TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNHKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG TÊN ĐỀ TÀI KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ VIỆC CHO CON BÚ B
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
TÊN ĐỀ TÀI KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ VIỆC CHO CON BÚ BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC
BÀ MẸ TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA
ĐỒNG NAI NĂM 2021
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Ngọc Phương
ThS Lâm Hữu Mỹ Lộc Nhóm sinh viên thực hiện: 1 Lê Nguyệt Ánh
2 Phạm Minh Tâm
3 Lê Huỳnh Như Nguyệt
4 Nguyễn Thị Hải Yến
ĐỒNG NAI, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
TÊN ĐỀ TÀI KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ VIỆC CHO CON BÚ BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC
BÀ MẸ TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA
ĐỒNG NAI NĂM 2021
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Ngọc Phương
ThS Lâm Hữu Mỹ Lộc Nhóm sinh viên thực hiện: 1 Lê Nguyệt Ánh
2 Phạm Minh Tâm
3 Lê Huỳnh Như Nguyệt
4 Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là đề cương nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệutrích dẫn, các số liệu trong đề cương là hoàn toàn trung thực và tuân theo đúng yêu cầucủa một đề cương nghiên cứu Đề cương này là duy nhất và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến phòng đào tạo trườngĐại Học Công Nghệ Đồng Nai luôn tạo điều kiện cho chúng tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và hoàn thành đề tài
Chúng em xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô và thầy đã trực tiếphướng dẫn, tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình họctập, hoàn thành đề tài
Chúng em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
đã cho phép chúng em được tiến hành nghiên cứu
Chúng em xin chân thành cảm ơn tới các anh chị kỹ thuật viên trong khoa sảncủa Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai đã giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình lấy thôngtin và số liệu để chúng em hoàn thành đề tài
Đồng Nai, ngày tháng năm 2021 Nhóm sinh viên thực hiện
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Đồng Nai, ngày tháng 8 năm 2021 Giảng viên hướng dẫn NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 7
Đồng Nai, ngày tháng 8 năm 2021 Giảng viên phản biện MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
Trang 9DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCS : Bao cao su
SAVY : Survey Assessment of Vietnamese Youth
(Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam) STDs : Bệnh lây qua đường tình dục
HIV : Human Immunodeficiency Virus
(Một loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch) AIDS : Acquired Immuno Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
BPAT : Biện pháp an toàn
VTN&TN : Vị thành niên và thanh niên
KAP : Knowledge, Attitude and Practice
(Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành)
TTGDSK : Thông tin giáo dục sức khỏ
Trang 11CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xưa đến nay việc nuôi con bằng sữa mẹ điều là mong muốn của các bà mẹ,được nuôi con mình bằng chính dòng sữa mẹ là một tập quán phù hợp và đúng khoahọc
Tất cả chúng ta đều biết sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh vàtrẻ nhỏ Đây là loại thức ăn hoàn hảo để trẻ sơ sinh phát triển toàn diện Lợi ích củaviệc nuôi con bằng sữa mẹ xuất phát từ việc trong sữa mẹ có chứa các chất đề kháng
và dưỡng chất, các chất này đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thay đổi của bé và bảo vệ békhỏi viêm nhiễm và bệnh tật [7]
Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đờicủa mỗi trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt cả về thể chất lẫntinh thần, đồng thời hạn chế được những bệnh nguy hiểm như suy dinh dưỡng, cácbệnh về đường tiêu hóa và hô hấp cho trẻ do trong sữa mẹ có chứa nhiều bạch cầu vàkháng thể Nuôi con bằng sữa mẹ là cơ sở nảy nở tình cảm gắn bó mẹ con, giúp cho trẻchóng thích nghi với cuộc sống Chính vì vậy không một loại sữa nào có thể thay thếđược sữa mẹ [12]
Cho con bú sữa mẹ không những tốt cho trẻ mà còn mang lại nhiều lợi íchcho bản thân người mẹ như: bảo vệ sức khỏe bà mẹ (giúp tử cung co hồi tốt và hạn chếchảy máu sau sinh, giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, ung thư vú sau này giúp phụ
nữ lấy lại vóc dáng như trước khi mang thai nhanh hơn, giảm tỉ lệ béo phì
Nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng tự nhiên của người mẹ Vì lợi ích củaviệc nuôi con bằng sữa mẹ, người mẹ cần được sự ủng hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện từgia đình, xã hội và nơi làm việc của người mẹ đó Người điều dưỡng cần hiểu thấuđáo vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ mới hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với việcchăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh Ở Việt Nam, phần lớn các bà mẹ đều nuôi con bằngchính dòng sữa của mình vào những tháng đầu tiên của cuộc đời trẻ [12] Theo ướctính của Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), bú mẹ trong 6 tháng đầu sẽ làmgiảm 1,3 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm trên toàn thế giới Tại ViệtNam, NCBSM sẽ góp phần làm giảm 13% ca tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi Cho trẻ
Trang 12bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ làm giảm 22% các ca tửvong sơ sinh tại Việt Nam [14]
Tuy nhiên, do nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ đã thamgia vào công tác xã hội ,phải đi làm sớm, không có thời gian để nuôi con bằng sữa mẹđầy đủ hơn, them vào đó thị trường có nhiều quảng cáo về các sản phẩm thay thế sữa
mẹ đã làn cho các bà mẹ ngộ nhận sữa ngoài là thức ăn tốt nhất cho trẻ Ngoài ra vìnhu cầu thẩm mĩ một số bà mẹ trẻ lo ngại rằng cho con bú sau này sẽ làm xấu bộ ngựccủa họ vì thế họ không muốn nuôi con bằng sữa mẹ từ đó trẻ kém phát triển về thểchất và tinh thần, dễ mắc nhiều bệnh tật ước tính có hơn một triệu trẻ chết vì tiêu chảy
và suy dinh dưỡng, do không được bú mẹ đầy đủ [12]
Vì vậy,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát kiến thức thái độ thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ tại khoa sản Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Nai năm 2021” nhằm mục tiêu cụ thể :
