Đairi đã chú ý “Tính giá trị toàn diện của những kiếnthức lịch sử” và “Vận dụng các nguồn tài liệu muôn hình muôn vẻ và cáchình thức hoạt động nội khoá đa dạng trong toàn bộ hệ thống các
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -phan thị hoà
khoá luận tốt nghiệp đại học
Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (lớp 10
Trang 2Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các thầy, các cô trong tổ bộ môn
ph-ơng pháp dạy học lịch sử – Khoa Sử, Phòng Thông tin Th viện – Trờng Đạihọc Vinh, và bạn bè đã giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôihoàn thành luận văn này Xin gửi lời chúc sức khoẻ và thành công tới thầy,cô và các bạn
Trong đời sống xã hội, lịch sử đóng vai trò quan trọng, nó vừa là mộtcông cụ của công tác s phạm, lại có tác dụng giáo dục trí tuệ và tình cảm Tríthức lịch sử là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền vănhoáchung của nhân loại và không có bộ phận quan trọng này thì không thểcoi việc giáo dục con ngời đã hoàn thành đầy đủ
Đặc trng của bộ môn lịch sử là phản ánh toàn diện mọi mặt của đờisống xã hội loài ngời từ kinh tế, chính trị văn hoá, xã hội Bộ môn lịch sử ở
Trang 3trờng phổ thông giới thiệu (cung cấp) cho học sinh những tri thức về nhiềulĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc ta
đã có thế giới Vì vậy, kiến thức lịch sử không chỉ liên quan đến tri thức vềkhoa học xã hội mà cả về khoa học tự nhiên
Mặt khác, ngày nay dới tác dụng mạnh mẽ của sự phát triển khoa họccông nghệ, thông tin liên lạc đã làm cho các khoa học khác nhau có mối liên
hệ với nhau chặt chẽ Chính vì vậy mà các môn học khác nhau, vận dụng cáctri thức của nhau để nhằm làm sáng tỏ cho môn học mình là điều tất yếu.Trong xu thế chung đó, Sử học không thể phát triển hơn nếu không thể liên
hệ và sử dụng tri thức của các khoa học khác, môn học khác
Thực trạng dạy học hiện nay ở trờng phổ thông vẫn còn phân biệt mônchính, môn phụ, giữa tự nhiên và xã hội, coi lịch sử là một môn phụ Trớctình hình đó, việc đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử là một yêu cầu cấpthiết trong đó cần vận dụng nguyên tắc liên môn để học sinh nhận thức đợcrằng các môn học trong trờng phổ thông có mối liên hệ chặt chẽ mật tiết vớinhau, các môn có vai trò quan trọng nh nhau, cởi bỏ tâm lí coi nhẹ môn lịchsử
Khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX trongchơng trình lớp 10 (Ban cơ bản) là một khóa trình lịch sử quan trọng với nộidung quá trình xuất hiện ngời Việt cổ, hình thành các nhà nớc sơ khai, sau đóphát triển thành quốc gia phong kiến Đại Việt với quá trình xây dựng đất nớc
và các cuộc kháng chiến chống xâm lợc bảo vệ độc lập dân tộc Dạy họckhóa trình lịch sử này gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp bởi nó liên quan
đến nhiều nội dung diễn ra cách đây hàng triệu năm, hàng nghìn năm, vì thếcần sử dụng tri thức các khoa học lân cận để nâng cao hiệu quả bài học
Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Vận dụng nguyên tắc“
liên môn trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (lớp 10 –Ban cơ bản) Để làm luận văn cuối khoá, hy vọng với ý
nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài sẽ góp phần nhỏ bé của mình cho sựnghiệp giáo dục của đất nớc hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Nguyên tắc dạy học liên môn trong dạy học nói chung và trong dạyhọc lịch sử nói riêng là vấn đề đợc nhiều nhà khoa học, nhiều công trình lớnnhỏ đề cập đến
Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu chúng tôi đã tiếp cận với một sốloại tài liệu: tâm lý học, giáo dục học, tài liệu về lý luận dạy học bộ môn và
Trang 4các tài liệu tham khảo khác liên quan đến vấn đề vận dụng nguyên tắc liênmôn trong dạy học lịch sử.
Trong cuốn “giáo dục học” ( Tập 1, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, NXBgiáo dục, 1987) đã đa ra các phơng hớng hoàn thiện nội dung dạy học, cónhấn mạnh việc “tăng cờng mối liên hệ giữa các môn học”[14,200 ]
Vấn đề nguyên tắc liên môn cũng đợc đề cập trong cuốn “phát triển tduy học sinh” (NXB Giáo dục, 1976) các tác giả M.Alêcxêep, Và ônhisúc cho rằng “Việc sử dụng rộng rãi các môn học nh vậy để bồi dỡng cho họcsinh các thủ thuật và phơng pháp t duy lôgic sẽ góp phần thực hiện một trongnhững yêu cầu quan trọng nhất của lí luận dạy học là xác lập các mối liên hệchặt chẽ giữa các bộ môn trong dạy học”[9,100]
Tác giả N.M.Iacôplep trong “Phơng pháp và kĩ thuật lên lớp trong ờng phổ thông” ( Tập 1) NXB Giáo dục, 1975 Cũng đã rất coi trọng mốiliên hệ giữa các bộ môn “giữ vai trò to lớn về mặt này là hệ thống công tácliên hệ hữu cơ giữa các giáo viên các bộ môn khác nhau – tức là mối tiên hệgiữa các bộ môn”[13,35 ]
tr-Tuy nhiên, không phải công trình nào cũng đề cập đến nguyên tắc liênmôn, chẳng hạn nh trong cuốn “Bài học là gì?” (NXB Giáo dục, Hà Nội, HồNgọc Đại có đa ra vài nguyên tắc của lí luận dạy học nh: nguyên tắc hệthống, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc vừa sức… nh nhng không đề cập đếnnguyên tắc liên môn
Chúng tôi cũng tiếp cận các tài liệu về phơng pháp dạy học bộ môn
nh “Phơng pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (NXB
GD 2000), đã nêu ra các nguyên tắc dạy học lịch sử trong đó nhấn mạnhnguyên tắc dạy học liên môn
Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử nh thế nào?” (NXB Giáo dục –
Ha Nội 1973), N.G Đairi đã chú ý “Tính giá trị toàn diện của những kiếnthức lịch sử” và “Vận dụng các nguồn tài liệu muôn hình muôn vẻ và cáchình thức hoạt động nội khoá đa dạng trong toàn bộ hệ thống các giờ học” và
“Phải sử dụng không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn t liệu muôn hìnhmuôn vẻ”[ 12,76]
Ngoài ra, liên quan đến quá trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đếngiữa thế kỷ XIX có một số công trình: “Kiến thức lịch sử” (chơng trình chuẩn
và nâng cao, NXB ĐHQG TP Hồ Chí Minh) và nhiều tài liệu, bài viết khác
có đề cập đến việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử ở cácgóc độ và mức độ khác nhau Tuy nhiên, cha có một công trình nào đề cập
Trang 5toàn diện đến việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học khóa trìnhlịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (SGK lịch sử lớp 10 –chơng trình cơ sở THPT) Qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học giúpchúng tôi có đợc cơ sở lý luận khi thực hiện đề tài này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của dạy học lịch sửchúng tôi muốn nêu lên vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc dạy học liên môn, đa
ra phơng pháp vận dụng nguyên tắc liên môn cho giảng dạy khóa trình lịch
sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX, nhằm nâng cao chất lợng bộmôn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về lý luận: tìm hiểu đặc trng của môn học lịch sử, đặc điểm hoạt
động nhận thức của học sinh, nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử, đốivới phơng pháp dạy học ở trờng phổ thông
- Về thực tiễn: Khảo sát, điều tra thực trạng dạy học lịch sử ở trờngphổ thông về các phơng pháp dạy học, điều kiện dạy học, chất lợng dạy học,những vấn đề thực tiễn đặt ra
Nghiên cứu chơng trình sách giáo khoa để xác định nội dung và lựachọn tri thức liên môn đa vào bài học
Đa ra phơng pháp và vận dụng nguyên tắc liên môn vào khóa trình lịch
sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
Thực nghiệm s phạm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của việc vậndụng nguyên tắc liên môn, sử dụng tri thức liên môn vào giảng dạy khóatrình lịch sử nói trên
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu của luận văn là quá trình dạy học lịch sử ViệtNam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
4.2 Phạm vi nghiên cứu là tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn đa ra
ph-ơng pháp vận dụng nguyên tắc liên môn và sử dụng nó vào dạy học khóatrình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
5 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp s phạm trong việc vận dụng nguyên tắc liên môn
đ-ợc thiết kế phù hợp với điều kiện thực tiễn dạy học lịch sử ở trờng phổ thông
sẽ làm cho hiệu quả bài học đợc nâng lên, đồng thời sẽ góp phần nâng caochất lợng dạy học lịch sử
Trang 66 Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phơng pháp luận
- Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
về lịch sử, về giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra, khảo sát tình hình thực tế việc vận dụng nguyên tắc liênmôn trong lịch sử ở trờng phổ thông thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên,học sinh, phát phiếu điều tra… nhTrên cơ sở đó xử lý thông tin và đa ra nhậnxét, khái quát chung
+ Soạn và thực nghiệm một bài cụ thể của phần lịch sử Việt Nam từnguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX để minh hoạ cho việc vận dụng nguyên tắcliên môn mà luận văn đề xuất
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, cấu trúccủa luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc
liên môn trong dạy học lịch sử ở trờng THPT
Chơng 2: Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học khóa trình
lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (SGK lịch sử lớp 10,
Ban cơ bản).
Chơng 3: Thực nghiệm s phạm.
Trang 7B Nội dung Chơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
ợc sự phát triển hợp quy luật của tự nhiên và xã hội, vận dụng sáng tạo nhữnghiểu biết vào thực tiễn Tuy nhiên, so với các môn học khác, lịch sử có những
đặc trng riêng mà trong quá trình dạy học cần chú ý
Trớc hết, dạy học lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơbản về quá trình phát triển của xã hội loài ngời từ nguồn gốc cho đến naytrên tất cả các mặt ( kinh tế, chính trị, đấu tranh xã hội, văn hoá… nh) điều này
do đối tợng của khoa học lịch sử quy định Đối t“ ợng của khoa học lịch sử là quá trình phát triển thực tế của xã hội loài ngời, cũng nh từng bớc, từng dân tộc trong toàn bộ tính thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu muôn vẻ của nó”[6,78].
