn bởi thời gian vàyêu cầu về việc thực hiện hệ thống kiến thức cơ bản nên nếu tập trung vàomột chủ điểm, một vấn đề thì sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện những nộidung khác

+ Đóng vai khác chủ điểm, chủ đề là hình thức đóng vai mà mỗi nhómxây dựng, thực hiện kịch bản, vai diễn theo những chủ điểm, chủ đề khácnhau Hình thức này có ưu điểm đảm bảo yêu cầu về thực hiện hệ thống nộidung, kiến thức (tức là nó khắc phục được hạn chế của đóng vai cùng chủ đề)nhưng hạn chế của nó là có thể làm loãng, ít tập trung vào các nội dung, vấn

đề cần giải quyết

Việc phân loại hình thức đóng vai chỉ có ý nghĩa tương đối theo nhữngcách tiếp cận hay tiêu chí khác nhau Chẳng hạn đóng vai về một chủ điểmđược thực hiện bởi nhóm có chuẩn bị trước nhằm mục đích học tập liên hệ -vận dụng Hoặc đóng vai khác chủ đề, được thực hiện bởi nhóm và tiến hành

Trang 24

phát triển kiến thức, kỹ năng…Ví dụ khi giảng mục 2 - Vi phạm pháp luật vàtrách nhiệm pháp lí - bài 2 - Thực hiện pháp luật, giáo viên có thể yêu cầu họcsinh thực hiện đóng vai ngay tại lớp với các tình huống đầy ngẫu hứng, không

có sự chuẩn bị trước ở nhà như: M đi xê máy đến một ngã tư, mặc dù có báohiệu đèn đỏ nhưng vẫn không dừng lại Do không tuân theo chỉ dẫn của tínhiệu đèn nên đã bị một cảnh sát giao thông bắt dừng lại và yêu cầu xuất trìnhgiấy tờ M đã xuất trình đầy đủ giấy tờ cần thiết, song người cảnh sát giaothông vẫn lập biên bản và yêu cầu nộp phạt M nói với người cảnh sát rằng,anh ta xử lí như vậy là không có tình, có lí, vì thứ nhất: Thực tế đường khi đórất vắng M không gây tai nạn giao thông; thứ hai: M đã xuất trình đầy đủ giấy

tờ hợp pháp Mục đích của việc đóng vai này là giúp học sinh suy luận, tìmhiểu kiến thức bài học, rèn luyện kỹ năng, Giáo viên cũng có thể cho họcsinh chuẩn bị trước kịch bản cuối tiết học trước với các tình huống gợi ý như:

X đến nhà Y chơi Thấy Y đi vắng mà cửa nhà không đóng, X liền vào nhà vàlấy trộm một chiếc xe đạp Việc làm trên của X đã bị cơ quan có thẩm quyềnphát hiện và tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với X trên cơ sở cácquy định trong Bộ luật Hình sự…

Do tính linh hoạt của hình thức đóng vai nên trong quá trình vận dụngvào dạy học môn GDCD giáo viên có thể lựa chọn, thay đổi hình thức chophù hợp với từng tiết học, bài giảng

1.3 Quy trình sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD

ở trường THPT

Nắm vững và vận dụng thành thục quy trình tổ chức là một yêu cầu vôcùng quan trọng đối với giáo viên dạy môn GDCD khi sử dụng phương phápdạy học đóng vai Khi thực hiện một tiết giảng bộ môn GDCD trên lớp bằngphương pháp đóng vai, giáo viên một mặt tuân thủ theo quy định về tiến trìnhgiờ dạy học, có nghĩa là bao gồm việc ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giới thiệu

Trang 25

bài mới, củng cố, hệ thống hoá và hướng dẫn, giao nhiệm vụ học tập ở nhàcho học sinh; mặt khác nhấn mạnh vào quy trình hoạt động dạy và học củagiáo viên và học sinh trải qua các bước từ khi chuẩn bị cho đến khi hoàn tấtviệc đóng vai, thể hiện vai diễn theo nội dung và tiến hành các hoạt động họctập, nhận thức trên lớp Với hai kiểu loại điển hình của dạy học bằng PPĐV,quy trình hoạt động được mô tả chi tiết như sau:

- Quy trình dạy học đóng vai trực tiếp diễn ra trong cùng một tiết học

Quy trình này được bắt đầu từ khi chọn nội dung kiến thức, định hìnhkịch bản, lời thoại, phân vai chuẩn bị, thể hiện vai diễn, kịch bản cho đến khithảo luận đóng góp ý kiến, nhận xét, kết luận, rút ra bài học nhận thức, kỹnăng diễn ra trong cùng một tiết học Quy trình này gồm 5 bước:

+ Bước 1: Giáo viên căn cứ vào nội dung kiến thức của bài, giới thiệu

tình huống Chia nhóm và giao tình huống đóng vai cho từng nhóm, quy định

rõ thời gian chuẩn bị “kịch bản” và thời gian thể hiện sự đóng vai theo kịchbản của từng nhóm

+ Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đảm

nhiệm sắm vai, thành viên nhóm chuẩn bị nhanh việc thể hiện các vai đượcphân công và phối hợp với các vai diễn khác trong nhóm để hình thành kịchbản - diễn xuất

+ Bước 3: Các nhóm được phân công lên đóng vai - thể hiện các vai

diễn theo bối cảnh và nội dung kịch bản (có thể có những sáng tạo linh hoạt

cả về lời thoai và cách thức, hành vi thể hiện)

+ Bước 4: Nhận xét, đánh giá - cả lớp cùng quan sát, thảo luận, đánh

giá về các vai diễn họ vừa quan sát được và đưa ra các câu hỏi phản biện,tranh luận hướng vào nội dung trọng tâm bài học mà việc đóng vai thể hiệnhoặc truyền tải, không quá chú trọng vào năng lực thể hiện các vai diễn.Trong bước này, giáo viên và học sinh khác có thể phỏng vấn, đặt các câu hỏi

Trang 26

+ Bước 5: Kết luận và rút ra bài học nhận thức, kỹ năng Trên cơ sở

đánh giá nội dung, ý nghĩa và năng lực thể hiện kịch bản, học sinh tự rút racác bài học nhận thức và ứng dụng kỹ năng dưới sự điều hành và vai trò

“trọng tài” của giáo viên

- Quy trình dạy học đóng vai chuẩn bị từ trước - có sự chuẩn bị ở nhà

Quy trình đóng vai này được bắt dầu từ cuối tiết học của buổi họclần trước cho đến khi kết thúc tiết học của buổi học lần sau Quy trình nàybao gồm:

+ Bước 1: Giao nhiệm vụ đóng vai Sau khi kết thúc tiết học trước,

giáo viên giao nhiệm vụ học tập - phân công đảm trách việc lựa chọn, xâydựng kịch bản, luyện tập thể hiện các vai diễn để học sinh về nhà tự chuẩn bị(có sự liên lạc, chia sẻ thông tin với giáo viên) Việc phân công này phải căn

cứ vào nội dung của tiết học tiếp theo, có thể các nhóm cùng chuẩn bị thựchiện đóng vai theo một chủ đề, chủ điểm hoặc có sự khác nhau về nội dung,chủ điểm và phải rất chú trọng đến sự phân bố thời lượng, thời gian đối vớikịch bản sẽ thể hiện Việc phân công giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm

có tạo ra hứng thú học tập cho học sinh hay không phụ thuộc rất nhiều vàonăng lực nắm bắt, phát hiện và định hướng vấn đề của giáo viên

+ Bước 2: Chuẩn bị trước đóng vai - tìm tòi, phát hiện vấn đề và xây

dựng kịch bản Căn cứ vào nội dung hay chủ điểm được phân công, học sinhtìm tòi, phát hiện vấn đề, thảo luận đưa ra và lựa chọn tình huống, tiến hànhxây dựng kịch bản

+ Bước 3: Tập luyện thể hiện kịch bản

+ Bước 4: Thể hiện vai diễn và kịch bản trước lớp Tiết học mới của

buổi học mới bắt đầu, theo thứ tự được phân công hoặc theo tự nguyện, xungphong, các nhóm sẽ lần lượt lên thể hiện kịch bản đóng vai

+ Bước 5: Thảo luận, nhận xét, kết luận và rút ra bài học nhận thức.

Trang 27

Đây là bước quan trọng nhất của quy trình thực hiện phương pháp dạyhọc đóng vai, nó thể hiện sự chú tâm quan sát, lắng nghe và tham gia vào hoạtđộng dạy học, đánh giá và tiếp nhận, vận dụng kiến thức, kỹ năng của cả giáoviên và học sinh Sau khi các nhóm thể hiện kịch bản, dưới sự định hướng củagiáo viên, học sinh nêu ý kiến nhận xét về sự thể hiện của các vai diễn, nộidung thông điệp truyền tải, ý nghĩa kịch bản; học sinh nêu các câu hỏi phảnbiện hoặc mở rộng vấn đề, cùng tranh luận, lý giải với những kỳ vọng mở,suy luận; giáo viên kết luận và cùng thống nhất với học sinh về các bài họcnhận thức, kỹ năng cần thực hành, rèn luyện từ tình huống đóng vai.