-1 Xác định tỷ lệ bà mẹ có kiển thức - thái độ - thực hành đúng về việc nuôi
con bằng sữa mẹ
2 Xác định các yếu tố liên quan đến thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ.
Trang 13CHƯƠNG II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Sữa non: là loại sữa đặc biệt,được tiết ra trong vài giờ đầu sau đẻ Sữa non sánhđặc, có màu vàng nhạt hoặc trong Sữa non chứa nhiều protein [14],[20]
- Sữa đầu bữa : sữa có màu xanh, số lượng nhiều và cung cấp nhiều protein,lactose, nước và các chất dinh dưỡng khác [20]
- Sữa cuối bữa: có màu trắng vì chứa nhiều chất béo hơn sữa đầu bữa Sữa bữacuối chứa nhiều chất béo cung cấp nhiều năng lượng cho trẻ, vì thế không nên cho bé nhả
vú sớm quá [19]
- Nuôi con bằng sữa mẹ: là đứa trẻ được bú mẹ trực tiếp hoặc uống sữa từ vú mẹvắt ra [3]
- Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ: là đứa trẻ được bú mẹ trực tiếp hoặc uống sữa
từ vú mẹ vắt ra,ngoài ra không ăn bất kì loại thức ăn dạng lỏng hay rắn nào khác trừ cácdạng vitamin, khoáng chất bổ sung hoặc thuốc [19]
- Bú mẹ chủ yếu: là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ,tuy nhiên trẻ có thể nhận thêm nước uống đơn thuần, hoặc một số dung dịch dinh dưỡngnhư nước hoa quả, nước đường hoặc các loại thức ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít
- Bú sớm: trẻ sẽ nhận được sữa non, là nguồn thức ăn phù hợp với bộ máy tiêu hóacủa trẻ và sức đề kháng chống lại các bệnh truyền nhiễm khi sinh Bú sớm cũng giúp trẻ
bú đúng cách ngay từ ban đầu và việc nuôi con bằng sữa mẹ dễ thành công
- Cho trẻ bú sớm sau sinh: việc trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [19]
2.1.1 Thành phần cơ bản trong sữa mẹ
Sữa mẹ được coi là một vắc-xin có thể phòng tránh tử vong cho trẻ chi phí thấp,
an toàn, có thể uống trực tiếp mà không cần bảo quản lạnh Sữa mẹ được bài tiết theo cơchế phản xạ, khi trẻ bú xung động cảm giác từ vú lên não kích thích cơ thể bà mẹ sản
Trang 14sinh ra hóc môn proalctin và oxytocin Trong đó prolactin sẽ kích thích tuyến tạo sữa ,oxytocin có tác dụng giúp sữa được phun ra [11] Dựa vào thời điểm và tính chất sữa mẹđược chia làm những loại sau:
2.1.1.1 Sữa non
Sữa non là loại sữa thuần khiết và quý giá nhất của bà mẹ dành cho con mình từlúc sinh đến 2-3 ngày sau sinh Đây được xem như là thực phẩm hoàn hảo đầu tiên phùhợp cho trẻ sơ sinh Sữa non sánh màu vàng nhạt, chứa nhiều chất chống nhiễm khuẩn
và kháng thể để bảo vệ cơ thể trẻ, sữa non còn có nhiều đặc tính khác như: có nhiều tếbào bạch cầu, giàu Vitamin A, có yếu tố tăng trưởng biểu bì một, chất đạm lactalbumindưới tác dụng của dịch tiêu hóa biến đổi thành các phân tử nhỏ giúp trẻ dễ hấp thụ[14,19]
Sữa non đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và bảo vệ trẻ
Sữa non chứa nhiều tế bào bạch cầu, kháng thể hơn sữa trưởng thành nên giúp trẻ
sơ sinh phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm và cung cấp khả năng miễn dịchđầu tiên cho trẻ để chống nhiều bệnh mà trẻ có thể bị mắc sau đẻ [14,19]
Sữa non tuy ít nhưng thỏa mãn được nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh do lượngprotein cao gấp 23 lần sữa trưởng thành Hàm lượng kháng thể và vitamin cao nhất trongsữa non trong vòng 60 phút sau khi sinh sau đó giảm dần
Như vậy, trẻ được bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là vô cùng quan trọng.Chúng ta không nên cho trẻ bất cứ thức ăn, nước uống nào trước khi trẻ bắt đầu bú sữanon
Trang 152.3 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
2.3.1 Tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em trên toàn thếgiới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu
đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc đã coi việcNCBSM là một trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đápứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu đời [2] Tổ chức Y tế Thế giới cũngkhẳng định: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tăngtrưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng thu nhập của trẻ trongtương lai
Đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú sữa mẹ hoàn toàn mà không cần ănthêm bất cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước [2]
Trang 162.3.2 Lợi ích của bú sớm sau khi sinh
Bà mẹ cần cho trẻ bú càng sớm càng tốt, đặc biệt trong một giờ đầu vì trong giờđầu tiên của cuộc đời, trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo, nhanh nhẹn nhất dễ thực hiện hành
vi bú mẹ nhất Khi thời điểm này qua đi, trẻ trở nên buồn ngủ hơn vì bắt đầu phục hồi sauquá trình thở [5] Sữa mẹ tiết theo phản xạ và được tiết ra sớm hơn ở những bà mẹ chocon bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh so với các bà mẹ chờ xuống sữa tựnhiên Khi bà mẹ được ngắm nhìn con, nghe thấy tiếng khóc của con và tin tưởng rằngmình có sữa cho con bú thì sẽ hỗ trợ tốt cho phản xạ này [17]