Trang 8Lịch sử là bản thân cuộc sống, phản ánh cuộc sống xã hội của con
ng-ời Chính vì thế phải đảm bảo tính toàn diện của tri thức lịch sử tức là phảicung cấp cho học sinh những sự kiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hộiloài ngời (kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật, t tởng… nh).Qua đó làm cho các em nắm đợc sự thống nhất và tác động qua lại giữa cáclĩnh vực của đời sống xã hội loài ngời Để hiểu biết lịch sử một cách đầy đủ
và sâu sắc giáo viên lịch sử phải cung cấp cho học sinh không những về kiếnthức lịch sử mà còn cung cấp những kiến thức khoa học xã hội và khoa học
tự nhiên có liên quan đến tri thức lịch sử mà giáo viên cung cấp
Thứ hai, lịch sử là cái đã xảy ra, không tái diễn nguyên vẹn nh cũ,
song nó “lặp lại trên cơ sở không lặp lại”[5,177] cho nên trong dạy học lịch
sử, chúng ta không thể tái hiện lại quá khứ trong phòng thí nghiệm hay đểhọc sinh trực tiếp quan sát Do đó khi giảng dạy một vấn đề lịch sử, ngời giáoviên phải đặt sự kiện, hiện tợng trong không gian và thời gian cụ thể
Một đặc trng nữa của môn là lịch sử vừa bao gồm các sự kiện, hiện ợng về kinh tế, đấu tranh xã hội vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thợngtầng, tình hình sản xuất quan hệ sản xuất… nh Nội dung tri thức đời sống xã hộiloài ngời, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá nghệ thuật… nh Bộmôn lịch sử ở trờng phổ thông tuy có chọn lọc, giản lợc thì vẫn thể hiện baoquát đợc các mặt đó Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối liên hệnội tại chằng chéo, phức tạp Điều này đòi hỏi ngời giáo viên phải luôn chú ý
t-đến mối quan hệ ngang dọc, trớc sau của vấn đề lịch sử cũng nh mối quan hệngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá để cung cấp cho họcsinh những tri thức lịch sử khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh
Thứ t, nhận thức lịch sử bao giờ cũng gặp khó khăn và phức tạp so vớinhận thức các khoa học khác; bởi vì lịch sử chính là bản thân cuộc sống, kếtquả, hoạt động của con ngời Cho nên khi học tập lịch sử, con ngời (học sinh)vừa là chủ thể nhận thức vừa là khách thể (đối tợng) nhận thức Mặt khác, ch-
ơng trình bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông đợc cấu tạo từ xa đến gần, từ quákhứ đến hiện tại mà nhận thức phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ củahọc sinh là nhận thức từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp Vì thế, giáoviên lịch sử phải cung cấp kiến thức lịch sử cho học sinh một cách sinh độnggiàu hình ảnh, sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau để học sinh dễ tiếpcận một vấn đề lịch sử
Với những đặc trng nh vậy, chúng ta không thể tiến hành việc dạy họclịch sử ở trờng phổ thông theo phơng thức truyền đạt kiến thức có sẵn mà
Trang 9phải đảm bảo tính chính xác, hình ảnh cụ thể của nội dung lịch sử, đồng thờiphải làm cho học sinh tích cực nhận thức, tích cực t duy, để thực hiện lời căndặn của Tổng Bí th Đỗ Mời “Cùng với quá trình quốc tế hoá ngày càng mởrộng thì việc trở về nguồn cũng là một xu thế chung của các dân tộc trên thếgiới với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơnnhững đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý những giátrị truyền thống và bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bớc đithích hợp, hớng mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, vănminh”[4,93].
1.1.2 Đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử.
Quá trình học tập lịch sử của học sinh về bản chất là quá trình tổ chứchoạt động nhận thức Quá trình này diễn ra tơng tự nh quá trình con ngờinhận thực hiện thực và có nhiều nét giống với quá trình nhà khoa học đi tìmchân lý khách quan Sự khác nhau cơ bản ở đây là học sinh tiến hành hoạt
động nhận thức trong một hoàn cảnh vào điều kiện khác nhau Họ đợc làmviệc trong môi trờng đợc giáo viên giúp đỡ, hớng dẫn, điều khiển và dựa trênnhững tài liệu học tập đã đợc gia công về mặt s phạm
Lịch sử là quá khứ đã diễn ra nên nó đợc lu giữ trong nhiều nguồn tliệu thờng ở dạng tiềm ẩn Do đó nhận thức lịch sử gặp rất nhiều trở ngại vàcũng vì vậy nhận thức lịch sử ngày càng phải đạt đến sự hiểu biết chân thực,
đúng đắn về quá trình lịch sử Không giống với các khoa học thực nghiệm
mà ta có thể quan sát, tái hiện, có khi trực tiếp chứng kiến, lịch sử đã diễn rakhông lặp lại, không quan sát đợc Quá trình nhận thức của học sinh tronghọc tập lịch sử diễn ra trớc hết là tiếp cận với những sự kiện, hiện tợng lịch sử
cụ thể thông qua bài giảng của giáo viên và qua các tài liệu học tập nh SGK,sách đọc thêm, tranh ảnh, bản đồ và các loại tài liệu khác “Đặc điểm đầutiên của sự kiện là tính chất rất phức tạp của nó”[19,102]
Quá trình nhận thức lịch sử bắt đầu từ sự kiện phải đợc coi trọng bởi
“tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúngcho phép hình dung lại quá khứ”[12,25]
Đây là giai đoạn nhận thức cảm tính của học sinh trong học tập lịch sử
ở giai đoạn kế tiếp, bằng sức mạnh của t duy trừu tợng, học sinh sẽ đi đếnnhững kiến thức trừu tợng, khái quát – những khái niệm, quy luật bài họclịch sử… nh ở giai đoạn tiếp theo nữa, học sinh học cách vận dụng kiến thứclịch sử đã học ( chủ yếu là những kiến thức khái quát, trừu tợng ) để nhận
Trang 10thức những kiến thức cụ thể mới hoặc để giải quyết những vấn đề đợc đặt ratrong quá trình học tập cũng nh trong cuộc sống hàng ngày.
Mặt khác hệ thống kiến thức của các môn học khác nhau ở trờng phổthông nh một “mạng lới” mà trong đó mỗi môn học nh một “mắt lới”, cóquan hệ gắn bó chặt chẽ mật thiết với các môn học khác Vì thế, giáo viên bộmôn một mặt phải làm cho học sinh lĩnh hội kiến thức môn học mình đảmnhiệm một cách sâu sắc Mặt khác giáo viên phải làm cho học sinh thấy đợcmối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn trong hệ thống môn học ở trờng phổthông Ngời giáo viên lịch sử vừa cung cấp những kiến thức lịch sử một cáchsâu sắc, toàn diện vừa vận dụng những tri thức khoa học liên môn đặc biệt là:văn học, địa lý, giáo dục công dân… nh
Từ quá trình nhận thức nói trên mà năng lực lĩnh hội kiến thức lịch sử
cụ thể, năng lực và thói quen tiến hành những hình thức hoạt động t duy ( sosánh, phân tích, tổng hợp… nh) và các năng lực vận dụng kiến thức đã học củahọc sinh đợc nâng cao
Vấn đề đặt ra ở đây là giáo viên sẽ sử dụng những tri thức liên môn
nh thế nào cho hợp lý cùng với sự phối hợp các phơng pháp khác để góp phầntích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nâng cao chất lợng dạy họclịch sử
1.1.3 Nguyên tắc liên môn là gì?
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạyhọc ở trờng phổ thông nói chung, môn lịch sử nói riêng Nguyên tắc liên môntơng đơng với từ “Coordination” (Tiếng Anh) –Đây là nguyên tắc dạy họcphối hợp sử dụng nhiều nguồn tri thức của các môn học ở trờng phổ thông đểlàm sáng tỏ, cụ thể cho một môn học nào đó mà giáo viên cần cung cấp cụthể
Dạy học liên môn có mối liên hệ gần gũi với nguyên tắc dạy học tíchhợp hay nói cách khác liên môn chính là nguyên tắc tích hợp, đợc thực hiện ởmức thấp
Trong nhiều năm gần đây đã xuất hiện thuật ngữ “tích hợp” tơng đơngvới các từ “integration” (Tiếng Pháp) hay “intergration” (Tiếng Anh) Thuậtngữ “tích hợp” mang những nội dung khác nhau trong các lĩnh vực khoa học( sinh học, toán học, triết học, giáo dục học… nh) Theo “Đại từ điển Bách khoatoàn th Xô Viết”, “tích hợp” là một khái niệm có lý thuyết hệ thống, chỉtrạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn diện, cũng nh quá trìnhdẫn đến trạng thái này” [7,342]
Trang 11Khái niệm “tích hợp” cũng đợc phân tích tại Hội nghị khoa học giáodục của UNESCO tại Pari năm 1972 “Dạy học theo t tởng tích hợp là cáchtrình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thốngnhất cơ bản của t tởng khoa học tránh nhấn mạnh quá muộn hoặc sớm sự saikhác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau T tởng tích hợp còn đợc gọi là ttởng dạy học hợp nhất các khoa học”.