Trong quy trình dạy học đóng vai, mỗi bước đều có vị trí, vai trò nhấtđịnh Nếu như các bước 1, 2, 3 có ý nghĩa tiên quyết đến thành công của việcthể hiện vai diễn, kịch bản, đảm bảo phản ánh hay bộc lộ nội dung, chủ đề,chủ điểm học tập; bước 4 thể hiện và khẳng định bản lĩnh, năng lực của họcsinh trong tình huống có vấn đề - bối cảnh học tập; thì bước 5 có ý nghĩa nhưmột sự tổng hợp thành quả đạt được của cả tiến trình dạy học bằng hình thứcđóng vai

1.4 Một số yêu cầu sư phạm đối với việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

Thực tiễn giảng dạy cho thấy, để một giờ học môn GDCD có sử dụngPPĐV đạt hiệu quả cao giáo viên phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tình huống phải thật rõ ràng, tình huống nên để mở, không nên chotrước “kịch bản”, lời thoại

- Mọi học sinh đều được tham gia vào quá trình thảo luận, xây dựng kịchbản, được đóng vai hoặc phục vụ cho công việc đóng vai của các bạn trongnhóm Giáo viên nên khích lệ cả các bạn nhút nhát tham gia vào các vai diễn

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai (nếu làđóng vai trực tiếp trong tiết học) Trong khi các nhóm chuẩn bị, giáo viên nên

Trang 28

đến từng nhóm, quan sát, lắng nghe, kịp thời phát hiện những khó khăn, lúngtúng của học sinh để có sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời.

- Định hướng cho học sinh xây dựng kịch bản phải có kịch tính (cácxung đột, các mâu thuẫn giữa các nhân vật) để gây hứng thú, gây sự chú ý vàmang tính thuyết phục cao về tư tưởng, hành vi

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai đểkhông lạc đề và kết hợp - tương tác với các bạn diễn

- Khi thấy cần thiết giáo, viên có thể thông báo dừng cảnh diễn đểchuyển sang nhiệm vụ khác

- Sau khi diễn, cần thực hiện đàm thoại để rút ra những kiến thức,những kết luận cần nhớ Việc bình luận sau cảnh diễn phải tạo bầu không khíthân thiện, cởi mở, cầu thị và xây dựng Ở đây, giáo viên phải chú ý sao cholời bình luận của những người quan sát không quá gắt gao

- Ngoài ra cũng cần chú ý đến điều kiện vật chất, phương tiện hỗ trợdạy học

Những yêu cầu trên là căn cứ để đánh giá hiệu quả của một giờ họcđóng vai Tuy nhiên, để vận dụng tốt phương pháp này trong giảng dạy mônGDCD vai trò của giáo viên vô cùng quan trọng Do vậy, bản thân đội ngũgiáo viên GDCD phải đáp ứng các yêu cầu sau:

* Giáo viên cần được đào tạo chu đáo, đúng chuyên môn:

Giáo viên được đào tạo đúng chuyên môn sẽ có đủ kiến thức đảm bảocho yêu cầu giảng dạy Hiểu sâu, rộng kiến thức chuyên môn có ý nghĩa quantrọng đối với người giáo viên Trước hết, giáo viên chỉ có thể dạy tốt, cóphương pháp dạy hay khi họ nắm vững, hiểu sâu sắc kiến thức mà mình dạy.Đồng thời chỉ khi hiểu sâu sắc kiến thức chuyên môn, giáo viên mới có thểcập nhật đúng, khai thác chuẩn thông tin từ các kênh khác, các khoa học khác

có liên quan để làm phong phú thêm hiểu biêt của mình và phục vụ đắc lựccho bài giảng Giáo viên có chuyên môn vững sẽ tạo phong cách tự tin trong

Trang 29

giảng dạy, sự tôn trọng của đồng nghiệp, sự tin yêu của học sinh Đó là phẩmchất vô cùng quan trọng của người giáo viên để tiến hành và duy trì bền vững

sự nghiệp dạy học của mình

Trong dạy học hiện đại, hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan

hệ tác động qua lại lẫn nhau Hoạt động dạy là hoạt động nghề nghiệp đòi hỏingười dạy không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải có kỹnăng, kỹ xảo nghề nghiệp Thực tế cho thấy, chỉ có giáo viên được đào tạoqua các trường học sư phạm, đào tạo chuyên ngành mới được trang bị hệthống các kỹ năng: Hệ thống kỹ năng cơ bản và hệ thống kỹ năng chuyênbiệt Trong đó hệ thống kỹ năng cơ bản bao gồm: Các nhóm kỹ năng thiết kế,

tổ chức, giao tiếp, nhận thức Hệ thống kỹ năng chuyên biệt bao gồm: Cácnhóm kỹ năng giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội, tựhọc Chỉ khi được trang bị các hệ thống kỹ năng như vậy, giáo viên mới cóthể vận dụng thành thạo nhiều PPDH khác nhau, đặc biệt là những PPDH tíchcực, có tác dụng kích thích tư duy sáng tạo cho học sinh như PPĐV