Vì vậy ngay sau sinh bà mẹ phải được nằm cạnh trẻ và cho trẻ bú sớm
Khi trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất oxytocin giúp bà mẹ co hồi tử cungnhanh hơn góp phần làm giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ [17]
Trẻ bú mẹ sớm sẽ bú được sữa non rất tốt cho sức khỏe, giúp trẻ phòng tránhđược các bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng, vàng da, không dung nạp thức ăn khác
2.3.3 Lợi ích nuôi con trong 6 tháng đầu bằng sữa mẹ
- Sữa mẹ là thức ăn hoàn thiện nhất cho trẻ từ lúc mới sinh cho đến 6 tháng tuổi
- Sữa mẹ chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và thành phần cân đối giúp trẻmau lớn
- Cơ thể dễ hấp thu và sử dụng có hiệu quả
- Sữa mẹ bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
- Sữa mẹ không chứa những protein lạ nên không gây dị ứng cho trẻ
- Sữa mẹ luôn luôn vô trùng, có nhiệt độ thích hợp, không mất thời gian pha chế
- Trong vài giờ đầu sau sinh, trước khi sữa thực sự được tiết ra, vú mẹ tiết ra sữanon có màu vàng nhạt đặc sánh Chất lượng sữa non giảm nhanh trong 24 giờ đầu [12]
Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ:
- Chi phí ít hơn nuôi trẻ bằng thức ăn nhân tạo
- Giúp cho sự gắn bó mẹ con và phát triển tốt mối quan hệ gần gũi, yêu thương
- Giúp ích cho sự phát triển của trẻ
- Giúp cho mẹ chậm có thai
- Bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ
- Việc bú mẹ giúp cho tử cung co hồi trở về kích thước bình thường, làm giảmchảy máu và có thể phòng chống thiếu máu [12]
2.3.4 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ tới sức khỏe trẻ.
- Sữa mẹ mang cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn đối với trẻ
- Sữa mẹ bao gồm các kháng thể và các hoạt chất sinh học khác chính là yếu tốmiễn dịch đầu tiên có trong sữa non giúp trẻ chống lại bệnh tật [12]
- NCBSM là một trong những thực hành có lợi nhất mà bà mẹ có thể thực hiện đểbảo vệ con mình khỏi nhiễm khuẩn và vi rút
- Sữa mẹ là duy nhất và được sản sinh và đáp ứng nhu cầu của trẻ
Trang 17- Sữa mẹ thay đổi thành phần để đáp ứng nhu cầu thay đổi của trẻ [12].
2.3.5 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với gia đình, xã hội và doanh nghiệp
- NCBSM giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém cho trẻ ăn sữa công thức Ngoài ra,nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe thì nuôi con bằng sữa mẹ giúp cho các gia đình tiết kiệmthời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh [15]
- NCBSM không chỉ mang lợi ích về sức khỏe cho trẻ mà còn lại những lợi ích vềkinh tế to lớn
- Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho gia đình NCBSMHT còn có lợi ích chodoanh nghiệp về lâu dài vì các bà mẹ ít phải nghỉ làm để chăm con, điều này cũng cónghĩa là tạo ra một lực lượng lao động ổn định [15]
- Sữa mẹ cũng là nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và cácgia đình trên thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế [15]
- Trong những trường hợp nguy cấp, NCBSM giúp bảo vệ trẻ khỏi các bệnh gây ra
do nguồn nước bẩn và có thể ngăn ngừa tình trạng thân nhiệt thấp [15]
2.4 Tình hình nghiên cứu vấn đề trên thế giới và Việt Nam về vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ
2.4.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề trên thế giới về vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ
Từ lâu NCBSM đã được sự quan tâm ở nhiều nước trên thế giới.Năm 1987 điềutra ở Bangkok (Thái Lan) thời gian cho con bú trung bình là 4 tháng, trong khi đó ở nôngthôn là 17 tháng [35] Theo báo cáo của WHO (1993): Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàntrong 4 tháng đầu là 13% ở Srilanca, bú mẹ hoàn toàn ở thành thị thấp hơn ở nông thôn(7% và 14%) Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường NCBSM Tỷ lệ các bà mẹ NCBSM
ở các nước Bungari, Đức, Hungari và Thụy Sỹ dao động quanh 90% NCBSM ở cácnước Tây Âu thấp hơn, ví dụ: 67% ở Anh, 50% ở Pháp, 35% ở Ireland [30] Gần đây vấn
đề NCBSM vẫn được nhiều nước quan tâm nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu năm 2006 ởAustralia cho thấy: tỉ lệ bắt đầu NCBSM là 93%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưađược một nửa số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (45,9%) và chỉ có 12% được bú mẹ là chủyếu [30,32]
Ở một bệnh viện của Mỹ, các nghiên cứu được tiến hành trong ba năm liên tiếp từ
1999 đến 2001 cho thấy: tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm vẫn duy trì được ở mức cao: 87%(1999), 82% (2000), 87% (2001) Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự khác nhau: 34% (1999),26% (2000), 25% (2001) [33] Trong một nghiên cứu dọc tại Anh cũng chỉ rõ NCBSM
Trang 18giảm dần trong 3 tháng đầu, sang tháng thứ 4 và 5 thì giảm đột ngột: 1 tháng (54,8%), 2tháng (43,7%), 3 tháng (31%), 4 tháng (9,6%), 5 tháng (1,6%) [34].