Nếu nh t tởng tích hợp vận dụng vào xây dựng chơng trình dạy học tức
là tích hợp các môn học khác nhau, các môn học lân cận nhau thành mộtmôn mới, chẳng hạn ở mức độ cao có thể tích hợp các môn vật lý, sinh học,hoá học, thành một môn chung – môn khoa học tự nhiên; hoặc tích hợp cácmôn lịch sử - địa lý (cả giáo dục môi trờng) thành một môn mới Đó khôngphải ghép các môn riêng rẽ với nhau các môn vẫn giữ vị trí độc lập trongmột môn chung ở mức độ vừa, các môn học gần nhau, đợc ghép trong mộtmôn chung, nhng vẫn giữ vị trí độc lập và chỉ tích hợp ở các phần trùng nhau
Ví dụ, trong môn sử - địa, việc nghiên cứu phần tự nhiên các nớc trong môn
địa lý sẽ là cơ sở để học phần về “Hoàn cảnh tự nhiên” của các nớc cổ đại :
Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, ấn Độ, Trung Quốc… nh
Việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học tức là vận dụngnguồn tri thức cũ các môn lân cận để làm sáng tỏ để hiểu sâu sắc hơn về một
bộ môn cụ thể mà giáo viên trình bày Nh vậy vận dụng nguyên tắc liên mônkhông phải là làm xuất hiện môn mới Bộ môn mà giáo viên giảng dạy vẫnchiếm vị trí chủ đạo, trung tâm, còn tri thức của các bộ môn khác chỉ có tácdụng hỗ trợ mà thôi
1.1.4 Vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
1.1.4.1 Vị trí
Dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng phải tuân theo nhiềunguyên tắc của lý luận dạy học, tức là những quan điểm cơ bản chỉ đạo mọihoạt động của giáo viên và học sinh theo các quy luật cơ bản của quá trìnhdạy học Mỗi nguyên tắc chiếm một vị trí nhất định trong dạy học lịch sử.Trong quá trình dạy học, giáo viên vận dụng những nguyên tắc cơ bản nh:nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, nguyên tắc trực quan… nh Trong đó nguyêntắc liên môn là một nguyên tắc quan trọng mà thông thờng giáo viên cha chú
ý đúng mức
1.1.4.2 ý nghĩa
-Về kiến thức:
Trang 12Bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông cung cấp cho học sinh về nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và thếgiới Vì vậy, kiến thức lịch sử không chỉ liên quan đến tri thức về khoa họcxã hội mà cả về khoa học tự nhiên Chẳng hạn, khi dạy những bài về cáchmạng công nghiệp, cách mạng khoa học – kỹ thuật, đòi hỏi giáo viên lịch sửkhông chỉ am hiểu về kiến thức lịch sử mà còn cả kiến thức khoa học tựnhiên Ví dụ: khi dạy bài 34: “Các nớc t bản chuyển sang giai đoạn đế quốcchủ nghĩa” (SGK lịch sử – lớp 10 – Ban cơ bản) ở nội dung: “Những thànhtựu về khoa học – kỹ thuật cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX”, giáo viêntrình bày những kiến thức về vật lý, hoá học, sinh học, vật lý: thuyết electroncủa Tôm Xơn (Anh), cho thấy nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất củavật chất mà trớc đó ngời ta vẫn lầm tởng Những phát hiện về hiện tợngphóng xạ của các nhà bác học Hăngri-Béc-cơ-ren, Pie -Quyri và Ma-ri-Quyri
đã đặt nền tảng cho việc tìm kiếm nguồn năng lợng hạt nhân.Trong hoá học,nhà bác học ngời Nga Menđêleep đã phát hiện ra định luật tuần hoàn của cácnguyên tố hoá học
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh tiểu sử các nhàbác học, những ngời có công lớn đối với lịch sử
Các bài về lịch sử các nớc phơng Đông cổ đại đòi hỏi học sinh phảinắm vững những kiến thức về điều kiện thiên nhiên, về văn học nghệ thuật… nh
Đặc biệt khi giảng dạy các khoá trình lịch sử cận, hiện đại thế giới cũng nh dântộc, cần vận dụng nguyên tắc liên môn để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Mối liên hệ giữa các môn, các khóa trình đợc thể hiện trong các bài,
đặc biệt là các bài về văn hoá, khoa học – kỹ thuật, kinh tế… nh Vấn đề quantrọng và phức tạp nhất của dạy học liên môn là tìm ra mối liên hệ giữa cácmôn học Chính những kiến thức đợc đề cập đến các môn học đó bổ sung chonhau, làm sáng tỏ kiến thức mà học sinh đợc học trong mỗi môn học Có nhvậy, học sinh nắm kiến thức vững chắc và việc giáo dục t tởng thông quamôn học mới có kết quả
Đối với phần lịch sử Việt Nam thời kỳ dựng nớc (thời đại của các vuaHùng), thì thuyền thuyết “Sơn Tinh – Thuỷ Tinh” cho chúng ta biết về mộtgiai đoạn mà nhân dân ta đồng tâm hiệp lực chống chọi với những khó khăn
do thiên tai gây ra hay quy luật hàng năm lũ lên tàn phá nhà cửa, ruộng v ờncủa ngời dân
Đối với học sinh, dạy học liên môn và “tính kế thừa” trong việc họctập các khóa trình lịch sử làm cho các em nhận thức sự phát triển của xã hội
Trang 13một cách liên tục, thống nhất, thấy rõ mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, hiểu đợc tính toàn diện của lịch sử Điều này khắc phục
đợc tình trạng rời rạc, tản mạn trong việc tiếp nhận kiến thức của học sinh.Nắm đợc mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống tri thức lịch
sử sẽ giúp các em có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quyluật chi phối sự phát triển của lịch sử Vận dụng nguyên tắc liên môn có ýnghĩa giáo dỡng chính là “Để đảm bảo tính vững chắc của kiến thức, trongdạy học cần thờng xuyên quay trở lại với những kiến thức đã lĩnh hội trớc đó
và xem xét chúng trớc góc độ nhìn mới làm sao cho học sinh có thể vận dụngkiến thức Nhờ đó, kiến thức sẽ phong phú hơn lên và đợc học sinh ý thức sâusắc hơn”[10, 58]
- Về giáo dục:
Nguyên tắc liên môn là nguyên tắc dạy học quan trọng, nó không chỉ
có ý nghĩa về mặt giáo dỡng mà còn có ý nghĩa về mặt giáo dục Nó gópphần tạo điều kiện cho bộ môn lịch sử thực hiện chức năng giáo dục nhânsinh quan, thế giới quan khoa học cho học sinh
Trong môn lịch sử, việc dạy học theo nguyên tắc liên môn trong dạyhọc các khoá trình lịch sử dân tộc và thế giới từ cổ đại đến hiện đại làm chohọc sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, nhậnthấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tính toàn diệncủa lịch sử Thực hiện nguyên tắc liên môn trong học tập lịch sử là “Tạo điềukiện thuận lợi cho học sinh để hình thành đợc bức tranh hoàn chỉnh về thếgiới, phát triển về các mặt trí tuệ, đạo đức, thể chất … nh một cách hài hoà”[14,222]
Việc giáo dục t tởng, tình cảm cho học sinh qua dạy học lịch sử đòihỏi sự phối hợp giữa các môn học với toàn bộ hoạt động giáo dục của nhà tr-ờng phổ thông Đây cũng là việc thực hiện nguyên tắc liên môn trong côngtác giáo dục, trớc hết là mối liên hệ giữa các môn lịch sử – văn học – giáodục công dân - địa lí Khi học tập lịch sử dân tộc, giáo viên sử dụng kiến thức
địa lí vào giảng dạy quá trình mở rộng lãnh thổ với những địa danh cụ thể,
điều này làm cho các em thấy đợc giá trị những thành quả và ông cha ta đểlại, để từ đó có ý thức trân trọng và giữ gìn Nếu không vận dụng tri thức liênmôn hoặc vận dụng hời hợt sẽ “Không hình thành thế giới quan khoa họctrọn vẹn, thống nhất” [13, 148]
- Về phát triển :
Trang 14Dạy học là một trong những con đờng quan trọng bậc nhất nhằm pháttriển năng lực trí tuệ, hành động cho học sinh Trong thời đại của thông tin,trong cuộc chạy đua ráo riết của các quốc gia nhằm làm chủ khoa học côngnghệ tiên tiến thì yêu cầu đào tạo ra những con ngời năng động, sáng tạo, cótrí thức và có năng lực giải quyết các vấn đề thực tế càng đặt ra cấp thiết.
Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử nghĩa là sử dụngtri thức các môn học khác để làm sáng tỏ vấn đề lịch sử Việc nắm đợc mốiliên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống của các trí thức lịch sử sẽgiúp các em có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chiphối sự phát triển của lịch sử Đúng nh các tác giả trong cuốn “Phát triển tduy học sinh” đã từng đánh giá: “Việc sử dụng rộng rãi các môn học để bồidỡng cho học sinh các thủ thuật và phơng pháp t duy lôgic sẽ góp phần thựchiện một trong những yêu cầu quan trọng nhất của lý luận dạy học là xác lậpmối liên hệ chặt chẽ giữa các bộ môn trong dạy học” [9, 35]
Học sinh có vai trò tích cực, chủ động trong việc học tập theo nguyêntắc liên môn vì ở đây các em huy động những kiến thức đã học để hiểu sâusắc, toàn diện một sự kiện Các em đợc ôn tập, củng cố, tổng hợp kiến thức ởmức cao hơn và và biết vận dụng thông minh trong học tập Có nghĩa là
“Việc gợi lại những tri thức đã có không phải là một sự nhớ lại có tính chấtngẫu nhiên, máy móc mà là một sự tìm tòi có tính quy luật, do nhiều sự nhậnthức quyết định Nó liên quan tới nhu cầu huy động và vận dụng điều đã biếtvào quá trình phân tích nhiệm vụ nhận thức mới và tìm ra mối liên hệ giữa
điều đã biết vào quá trình phân tích nhiệm vụ nhận thức mới và tìm ra mốiliên hệ giữa điều đã biết với nhiệm vụ đợc giao, với điều đáng tìm” [9,100].Việc huy động kiến thức đã học buộc các em phải khôi phục trong trí nhớcủa mình những kiến thức đã thu nhận và chọn lọc trên cơ sở huy động trínhớ, khả năng phân tích, tổng hợp
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học lịch sử hiện nay.
Hiện nay, hiện trạng học lệch của học sinh diễn ra nhiều, trong thực tếtrở thành căn bệnh trầm kha Một trong những nguyên nhân là sự phân biệtmôn chính, môn phụ Học sinh chỉ chú tâm vào các môn thi đại học, mônkhoa học tự nhiên Đa số học sinh trong giờ lịch sử, địa lý chỉ học qua loa,chiếu lệ Nhiều em học sinh THPT còn viết sai chính tả; hiểu biết địa lí, lịch
sử rất mù mờ Trong khi đó, theo đúng tiêu chuẩn giáo dục quốc tế thì cấp
Trang 15học phổ thông phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàndiện.