* Giáo viên cần phải có tâm với nghề nghiệp:

Có tâm với nghề nghiệp ở mỗi giáo viên thể hiện ở hai mặt chính: Yêunghề và yêu người Yêu nghề trước hết thể hiện ở sự say mê nghiên cứu khoahọc, nghiên cứu tri thức, chuyên môn giảng dạy Nhưng giỏi chuyên môn,vững tay nghề với giáo viên chưa đủ, ở họ phải có tình yêu thương con người,tình cảm yêu quý, tôn trọng học sinh Tình cảm yêu thương, gắn bó, gần gũivới học sinh là một phẩm chất đạo đức cao quý trong nhân cách của ngườigiáo viên Hơn nữa, trong dạy học hiện đại, tình cảm yêu thương gắn bó, tôntrọng học sinh không chỉ đơn thuần là phẩm chất đạo đức cần có của ngườithầy, mà nó còn có ý nghĩa là yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp

Ngoài ra, để dạy tốt bằng phương pháp đóng vai, đòi hỏi người giáoviên phải am hiểu về phương pháp đóng vai cũng như các yêu cầu và hình

Trang 30

“khán giả”, vừa đóng vai trò là “trọng tài” công minh đánh giá và đưa ra nhậnxét xác đáng PPĐV có ưu thế trong dạy học môn GDCD nhưng muốn vậndụng phương pháp này giáo viên phải có sự đầu tư công sức, phải có lươngtâm với nghề.

Tiểu kết chương 1:

Đóng vai là một PPDH tích cực nhằm phát huy cao độ tính tự giác, độclập, sáng tạo của người học Đóng vai tạo ra môi trường học tập tích cực.Trong đó, người học được tham gia vào quá trình học tập một cách tích cựchơn, hứng thú học tập của người học được kích thích, hình thành ở các em kỹnăng tự nghiên cứu và tự phát hiện tri thức mới Tuy nhiên, để sử dụng PPĐV

có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải nắm vững quy trình và các yêu cầu khi sửdụng PPĐV Vì vậy, đối với môn GDCD lựa chọn và vận dụng PPĐV phùhợp với mục tiêu, nội dung bài học là công việc quan trọng của ngưòi giáoviên và cũng là điều kiện cần thiết để góp phần đổi mới PPDH và nâng caochất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học bộ môn trong nhà trường THPT

Ngày đăng: 23/12/2013, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phùng Văn Bộ, “Lý luận dạy học bộ môn GDCD ở trường THPT”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học bộ môn GDCD ở trường THPT
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia Hà Nội
2. Nguyễn Văn Cư - Nguyễn Duy Nhiên, “Dạy và học môn GDCD ở trường THPT, những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb Đại học sư phạm, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn GDCD ởtrường THPT, những vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Đại học sưphạm
3. TS. Vương Tất Đạt (chủ biên), “Phương pháp giảng dạy GDCD”, Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy GDCD
4. Nguyễn Kỳ, “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”, Nxb Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trungtâm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. GS. Trần Bá Hoành, “Những đặc trưng của PPDH tích cực”, Tạp chí Giáo dục số 32/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của PPDH tích cực
6. Phan Trọng Ngọ, Dạy học và PPDH trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001 Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006 Khác
9. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), Giáo trình Giáo dục học, Tập 1, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 Khác
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật Giáo dục, Nxb Giáo dục, 2007 Khác
11. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1989), Tâm lí học tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục Hà Nội Khác
12. Phan Thị Hồng Vinh, PPDH Giáo dục học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007 Khác
13. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006 Khác
14. Trần Văn Thắng, Tình huống GDCD 12, Nxb Giáo dục, 2008 Khác
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa GDCD lớp 12, Nxb Giáo dục, 2008 Khác
16. Nguyễn Ngọc Quang, Lí luận dạy học đại cương, tập 1, Trường cán bộ giáo dục Trung ương, 1988 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT - Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân phần công dân với pháp luật ở trường trung học phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (Trang 6)
Bảng 1: Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các PPDH của giáo viên  giảng dạy môn GDCD lớp 12 - Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân phần công dân với pháp luật ở trường trung học phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 1 Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các PPDH của giáo viên giảng dạy môn GDCD lớp 12 (Trang 36)
Bảng 2: Mức độ tích cực của học sinh trong giờ học môn GDCD - Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân phần công dân với pháp luật ở trường trung học phổ thông luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 2 Mức độ tích cực của học sinh trong giờ học môn GDCD (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w