Ở Trung Quốc, tỷ lệ NCBSM giảm xuống trong những năm 70, xuống đến mứcthấp nhất trong những năm 80 và sau đó bắt đầu tăng trở lại trong những năm 90 Các chỉ
số về NCBSM ở khu vực thành thị luôn thấp hơn so với khu vực nông thôn [35] Mộtnghiên cứu gần đây tại tỉnh Thượng Hải – Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ bú mẹ hoàntoàn có sự khác nhau giữa các vùng thành phố, ngoại ô và nông thôn Đặc biệt tỷ lệ trẻđược bú mẹ hoàn toàn ở vùng ngoại ô và nông thôn cao gần gấp 2 lần so với ở thành phố(63,4% và 61% so với 38%) Tỷ lệ NCBSM ở cả 3 vùng trên tương ứng là 96,5%, 96,8%
và 97,4% [30] Một nghiên cứu khác đã so sánh NCBSM giữa những năm 1994-1996 và2003-2004 ở một vùng thuộc Tây Bắc của Trung Quốc cho thấy trong tháng đầu tỷ lệNCBSM năm 2003-2004 giảm hơn so với năm 1994-1995 Tỷ lệ NCBSMHT ban đầucao, nhưng sau 3 tháng thì tỉ lệ này giảm hơn rõ rệt Mục tiêu quốc gia của Trung Quốc
về NCBSM đều không đạt được trong cả hai giai đoạn nghiên cứu [35]
2.4.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề trên Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Hoan, Vũ Quang Huy và Erika Lutz về thựchành nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc 6 tỉnh dự ánIFEN II Hội Chữ thập đỏ Việt Nam năm 2005 và xã Dân Hòa tỉnh Hà Tây năm 2006 chothấy: tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh tại cảc tỉnh dự án cũng kháchênh lệch nhau: Nghệ An (21,8%), Hà Tĩnh (62,3%), Quảng 13 Bình (72,7%), QuảngNgãi (38,2%), Điện Biên (48,1%), Lai Châu (32,1%) và tỷ lệ chung của 6 tỉnh là 45,8%,riêng kết quả điều tra ở Hà Tây năm 2006 là 69,4% Tỷ lệ trẻ được bú hoàn toàn sữa mẹtại 6 tỉnh dự án 45,5%, trong khi ở Hà Tây nơi không có dự án là 38,5% Tuy nhiên đâyvẫn chưa phải là tỷ lệ mong muốn theo khuyến nghị của WHO và UNICEF Ngoài ra, kếtquả nghiên cứu cũng cho thấy hầu như 100% bà mẹ tiếp tục cho con bú kéo dài 6-11tháng và 12-17 tháng [13]
Năm 2006, tác giả Đinh Thị Phương Hòa tiến hành nghiên cứu tại 4 bệnh viện ở
Hà Nội cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết và thực hành cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh chỉ là44,1%, có 78,3% bà mẹ biết về sữa non và 64% bà mẹ thực hành cho con bú sữa nontrong vài ngày sau sinh [11] Bên cạnh đó việc ăn dặm của trẻ là phổ biến trong 6 thángđầu tăng từ 16,4% vào tuần 1 lên 56,5% lúc 16 tuần và gần 100% ở tuần 24 Nghiên cứucủa Lê Thị Hương và Đỗ Hữu Hanh tại Yên Bái năm 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con
Trang 19bú sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh khá cao (gần 90%) Tuy nhiên trẻ được bú mẹhoàn toàn đến 4 tháng chỉ dao động từ 17,8% đến 23% và 6 tháng là 18,3% đến 19,8%[11] Cũng vào năm 2008, một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Hương tiến hành cắtngang trên 400 cặp bà mẹ, trẻ em dưới 2 tuổi tại 5 xã thuộc huyện Hải Lăng tỉnh QuảngTrị cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau sinh là 88% Tỷ lệtrẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 4 tháng là 27,5% và đến 6 tháng là 18,3% Bên cạnh đó, tỷ
lệ bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi là 31,9% [11]
Năm 2008, tác giả Từ Mai tiến hành nghiên cứu tìm hiểu“Thực trạng NCBSM vàmột số yếu tố liên quan tại Trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng”.Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 300 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi đếnkhám lần thứ nhất Ket quả cho thấy: tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là16,2%, trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 28,4% Tỷ lệ trẻ bú sớm trong vòng 1giờ đầu sau khi sinh là 49,3%, trong đó có 34,3% trẻ được bú mẹ trong vòng nửa giờ đầusau khi sinh Nghiên cứu cũng cho biết một số yếu tố ảnh hưởng đến NCBSMHT như:thời gian nghỉ đẻ quá ngắn (61,3% bà mẹ phải đi làm trước 4 tháng sau khi sinh con); Bà
mẹ thiếu kiến thức về sữa mẹ: vai 14 trò của sữa mẹ, các biểu hiện của trẻ khi bú đủ sữa