Những lần thi tuyển sinh đại học, cao đẳng vừa qua đã rung lên tiếngchuông báo động về tình trạng hiểu biết lịch sử của học sinh còn rất mù mờ,sai lệch nguy hiểm Đơn cử kì thi đại học, cao đẳng năm 2006, đề thi đại họcnăm nay không khó nhng chất lợng bài làm thấp ẩn chứa nhiều bất ổn, thậmchí rất nguy hiểm
Qua các bài thi môn lịch sử có thể thấy kiến thức lịch sử và kiến thức
về văn hoá, xã hội, địa lý … nh của thí sinh nói chung là rất kém Có thí sinhkhông biết sông Hiền Lơng ở đâu? có thí sinh viết một cách hào hùng về trận
“Điện Biên Phủ trên không” diễn ra ở Điện Biên, có thí sinh còn cho rằngtrận Phay Khắt và Nà Ngần của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
là ở Lào Ngoài ra, nhầm lẫn địa danh cũng là lỗi mà thí sinh mắc phải, có thísinh viết một cách hồn nhiên rằng: Việt Nam giúp Lào đánh chế độ diệtchủng PônPốt, Lào tuyên bố độc lập do Xihanuc làm chủ tịch, Hoà thợngThích Quảng Đức thắt cổ tự tử ở Ngã T Sở… nh
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút về chất lợng học tập lịch
sử Tuy nhiên, xét một cách khách quan ngời giáo viên lịch sử có trách nhiệmrất lớn trong vấn đề này
Việc đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử, khâu đột phá quan trọng đầutiên phải từ ngời giáo viên Ngời giáo viên phải có những đổi mới cụ thể,thiết thực trong dạy học bộ môn Quá trình dạy học là một chỉnh thể thốngnhất hữu cơ với nhau, khi giáo viên thay đổi, đột phá vào một khâu nào đấythì nó kéo theo sự thay đổi của các khâu khác Do đó, đặt ra nhiều vấn đề cụthể mà giáo viên có thể lựa chọn đổi mới
Việc đổi mới phơng pháp dạy học lịch sử là một vấn đề phức tạp, nó
đòi hỏi sự nỗ lực của các nhà giáo dục và học sinh Hiện nay, vấn đề này
đang đợc tiến hành và hoàn thiện trong đó vận dụng nguyên tắc liên môntrong dạy học lịch sử cũng không nằm ngoài mục đích đó
Dạy học liên môn là nguyên tắc quan trọng thế nhng không phải giáoviên nào cũng sử dụng nó một cách hợp lý trong quá trình dạy học lịch sử
1.2.2 Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
1.2.2.1 Phơng pháp nghiên cứu
- Đối tợng điều tra:
Trang 16Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế ở trờngphổ thông Việc điều tra đợc thực hiện đối với cả giáo viên và học sinh Cụthể chúng tôi đã gặp gỡ và trao đổi với một giáo viên giảng dạy lịch sử ở tr-ờng THPT Nghèn – Hà Tĩnh nh: thầy Nguyễn Công Sâm, cô Nguyễn ThịVinh, cô Nguyễn Thị Kim Hoa, cô Nguyễn Thị Thanh Huyền Đồng thời tiếnhành điều tra học sinh bằng cách trao đổi, phát phiếu điều tra và kiểm trachất lợng học tập lịch sử ở lớp 10 A1(trờng THPT Nghèn).
- Mục đích điều tra:
Nhằm tìm hiểu thực trạng việc dạy học ở trờng phổ thông, trong đóchú ý đến vận dụng nguyên tắc liên môn trong giảng dạy lịch sử của giáoviên Từ đó, chúng tôi đa ra một số đề xuất về thiết kế những tri thức liênmôn trong dạy học khoá trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉXIX
- Nội dung điều tra:
Việc điều tra đợc tiến hành ở cả giáo viên và học sinh
+ Về phía giáo viên:
Chúng tôi thăm dò ý kiến, tìm hiểu quan niệm của giáo viên về việcvận dụng các tri thức liên môn trong dạy học lịch sử, về mức độ (dung lợng
và thời lợng sử dụng) Đồng thời tìm hiểu giáo viên gặp trở ngại gì và cónhững đề xuất nh thế nào về việc vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạyhọc lịch sử
+ Về phía học sinh:
Chúng tôi tìm hiểu về mức độ hứng thú của các em trong giờ học, mức
độ chú ý, trình độ nhận thức, việc tiếp thu có gặp khó khăn gì, đồng thời thuthập ý kiến, đề xuất, nguyện vọng của các em
- Phơng pháp điều tra:
Chúng tôi đến trờng phổ thông gặp gỡ các thầy cô giáo bộ môn và các
em học sinh trao đổi, lấy ý kiến, tiến hành dự giờ, quan sát tình hình học tập,tiến hành kiểm tra chất lợng của các em thông qua các câu hỏi, phiếu điềutra
1.2.2.2 Kết quả điều tra:
- Về phía giáo viên:
Qua điều tra một số giáo viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệmgiảng dạy cho rằng cần phải tăng cờng việc vận dụng tri thức liên môn vàogiảng dạy lịch sử để tăng cờng hứng thú học tập cho học sinh
Trang 17Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc vận dụng tri thức liên môn cha đợc nhiều,giáo viên hầu nh chỉ giảng dạy đơn thuần kết thúc lịch sử Điều này có nhiềunguyên nhân nhng nguyên nhân cơ bản là do điều kiện thời gian của một tiếthọc, do lợng kiến thức lớn cho nên giáo viên không có điều kiện để đề cập
đến tri thức liên môn Có một số giáo viên cha thật đầu t công sức để tìmhiểu tri thức liên môn nh: văn học, dịa lý, giáo dục công dân … nh trong dạyhọc lịch sử Điều này đặt ra yêu cầu là cần phải nhận thức đúng đắn và vậndụng có hiệu quả nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
sử nên giờ học nặng nề, khó khăn các em thấy cha thấy sự liên hệ giữa kiếnthức lịch sử với các môn học khác
Về mức độ nhận thức của học sinh, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra 15phút tại lớp 10A1 với câu hỏi: “Em hãy nêu thành tựu và đặc điểm của vănhọc các thế kỷ XI – XV?”
Kết quả thu đợc là 80% học sinh đủ điểm, trong đó chỉ có 15% đạt
điểm khá, giỏi Điều đó chứng tỏ chất lợng học tập của học sinh cha thật cao.Nguyên nhân của hiện tợng này là do nhiều yếu tố: do học sinh không nắmvững kiến thức văn học Nhng nguyên nhân quan trọng là do giáo viên chabiết vận dụng tri thức liên môn đặc biệt là tri thức văn học để tạo hứng thúhọc tập cho học sinh
Qua thực tiễn, chúng tôi nhận thấy, việc vận dụng nguyên tắc liên môntrong dạy học lịch sử cha đợc sử dụng nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu cácbiện pháp để vận dụng tri thức liên môn trong dạy học lịch sử có hiệu quả làvấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
Trang 18Chơng 2 Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế
Bài 13: Việt Nam thời kỳ nguyên thủy (1 tiết)
Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nớc Việt Nam (1 tiết)
Bài 15: Thời kỳ Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc(thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X) (1 tiết)
Bài 16: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc(tiếp theo) (1 tiết)
Bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nớc phong kiến (từthế kỷ X đến thế kỷ XV) (1 tiết)
Bài 18: Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỷ
Bài 22: Tình hình kinh tế ở các thế kỷ XVI – XVIII (1 tiết)
Bài 23: Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nớc bảo vệ tổquốc cuối thế kỷ XVIII (1 tiết)
Bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỷ XVI – XVIII (1 tiết)
Trang 19Bài 25: Tình hình chính trị ở nửa đầu thế kỷ XIX và phong trào đấutranh của nhân dân (1 tiết).
Bài 26: Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỷ XIX và phong trào đấu tranhcủa nhân dân (1 tiết)
Bài 27: Quá trình dựng nớc và giữ nớc (1 tiết)
Bài 28: Truyền thống yêu nớc của dân tộc Việt Nam thời phong kiến(1 tiết)
Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, khóa trình lịch sử từ nguồngốc đến giữa thế kỷ XIX có một vị trí đặc biệt quan trọng Đây là giai đoạncon ngời xuất hiện và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Tiếp đó là quá trìnhdựng nớc và giữ nớc gian khổ nhng đáng tự hào của dân tộc ta Đây là khóatrình lịch sử quan trọng vì nó đặt tiền đề, nền móng vững chắc, cần thiết chonhững chặng đờng tiếp theo của dân tộc ta
Cách ngày nay 30 – 40 vạn năm về trớc, do có điều kiện tự nhiên, khíhậu thuận lợi cho sự sinh trởng của cây cỏ và động vật nên trên đất nớc ta đãsớm có con ngời sinh sống Trải qua hàng chục vạn năm, ngời tối cổ đã tiếnhoá thành ngời tinh khôn, xã hội nguyên thủy ở Việt Nam chuyển dần quacác giai đoạnh hình thành, phát triển và tan rã Điều này khẳng định ViệtNam là một trong những cái nôi của loài ngời
Tiếp đó là quá trình các nhà nớc cổ đại hình thành: Văn Lang - ÂuLạc, Cham – Pa, Phù Nam Từ buổi đầu dựng nớc Văn Lang - Âu Lạc cho
đến giữa thế kỷ XIX, dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lao động vàchiến đấu đầy hi sinh, gian khổ những hết sức kiên cờng, anh hùng, sáng tạo
để xây dựng đất nớc và bảo vệ vững chắc nền độc lập và thống nhất của tổquốc
Trải qua quá trình dựng nớc và giữ nớc lâu dài, dân tộc Việt Nam đãlàm nên biết bao sự tích anh hùng để từ đó tạo nên những truyền thống tốt
đẹp, trong đó nổi bật lên truyền thống yêu nớc – một truyền thống cao quývừa đợc hun đúc và phát huy qua hàng nghìn năm lịch sử, vừa thấm đợm sâusắc vào cuộc sống ngày càng vơn cao của dân tộc Giai đoạn lịch sử này đặttiền đề là nền móng vững chắc cho các giai đoạn sau giữ vững và phát huycao độ truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc
2.1.2 ý nghĩa
2.1.2.1 Về mặt kiến thức
Khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX là giai
đoạn có nhiều nội dung quan trọng Do đó khi giảng dạy phần này phải giúp
Trang 20học sinh nắm đợc quá trình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, quá trình hìnhthành và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp đầy tự hào của dântộc ta.
Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỷ X:
Giáo viên phải cung cấp những bằng chứng cơ bản, cần thiết, về khảo
cổ học, lịch sử làm cho cho học sinh nắm bắt đợc những nét chính về thờinguyên thủy ở Việt Nam: cách đây 30 – 40 vạn năm, đã có con ngời sinhsống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay Các giai đoạn phát triển của công xãnguyên thủy ở Việt Nam từ khi hình thành, phát triển và tan rã Với các nềnvăn hoá lớn ở Việt Nam cuối thời nguyên thủy (Phùng Nguyên, Sa Huỳnh,
Đồng Nai) Giáo viên phải làm cho học sinh nắm đợc sự hình thành các quốcgia cổ đại về cơ cấu tổ chức nhà nớc, đời sống văn hóa, xã hội của c dân của
ba nhà nớc cổ đại trên đất Việt Nam là quốc gia Văn Lang - Âu – Lạc, quốcgia cổ Cham Pa (từ thế kỷ II đến thế kỷ X) và quốc gia cổ Phù Nam
Giai đoạn lịch sử từ thế kỷ I đến đầu thế kỷ X: Kiến thức mà học sinhnắm đợc là chế độ cai trị tàn bạo của triều đại phong kiến phơng Bắc đối vớinhân dân ta Những chuyển biến của nớc ta về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá d-
ới thời Bắc thuộc hơn một ngàn năm Cuộc đấu tranh của nhân dân ta giànhlại quyền độc lập tự chủ
Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX là quá trìnhhình thành và phát triển nhà nớc phong kiến tiếp đó là sự phát triển của cácthế lực phong kiến dẫn đến tình trạng chia cắt đất nớc Đến phong trào TâySơn thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nớc, bảo vệ tổ quốc vào cuối thế kỷXVIII, nhng đến triều đình Nguyễn (Gia Long), nhà nớc phong kiến đã mất
đi tính tích cực, bộc lộ mặt tiêu cực làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân vớichính quyền phong kiến ngày càng gay gắt
Khóa trình lịch sử này không chỉ cung cấp cho học sinh về các cuộckháng chiến, các cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc mà còn về các mặtcủa đời sống nhân dân ta nhất là những thành tựu về kinh tế, văn hóa… nh
2.1.2.2 Về mặt giáo dục
Trên cơ sở những kiến thức trên, dạy học khóa trình lịch sử Việt Namgiai đoạn này nhằm giáo dục nhiều mặt cho học sinh Lịch sử dân tộc ViệtNam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX là quá trình nhiều khó khăn, giankhổ cũng hết sức tự hào, vẻ vang Đó là những mốc son lịch sử ghi lại mộtquá trình dân tộc ta dựng nớc và đứng lên đánh bại hết kẻ thù này đến kẻ thùkhác, hùng mạnh hơn mình nhiều lần Khi giảng dạy lịch sử giai đoạn này
Trang 21giáo viên phải giáo dục lòng yêu nớc, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhấtcủa tổ quốc; bồi dỡng ý thức đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Bồidỡng niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn đối với các thế hệ tổ tiên, các anhhùng dân tộc đã chiến đấu quên mình vì nền độc lập của tổ quốc.
Đối với các bài về xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc, khi giảngdạy giáo viên phải bồi dỡng cho học sinh niềm tự hào về nền văn hoá đadạng, giàu bản sắc của dân tộc
Qua đó, giáo dục ý thức bảo vệ các di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc, giáodục ý thức phát huy năng lực sáng tạo trong văn hoá
Qua dạy học lịch sử giai đoạn này, cũng cần giáo dục học sinh niềm tựtin vào sức mạnh đoàn kết dân tộc,vào sức mạnh của ngời dân Việt Nam đặcbiệt là ngời nông dân Đồng thời giáo dục học sinh niềm tin vào sức mạnhchính nghĩa và thái độ căm ghét chiến tranh phi nghĩa, căm ghét giai cấpphong kiến bóc lột, áp bức tàn bạo nhân dân
2.1.2.3 Về mặt phát triển
Dạy học lịch sử Việt Nam khóa trình từ nguồn gốc đến giữa thế kỷXIX phải góp phần nâng cao năng lực nhận thức, t duy của học sinh Ví nhkhi học phần lịch sử Việt Nam cổ đại rèn luyện cho các em kỹ năng quan sát,
so sánh các tranh ảnh để rút ra nhận xét Bớc đầu rèn luyện kỹ năng xem xétcác sự kiện lịch sử trong mối quan hệ giữa không gian, thời gian và xã hội.Chẳng hạn, khi quan sát bức ảnh “Rìu tay đá cũ Núi Đọ” (Thanh Hoá), họcsinh đợc rèn luyện khả năng quan sát, phân tích rìu tay đá cũ đợc con ngờighè đẽo nhng còn thô sơ
Đồng thời dạy học khóa trình lịch sử này rèn luyện kĩ năng phân tích,
đánh giá sự kiện lịch sử, sử dụng bản đồ và trình bày bài học dựa vào bản đồ,
vẽ bản đồ về địa danh lịch sử – văn hoá trên đất nớc ta
Dạy học khóa trình lịch sử này phải thấy đợc quá trình phát triển củalịch sử dân tộc ta qua các giai đoạn lịch sử từ nguyên thủy, sự hình thành cácquốc gia cổ đại, sự phát triển của quốc gia phong kiến Đại Việt Cho nên họcsinh phải có khả năng khái quát, đánh giá sự kiện, hệ thống hoá kiến thức
Tóm lại, với đặc thù của khóa trình lịch sử này, nếu biết khai thác vàvận dụng phơng pháp dạy học phù hợp sẽ đem lại hiệu quả về giáo dỡng,giáo dục và phát triển rất lớn
2.2.3 Nội dung cơ bản khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc
đến giữ thế kỷ XIX
Trang 22Lịch sử Việt Nam giai đoạn này là quá trình con ngời xuất và sinhsống trên lãnh thổ Việt Nam, là quá trình dựng nớc và giữ nớc hết sức lâudài, gian khổ giai đoạn lịch sử này đợc phân chia thành ba thời kỳ lịch sử đólà: thời kỳ từ nguyên thủy đến thế kỷ X; thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XV;thời kỳ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.
- ở phần “Việt Nam thời nguyên thủy” là quá trình con ngời xuất hiện
và sinh sống (30 – 40 vạn năm) với những dấu tích của ngời tối cổ ở nhiềuvùng trên đất Việt Nam: Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), Núi Đọ (Thanh Hoá),Hàng Gòn (Đồng Nai); quá trình chuyển hóa từ ngời tối cổ thành ngời hiện
đại, sự chuyển hóa công xã thị tộc với những tiến bộ về công cụ đá mới, về tổchức hoạt động kinh tế, đặc biệt là nghề nông trồng lúa nớc
Tiếp đó là vào cuối thời nguyên thủy các bộ lạc sống trên đất nớc ta
đều bớc vào thời sơ kỳ đồng thau, biết đến thuật luyện kim và nghề nôngnghiệp trồng lúa nớc Sự ra đời của thuật luyện kim và nghề trồng lúa nớc đãtạo tiền đề cho sự chuyển biến của xã hội nguyên thủy sang thời đại mới -thời đại có giai cấp, nhà nớc, hình thành các quốc gia cổ đại trên đất nớc ViệtNam là quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, quốc gia cổ Cham Pa và quốc gia cổPhù Nam
Đối với thời kỳ từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X là quá trình cáctriều đại phơng Bắc thống trị trên đất nớc ta với thủ đoạn thâm độc là đồnghoá về nòi giống và văn hoá Việt Thế nhng bằng sức mạnh tiềm tàng của ng-
ời Việt đợc hun đúc và rèn luyện qua các thế kỷ trớc đã giúp dân tộc ta vùnglên đấu tranh chống lại ách đô hộ của các thế lực phơng Bắc tiếp tục đa kinh
tế, văn hóa… nh phát triển Những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nh: khởi nghĩa Hai
Bà Trng (năm 40), cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nhà nớc VạnXuân… nh Đặc biệt là sự kiện Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng năm 938
đã mở ra một thời đại mới – thời đại độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc ta
Đó là những mốc son trong lịch sử dân tộc
- Thời kỳ từ thế kỷ X đến thế XV: sau khi thoát khỏi ách thống trị củaphong kiến Trung Quốc, Việt Nam bớc vào thời kỳ phong kiến dân tộc và
đến thế kỷ XV đạt tới đỉnh cao của sự phát triển thời kỳ này
Quá trình xây dựng về hoàn chỉnh nhà nớc phong kiến Việt Nam diễn
ra trong một thời gian dài (thế kỷ X thế kỷ XV) qua các triều đại: Ngô, Đinh,Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ Trên một lãnh thổ thống nhất, bộ máy chínhquyền đợc tổ chức khá chặt chẽ trên mọi lĩnh vực theo chế độ quân chủ trung -
ơng tập quyền và phần nào giữ đợc mối quan hệ gần gũi với nhân dân
Trang 23Vợt qua nhiều khó khăn dân tộc ta đã xây dựng đợc một nền kinh tế đadạng và toàn diện chủ yếu là nông nghiệp, kết hợp với thủ công nghiệp và th-
ơng nghiệp phát triển
Trên cơ sở sự phát triển, ổn định về chính trị, kinh tế, các triều đạiphong kiến đã xây dựng đợc lực lợng vũ trang hùng mạnh, lại đợc nhân dânhởng ứng, ủng hộ nên đã đánh đuổi đợc nhiều cuộc xâm lợc lớn của phongkiến phơng Bắc Đó là cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, cuộckháng chiến chống Tống thời Lý, các cuộc kháng chiến chống xâm lợc Mông– Nguyên ở thế kỷ XIII, phong trào đấu tranh chống xâm lợc Minh và khởinghĩa Lam Sơn vào thế kỷ XV… nhTinh thần chiến đấu anh dũng, sự đoàn kếtdân tộc, tài thao lợc các tớng lĩnh - là những nhân tố quan trọng dẫn đếnnhững chiến thắng huy hoàng Trong thời kỳ lịch sử này, cùng với sự nghiệpchính trị, quân sự và phát triển kinh tế, dân tộc Việt Nam đã từng bớc xâydựng cho mình một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, đợc thể hiện ởnền văn hóa Đại Việt phản ánh t tởng yêu nớc, lòng tự hào và ý thức độc lậpdân tộc
- Thời kỳ từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX:
Các thế kỷ XVI – XVIII, xã hội Việt Nam đã chứng kiến hàng loạtnhững biến động lớn có tính chất nội bộ Do tác động của chế độ phong kiến