mẹ, chỉ có 10,6% bà mẹ biết vắt sữa để ở nhà cho con bú khi mẹ phải đi làm [17]
Năm 2009, nghiên cứu về kiến thức và thực hành NCBSM của Bùi Thu Hương tại
2 phường Quỳnh Mai và Bạch Đằng, Hà Nội cũng cho thấy, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớmtrong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 23%, ngoài
ra có 28% các bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú lần đầu [6]
Cũng trong năm này, nghiên cứu của Huỳnh Văn Tú và Nguyễn Vũ Linh tại Bệnhviện Phụ sản Nhi đồng bán công Bình Dương cho tỷ lệ trẻ bú mẹ trong giờ đầu chỉ là29,7%, tỷ lệ đối tượng NCBSMHT trong thời gian nằm viện sau sinh là 19,8% và có tớihơn 75% số đối tượng nuôi con bằng cả 2 loại sữa: sữa mẹ và sữa thay thế trong thời giannằm viện sau sinh [8]
Năm 2011, tác giả Hà Thị Thu Trang và Trần Thị Phúc Nguyệt tiến hành nghiên cứu tìm hiểu một số tập tính NCBSM của các bà mẹ dân tộc Dao có con dưới 24 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Kết quả nghiên cứu cho biết có 47,5% bà mẹ cho trẻ bú
Trang 20sớm trong vòng 1 giờ sau sinh Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ dùng thức ăn hoặc đồ uốngkhác trước khi cho bú lần đầu là 22,5% [9].
Cũng trong năm 2012, tác giả Huỳnh Văn Dũng, Huỳnh Nam Phương và cộng sự
đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 trẻ dưới 24 tháng tuổi và các bà mẹ củatrẻ ở huyện Tam Nông, Phú Thọ nhằm mục tiêu mô tả thực trạng dinh dưỡng và đánh giáthực hành nuôi tò của bà mẹ theo các chỉ số IYCF-2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy: có94,3% trẻ đã và đang được bú mẹ; 46,7% trẻ được 15 bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sausinh, 27,8% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn; tại thời điểm 1 tuổi có60,6% trẻ tiếp tục còn được bú sữa mẹ, tại thời điểm 2 tuổi có 11,1% trẻ tiếp tục cònđược bú sữa mẹ; và tỷ lệ trẻ được cho ăn bổ sung đúng thời điểm là 65,2% [10 ]
2.5 Các yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ đặc biệt là các yếu tố rào cản
2.5.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ và thực hành của bà mẹ trên thế giới về vấn đề cho con bú sữa mẹ
Tại Trung Quốc năm 2012, tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn cho trẻ em dưới 6 tháng chỉ cókhoảng 28% Thực hành NCBSM bị cản trở bởi nhiều yếu tố: niềm tin truyền thống làsữa mẹ không đủ dinh dưỡng hoặc quan niệm sai lầm về sữa mẹ của bạn bè và gia đình;thiếu các phương tiện công cộng để giải thích tầm quan trọng của NCBSM; chế độ nghỉthai sản chỉ có ba tháng và sự tiếp thị và sự phóng đại về lợi ích của sữa bột của các hãngsữa [26]
Theo một nghiên cứu năm 2013 tại Los Angeles, Mỹ: có gần 28% bà mẹ ngừngcho con bú khi được 3 tháng, dừng lại bởi vì họ đã gặp khó khăn khi nuôi dưỡng em bé,32,3% cho rằng sữa mẹ một mình không đáp ứng các em bé, 33,0% cho rằng họ không
có đủ sữa cho con bú, và 14,3% nói rằng họ bị nứt, đau hoặc chảy máu núm vú khi chocon bú [35]
Theo báo cáo “Chăm sóc Mẹ & Con Philips triển vọng toàn cầu cho con bú năm2011”, tại các nước Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Ai Cập, các rào cản chính dừngcho trẻ bú khi đang ở nhà là lượng sữa cung cấp giảm, việc cho trẻ bú khiến bà mẹ bịđau núm vú, thiếu thời gian cần thiết cho con bú, phải quay trở lại làm việc, tâm lý engại khi phải cho con bú bên ngoài nhà, không có thời gian cho con bú suốt cả ngày Tínhtrung bình có 40% bà mẹ cảm thấy rằng lượng cung ứng sữa của họ giảm, tỷ lệ này ởcác nước phát triển như Mỹ là 70% và Trung Quốc 58%, trái ngược với Nam Phi 9% và
Trang 21Ai Cập 17% Lý do quan trọng khác là đau núm vú khi cho ăn (15%), đặc biệt là trong
ba tháng đầu tiên Có 7% bà mẹ trong nghiên cứu cho con bú sữa bằng bình Lý do nổibật khác bao gồm sự cần thiết phải trở lại làm việc (10%) và cảm thấy lúng túng cho con
bú bên ngoài nhà (9%) Trong nghiên cứu này có 28% phụ nữ lấy lý do đi làm lại đểdừng việc cho con bú Các lý do dẫn tới việc này là tại nơi làm việc không có cơ sở vậtchất tốt để vắt sữa, xấu hổ khi vắt sữa tại nơi làm việc [30]
Theo trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh của Hoa Kỳ, hầu hết phụ nữ ởHoa Kỳ nhận thức được rằng con bú sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh,nhưng thường họ không được hướng dẫn về lợi ích cụ thể của nó và các rủi ro liên quannếu không cho con bú Các cán bộ y tế thường nhận được ít đào tạo, và nhiều người cảmthấy không tự tin để cung cấp thông tin hữu ích, chính xác để hỗ trợ bệnh nhân của họ.Bên cạnh đó là những rào cản về kỹ thuật cho con bú và việc kết hợp cho con bú và làmviệc [22]
Yếu tố môi trường xã hội cũng ảnh hưởng tới việc cho con bú Tại Hoa Kỳ, búbình là vấn đề bình thường hoặc thích hợp để nuôi một trẻ sơ sinh Nhận thức và thái độ
về cho con bú không chính xác hoặc tiêu cực vẫn còn phổ biến trong cộng đồng và cácphương tiện truyền thông Thông tin sai lệch phổ biến là thông tin dinh dưỡng về sữa
mẹ và các loại thực phẩm khác Nhiều hãng sữa thổi phồng về lợi ích của sữa bột thay thếsữa mẹ Mọi người tin rằng phụ nữ nên cho con bú kín đáo ở nơi công cộng, nhiều bà mẹ
đã bị chỉ trích vì cho con bú ở nơi công cộng và bị yêu cầu ngừng cho con bú [31]
2.5.2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ và thực hành của bà mẹ ở Việt Nam về vấn đề cho con bú sữa mẹ
Mặc dù Bộ Y Tế đã khuyến cáo “sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻnhỏ”, và theo công văn 1477/BHXHCSXH có hiệu lực từ ngày 1/5/2013 thì thờigian nghỉ sinh con đã tăng lên 6 tháng để người mẹ có điều kiện nuôi con hoàn toànbằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu [8] Tuy nhiên tỷ lệ NCHTBSM vẫn thấp do một sốrào cản vẫn tồn tại Đó chính là nhận thức sai lầm cho rằng “bà mẹ chưa có sữa để có thểcho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và không đủ lượng sữa để cho trẻ bú mẹhoàn toàn trong 6 tháng đầu” của người nhà và nhân viên y tế Chính nhận thức này đãngăn cản các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa của mình theo khuyến cáo của WHO.Tại một số trung tâm y tế, thậm chí ở một số bệnh viện lớn vẫn tồn tại thực trạng các bà
mẹ đang mang thai hoặc sau khi sinh được nhân viên y tế khuyên nên cho trẻ bú thêm sữa
Trang 22bột Đem theo sữa bột khi đưa thai phụ sắp sinh đến bệnh viện là một hình ảnh quenthuộc của các gia đình Việt Nam.
Nhóm nguyên nhân cũng rất quan trọng đó chính là từ phía cộng đồng , ít ngườidân tin rằng bà mẹ có thể đủ sữa cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng, trong khi đó lại tintưởng vào việc cho ăn bổ sung sớm sẽ làm cho trẻ cứng cáp
Có 4 khó khăn được nêu ra làm cản trở việc NCBSMHT Theo nghiên cứu củaLưu Ngọc Hoạt, những khó khăn cản trở NCBSMHT trong 6 tháng đầu là: mẹ phải đilàm sớm, mẹ thiếu sữa, bà mẹ cần sự hỗ trợ của người thân để có thời gian nghỉ ngơi,điều kiện kinh tế tốt [35] Khó khăn mẹ thiếu sữa có lẽ là vấn đề của nhiều địa phươngchứ không riêng gì của mẫu nghiên cứu Người thân có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ bà
mẹ và đặc biệt là có tác động lớn đến quyết định nuôi dưỡng trẻ nhỏ của bà mẹ
Bà mẹ không vắt sữa cho con bú khi đi làm nên phải tập cho con bú sữa bột.Nguyên nhân không tin tưởng sự an toàn của sữa vắt cũng được ghi nhận
Vấn đề này cũng còn chịu tác động của yếu tố văn hóa khi có quan niệm rằng việctrữ đồ ăn trong tủ lạnh sẽ làm mất ngon và mất chất Một vấn đề cần được ghi nhận nữa
là việc vắt sữa mẹ không được thuận tiện Có lẽ với quảng cáo sữa bột được cho là ưuviệt như hiện nay thì bà mẹ dễ dàng chọn lựa sữa bột cho con
Nhìn chung, các rào cản khi NCBSM trên thế giới cũng như tại Việt Nam là ràocản từ cá nhân bà mẹ, những người thân xung quanh, chất lượng dịch vụ chăm sóc bà mẹ
và các yếu tố từ môi trường
2.6 Một vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.6.1 Một vài nét về địa bàn