sự phát triển của giai cấp địa chủ phong kiến đã làm cho chế độ quân chủchuyên chế suy yếu, các thế lực phong kiến gia tăng, và khi nhà nớc Lê Sơsụp đổ (vào đầu thế kỷ XVI) chiến tranh phong kiến bùng nổ Nhà Mạc đã ra
đời trong bối cảnh đó, tuy bớc đầu có góp phần ổn định lại xã hội nhng lại trởthành nguyên cớ gây nên chiến tranh
Bộ phận cựu thần nhà Lê vấn gắn bó với sự nghiệp giải phóng đất nớccủa cha ông, không chấp nhận nền thống trị của nhà Mạc, đã nổi lên ở ThanhHoá (quê hơng của nhà Lê) chống lại nhà Mạc Đây là nguyên nhân đẫn đếnchiến tranh Nam – Bắc triều
Cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều kéo dài hơn nửa thế kỉ đã kết thúcvới sự sụp đổ của nhà Mạc, nhng không chấm dứt đợc sự phân tranh Chiếntranh Trịnh – Nguyên bùng nổ Do hoàn cảnh đất nớc đơng thời, cuộc chiếnkhông phân thắng bại Đất nớc bị chia cắt thành hai miền - Đàng Ngoài và
Đàng Trong
ở các thế kỉ XVI – XVIII, những cuộc chiến tranh phong kiến lớnkéo dài đã dẫn đến chỗ đất nớc đã chia cắt Tuy nhiên, đây cũng là thời điểmhình thành và phát triển của sự giao lu, buôn bán quốc tế Hàng loạt thơng
Trang 24nhân từ Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh … nh đã vào các bến cảngcủa nớc ta nh thơng cảng Hội An ( Quảng Nam)… nh Nhu cầu hàng hoá nhiềuloại tăng lên cả đối với giai cấp thống trị và nhân dân ta đã dẫn đến sự pháttriển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá đơng thời đã tác động to lớn đếnhoạt động nông nghiệp cũng nh các ngành nghề dệt, đúc đồng, làm giấy … nhthúc đẩy giao lu buôn bán giữa các miền và đặc biệt là tạo điều kiện hìnhthành và phát triển các đô thị:Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà … nh Các
đô thị tuy không nhiều nhng đã góp phần thay đổi bộ mặt của xã hội ViệtNam, tác động quan trọng đến nền kinh tế phong kiến
Trớc tình trạng khủng hoảng của chế độ phong kiến ở cả hai miền,nguy cơ chia cắt đất nớc ngày càng gia tăng, phong trào Tây Sơn do ba anh
em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xớng đã diễn ra Phong trào
đã đánh đổ các tập đoàn phong kiến đang thống trị và xóa bỏ tình trạng chiacắt, bớc đầu thống nhất lại đất nớc Trong quá trình đấu tranh của mìnhphong trào nông dân Tây Sơn còn hoàn thành thắng lợi hai cuộc kháng chiến:chống Xiêm (1785) và chống Thanh (1789), bảo vệ nền độc lập dân tộc, gópthêm những chiến công huy hoàng vào sự nghiệp giữ nớc anh hùng của dântộc Trong đó nổi bật lên vai trò của ngời anh hùng “áo vải”: Quang Trung –Nguyễn Huệ
Vào các thế kỷ XVI – XVIII, tình hình văn hóa có sự biến đổi Nhogiáo mất dần địa vị độc tôn, Phật giáo, Đạo giáo có điều kiện khôi phục hoạt
động Mặt khác, sự phát triển của giao lu quốc tế cũng dẫn đến sự du nhậpcủa Thiên chúa giáo và sự ra đời của chữ Quốc Ngữ Trong lúc văn hóachính thống suy thoái thì văn hóa dân gian lại phát triển rầm rộ, phản ánhtâm t nguyện vọng của ngời dân lao động
Bớc sang nửa đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đợc thành lập sau khi đánhbại vơng triều Tây Sơn và thống trị nớc ta trong một hoàn cảnh mới, khác cáctriều đại phong kiến trớc kia Chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào giai đoạnsuy vong Trong lúc bản thân vơng triều Nguyễn là sự kế tục một thế lựcphong kiến đã suy thoái, từng bị phong trào nông dân lật đổ Mặt khác, lãnhthổ đất nớc đợc mở rộng, sản phẩm của sự sáp nhập hai miền: Đàng Trong và
Đàng Ngoài trớc đây Nhà Nguyễn với những chính sách bảo thủ, phản động
sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình thực dân phơng Tây xâm lợc nớc ta
Sự khủng hoảng suy vong của chế độ phong kiến làm cho mâu thuẫngiữa nhân dân lao động với nhà Nguyễn càng gay gắt làm xuất hiện các
Trang 25phong trào đấu tranh của nhân dân nh: cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành,cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi lãnh đạo… nh
Nội dung của khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế
kỷ XIX đợc khái quát đó chính là quá trình dựng nớc và giữ nớc, quá trìnhhình thành truyền thống yêu nớc và nhiều truyền thống tốt đẹp của dân tộcViệt Nam thời phong kiến
2.2 Phơng pháp vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
2.2.1 Một số yêu cầu khi vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử
và cả về khoa học tự nhiên (những kiến thức về sự phát triển của khoa học kỹthuật) Mối liên hệ giữa các môn học ở trờng phổ thông xuất phát từ mối liên
hệ chặt chẽ giữa các khoa học, đối với lịch sử các môn lân cận là văn học, địa
lý, giáo dục công dân Các khoa học này tuy có đối tợng nghiên cứu khácnhau song trên một mặt nào đó lại cùng chung một khách thể – xã hội và
đời sống con ngời Vì vậy khi nghiên cứu và học tập, kiến thức những mônhọc này hỗ trợ cho nhau, giúp học sinh nhận thức sâu sắc về xã hội và đờisống của con ngời
Việc sử dụng kiến thức các môn hỗ trợ là điều rất cần thiết tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là biến một giờ học lịch sử thành một giờ văn học,
địa lý hay giáo dục công dân Giáo viên lịch sử phải biết lựa chọn những trithức liên môn phù hợp với nội dung và thời gian của giờ học để tránh quá íthoặc quá nhiều sẽ làm “loãng” kiến thức lịch sử Dù sử dụng kiến thức liênmôn ở mức độ nh thế nào cũng phải đảm bảo “tính giá trị toàn diện của kiếnthức lịch sử, tính khoa học của kiến thức, tức là sự thông báo những sự kiệnlịch sử đáng tin cậy, giải thích đúng đắn những sự kiện phù hợp với quan
điểm Mác – Lênin”[12,7]
Trang 26Sử dụng những kiến thức các môn học khác phải đứng trên bình diệnlịch sử, tiếp cận dới góc độ lịch sử để giữ tính độc lập, dựa vào đặc trng nộidung của bộ môn để nâng cao hiệu quả bài học, tránh sự trùng lặp, côngthức, giáo điều Dù có cung cấp những tri thức liên môn thì giáo viên cũngphải đảm bảo đặc trng nhận thức lịch sử đó là từ sự kiện, đến tạo biểu tợnglịch sử, hình thành khái niệm và rút ra quy luật, bài học lịch sử.
Ví dụ nh khi giảng dạy bài “Các nớc t bản chuyển sang giai đoạn đếquốc chủ nghĩa” (SGK lịch sử lớp 10 , Ban cơ bản): giáo viên cung cấp chohọc sinh kiến thức về vật lý, hoá học, sinh học, kỹ thuật… nh cuối cùng giáoviên kết luận: những thành tựu của khoa học – kỹ thuật thời kỳ này đợc ápdụng vào sản xuất càng thúc đẩy nhanh quá trình tập trung t bản, trên cơ sở
đó các tổ chức độc quyền ra đời Đây là đặc trng cơ bản nhất để xác định chủnghĩa t bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
- Đảm bảo tính hệ thống:
“Tính hệ thống của chơng trình các môn học thể hiện ở sự sắp xếplôgíc nội dung của môn học” [2,25] Trong dạy học lịch sử, ngoài việc coitrọng tính cơ bản phải chú ý đến tính hệ thống, tính toàn diện của các sự kiệnlịch sử Về tính toàn diện của lịch sử là phải cung cấp cho học sinh những sựkiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài ngời (kinh tế, chính trị, quân
sự, văn hóa… nh) làm cho các em nắm đợc sự thống nhất và tác động qua lạigiữa các lĩnh vực của đời sống xã hội loài ngời Những kiến thức lịch sử đócòn phải đảm bảo tính hệ thống, thể hiện sự phát triển lịch sử theo trình tựthời gian
Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử còn phải đảm bảotính “kế thừa” tức là để giảng dạy và học tập kiến thức mới đòi hỏi giáo viên
và học sinh phải huy động những kiến thức lịch sử và kiến thức các môn họckhác đã biết, đã học ở lớp dới Điều này sẽ đảm bảo việc nhận thức lịch sửmột cách vững chắc
Dạy học liên môn đảm bảo tính hệ thống, giáo viên phải “trình bàynhững tri thức khoa học theo một hệ thống lôgíc chặt chẽ đảm bảo những
điều học trớc làm cơ sở cho những điều học sau, những điều học sau dựa vàonhững điều học trớc và đồng thời làm phong phú những điều học tr-ớc”[14,145] Hầu hết những tri thức liên môn mà giáo viên sử dụng là nhữngkiến thức văn học, địa lý, giáo dục công dân đã đợc học hoặc đang học Nhvậy, muốn vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử, giáo viên hệ
Trang 27thống lại những kiến thức đã học có liên quan để tiến hành vào bài học mộtcách thuận lợi
- Đảm bảo tính vừa sức:
Vừa sức trong dạy học đợc quan niệm là quá trình dạy học phù hợp vớitrình độ tiếp thu tri thức mới của học sinh, kích thích, thúc đẩy và đi trớc sựphát triển trí tuệ của học sinh Theo quan niệm này, giáo viên sẽ gặp khókhăn trong việc định lợng về trình độ của học sinh, trong việc xác định mốiquan hệ giữa vừa sức và phát triển trong dạy học
Vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử cần chú ý đếntính vừa sức nghĩa là giáo viên không nên cung cấp cho học sinh những kiếnthức liên môn một cách mơ hồ hoặc quá chi tiết, tỉ mỉ Việc cung cấp nh vậy
sẽ dẫn đến tình trạng rối rắm, phức tạp làm cho học sinh khó nhận thức đợcmối liên hệ giữa lịch sử và các môn học khác
Vận dụng quan điểm liên môn, về phơng diện phơng pháp dạy học, có
- Phát huy tính tích cực học tập lịch sử của học sinh.