- Năm 1902 tại thị xã Biên Hòa một cơ sở y tế được xây cất chủ yếu để phục vụcho nhân dân sống tại thị xã, được mang tên Bệnh viện Biên Hòa (nhà thương thí BiênHòa)
- Năm 1946 bệnh viện được nâng cấp xây dựng qui mô 50 giường bệnh
- Năm 1957 - 1972 Bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện Phạm Hữu Chí Sốgiường bệnh được nâng lên 150 giường
- Ngày 30/4/1975 Bệnh viện Phạm Hữu Chí được chính quyền Cách mạng tiếpquản, đổi tên thành Bệnh viện tỉnh Đồng Nai số giường bệnh được nâng lên 380 giường
- Năm 1984, để đáp ứng theo yêu cầu phục vụ, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai đãtiến hành cải tạo và xây dựng thêm
- Năm 1992, Bệnh viện tỉnh Đồng Nai được đổi tên thành Bệnh viện Đồng Nai tạiQuyết định số 443/QĐ-UBT ngày 25/4/1992 của UBND tỉnh Đồng Nai
Trang 23- Năm 1994, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai được xếp hạng II trực thuộc Sở Y tếĐồng Nai tại Quyết định số 992/QĐ-UBT ngày 16/5/1994 của UBND tỉnh Đồng Nai.
- Năm 2010, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai được xếp hạng I tại quyết định số1112/QĐ-UBND ngay 10/05/2010
- Bệnh viện từng bước xây dựng và củng cố Hiện nay số lượng cán bộ, viên chứcgôm 1.016 người, trong đó có 206 bác sĩ, trang thiêt bị được bô sung, nhiều khoa phòngđược mở rộng từ 500 giường phát triển đến 820 giường kế hoạch, thực kê 919 giườngtrên diện tích gần 2 ha trở thành Bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh của tuyến tỉnh
- Ngày 18/12/2007, UBND tỉnh Đồng Nai đã duyệt Dự án đầu tư xây dựng Bệnhviện đa khoa tỉnh Đông Nai với quy mô 1400 giường, giai đoạn 1: 700 giường; giai đoạn2: 700 giường, đã được khởi công xây dựng vào ngày 27/11/2008 tại địa phận phườngTam Hòa, thành phố Biên Hòa, có diện tích khoảng 9 ha
2.6.2 Chức năng và nhiệm vụ Khoa Sản bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
Tổ chức hoạt động của khoa theo đúng quy chế công tác khoa phụ – sản
– Tổ chức và chỉ đạo các thành viên trong khoa thực hiện tốt công tác thăm khámthai, đỡ đẻ, chăm sóc trẻ sơ sinh tại khoa
– Tham gia thực hiện các kĩ thuật về kế hoạch hoá gia đình tại khoa và tại cộng đồng.– Tồ chức tốt phẫu thuật sản phụ khoa theo đúng quy chế công tác khoa ngoại, quychế công tác khoa gây mê – hồi sức
– Tham gia tuyên truyền bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh tại khoa và tại cộng đồng– Là Bệnh viện công đầu tiên ở Đồng Nai có Bác sĩ chuyên khoa Nhi khám bé sau sinh
2.7 Khung lý thuyết trong nghiên cứu
23
Thực hành vềviệc NCBSM
Thái độ chung
về việcNCBSM
- Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với thực hành NCBSM
Đặc điểm của đối tượng
- Năm sinh
- Giới tính
- Nghề nghiệp
Trang 25CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ vừa sinh thường và mổ đã ổn định và tỉnh táo hoàn toàn được điều trị tại khoa Sản, bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa sản bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai.
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 12/2020 đến tháng 7/2021
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang Kết hợp phươngpháp nghiên cứu định lượng
3.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Các thành viên trong nhóm hướng dẫn trực tiếp các bà mẹ điền thông tin vàobảng khảo sát
Trang 26- Các bà mẹ sẽ tự đọc và điền thông tin vào bảng khảo sát sau khi được hướngdẫn Nếu như có thắc mắc hoặc cần sự hỗ trợ thì các thành viên trong nhóm sẽ trựctiếp hỗ trợ.
3.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
3.6.1 Số liệu định lượng
Nhập số liệu bằng phần mềm excel
3.6.1 Sai sót và biện pháp khắc phục trong nghiên cứu
Trong quá trình nhập số liệu và tính toán, nhóm đã gặp rất nhiều khó khăn trong các nhập nhập số liệi về excel cũng như tìm các bài mẫu để tham khảo, sau quá trình tìm hiểu các bài mẫu, tham khảo các bài liên quan nhóm đã làm đi làm lại rất nhiều lần và quyết định tính ra kết quả của các bài mẫu Sau đó nhóm đã
áp dụng tương tự vào bài của mình.
3.7 Biến số nghiên cứu
3.7.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Biến số/chỉ số nghiên cứu
STT nghiên cứu Biến số Định nghĩa Giá trị Phân loại biến
Được tính theodương lịch và đượcchia làm 4 nhómtuổi
- <40
- 31-40
- 21-30
- Biến liêntục
2 Dân tộc
-Dân tộc của đốitượng được phỏngvấn,gồm 2 giá trị
-Biến danhmục
Trang 27Bảng 3.2 Các biến số/ chỉ số nghiên cứu về kiến thức
ST
Phân loại biến
2 Giá trị của sữa non Là sữa đặc biệt,tiết ra trong vài
giờ đầu sau sinh
Chứa nhiềuprotein Biến danh mục
3 Bất lợi khi cho bé bú sữacông thức. Các yếu tố bất lợigây tốn kém, mất
thời gian
Những bấtlợi khi uốngsữa côngthức
Biến danh mục
4 Thời gian cai sữa tốt nhất tốt nhất từ 18 đếnThời gian cai sữa
24 tháng
Thời giancai sữa đốivới trẻ đang
bú sữa mẹ
Biến danh mục
5 Những cách để có nhiềusữa.
Bổ sung nhiềudinh dưỡng cho
bà mẹ đang nuôicon bằng sữa mẹ
Ăn nhiềuthực phẩmdinh dưỡngcung cấp sữacho trẻ bú
Biến danh mục
6 Kiến thức chăm bé từ đâu
Kiến thức chămsóc bé từ nhiềunguồn tham khảođặc biệt dến từcác nhân viên y tế
Kiến thức từgia đình, từtruyềnthông, cán
bộ y tế
Biến danh mục
7 Sữa mẹ có phải là nguồnthức ăn tốt nhất.
Sữa mẹ là nguồnthức ăn tốt nhấtcung cấp nhiềuchất dinh dưỡng,bảo vệ trẻ khỏinhững bệnhnhiễm khuẩn
Sữa mẹ lànguồn thức
ăn tốt nhấtcho trẻ nhỏ
Biến danh mục
8 Có được tư vấn về nuôi conbằng sữa mẹ không.
Các bà mẹ được
tư vấn về việcnuôi con bằng sữa
mẹ qua các cán
bộ y tế và giađình, truyềnthông
Tư vấn vềviệc nuôicon bằngsữa mẹ
Biến danh mục
9 Cách cho con bú sữa mẹhoàn toàn.
Cho con bú hoàntoàn bằng sữa mẹkhi trẻ được sinh
ra
Cho con búhoàn toànbằng sũa mẹ Biến danh mục
10
Có nên cho bé bú sữa mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu
hay không
Nên cho bé búsữa mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu
Giá trị sữa
mẹ trong 6tháng đầu Biến danh mục
Trang 28Bảng 3.3 Các biến số/ chỉ số nghiên cứu về thái độ
STT Biến số nghiên cứu Định nghĩa Giá trị Phân loại biến
1 Sữa mẹ là sữa tốtnhất cho trẻ.
Sữa mẹ la thức ăntốt nhất cho trẻ cungcấp nhiều dinhdưỡng, dễ hấp thu,bảo vệ cơ thể trẻchống lại bệnh tật
Sữa mẹ là thức
ăn tốt nhất chotrẻ trong giaiđoạn phát triểncủa trẻ
trẻ
Nuôi con bằngsữa mẹ là biệnpháp tốt nhấtcho cả mẹ vàbé
sự phát triển của trẻ
Cần cho bé búsữa non ngaysau khi sinh ra
để để đảm bảocho sự pháttriển của trẻ
trẻ
Sữa non có thểgiúp trẻ tránhđươvj nhiềubệnh tật
Biến danh mục
5
Những lời khuyên
về lợi ích của việc
nuôi con bằng sữa
mẹ là đúng
Những lời khuyên từcác cán bộ y tế,nguồn truyền thôngtin cậy về lợi íchnuôi con bằng sữa
mẹ đúng đắn vàđáng tin cậy
Nguồn thôngtin về lờikhuyên về việccho con bú mẹqua cán bộ y tế
Trẻ cần được
bú trong vòng
6 tháng đầu đểđảm bảo trẻphát triển toàndiện
Biến danh mục
Trang 297 Bé cần được bú mẹít nhất là 12 tháng.
trẻ bú ít nhất trong
12 tháng đầu để đảmbảo sự phát triểntoàn diện của trẻ
Trẻ cần được
bú ít nhất 12tháng để đảmbảo trẻ pháttriển toàn diện
9 Cách cho bé bú mẹ thế, vệ sinh sạch sẽCho bé bú đúng tư Cho bé búđúng cách Biến danh mục
10 thêm đồ uống ngoàiCó nên sử dụng
1
Bé có được bú sữa non
ngay sau khi sinh
không
Trẻ nên được bú sữa non ngay sau sinh để phát triển toàn diện
Chứa nhiều protein, các chất khoáng, vitamin
Biến danh mục
2
Chị có cho bé uống sữa
công thức trong thời
gian để sữa về không
Cho bé uống thêm sữacông thức trong thời gian đợi sữa về
Sử dụng thêm sữa ngoài trongkhi đợi sữa về
Biến danh mục
3 Sau sinh bao lâu thì bé
Biến danh mục
4 Số lần cho trẻ bú trong
ngày
Số lần bé được bú trong ngày
Số lần trẻ bú sữa mẹ
Biến danh mục
Biến danh mục