ở lứa tuổi học sinh THPT, năng lực nhận thức đã phát triển cao, sự ởng thành và tính tích cực về mặt xã hội đã tăng rõ rệt, nhu cầu giao lu đã mởrộng nhiều “ nhu cầu về tinh thần đã bộc lộ rõ rệt, hứng thú đối với các vấn
tr-đề thế giới quan và đạo đức đã thể hiện mạnh mẽ” [14,40] Nh vậy, khả năng
và nhu cầu tìm hiểu kiến thức của học sinh THPT là rất lớn và “hoạt độngnhận thức tích cực có tính độc lập của học sinh đựơc xem nh là điều kiện bắtbuộc đối với một giờ học lịch sử” [12,8]
Trang 28Các kiến thức thuộc khoa học xã hội đợc vận dụng nhiều đem lại kếtquả : tiết kiệm thời gian dạy học, củng cố và phát triển kiến thức lịch sử, pháthuy tính tích cực, năng động của học sinh và gây hứng thú học tập Khi giảngdạy một vấn đề lịch sử, ngời giáo viên phải tìm cách huy động ở học sinhkhông chỉ những kiến thức lịch sử mà còn cả những tri thức liên môn đã biết.
Điều này làm cho t duy của học sinh phát triển, học sinh biết phân tích, chọnlọc những kiến thức đã học để nhận thức kiến thức lịch sử mới Để phát huytính tích cực học tập của học sinh, ngời giáo viên bộ môn có vai trò quantrọng “ Chỉ có thể thực sự lĩnh hội đợc khi t duy tích cực của bản thân đợcphát triển và nhờ sự hớng dẫn của giáo viên các em biết phân tích và kháiquát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra đợc những kết luận cầnthiết” [9,64]
Về phơng diện tâm lý, học sinh tiếp nhận tốt kiến thức mới khi biết davào kiến thức đã học của một bộ môn mà của nhiều bộ môn khác mang tínhchất hỗ trợ cho nhận thức lịch sử làm cho giờ học hấp dẫn, sinh động, các emchú ý học tập hơn Vì vậy, vấn đề quan trọng của dạy học liên môn là mỗikiến thức mang tính sự kiện hay khái niệm, lý luận … nh ợc truyền thụ, tìm đhiểu đối với học sinh bằng một hoạt động “ liên kết giữa các kiến thức”
- Năng lực, nghệ thuật của giáo viên
Để thực hiện có hiệu quả phơng pháp dạy học liên môn, giáo viên cầnthực hiện những yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, giáo viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng để hiểu rõ
tri thức bộ môn truyền thụ cho học sinh bao gồm những vấn đề gì? Truyền
đạt nh thế nào? và tri thức đó giáo dục cho học sinh những vấn đề gì?
Chẳng hạn, khi trình bày cho học sinh bài “Truyền thống yêu nớc củadân tộc Việt Nam thời phong kiến”, có rất nhiều kiến thức văn học liên quan,nh: ca dao, truyện cổ tích, truyền thuyết… nhminh họa sinh động về truyềnthống yêu nớc của dân tộc ta thời phong kiến Tuy vậy, giáo viên lịch sử phảinắm rõ kiến thức mà mình cần truyền đạt: dân tộc Việt Nam có một truyềnthống yêu nớc quý giá và đáng tự hào
Truyền thống yêu nớc là sự kết tinh của hàng loạt các nhân tố, sự kiện
đã diễn ra trong một thời kỳ lịch sử lâu dài Trong hoàn cảnh của chế độphong kiến và do tác động của tiến trình lịch sử dân tộc, với những nét riêngbiệt, yếu tố chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập của tổ quốc trở thành nét đặc tr-
ng của truyền thống yêu nớc Việt Nam thời kỳ phong kiến
Trang 29Thứ hai, giáo viên phải có trình độ hiểu biết với tất cả các môn học:
toán học, vật lý, sinh học, văn học, lịch sử, địa lý… nh “hệ thống tri thức màgiáo viên cần nắm vững đó là tri thức khoa học, có liên quan đến môn học
mà mình phụ trách giảng dạy… nhvới những hiểu biết cần thiết về những khoahọc lân cận với chuyên môn của mình”[15,238] Từ hệ thống kiến thức đó cóthể xác định trí thức nào có liên quan đến bài giảng để vận dụng một cáchhợp lý, đảm bảo tính khoa học của tri thức Đối với những bài về văn hóa,giáo viên cần vận dụng tri thức của văn học, nghệ thuật… nh Và giáo viên phảibiết lựa chọn tri thức cần thiết để dựa vào bài giảng làm cho bài giảng thêmsinh động, hấp dẫn Ví dụ nh khi nói về tình hình suy thoái của Nho giáotrong các thế kỷ XVI – XVIII, giáo viên sử dụng câu thơ của Nguyễn BỉnhKhiêm: “Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết rợu hết ông tôi”
Thứ ba, vận dụng nguyên tắc liên môn không chỉ yêu cầu giáo viên có
trình độ chuyên môn vững vàng và trình độ khoa học cơ bản mà còn phảinhuần nhuyễn về lý luận dạy học tức là nắm vững phơng pháp dạy học bộmôn Giáo viên phải tiến hành sử dụng biện pháp liên môn theo trình tự hợp
Bớc thứ ba, từ kiến thức mà học sinh tái hiện lại, nhờ vào hệ thống câuhỏi, giáo viên yêu cầu các em vận dụng kiến thức đó để tiếp nhận kiến thứcmới của bài học lịch sử
Cuối cùng, trên cơ sở các câu trả lời của học sinh giáo viên rút ra kếtluận
Để thực hiện phơng pháp dạy học liên môn có hiệu quả đòi hỏi sự nỗlực của học sinh, bởi vì mọi phơng pháp đa ra đều nhằm vào hoạt động nhậnthức của học sinh Vì thế, học sinh phải tích cực học tập, nghiên cứu lịch sử,bên cạnh đó, giáo viên hớng dẫn các em tìm hiểu những kiến thức môn học
có liên quan đến lịch sử nhất là văn học, địa lý, giáo dục công dân… nh ới dnhiều hình thức: đọc sách tham khảo, vẽ bản đồ, sử dụng bản đồ… nh
2.2.2 Trờng hợp vận dụng
2.2.2.1 Trong bài nội khoá
Trang 30Bài nội khóa là một hình thức tổ chức dạy học quan trọng nhất trongquá trình dạy học Bài nội khoá là hình thức bắt buộc của việc học tập trêncơ sở tuân thủ nghiêm ngặt chơng trình đã quy định về thời gian, nội dung… nhTrong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông có 5 loại bài học lịch sử chủ yếu là:nghiên cứu kiến thức mới; bài ôn tập, sơ kết, tổng kết; bài kiểm tra kiến thức;bài hỗn hợp; bài học tại thực địa, tại bảo tàng v.v
Vận dụng kiến thức liên môn trong bài học nội khóa là điều cần thiết,trong đó chủ yếu thực hiện đối với bài nghiên cứu kiến thức mới Bởi vìnghiên cứu kiến thức mới là yếu tố chủ đạo của quá trình dạy học ở trờngphổ thông Nội dung của nó là những kiến thức cơ bản phù hợp với việc vậndụng tri thức liên môn bởi nó cung cấp về lịch sử dân tộc hay lịch sử thế giớitrong một giai đoạn nhất định, trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội: đấu tranh giai cấp, hoạt động kinh tế, đời sống chính trị, văn hoá… nh
Vận dụng tri thức liên môn phải tuân thủ theo tiến trình nội dung củabài nghiên cứu kiến thức mới
Bớc đầu tiên là kiểm tra bài cũ hoặc kiến thức đã học có liên quan đếnbài mới.Trong trờng hợp không cần thiết, áp dụng cấu trúc động thì bớc này
có thể không tiến hành Do đặc điểm kiểm tra kiến thức lịch sử là chủ yếucho nên ít hoặc không cần thiết sử dụng tri thức liên môn
Đối với việc chuẩn bị cho học sinh tiếp nhận nghiên cứu kiến thứcmới, giáo viên có thể liên hệ những kiến thức liên môn từ đó tạo tình huốngnêu vấn đề
Kiến thức liên môn đợc vận dụng một cách rõ nét nhất trong việc thựchiện nghiên cứu kiến thức mới Trong tiến trình bài học, giáo viên có thể vậndụng kiến thức liên môn khi trình bày về một sự kiện, một nhân vật, một giai
đoạn lịch sử Việc vận dụng một cách khéo léo các kiến thức đó chẳng nhữnggiúp học sinh lĩnh hội nội dung bài học mà còn gây hứng thú cho bài học
Chẳng hạn khi giảng dạy về tình hình xã hội phong kiến Đàng ngoàicuối thế kỷ XVIII, giáo viên có thể sử dụng tác phẩm văn học “Hoàng Lênhất thống chí” (Ngô Gia Văn Phái) để minh hoạ cho giờ học chân thực, sinh
động Bởi tác phẩm đã phản ánh phong phú, sinh động diện mạo thời đại: sựthối nát và khủng hoảng triền miên đi đến sụp đổ của tập đoàn phong kiến –
Lê Trịnh và khí thế quật khởi chống thù trong giặc ngoài của phong tràonông dân khởi nghĩa Tây Sơn
Kiến thức liên môn còn đợc giáo viên sử dụng sau khi nghiên cứu kiếnthức mới nhằm củng cố kiến thức cho học sinh Giáo viên ra bài tập về nhà
Trang 31chủ yếu là để củng cố lại kiến thức lịch sử đã học Qua đó cần hớng dẫn chohọc sinh tiếp cận các tài liệu tham khảo thuộc lĩnh vực văn học, địa lý, giáodục công dân để các em hiểu sâu hơn kiến thức lịch sử trong SGK.
Thực hiện dạy học liên môn trong bài nghiên cứu kiến thức mới sẽ đợc
đề cập cụ thể ở phần sau
Việc vận dụng kiến thức liên môn cũng rất cần thiết đối với bài học tạithực địa, tại bảo tàng, phòng học lịch sử Việc tổ chức giảng dạy lịch sử tạithực địa là rất cần thiết và rất bổ ích (nếu điều kiện có thể) Nếu biết tổ chứckết hợp học kiến thức địa lý và kiến thức lịch sử tại các di tích lịch sử ở quêhơng thì kết quả giáo dục sẽ cao hơn
Việc tiến hành bài học tại di tích lịch sử sẽ giúp các em quan sát địahình, cảnh vật, quan sát di tích và liên hệ với kiến thức đã học, đã nghe kể,trên cơ sở đó biểu tợng về không gian hiện rõ hơn trong tâm trí các em Tuynhiên hình thức tổ chức học tại thực địa đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị chu
đáo về nội dung và phơng pháp, giáo viên nắm vững kiến thức bộ môn và cácmôn học có mối quan hệ gần gũi
2.2.2.2 Trong hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học ở trờng phổthông Công tác ngoại khóa hoạt động của thầy và trò đợc tiến hành ngoàigiờ học trên lớp, nhng chủ đề và nội dung của hoạt động này phải sát với nộidung học chính khóa Hoạt động ngoại khóa phải đạt đợc mục đích giáo d-ỡng, giáo dục, phát triển nh ở bài nội khóa nhng đợc thực hiện trên các phơngdiện khác Nhiệm vụ của hoạt động ngoại khóa mang tính tổng hợp, làm sâusắc và phong phú kiến thức của học sinh, góp phần gây hứng thú trong họctập lịch sử Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lịch sử cho rằng hoạt động ngoạikhóa có hai đặc trng nổi bật: “tính tự nguyện và sự phát triển nhận thức tíchcực độc lập, năng khiếu của học sinh trong lĩnh vực lịch sử”[5,257]
Hoạt động ngoại khoá trong dạy học lịch sử có u thế hơn so với giờ nộikhoá ở chỗ đối với giờ nội khoá thì học sinh bị gò bó trong khuôn khổ mộttiết học 45 phút Trong giờ học đó giáo viên chỉ có thể cung cấp cho các emnhững kiến thức cơ bản nhất để giải quyết nội dung chơng trình Ngợc lại,giờ học ngoại khoá, điều đầu tiên dễ nhận thấy là nó thu hút sự hứng thú họctập của các em Bởi các em không bị gò bó trong không gian lớp học Thờigian hoạt động ngoại khoá rất phong phú, có nhiều hình thức tổ chức khácnhau, tuỳ thuộc ở mục đích tổ chức, ở quy mô tổ chức, ở trình độ họcsinh.Giáo viên lựa chọn hình thức ngoại khoá thích hợp để tổ chức cho học
Trang 32sinh sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể cho phép Việc lựa chọn hình thứcngoại khóa phải nghiên cứu điều kiện thực tế địa phơng nơi trờng đóng Nếu
có nhiều di tích liên quan đến nhân vật thì cho học sinh học tập tại thực địa
sẽ có kết quả, nếu không có thể vận dụng các hình thức khác
Hoạt động ngoại khóa tạo nên một khả năng vận dụng kiến thức liênmôn phong phú và đa dạng Để tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa,giáoviên nên phối hợp đồng bộ với các môn khác, với các đoàn thể của nhà trờng
Ví dụ, phối hợp với giáo viên các môn Văn, Giáo dục công dân… nh trong việc
tổ chức các ngày lễ lớn trong năm của dân tộc và địa phơng Tính liên môntrong hoạt động ngoại khóa làm cho kết quả học tập của học sinh đợc toàndiện, sâu sắc
Trong các hình thức ngoại khóa thì đọc sách là hình thức phổ biến cóhiệu quả nhằm cung cấp thêm kiến thức cho học sinh Đây là hình thức đơngiản, dễ làm song lại có hiệu quả cao về mặt giáo dỡng, giáo dục và pháttriển ngoài việc các tài liệu lịch sử thì học sinh cần đọc các tài liệu của cácmôn học hỗ trợ đặc biệt là Văn học, giáo viên cần lập danh mục sách cần đọccho mỗi khóa trình trong năm học có liên quan đến phần kiến thức lịch sử
Để khơi dậy tính tích cực, hứng thú, sự hiếu kỳ và lòng ham hiểu biếtcái mới của học sinh, giáo viên có thể tóm tắt sơ lợc một số cuốn hoặc dẫn ramột số chi tiết, những đoạn nhỏ hấp dẫn để kích thích học sinh tìm đọc
ở khóa trình lịch sử thế giới cổ – trung đại, học sinh có thể đọc cáctập sách thần thoại, cổ tích của Việt Nam, của các nớc khác nh Iliat, Ôđixê,thần thoại Hy Lạp, thần thoại ấn Độ… nh các sách nói về cuộc đấu tranh chống
áp bức bóc lột của nô lệ, nông nô… nh
Về phần lịch sử thế giới cận đại, học sinh cần đọc các tác phẩm vănhọc thế giới đã dịch ra tiếng Việt nh: “Những ngời khốn khổ” của VíchtoHuygô, “Tấn trò đời” của Ban Zăc “Chiến tranh và hoà bình” củaL.Tônxtôi
Về phần lịch sử thế giới hiện đại, giáo viên hớng dẫn học sinh chọn
đọc các tác phẩm nói về các nớc đế quốc chủ nghĩa, sự xây dựng đất nớc ởLiên Xô (cũ), phong trào cách mạng ở các nớc thuộc địa và phụ thuộc, nhữngthành tựu khoa học – kỹ thuật hiện nay
Trong chơng trình lịch sử Việt Nam từ thời kỳ dựng nớc đến nay có rấtnhiều tác phẩm văn học có liên quan đến lịch sử dân tộc, bao gồm: văn họcdân gian và văn học viết Văn học dân gian nh: truyền thuyết, thần thoại, cadao… nh Thánh Gióng, Âu Cơ - Lạc Long Quân, Mị Châu Trọngnh – Thuỷ… nh
Trang 33Văn học viết bao gồm: thơ văn yêu nớc, cách mạng, các tác phẩm văn họchiện thực qua các thời kỳ, những truyện kí, tiểu thuyết lịch sử.
Một hình thức ngoại khóa nữa có ý nghĩa đối với dạy học liên môn làdạ hội lịch sử Dạ hội lịch sử là một hoạt động ngoại khóa có tính chất tổnghợp, thu hút tất cả học sinh trong lớp, trờng tham dự Để tiến hành buổi dạhội lịch sử có hiệu quả cần phải chuẩn bị công phu và kỹ lỡng, kiến thức liênmôn đợc vận dụng rộng rãi Khi tiến hành một buổi dạ hội lịch sử, các em cóthể lựa chọn một hình thức phù hợp với khả năng của mình để tham gia: đọcthơ, vẽ trang trí hội trờng, báo ảnh, báo tờng, hát ca khúc có nội dung liênquan, “nhập vai” nhân vật lịch sử
Nguyên tắc liên môn cũng đợc vận dụng đối với kể chuyện lịch sử, nóichuyện lịch sử, tham quan lịch sử… nh
2.2.3 Vận dụng nguyên tắc liên môn trong, dạy học khóa trình lịch
sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX
2.2.3.1 Sử dụng tài liệu văn học
Đặc điểm của bộ môn lịch sử là tính toàn diện, hệ thống cho nên khigiảng dạy lịch sử “Sử dụng không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn tliệu muôn hình muôn vẻ”[12,13] Trong đó, các tài liệu văn học có đóng góp
to lớn trong nhận thức lịch sử
Ph Ăngghen cho rằng: lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình t duy cũngbắt đầu từ đấy Nhận thức của con ngời về quê hơng, tổ tiên và bản thân đợcphản ánh trong các hình thức văn hoá dân gian Từ khi có chữ viết, nền vănhọc bác học ra đời, các tác phẩm thơ, văn phản ánh hiện thực khách quan.Các loại tài liệu văn học dân gian và bác học đều là những loại tài liệu rấtquý Tuy nhiên, do chức năng, nội dung đặc trng của nền văn học (dân gian
và bác học) nên loại tài liệu này cần đợc lựa chọn, xử lý khi dùng trong dạyhọc lịch sử để tạo biểu tợng chân xác, có hình ảnh về các sự kiện nhân vật cóthực
- Đối với tác phẩm văn học dân gian:
Cũng nh mọi dân tộc khác, trớc khi có chữ viết, nhân dân Việt Nam đãthể hiện những kiến thức, quan niệm lịch sử của mình trong các câu chuyệnthần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ… nhVăn học dân gian là mộtnguồn t liệu lịch sử rất quý báu M.Gorki đã nhận xét: “Văn học dân gianluôn luôn là ngời bạn đồng hành khăng khít và đặc thù của lịch sử” Nó phản
ánh dù dới hình thức cha thật chính xác, khoa học một số sự kiện, nhận thức,tâm t nguyện vọng của con ngời thời xa xa Vì chữ viết mới đợc dùng ở nớc
Trang 34ta vào khoảng trên 1000 năm, nên văn học dân gian đã tồn tại từ rất lâu Làsản phẩm của t duy, phản ánh những quan niệm của tập đoàn ngời về bảnthân mình, về những sự kiện lịch sử, về mối quan hệ con ngời với thiênnhiên, con ngời với con ngời, các loại hình văn hoá dân gian đã mô tả lịch sửxã hội qua các thời đại.
Các câu chuyện thần thoại về Âu Cơ - Lạc Long Quân, SơnTinh –Thuỷ Tinh, Thánh Gióng là những câu chuyện cổ nhất xuất hiện gần nh đồngthời vào buổi đầu dựng nớc của nhân dân ta Nó khái quát những nhận thứccủa tổ tiên về nguồn gốc dân tộc, về cuộc đấu tranh với thiên nhiên để dựngnớc, về cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giữ nớc
Các câu ca dao, tục ngữ lu truyền rộng rãi trong nhân dân cũng ghi lạibiết bao sự kiện của những thời đại khác nhau nh tinh thần đoàn kết chốngngoại xâm: thời Hai Bà Trng, sự kiện Bà Triệu cỡi voi ra trận, Trần Hng Đạo
đánh bại quân xâm lợc Nguyên – Mông… nh tình cảnh đất nớc bị chia cắt dớithời Lê, Trịnh – Nguyễn Việc sử dụng tài liệu văn học dân gian là mộtnguồn t liệu trong nghiên cứu lịch sử cần phải tuân thủ những nguyên tắc củaphơng pháp luận sử học trong việc tớc bỏ những yếu tố thần bí, huyền bí đểtiếp nhận cái lõi hiện thực đợc chứa đựng trong câu chuyện Chẳng hạn,truyện “Thánh Gióng” có rất nhiều yếu tố thần bí, hoang đờng nh s ra đời,quá trình nuôi dỡng và lớn lên của Thánh Gióng… nh Thế nhng, giáo viên lọc racái lõi lịch sử đó là: lòng yêu nớc và truyền thống đánh giặc giữ nớc của dântộc ta, ngời Việt ta biết sử dụng đồ sắt rất sớm thông qua các chi tiết: ThánhGióng mặc áo giáp sắt, cỡi ngựa sắt, đeo roi sắt… nh
- Đối với tài liệu văn học thành văn: có ý nghĩa đối với việc khôi phụchình ảnh quá khứ và thể hiện tinh thần của sự kiện, nhân vật lịch sử
Có nhiều thể loại văn học khác nhau phục vụ vào việc giảng dạy lịch
sử, trong số đó các loại sau thờng đợc sử dụng: thơ ca, tiểu thuyết lịch sử, hồi